Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu: Qua nghiên cứu SK của người Mnông trước và sau khi xây dựng TĐ Buôn Tua Srah ở huyện Lắk, luận án tìm hiểu các yếu tố thúc đẩy và cản
Trang 1ĐẠI HỌC HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
PHẠM TRỌNG LƯỢNG
SINH KẾ CỦA NGƯỜI MNÔNG DƯỚI TÁC ĐỘNG
CỦA THỦY ĐIỆN BUÔN TUA SRAH
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Khoa Lịch sử,
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Văn Minh
Viện Dân tộc học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Thị Song Hà
Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
vào hồi: giờ ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Trung tâm Học liệu Đại học Huế
- Thư viện Trường Đại học khoa học, Đại học Huế
- Thư viện Trường Đại học Tây Nguyên
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xây dựng các nhà máy thủy điện (NMTĐ) ở Việt Nam bắt đầu từ năm 1970, đặc biệt là từ sau đổi mới (1986) đến nay Đây là kế hoạch chiến lược đảm bảo năng lượng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa (CNH) và hiện đại hóa (HĐH) đất nước Hàng trăm NMTĐ lớn nhỏ đã được xây dựng Các nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách đã/đang nghiên cứu và đánh giá những tác động từ các công trình thủy điện (CTTĐ),
và vấn đề này tiếp tục được xem xét, cân nhắc có tiếp tục lập các dự án xây dựng nữa không hoặc tìm kiếm các nguồn năng lượng khác thay thế Tuy nhiên, để giải quyết hậu quả từ các dự
án đã được thực hiện, tìm ra các giải pháp tối ưu là thách thức đối với các nhà khoa học trong lúc cộng đồng người dân chịu ảnh hưởng từ hệ quả các CTTĐ vẫn gánh chịu hằng ngày Việc người dân thích ứng hoặc cố gắng để thích nghi với môi trường
và cuộc sống mới, cũng như những yếu tố nào giúp họ phục hồi, loại bỏ cản trở sự không ổn định, phát triển sinh kế (SK), cần có hướng tiếp cận thực tế, hiệu quả trên cơ sở lý thuyết phù hợp Sông Sêrêpôk được hợp thành bởi 2 phụ lưu sông Krông
Ana và Krông Nô Trên hệ thống sông Sêrêpôk chúng ta đã xây
dựng và vận hành 9 NMTĐ trong đó TĐ Buôn Tua Srah thuộc bậc thứ 2 Thủy điện (TĐ) Buôn Tua Srah là công trình ảnh hưởng trực tiếp đến cộng đồng các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên, mà trước hết là người Mnông Một bộ phận chịu tác động trực tiếp phải tổ chức tái định cư (TĐC), bộ phận khác nằm trong vùng chịu ảnh hưởng Cả hai bộ phận dân cư nói trên đều chịu sự tác động và dẫn đến sự biến đổi của môi trường, văn hóa, SK, … Trong những biến đổi đó, biến đổi về lĩnh vực
SK thể hiện rất đa dạng và phức tạp Người Mnông là một trong
Trang 4các cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nguồn lợi từ rừng Từ khi CTTĐ Buôn Tua Srah được xây dựng, môi trường tự nhiên bị thu hẹp, nguồn lợi tự nhiên dần suy giảm Trong hoàn cảnh đó, người dân phải thay đổi SK để đảm bảo đời sống trong bối cảnh chính bản thân mình còn gặp rất nhiều khó khăn Sự thay đổi môi trường sống làm thay đổi các hoạt động SK gây ra những bất cập, khó khăn cho người dân tái định cư (TĐC) Ngoài ra một bộ phận cư dân Mnông còn lại sống tại khu vực ảnh hưởng chịu sự tác động mạnh mẽ từ CTTĐ Sự tác động của TĐ Buôn Tua Srah đã và đang trực tiếp làm thay đổi về nguồn lực tự nhiên, con người,
xã hội, tài chính, vật chất Chính những yếu tố trên dẫn đến SK
và sự thích ứng SK của người Mnông gặp rất nhiều khó khăn Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề
“Sinh kế của người Mnông dưới tác động của thủy điện Buôn Tua Srah ở huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk” làm đề tài luận án tiến
