1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của chính sách tiền tệ và chính sách an toàn vĩ mô đến ổn định tài chính nghiên cứu tại các nước có nền kinh tế mới nổi và dẫn dắt tăng trưởng kinh tế thế giới

322 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của chính sách tiền tệ và chính sách an toàn vĩ mô đến ổn định tài chính: Nghiên cứu tại các nước có nền kinh tế mới nổi và dẫn dắt tăng trưởng kinh tế thế giới
Tác giả Nguyễn Trần Xuân Linh
Người hướng dẫn PGS. TSKH. Nguyễn Ngọc Thạch
Trường học Trường Đại Học Ngân Hàng TP.Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 322
Dung lượng 9,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU (23)
    • 1.1. Tính cấp thiết của đề tài (23)
    • 1.2. Khoảng trống nghiên cứu (25)
    • 1.3. Mục tiêu nghiên cứu (28)
    • 1.4. Câu hỏi nghiên cứu (28)
    • 1.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (28)
    • 1.6. Phương pháp nghiên cứu (29)
    • 1.7. Dữ liệu nghiên cứu (30)
    • 1.8. Kết quả đạt được và đóng góp của luận án (31)
    • 1.9. Điểm mới của luận án (33)
    • 1.10. Cấu trúc của luận án (34)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN (36)
    • 2.1. Ổn định tài chính (36)
    • 2.2. Chính sách tài chính tiền tệ (45)
      • 2.2.1. Khái niệm chính sách tiền tệ (45)
      • 2.2.2. Hệ thống mục tiêu chính sách tiền tệ, các công cụ chính sách tiền tệ (0)
    • 2.3. Chính sách an toàn vĩ mô (46)
      • 2.3.1 Khái niệm chính sách an toàn vĩ mô (46)
      • 2.3.2. Mục tiêu và phạm vi chính sách an toàn vĩ mô (47)
      • 2.3.3. Các công cụ chính sách an toàn vĩ mô (49)
      • 2.3.4 Tác động của chính sách an toàn vĩ mô đến ổn định tài chính (0)
    • 2.4. Tác động của chính sách tiền tệ và chính sách an toàn vĩ mô đến ổn định tài chính (58)
      • 2.4.1 Mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và chính sách an toàn vĩ mô (58)
      • 2.4.2. Nguyên tắc phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách an toàn vĩ mô (60)
      • 2.4.3. Các kênh ảnh hưởng của chính sách tiền tệ đến ổn định tài chính và chính sách an toàn vĩ mô đối ứng để giảm bớt tác động này (62)
    • 2.5. Tổng quan các nghiên cứu trước (77)
      • 2.5.1. Các nghiên cứu về đo lường ổn định tài chính (77)
      • 2.5.2. Nghiên cứu về tác động của chính sách tiền tệ đến ổn định tài chính (84)
      • 2.5.3. Nghiên cứu về chính sách an toàn vĩ mô đến ổn định tài chính (86)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (94)
    • 3.1. Phương pháp đo lường ổn định tài chính (94)
      • 3.1.1. Phương pháp chuẩn hóa dữ liệu (94)
      • 3.1.2. Các bộ phận cấu thành ổn định tài chính nhóm nước EAGLEs (94)
    • 3.2. Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu (107)
      • 3.2.1. Giả thuyết nghiên cứu (107)
      • 3.2.2. Mô hình nghiên cứu (111)
    • 3.3. Phương pháp ước lượng - Cách tiếp cận Bayes (113)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (121)
    • 4.2. Bối cảnh kinh tế thế giới giai đoạn 2008-2018 (125)
    • 4.3. Tác động của chính sách tiền tệ và chính sách an toàn vĩ mô đến ổn định tài chính nhóm nước EAGLEs (129)
    • 4.4. Tác động của chính sách tiền tệ và chính sách an toàn vĩ mô đến ổn định tài chính các quốc gia thuộc nhóm EAGLEs (142)
      • 4.4.1. Tác động CSTT và CSATVM đến ổn định tài chính tại Bangladesh (142)
      • 4.4.2. Tác động CSTT và CSATVM đến ổn định tài chính tại Brazil (148)
      • 4.4.3. Tác động CSTT và CSATVM đến ổn định tài chính tại Trung Quốc (154)
      • 4.4.4. Tác động CSTT và CSATVM đến ổn định tài chính tại Ai Cập (160)
      • 4.4.5. Tác động CSTT và CSATVM đến ổn định tài chính tại Ấn Độ (164)
      • 4.4.6. Tác động CSTT và CSATVM đến ổn định tài chính tại Indonesia (169)
      • 4.4.7. Tác động CSTT và CSATVM đến ổn định tài chính tại Iran (174)
      • 4.4.9. Tác động CSTT và CSATVM đến ổn định tài chính tại Mexico (184)
      • 4.4.10. Tác động CSTT và CSATVM đến ổn định tài chính tại Nigeria (188)
      • 4.4.11. Tác động CSTT và CSATVM đến ổn định tài chính tại Pakistan (194)
      • 4.4.12. Tác động CSTT và CSATVM đến ổn định tài chính tại Philippines (197)
      • 4.4.13. Tác động CSTT và CSATVM đến ổn định tài chính tại Nga (202)
      • 4.4.14. Tác động CSTT và CSATVM đến ổn định tài chính tại Thổ Nhĩ Kỳ (209)
      • 4.4.15. Tác động CSTT và CSATVM đến ổn định tài chính tại Việt Nam (215)
    • 4.5 Bài học kinh nghiệm từ nhóm nước EAGLEs trong thực thi chính sách tiền tệ và chính sách an toàn vĩ mô để duy trì ổn định tài chính (220)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH (225)
    • 5.1. Kết luận chung cho nhóm nước EAGLEs (225)
    • 5.2. Kết luận cho từng quốc gia thuộc nhóm EAGLEs (226)
    • 5.3. Hàm ý chính sách trong việc thực thi chính sách tiền tệ và chính sách an toàn vĩ mô hướng tới ổn định tài chính tại nhóm nước EAGLEs (237)
    • 5.4. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo (239)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (241)