sĩ dân tộc học của mình
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu: Qua nghiên cứu SK của người
Mnông trước và sau khi xây dựng TĐ Buôn Tua Srah ở huyện Lắk, luận án tìm hiểu các yếu tố thúc đẩy và cản trở nguồn lực sinh kế (NLSK) do thủy điện gây nên, đồng thời gợi ý các giải pháp phát triển SK phù hợp cho người Mnông khu TĐC và vùng tác động TĐ Buôn Tua Srah trong bối cảnh mới
Nhiệm vụ nghiên cứu: Hệ thống hóa lí thuyết về SK;
nghiên cứu SK trước và sau khi xây dựng TĐ; thực trạng môi trường, tự nhiên, xã hội ; đánh giá những nguồn lực sinh kế (NLSK); nhận diện biến đổi SK và đề xuất các giải pháp phát triển SK cho người Mnông TĐC và vùng ảnh hưởng của TĐ
Trang 5Đối tượng và trọng tâm nghiên cứu của luận án là SK của người Mnông dưới tác động của TĐ Buôn Tua Srah ở huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk Điểm nghiên cứu chính là 4 xã: Krông Nô, Nam Ka, Ea Rbin, Buôn Triết
4 Phương pháp nghiên cứu
Triển khai nghiên cứu SK của người Mnông dưới tác động của TĐ Buôn Tua Srah, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu gồm: Điền dã dân tộc học, thu thập tư liệu thành văn, so sánh và đối chiếu, định tính và định lượng, phân tích và
tổng hợp và phương pháp liên ngành
5 Đóng góp của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống
về SK của người Mnông dưới tác động của TĐ Buôn Tua Srah ở huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk Qua đó, chỉ ra những bất cập, hạn chế
và có những gợi ý chính sách cho phát triển sinh kế bền vững (SKBV) đối với người Mnông trong thời gian tới Bên cạnh giá tri khoa học và thực tiễn, luận án chứa đựng nguồn tư liệu thực địa có độ chân xác và cập nhật về tình hình đời sống, kinh tế, xã
hội; những vấn đề về NLSK của người Mnông hiện nay
6 Bố cục của luận án: Ngoài các phần: Mở đầu, Kết
luận và Phụ lục, luận án được cấu trúc thành 4 chương
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI, CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu về sinh kế của các tác giả ngoài và trong nước
Trang 61.1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu về sinh kế của các tác giả nước ngoài
Các công trình nghiên cứu SK của các tác giả nước ngoài rất đa dạng Tiêu biểu như Chambers, Robert (1969), Robert and J Morris (1973), F Ellis, Barrett và Reardon, Morrison, Dorward, … và có nhiều cách tiếp cận khác nhau
Năm 1999, Cơ quan phát triển quốc tế vương quốc Anh (DFID) đã đưa ra khung SKBV Trên cơ sở khung SK của DFID, IFAD đã phát triển sơ đồ mới về phân tích SK IFAD đặt người nghèo làm trung tâm khung SK
1.1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu về sinh kế của các tác giả trong nước
Ở Việt Nam, thuật ngữ “Sinh kế” bắt đầu được sử dụng trong các dự án liên kết với nước ngoài từ những năm 90 của thế
kỉ XX và đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu như: trên lĩnh vực dân tộc học/nhân học có Ngô Văn Lệ, Ngô Phương Lan, Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Văn Sửu, Đặng Thị Hoa …; trên lĩnh vực kinh tế có Trần Đức Viên, Bùi Đình Toái, …
1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu về sinh kế của cư dân thủy điện ở Việt Nam
1.1.2.1 Nhóm công trình nghiên cứu về tái định cư thủy điện ở Việt Nam
Xây dựng NMTĐ có tác động lớn đến đời sống các dân tộc thiểu số Những nghiên cứu của Trần Văn Hà, Trần Văn Bình, Viện Dân tộc học, … chỉ ra rằng, vẫn còn tồn tại khoảng cách lớn giữa chính sách và thực tế Một số kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, các NMTĐ lớn hay nhỏ thực tế đã làm cho điều kiện sống của cộng đồng dân cư khu vực ảnh hưởng, khu TĐC kém hơn so với trước khi di chuyển Đối tượng bị ảnh hưởng dễ