Nội dung

GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

Tính cấp thiết của đề tài

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã khơi dậy các tranh cãi về giám sát ngân hàng và các tổ chức tài chính để đảm bảo ổn định tài chính Vấn đề chính là nhận thức rằng quy định quản lý tài chính chủ yếu tập trung vào rủi ro của từng tổ chức tín dụng thay vì toàn bộ hệ thống Các quy định trước khủng hoảng được kỳ vọng sẽ tạo ra tấm đệm cho từng tổ chức, nhưng thực tế cho thấy chúng không đủ hiệu quả Khi đối mặt với cú sốc, các tổ chức tín dụng buộc phải giảm tỷ lệ đòn bẩy, dẫn đến thanh lý tài sản và giảm giá thị trường, gây ra đổ vỡ tín dụng.

Các tác động tiêu cực có thể gia tăng khi các tổ chức tín dụng tham gia vào quá trình tăng trưởng tín dụng và hình thành bong bóng giá tài sản Để kiểm soát rủi ro có thể đe dọa sự ổn định tài chính và ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế thực, các chính sách truyền thống như chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ không đủ, mà cần có sự quản lý và giám sát hệ thống tài chính như một thể thống nhất, cùng với việc thực thi chính sách an toàn vĩ mô.

Thuật ngữ CSATVM, được đề cập lần đầu vào cuối những năm 1970, đã trở nên quan trọng khi tăng trưởng cho vay đối với các quốc gia đang phát triển gia tăng nhanh chóng Mặc dù đã trải qua nhiều cuộc khủng hoảng như khủng hoảng cho vay quá mức vào những năm 1970, khủng hoảng tiền tệ châu Á năm 1997, và khủng hoảng bong bóng công nghệ năm 2000, cụm từ CSATVM vẫn ít được sử dụng cho đến khi khủng hoảng tài chính Mỹ năm 2008 xảy ra Theo Freixas và cộng sự (2016), trước năm 2000, chỉ có 631 lượt tìm kiếm cụm từ “CSATVM” trên Google, nhưng con số này đã tăng lên 500.000 lượt hiện nay, cho thấy sự quan tâm ngày càng tăng của các nhà hoạch định chính sách, ngân hàng trung ương và các nhà nghiên cứu đối với ý nghĩa của thuật ngữ này.

“CSATVM” vẫn còn mơ hồ (Clement, 2010; Laeven và Valencia, 2010).

Sự tương tác giữa CSATVM và CSTT là một vấn đề gây tranh cãi trong nghiên cứu kinh tế (Adrian và Liang, 2018) Theo Beau, Clerc và Mojon (2011), mục tiêu của CSTT và CSATVM thường bổ sung cho nhau, nhưng cũng có thể đối lập CSTT giúp ổn định tài chính bằng cách loại bỏ sự bóp méo thị trường và ổn định lãi suất (Kogar, 2006) Tuy nhiên, việc duy trì lạm phát thấp có thể dẫn đến mất cân bằng tài chính khi các NHTW giữ lãi suất cơ bản ở mức thấp quá lâu, khuyến khích tăng trưởng tín dụng quá mức và tạo ra bong bóng tài sản, gây rủi ro cho toàn bộ hệ thống (Gertler và Karadi, 2013; Greenwood và Hanson, 2013).

Năm 2013, các nền kinh tế nhỏ phải đối mặt với thách thức khi tăng lãi suất để kiểm soát lạm phát, điều này có thể thu hút dòng vốn ngoại nhưng cũng gây ra mất cân bằng bên ngoài Ngược lại, việc giảm lãi suất có thể dẫn đến sự rút lui của dòng vốn này, gây ra bất ổn tài chính (Dumičić, 2017).

CSATVM và ổn định tài chính là những chủ đề quan trọng trong thời điểm hiện tại Các nghiên cứu về ổn định tài chính thường áp dụng các thang đo khác nhau, dẫn đến những kết quả không đồng nhất (Adrian và Liang, 2018) Mặc dù sự tương tác giữa CSTT và CSATVM là vấn đề then chốt, nghiên cứu về chủ đề này vẫn còn hạn chế và thiếu sự đồng nhất trong phương pháp đo lường cũng như biến đại diện cho ổn định tài chính (Adrian và Liang, 2018).

Các nghiên cứu về chủ đề này thường áp dụng phương pháp tiếp cận tần suất (frequentist), tuy nhiên phương pháp này có nhược điểm lớn là độ chính xác phụ thuộc vào kích thước mẫu Ở cấp độ quốc gia, việc thu thập mẫu lớn là khó khăn, dẫn đến việc các nghiên cứu chỉ phân tích tác động của chính sách vĩ mô đến ổn định tài chính của một nhóm quốc gia Tuy nhiên, mỗi quốc gia có những đặc thù riêng, do đó việc đánh giá một nhóm tổng thể không thể làm rõ các đặc điểm nội tại của từng quốc gia trong nghiên cứu.

Tác giả chọn đề tài “Tác động của chính sách tiền tệ và chính sách an toàn vĩ mô đến ổn định tài chính” cho luận án tốt nghiệp nhằm hệ thống hóa các khái niệm liên quan đến chính sách an toàn vĩ mô (CSATVM) và ổn định tài chính Nghiên cứu này sẽ đề xuất một thang đo ổn định tài chính phù hợp với thực tiễn của các quốc gia mới nổi và dẫn dắt tăng trưởng kinh tế thế giới, đồng thời xem xét tác động của chính sách tiền tệ (CSTT) và CSATVM đến ổn định tài chính tại các quốc gia này.

EAGLEs là nhóm quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao nhưng cũng đối mặt với rủi ro tài chính lớn Bài viết sẽ phân tích cụ thể ảnh hưởng của chính sách tiền tệ (CSTT) và chính sách tài khóa vĩ mô (CSATVM) đến ổn định tài chính của nhóm này Sử dụng các phương pháp tiếp cận Bayes, nghiên cứu không chỉ đưa ra đánh giá tổng quan mà còn phân tích tác động của hai chính sách trên đến từng quốc gia trong nhóm EAGLEs Từ những phân tích này, tác giả sẽ đề xuất các khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao sự ổn định tài chính cho các quốc gia thuộc nhóm EAGLEs.

Khoảng trống nghiên cứu

Hiện nay, nghiên cứu về ổn định tài chính thường sử dụng các bộ chỉ số do IMF và ECB đề xuất để theo dõi tình hình tài chính Tuy nhiên, số lượng chỉ báo quá lớn khiến việc thu thập thông tin trở nên khó khăn, đặc biệt ở các quốc gia mới nổi và đang phát triển Việc diễn giải các chỉ tiêu cũng phức tạp do sự đa dạng của chúng Do đó, các nhà khoa học đã phát triển các chỉ số khác để đo lường ổn định tài chính, bao gồm chỉ số Căng thẳng tài chính, chỉ số Mỏng manh tài chính, chỉ số Điều kiện tài chính và chỉ số Ổn định tài chính tổng hợp Trong đó, chỉ số Ổn định tài chính tổng hợp do Albulescu phát triển vào năm 2008, với bốn chỉ số phụ, đã phản ánh đầy đủ hơn các khía cạnh của ổn định tài chính so với các chỉ số khác.

Bộ chỉ tiêu của Albulescu đã được nhiều nhà nghiên cứu kế thừa, bao gồm Morris (2010), Goran và Karanovic (2015), cùng Azka và Sahara (2018), để đánh giá mức độ ổn định tài chính của các nhóm nước mà họ nghiên cứu.

Các quốc gia EAGLEs có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, nhưng thường gặp thâm hụt ngân sách và nợ công cao do phụ thuộc vào đầu tư từ ngân sách nhà nước Nguồn vốn nước ngoài cũng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển, nhưng có thể tạo ra rủi ro nếu bị rút ra đột ngột, vì vậy dự trữ ngoại hối là yếu tố then chốt để đảm bảo ổn định tài chính Bộ chỉ tiêu của Albulescu (2008) mặc dù đầy đủ nhưng chưa phù hợp với các quốc gia đang phát triển này, vì thiếu sót trong việc xem xét nợ công và dự trữ ngoại hối Do đó, nghiên cứu này sẽ điều chỉnh bộ chỉ tiêu để phù hợp với đặc thù của các quốc gia EAGLEs.

Nghiên cứu này sẽ đánh giá tác động đồng thời của chính sách tiền tệ (CSTT) và chính sách tài chính vĩ mô (CSATVM) đối với ổn định tài chính của các quốc gia EAGLEs Mặc dù CSTT và CSATVM đã thu hút nhiều sự chú ý từ các nhà khoa học, nhưng hầu hết các nghiên cứu hiện nay chỉ tập trung vào tác động riêng lẻ của một trong hai yếu tố này Chỉ có một số ít nghiên cứu, như của Bruno, Shim và Shin (2017); Gambacorta và Murcia (2019); Zhang và Tressel (2017), xem xét tác động đồng thời, nhưng chỉ ở một số khía cạnh hạn chế như sự tăng giá tài sản hay chu kỳ tín dụng Các nghiên cứu này không phản ánh toàn bộ các khía cạnh của hệ thống tài chính, do đó, nghiên cứu này sẽ đề xuất một bộ chỉ tiêu toàn diện về ổn định tài chính, nhằm đánh giá tác động của CSTT và CSATVM một cách toàn diện hơn.