Trang 7nhận thấy là dân tộc thiểu số và có tác động không nhỏ tới đời sống vật chất, xã hội, tinh thần, SK của bà con
1.1.2.2 Nhóm công trình nghiên cứu về sinh kế của người dân tại khu tái định cư và vùng ảnh hưởng của các công trình thủy điện
Nghiên cứu về SK người dân khu TĐC có Phạm Minh Hạnh, Bùi Thị Bích Lan, Nguyễn Xuân Hồng, … Những nghiên cứu này cho chúng thấy được diện mạo SK người dân trong bối cảnh thay đổi môi trường sống, những nỗ lực tìm kiếm các nguồn SK tại nơi ở mới, đặc biệt là những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình tìm kiếm những NLSK đảm bảo cuộc sống
1.1.3 Nhóm công trình nghiên cứu về người Mnông
Người Mnông được các nhà khoa học trong nước và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, như Albert - Marie Maurice,
G Condominas, Bế Viết Đẳng, Chu Thái Sơn, Ngô Văn Lệ, Ngô Đức Thịnh,
1.1.4 Những kết quả luận án kế thừa từ các công trình đã công bố và các vấn đề đặt ra cần được giải quyết
Những công trình nghiên cứu đã được công bố liên quan đến đề tài luận án khá phong phú, bao gồm các vấn đề về lý thuyết và cả trên phương diện thực tiễn Những kết quả nghiên cứu đó có ý nghĩa rất quan trọng, đã cung cấp nguồn tư liệu đa dạng, phong phú cho luận án, mặt khác còn gợi mở những vấn
đề lý luận - thực tiễn và cách thức tiếp cận để tham khảo, đối chứng trong quá trình nghiên cứu Luận án tiếp tục nghiên cứu,
hệ thống hóa lý thuyết SK, biến đối SK; SK người Mnông trước
và sau khi xây dựng TĐ; đánh giá những NLSK, nhận diện những biến đổi về SK của người Mnông và đề xuất một số giải pháp phát triển SKBV cho đồng bào Mnông dưới sự tác động của CTTĐ Buôn Tua Srah
Trang 81.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Một số khái niệm
Khái niệm quan trọng trong luận án “Sinh kế là những hoạt động cần thiết mà cá nhân hay hộ gia đình phải thực hiện dựa trên các khả năng và nguồn lực sinh kế để kiếm sống và đạt được mục đích của mình” (DFID) Gắn với khái niệm SK là khái niệm “vốn/nguồn lực sinh kế” Hiện nay, khái niệm về các NLSK rất đa dạng Một điểm quan trọng nữa là SK không chỉ được tiếp cận ở trạng thái tĩnh mà còn được xem xét ở trạng thái biến đổi Ngoài những khái niệm trên, các khái niệm: Sinh kế bền vững, hoạt động mưu sinh, di dân, tái định cư, khu vực ảnh hưởng, phát triển bền vững cũng được dẫn rõ
1.2.2 Các lý thuyết nghiên cứu
Lý thuyết Sinh thái nhân văn là một cách phân tích và giải thích về quan hệ tương hỗ giữa con người với môi trường thông qua các dòng vật chất, năng lượng và thông tin Sinh thái nhân văn được phát triển nhằm phục vụ việc nghiên cứu bản chất mối quan hệ giữa con người với nhau trong quá trình tự tổ chức và cấu trúc hệ thống xã hội Trong nghiên cứu này, người Mnông được đặt ở trung tâm các mối quan hệ trong hệ sinh thái gồm tự nhiên, con người và các yếu tố ảnh hưởng trong việc điều chỉnh mối quan hệ qua lại giữa các bên liên quan
Luận án sử dụng lý thuyết SKBV để nghiên cứu về SK
của người Mnông dưới tác động của TĐ Buôn Tua Srah ở
huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk Theo đó, vốn SK hay nguồn lực SK
bao gồm những nguồn lực cụ thể, do con người tạo nên, sử dụng, cải thiện và phát triển nhằm phục vụ cho nhu cầu tồn tại
và phát triển của con người
1.2.3 Khung sinh kế được vận dụng trong luận án
Trang 9Luận án sử dụng khung phân tích SK của DFID và IFAD làm căn cứ để phân tích các NLSK của người Mnông tại khu TĐC và vùng ảnh hưởng TĐ Buôn Tua Srah, trong đó khung phân tích DFID là trọng tâm lý luận của luận án