Theo mức độ lược khảo của tác giả, các nghiên cứu hiện tại chỉ đánh giá CSTT và CSATVM đến ổn định tài chính trong một nhóm quốc gia mà không xem xét đặc thù riêng của từng quốc gia Việc phân tích tổng thể một nhóm sẽ không thể bao quát hết các đặc điểm nội tại Thông qua cách tiếp cận Bayes, tác giả không chỉ đánh giá ảnh hưởng của CSTT và CSATVM đến ổn định tài chính của nhóm nước EAGLEs mà còn phân tích sâu ảnh hưởng của hai chính sách này đến ổn định tài chính của từng quốc gia cụ thể trong nhóm.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là đánh giá tác động của chính sách tài chính (CSTT) và chính sách an toàn tài chính (CSATVM) đến ổn định tài chính trong nhóm EAGLEs và từng quốc gia cụ thể Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cơ sở khoa học để đề xuất các chính sách nhằm củng cố ổn định hệ thống tài chính, từ đó cải thiện môi trường kinh tế vĩ mô và hướng tới tăng trưởng kinh tế bền vững Để đạt được mục tiêu này, luận án sẽ giải quyết các mục tiêu cụ thể liên quan.

- Đề xuất một bộ chỉ tiêu đo lường ổn định tài chính phù hợp đặc thù hệ thống tài chính tại các quốc gia thuộc nhóm EAGLEs.

- Đánh giá tác động của CSTT và CSATVM đến ổn định tài chính tại nhóm EAGLEs và từng quốc gia cụ thể thuộc nhóm EAGLEs.

- Đề xuất một số hàm ý chính sách trong thực thi CSTT và CSATVM để cải thiện ổn định tài chính tại các nhóm nước thuộc nhóm EAGLEs.

Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, luận án sẽ trả lời các câu hỏi sau:

Các phương pháp đo lường ổn định tài chính phổ biến hiện nay bao gồm các chỉ số như tỷ lệ nợ trên GDP, tỷ lệ dự trữ bắt buộc và các chỉ số thanh khoản Để áp dụng hiệu quả tại các quốc gia thuộc nhóm EAGLEs, cần điều chỉnh các phương pháp này sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế và đặc thù của từng quốc gia Việc lựa chọn phương pháp thích hợp sẽ giúp các quốc gia này cải thiện khả năng quản lý tài chính và tăng cường ổn định kinh tế.

- CSTT và CSATVM có tác động như thế nào đến chỉ số ổn định tài chính tại nhóm nước EAGLEs và các quốc gia trong nhóm EAGLEs?

- Giải pháp nào nên được thực thi nhằm cải thiện ổn định tài chính các nướcEAGLEs?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án tập trung vào ổn định tài chính và phân tích tác động của chính sách tài chính và chính sách tiền tệ đến ổn định tài chính tại các quốc gia có nền kinh tế mới nổi, được gọi là các nền kinh tế EAGLEs (Emerging and growth-leading economies).

Nghiên cứu tập trung vào 15 quốc gia mới nổi và dẫn dắt tăng trưởng kinh tế, được gọi là EAGLEs, bao gồm Bangladesh, Brazil, Trung Quốc, Ai Cập, Ấn Độ, Indonesia, Iran, Malaysia, Mexico, Nigeria, Pakistan, Philippines, Thổ Nhĩ Kỳ, Nga và Việt Nam Những quốc gia này có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nhưng cũng đối mặt với nhiều rủi ro tiềm ẩn có thể ảnh hưởng đến ổn định tài chính Phần Tổng quan về nhóm nước EAGLEs sẽ làm rõ hơn các đặc thù và rủi ro trong hệ thống tài chính của các quốc gia này.

Luận án nghiên cứu tác động của chính sách tài chính (CSTT) và chính sách an toàn tài chính vĩ mô (CSATVM) tại các quốc gia EAGLEs trong giai đoạn 2008 – 2018, sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007 Mặc dù ảnh hưởng của khủng hoảng đến từng quốc gia khác nhau, một số quốc gia như Bangladesh, Trung Quốc, Indonesia, Nigeria và Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng kinh tế ổn định Cuộc khủng hoảng 2007 đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu và trở thành bài học quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách toàn cầu Để ngăn chặn các cuộc khủng hoảng tương tự trong tương lai, các quốc gia đã chú trọng thực thi CSATVM và duy trì ổn định tài chính, như nghiên cứu của Akinci và Olmsted-Rumsey (2018) đã chỉ ra.

2007, cả các nước phát triển lẫn mới nổi đều chú trọng hơn nhiều trong việc giám sát và thực thi CSATVM.

Phương pháp nghiên cứu

Để đánh giá tác động của chính sách tiền tệ (CSTT) và chính sách tài chính vĩ mô (CSATVM) tại các nước EAGLEs, luận án sẽ kết hợp phương pháp định tính và định lượng Đầu tiên, nghiên cứu sẽ lược khảo các nghiên cứu trước để phát triển một thang đo ổn định tài chính phù hợp với thực tiễn và khả năng tiếp cận dữ liệu của các nước EAGLEs Tiếp theo, thông qua việc tổng hợp và phân tích các nghiên cứu đã có, luận án sẽ đề xuất một mô hình hồi quy để đánh giá tác động của CSTT và CSATVM đến ổn định tài chính Cuối cùng, nghiên cứu sẽ xem xét ảnh hưởng của hai chính sách này đối với ổn định tài chính của từng quốc gia trong nhóm EAGLEs.

Do chỉ có 11 quan sát cho mỗi quốc gia trong thời gian nghiên cứu 11 năm, nghiên cứu không thể áp dụng phương pháp hồi quy tần suất truyền thống Tuy nhiên, phương pháp Bayes cho phép tận dụng thông tin tiên nghiệm, giúp khắc phục nhược điểm của mẫu nhỏ và tạo điều kiện cho nghiên cứu Vì vậy, luận án sẽ sử dụng hồi quy đa biến Bayes để đánh giá tác động của chính sách tiền tệ (CSTT) và chính sách tài chính vĩ mô (CSATVM) đến ổn định tài chính của các nước EAGLEs Để đề xuất các hàm ý chính sách nhằm cải thiện ổn định tài chính, luận án sẽ áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính để thảo luận và đưa ra giải pháp cho các quốc gia thuộc nhóm EAGLEs.

Dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu của luận án là dữ liệu thứ cấp Cụ thể:

Bộ chỉ tiêu đo lường ổn định tài chính bao gồm bốn chỉ số quan trọng: (i) Phát triển tài chính, (ii) Tính dễ tổn thương tài chính, (iii) Lành mạnh tài chính, và (iv) Môi trường kinh tế toàn cầu Những chỉ số này giúp đánh giá và theo dõi tình hình tài chính của một quốc gia, từ đó đưa ra các biện pháp phù hợp nhằm duy trì sự ổn định và phát triển bền vững.

The Financial Development Index comprises three key indicators: (i) the Financial Institutions Index, (ii) the Financial Markets Index, both sourced from the International Monetary Fund's Financial Development Index (2020), and (iii) the interest rate spread, collected from the World Development Indicators (WDI, 2020).

Chỉ số Tính dễ tổn thương tài chính được xây dựng từ bảy chỉ tiêu quan trọng, bao gồm: (i) Lạm phát, (ii) Thâm hụt tài khoản vãng lai, (iii) Nợ khu vực tư nhân so với tổng dư nợ, (iv) Dư nợ so với tiền gửi, (v) Tỷ lệ tiền gửi trên M2, (vi) Nợ công so với GDP, và (vii) Tỷ giá hối đoái thực hữu hiệu (REER) Các chỉ tiêu này được thu thập từ bộ chỉ số phát triển thế giới (World Development Indicators - WDI, 2020) và dữ liệu của Bruegel (2020), nhằm đánh giá khả năng chịu đựng của nền kinh tế trước các biến động tài chính.

Chỉ số Lành mạnh tài chính bao gồm bảy chỉ tiêu quan trọng: (i) Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, (ii) chỉ số Z-score của hệ thống ngân hàng, (iii) Tỷ lệ dự trữ ngoại hối trên nợ nước ngoài, được thu thập từ bộ chỉ số WDI (2020), (iv) Tỷ lệ vốn tự có trên tài sản có rủi ro, (v) Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên vốn cổ phần của hệ thống ngân hàng, (vi) tỷ số tài sản thanh khoản, và (vii) Tỷ suất sinh lời trên tài sản bình quân (ROA), với các chỉ số này được lấy từ bộ dữ liệu Chỉ số lành mạnh tài chính (Financial Soundness Indicators – FSIs).

Chỉ số Môi trường kinh tế thế giới được cấu thành từ ba chỉ tiêu chính: (i) Tăng trưởng kinh tế toàn cầu, (ii) Lạm phát toàn cầu, được thu thập từ bộ chỉ số WDI (2020), và (iii) chỉ số môi trường kinh tế, do Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Viện Nghiên cứu Kinh tế (CESifo) tính toán.

Biến đại diện cho chính sách tiền tệ (CSTT) bao gồm mức tăng trưởng cung tiền, được thu thập từ bộ chỉ số WDI (2020), và lãi suất chính sách, lấy từ dữ liệu kinh tế vĩ mô của Oxford Economics.

Biến đại diện của CSATVM bao gồm tăng trưởng tín dụng ngân hàng cho khu vực tư nhân (TDNH cho KVTN) được thu thập từ WDI (2020) Các biến công cụ của CSATVM gồm: (i) giới hạn cho vay bằng ngoại tệ, (ii) tỷ lệ khoản vay trên giá trị, (iii) giới hạn tín dụng ngoại tệ, và (iv) dự trữ bắt buộc tăng thêm (hay còn gọi là phụ phí vốn) đối với các định chế tài chính quan trọng trong hệ thống tài chính.

(v) DTBB phản chu kỳ hoặc/và DTBB đối với tiền gửi ngoại tệ thu thập từ bộ dữ liệu Eugenio dataset (2018).