1.3 Khái quát về địa bàn nghiên cứu
1.3.1 Khái quát về huyện Lắk
Lắk là một huyện nghèo miền núi, nằm phía Nam dãy Trường Sơn, phía Đông Nam của tỉnh Đắk Lắk có địa hình địa mạo phức tạp Tổng diện tích tự nhiên là 1.256 km2, ranh giới hành chính: Bắc giáp huyện Krông Ana và Krông Bông, Đông giáp huyện Krông Bông - tỉnh Đắk Lắk, Tây giáp huyện Krông
Nô - tỉnh Đắk Nông và Nam giáp huyện Đam Rông và Lạc Dương - tỉnh Lâm Đồng Hiện Lắk có 22 dân tộc anh em sinh sống với dân số toàn huyện là 69.398 người, trong đó người Mnông có 8.217 hộ với 35.909 nhân khẩu chiếm hơn 50% dân
số toàn huyện Hiện nay, huyện Lắk có 1 thị trấn và 10 xã
1.3.2 Khái quát về Thủy điện Buôn Tua Srah
Ngày 22/6/2001, Thủ tướng Chính phủ kí quyết định số 95/2001/QĐ-TTG về phê duyệt Quy hoạch điện V (quy hoạch
TĐ bậc thang trên Sông Sêrêpôk) Ngày 23/06/2003, Bộ Công nghiệp kí quyết định 1470/QĐ-KHĐT tiến hành xây dựng TĐ Buôn Tua Srah CTTĐ Buôn Tua Srah được xây dựng trên sông Krông Nô - nhánh chính của sông Sêrêpôk, thuộc địa phận các
xã Nam Ka (huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk) và xã Quảng Phú (huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông) Đây là công trình bậc thang thứ hai trong hệ thống 7 bậc thang trên Sông Sêrêpôk
1.3.3 Khái quát về tự nhiên và cư dân khu tái định
cư, vùng ảnh hưởng thủy điện Buôn Tua Srah
Tổ chức tái định canh định cư cho 317 hộ với 1.459 khẩu người Mnông; vùng chịu ảnh hưởng là 796 hộ và hơn 3.474
Trang 10khẩu Như vậy, tổng số người Mnông ở huyện Lắk chịu tác động của TĐ Buôn Tua Srah là 1.113 hộ với 4.933 khẩu
Chương 2 SINH KẾ CỦA NGƯỜI MNÔNG TRƯỚC KHI XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY ĐIỆN BUÔN TUA SRAH,
2.1.2 Nguồn lực con người
Trước đây, trình độ học vấn của người Mnông thấp, hoạt động y tế và chăm sóc sức khỏe ở hầu hết các xã là rất khó khăn, đời sống tinh thần, cơ hội tiếp cận thông tin rất hạn chế Trong bối cảnh đó, nguồn lực con người rất khó có thể trở thành
là động lực cho sự phát triển
2.1.3 Nguồn lực xã hội
Có thể khẳng định, trước khi xây dựng TĐ Buôn Tua Srah quan hệ tộc người, quan hệ cộng đồng, quan hệ dòng họ, quan hệ tôn giáo trong cộng đồng người Mnông là rất tốt Đây được coi là điểm mạnh trong bối cảnh nguồn lực con người, nguồn lực tài chính còn yếu
2.1.4 Nguồn lực vật chất
Trước khi xây dựng TĐ Buon Tua Srah, nguồn lực đất đai của đồng bào tương đối dồi dào và là lợi thế cho đồng bào
Trang 11thiết bị và tiện nghi sinh hoat, các công trình cơ sở hạ tầng, chợ, nước sinh hoạt, lại có tình trạng rất kém và có ảnh hưởng lớn trong việ nâng cao năng lực hoạt động sản xuất
2.1.5 Nguồn lực tài chính
Năm ở một địa bàn nghèo nhất huyện, thu nhập chủ yếu dựa vào các hoạt động săn bắt, hái lượm, từ các sản phẩm nông lâm nghiệp, vì vậy nguồn lực tài chính của đồng bào giai đoạn trước khi xây dựng thủy điện rất yếu Nguồn thu nhập ổn định như tiền lương, lương hưu, trợ cấp thường xuyên, tiền gửi từ người thân…ở đồng bào rất hạn chế
2.2 Các hoạt động sinh kế của người Mnông trước khi xây dựng thủy điện
2.2.1 Khai thác nguồn lợi tự nhiên
Các hoạt động SK của người Mnông tương đối đa dạng
về loại hình Khai thác nguồn lợi tự nhiên góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho đồng bào Lắk có diện tích rừng tương đối lớn và mang lại nhiều nguồn lợi tự nhiên Hái lượm, săn bắt, thu nhập từ rừng, sông, suối trước đây chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của gia đình, luôn đóng vai trò quan trọng trong SK của người Mnông
2.2.2 Canh tác nương rẫy