Kết quả đạt được và đóng góp của luận án

Luận án đã đạt được những kết quả nghiên cứu quan trọng liên quan đến tác động của chính sách tài chính (CSTT) và chính sách an toàn tài chính (CSATVM) đến ổn định tài chính tại các nước EAGLEs Cụ thể, tăng trưởng cung tiền M2 và lãi suất chính sách có tác động nghịch chiều đến ổn định tài chính, trong khi tăng trưởng tín dụng ngân hàng cho khu vực tư nhân và tỷ lệ khoản vay trên giá trị cũng ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định này Nghiên cứu cho thấy rằng CSTT và CSATVM có thể cải thiện ổn định tài chính khi được thực thi đồng bộ, mặc dù tác động của chúng có sự khác biệt giữa các quốc gia, ngoại trừ Ai Cập và Malaysia trong ngắn hạn Luận án đã hệ thống hóa các nghiên cứu trước đó và bổ sung bằng chứng thực nghiệm về tác động của CSTT và CSATVM, đồng thời áp dụng phương pháp Bayes để phân tích sâu hơn về ổn định tài chính của từng quốc gia trong nhóm EAGLEs Phát hiện lãi suất có tác động ngược chiều đến ổn định tài chính là điểm khác biệt quan trọng so với các nghiên cứu trước đây tại các quốc gia phát triển.

Các quốc gia phát triển thường duy trì lãi suất thấp nhờ kiểm soát lạm phát, trong khi các quốc gia EAGLEs phải đối mặt với lạm phát cao, dẫn đến lãi suất biến động và tăng chi phí hoạt động, làm giảm khả năng hoàn thành nghĩa vụ tài chính của người vay, từ đó xói mòn sự ổn định tài chính Luận án này sẽ đề xuất bộ chỉ tiêu đo lường sức khỏe hệ thống tài chính của các quốc gia EAGLEs và giúp các nhà hoạch định chính sách hiểu rõ mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ (CSTT) và chính sách tài chính (CSATVM) cũng như tác động của chúng đến ổn định tài chính Ngoài ra, thông qua phân tích hồi quy, tác giả sẽ rút ra kinh nghiệm duy trì ổn định tài chính, cung cấp cơ sở cho các quyết định chính sách kinh tế vĩ mô nhằm đảm bảo tăng trưởng bền vững.

Điểm mới của luận án

Từ kết quả nghiên cứu và các đóng góp của luận án, đề tài xác định được các điểm mới như sau:

Thứ nhất , các nghiên cứu hiện tại chỉ xem xét tác động của CSTT hoặc

CSATVM và các chính sách liên quan đến yếu tố như tăng giá tài sản, chu kỳ tín dụng, tăng trưởng giá nhà và tăng trưởng tín dụng được coi là đại diện cho Ổn định tài chính Tuy nhiên, những yếu tố này chỉ phản ánh một phần của hệ thống tài chính và không thể bao quát hết sự phức tạp của Ổn định tài chính Nghiên cứu này đã phát triển bộ chỉ số Ổn định tài chính phù hợp với đặc thù hệ thống tài chính của các quốc gia EAGLEs, cho phép đánh giá tác động của CSTT và CSATVM đến chỉ số Ổn định tài chính một cách toàn diện hơn, từ đó đề xuất giải pháp ít thiên lệch hơn.

Khác với các nghiên cứu trước sử dụng phương pháp kinh tế lượng tần suất, nghiên cứu này áp dụng cách tiếp cận Bayes, cho phép xử lý hiệu quả vấn đề mẫu nhỏ Nghiên cứu không chỉ phân tích tác động của chính sách tài chính (CSTT) và chính sách tài chính vĩ mô (CSATVM) đến ổn định tài chính của nhóm nước, mà còn đi sâu vào phân tích từng quốc gia trong mẫu Qua đó, nghiên cứu rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp chính sách phù hợp cho các quốc gia thuộc nhóm EAGLEs.

Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy lãi suất có tác động ngược chiều đến ổn định tài chính tại các quốc gia EAGLEs, khác với các nghiên cứu ở các quốc gia phát triển Các quốc gia EAGLEs thường xuyên đối mặt với lạm phát cao, buộc họ phải điều chỉnh lãi suất để kiểm soát tình hình Khi lạm phát được kiểm soát, họ lại nới lỏng chính sách tiền tệ để thúc đẩy tăng trưởng, dẫn đến biến động lãi suất Lãi suất tăng làm tăng chi phí hoạt động, giảm dòng thu nhập và khả năng trả nợ, đồng thời hạ giá trị tài sản đảm bảo, làm giảm khả năng tiếp cận tín dụng ngắn hạn, tăng rủi ro vỡ nợ và có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính.

Cấu trúc của luận án

Luận án được chia làm 5 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Giới thiệu tổng quan về nghiên cứu Trong chương này sẽ trình bày các vấn đề chính của luận án gồm: tính cấp thiết của đề tài, khoảng trống nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu,phương pháp nghiên cứu, kết quả đạt được đóng góp của đề tài.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan Chương này của luận án sẽ trình bày các cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu về ổn định tài chính, các phương pháp đo lường ổn định tài chính phổ biến và đề xuất, hiệu chỉnh một bộ chỉ tiêu đo lường cho nhóm nước EAGLEs Bên cạnh đó, phần này cũng phân tích khung lý thuyết và các nghiên cứu liên quan về tác động của CSTT và CSATVM để phát triển mô hình nghiên cứu tại chương 3.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này sẽ trình bày phương pháp đo lường Ổn định tài chính và các biến số tác động của CSTT và CSATVM đến ổn định tài chính tại các quốc gia thuộc nhóm EAGLEs trong mô hình nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương này của luận án sẽ trình bày kết quả và phân tích các kết quả hồi quy.

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Dựa trên kết quả phân tích tại chương 4, chương này của luận án sẽ trình bày kết luận, đề xuất một số hàm ý chính sách và các hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo.

Chương 1 đã trình bày tính cấp thiết về nghiên tác động của CSTT và CSATVM đến ổn định tài chính trong giai đoạn sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ cuối năm 2007 Ngoài ra, trong chương này cũng chỉ ra các khoảng trống nghiên cứu chủ yếu, qua đó xác định các mục tiêu, phạm vi, phương pháp nghiên cứu Bên cạnh đó, chương này cũng trình bày các kết quả chính và những đóng góp của luận án về mặt khoa học lẫn thực tiễn Chương 1 được xem là cơ sở để thực hiện các nội dung tiếp theo của luận án.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

Ổn định tài chính

Ổn định tài chính là mục tiêu chính của các ngân hàng trung ương toàn cầu, nhưng vẫn chưa có sự đồng thuận về định nghĩa chính xác của nó Khác với ổn định giá cả, ổn định tài chính liên quan đến sự tương tác phức tạp giữa nhiều yếu tố trong hệ thống tài chính và các yếu tố khác trong nền kinh tế Hiện tại, có hai cách tiếp cận để hiểu về ổn định tài chính: (1) khái niệm hẹp, tập trung vào việc xác định tình huống nào không được coi là ổn định tài chính, và (2) khái niệm rộng, tìm kiếm một thuật ngữ tổng quát để mô tả ổn định tài chính.

Theo Mishkin (1999), bất ổn tài chính xảy ra khi các cú sốc tác động đến hệ thống tài chính, làm gián đoạn luồng thông tin và cản trở việc chuyển vốn đến các dự án đầu tư hiệu quả Thông tin bất cân xứng, dẫn đến lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức, là những yếu tố quan trọng trong vấn đề này Lựa chọn nghịch xảy ra khi những người vay chấp nhận lãi suất cao để tham gia vào các dự án có tiềm năng sinh lời lớn nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro cao, dẫn đến việc họ trở thành những người đi vay được chọn lựa Rủi ro đạo đức xuất hiện khi bên vay sử dụng vốn theo cách làm giảm khả năng hoàn trả Khi thông tin bất cân xứng trở nên nghiêm trọng, hệ thống tài chính không còn khả năng nhận diện thông tin đầy đủ để tài trợ cho những cá nhân và doanh nghiệp có kế hoạch kinh doanh khả thi Thêm vào đó, cú sốc tài chính có thể làm trầm trọng thêm vấn đề này, dẫn đến thiếu hụt quỹ cho vay, ngay cả đối với những dự án thực sự hiệu quả.

Sự thiếu hụt tín dụng làm giảm chi tiêu của nền kinh tế và thu hẹp hoạt động kinh tế Theo Mishkin (1999), có bốn yếu tố làm trầm trọng thêm vấn đề bất cân xứng thông tin: (1) bảng cân đối kế toán khu vực tài chính xấu đi, dẫn đến việc ngân hàng thương mại cắt giảm nguồn quỹ cho vay; (2) lãi suất thị trường tăng, làm tăng chi phí vay vốn, khiến các ngân hàng có xu hướng cho vay vào các dự án rủi ro cao; (3) sự bất ổn gia tăng làm khó khăn trong việc phân loại các khoản đầu tư có rủi ro tín dụng thấp và cao; (4) bảng cân đối kế toán khu vực phi tài chính cũng xấu đi.

Sự giao động mạnh giá tài sản và khả năng không đáp ứng nghĩa vụ hợp đồng của các tổ chức tài chính là nguyên nhân chính gây ra bất ổn tài chính Tuy nhiên, theo Crockett (1997), những biến động nhỏ trong giá tài sản hoặc việc một số tổ chức tín dụng không hoàn thành nghĩa vụ của mình không được coi là bất ổn tài chính nếu không ảnh hưởng đến hoạt động của nền kinh tế thực hoặc tỷ lệ lạm phát.

Ferguson (2003) phân tích sự bất ổn tài chính dưới góc độ khả năng xảy ra các mối đe dọa đối với hoạt động kinh tế thực, nhấn mạnh rằng nếu không duy trì ổn định giá tài sản, cung cấp tín dụng và chi tiêu gần với khả năng sản xuất tiềm năng, bất ổn tài chính có thể xảy ra Bất ổn tài chính có thể dẫn đến nguy cơ sụp đổ hệ thống hoặc khủng hoảng tài chính lớn Davis (2003) liên kết sự sụp đổ này với khả năng phân bổ tín dụng và cung cấp dịch vụ thanh toán của hệ thống tài chính bị ảnh hưởng Cũng như Crockett (1997), Davis cho rằng sự biến động giá tài sản là một đặc trưng của bất ổn tài chính, nhưng không nhất thiết dẫn đến khủng hoảng tài chính.