Nương rẫy là hoạt động kinh tế truyền thống của người Mnông Hiện nay, phương thức canh tác này dần được thay thế bằng phương thức canh tác hiện đại Các loại giống và cơ cấu cây trồng có thay đổi nhiều so với trước đây Tuy nhiên, nhiều tập quán truyền thống vẫn còn dễ nhận thấy khi đồng bào tổ chức sản xuất
2.2.3 Ruộng nước
Ngoài nương rẫy, người Mnông còn làm ruộng nước Nhìn chung công cụ lao động, quy trình canh tác còn phụ thuộc
Trang 12vào tự nhiên, năng suất thấp Ngoài việc trồng lúa, để đảm bảo cuộc sống người Mnông còn trồng nhiều loại cây màu như ngô, khoai, đậu để đảm bảo lương thực trong năm
2.2.4 Chăn nuôi
Ngoài trồng trọt, chăn nuôi là một hoạt động SK có vai trò quan trọng Về gia súc, đồng bào chăn nuôi lợn, bò, trâu trong đó lợn là chủ yếu Khi thả trâu, bò họ thường đeo vào cổ một vài con trong đàn chiếc mõ theo dõi và tìm khi cần đến Do điều kiện thuận lợi nên việc nuôi gia cầm được đồng bào chú ý,
số lượng nhiều, chủ yếu là gà, vịt, ngan…
2.2.5 Nghề thủ công
Nghề thủ công được hình thành từ lâu, hoạt động nghề có tính thời vụ và thường được làm vào lúc rảnh rỗi Nhìn chung nghề thủ công của đồng bào khá phát triển về loại hình, chất lượng tốt, nhưng trình độ, kỷ thuật và tính thẩm mỹ không cao Hiện nay nghề thủ công đang bị mai một, bởi khó tiêu thụ, không cạnh tranh được với đồ nhựa và các loại đồ khác
2.2.6 Hoạt động buôn bán và trao đổi hàng hóa
Trong truyền thống, người Mnông không có hoạt động mua bán hàng hóa mà chỉ có hoạt động trao đổi sản vật Các sản phẩm săn bắt, hái lượm được sẽ trao đổi với những người có nhu cầu theo nguyên tắc “hàng đổi hàng”, không có tỷ giá Nguyên tắc trao đổi sản phẩm là thỏa thuận giữa hai bên
Chương 3 SINH KẾ CỦA NGƯỜI MNÔNG TỪ KHI XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY ĐIỆN BUÔN TUA SRAH,
HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
3.1 Biến đổi các nguồn lực sinh kế của người Mnông
Trang 133.1.1 Nguồn lực tự nhiên
Nguồn lực tự nhiên của đồng bào Mnông TĐC và vùng ảnh hưởng TĐ Buôn Tua Srah gồm: diện tích đất sản xuất, đất rừng, tài nguyên nước phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng Nguồn lực tự nhiên có vai trò rất quan trọng, là cơ sở, nền tảng cho các hoạt động SK Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, nghèo tài nguyên, giao thông không thuận lợi không chỉ cản trở sự kết nối người mà còn cản trở sự tiếp cận của người dân với các nguồn lực tự nhiên, gây khó khăn hơn cho việc tìm kiếm và phát triển
SK cho đồng bào Mnông vốn đã chịu nhiều thiệt thòi
3.1.2 Nguồn lực con người
Nguồn nhân lực được coi là yếu tố then chốt, có tính đột phá để xóa đói, giảm nghèo bền vững Vì vậy, việc nâng cao chất lượng nguồn lực con người sẽ tạo động lực cho sự phát triển ở cộng đồng người Mnông TĐC và vùng ảnh hưởng TĐ Buôn Tua Srah Ngoài những yếu tố thuận lợi như lực lượng lao động dồi dào, tuổi bình quân lao động trẻ thì các yếu tố cản trở phát triển như tỷ lệ bỏ học, trình độ học vấn hạn chế; tỷ lệ được đào tạo nghề thấp; lao động chủ yếu tập trung trong lĩnh vực ông nghiệp, … đang là vấn đề đặt ra cần giải quyết
3.1.3 Nguồn lực xã hội
Đối với người Mnông ở vùng TĐ Buôn Tua Srah, việc thiết lập mạng lưới xã hội rất quan trọng để từ đó họ có được những cơ hội, lợi ích gắn bó với nhau trong việc theo đuổi những mục tiêu phát triển SK bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống Ngoài những yếu tố thuận lợi như mối quan hệ gia đình, dòng họ khá mạnh; phong tục tập quán lạc hậu được hạn chế, thì các yếu tố cản trở như thiếu kiến thức và kỹ năng làm việc; hoạt động của các đoàn thể xã hội không rõ ràng, kém