Khác với các định nghĩa truyền thống về bất ổn tài chính, Borio và Drehmann (2008) cho rằng hệ thống tài chính được coi là không ổn định khi một cú sốc vừa phải gây ra căng thẳng hoặc khủng hoảng tài chính Họ nhấn mạnh rằng những hậu quả này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế thực, đồng thời cho rằng khả năng khủng hoảng có thể xuất phát từ các yếu tố nội tại trong chu kỳ tài chính hoặc từ các tác động bên ngoài.

Theo Rosengren (2011), bất ổn tài chính là tình huống mà nền kinh tế thực bị ảnh hưởng tiêu cực do sự bất ổn từ các tổ chức tín dụng cung ứng tín dụng Sự bất ổn này có thể phát sinh từ các trục trặc ở tổ chức, thị trường, hệ thống thanh toán hoặc hệ thống tài chính chung Tác giả nhấn mạnh vai trò quan trọng của các tổ chức tín dụng trong việc cung cấp dịch vụ, giúp nền kinh tế hoạt động ổn định Từ những quan điểm khoa học về bất ổn tài chính, tác giả đã rút ra một số đặc điểm chung.

- Bất ổn tài chính được đánh giá dựa trên hậu quả đối với nền kinh tế thực.

Bất ổn tài chính xảy ra khi hệ thống tài chính không phân bổ và cung cấp tín dụng hiệu quả cho các bên tham gia thị trường, đồng thời không đáp ứng được nhu cầu về dịch vụ thanh toán.

Biến động mạnh giá tài sản là đặc điểm của bất ổn tài chính, nhưng không phải lúc nào cũng là nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng tài chính Việc duy trì ổn định tài chính là rất quan trọng để ngăn chặn các cuộc khủng hoảng này xảy ra.

Theo Foot (2003), một hệ thống tài chính đạt trạng thái ổn định tài chính khi nó bao gồm bốn thành phần chính:

- Ổn định tiền tệ (được định nghĩa như sự ổn định giá trị của tiền), theo Foot

(2003), yếu tố này được xem là then chốt cho ổn định tài chính bởi vì ổn định tài chính không thể đạt được trong điều kiện lạm phát nhanh.

- Tỷ lệ việc làm trong nền kinh tế thực phải gần với mức toàn dụng (nền kinh tế đạt mức tăng trưởng tiềm năng) của nền kinh tế.

Niềm tin vào hoạt động của các TCTC là yếu tố then chốt, yêu cầu sự ổn định của hệ thống ngân hàng và các hoạt động trên thị trường tài chính Điều này sẽ thúc đẩy sự phân bổ hiệu quả giữa các khoản vay mượn, tiết kiệm và đầu tư dài hạn trong cả khu vực tư nhân và doanh nghiệp.

Sự ổn định giá cả tài sản thực và tài sản tài chính đảm bảo rằng biến động giá không ảnh hưởng tiêu cực đến ổn định tiền tệ và tỷ lệ việc làm tương ứng với sản lượng tiềm năng.

Theo Schinasi (2004), ổn định tài chính được định nghĩa là trạng thái mà hệ thống tài chính duy trì sự ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của nền kinh tế Điều này đồng nghĩa với việc hệ thống tài chính có khả năng giảm thiểu và phân tán các rủi ro tài chính, bao gồm cả những mất cân xứng phát sinh từ các yếu tố nội tại hoặc do các sự kiện tiêu cực không lường trước được.

Một chuỗi ổn định bao gồm nhiều khía cạnh và được thể hiện qua sự kết hợp của các biến đo lường Tập hợp các biến con giúp lượng hóa mức độ khả năng của thị trường tài chính trong việc thúc đẩy các hoạt động kinh tế như tiết kiệm, đầu tư, cho vay, tạo tính thanh khoản, phân phối tài chính, định giá tài sản, và cuối cùng là tăng trưởng và tích lũy thịnh vượng.

Tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế đồng nghĩa với việc hệ thống tài chính hỗ trợ sự phân bổ hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng sản lượng, và khuyến khích tiết kiệm, đầu tư, từ đó tạo ra sự thịnh vượng Để có cái nhìn tổng thể về ổn định tài chính, Schinasi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu rõ các yếu tố liên quan.

(2004) đã đưa ra một số nguyên tắc cơ bản cho việc xác định và phát triển định nghĩa về ổn định tài chính.

Nguyên tắc đầu tiên về ổn định tài chính nhấn mạnh rằng đây là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau như cơ sở hạ tầng tài chính, các tổ chức định chế tài chính và thị trường tài chính Cả khu vực công và tư đều đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì các thành phần cốt lõi của cơ sở hạ tầng tài chính, bao gồm hệ thống pháp lý và khung pháp lý cho quy định và giám sát Sự liên kết chặt chẽ giữa các thành phần trong hệ thống tài chính cho thấy rằng bất kỳ sự nhiễu loạn nào từ một thành phần riêng lẻ đều có thể làm xói mòn ổn định của toàn bộ hệ thống.

Chính sách tài chính tiền tệ

2.2.1 Khái niệm chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ là công cụ tài chính vĩ mô do Ngân hàng Trung ương (NHTW) thực hiện nhằm điều tiết lượng tiền trong lưu thông Mục tiêu của chính sách này bao gồm kiềm chế lạm phát, duy trì tỷ giá, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững và đạt mức toàn dụng lao động, cùng với các mục tiêu kinh tế vĩ mô khác (Yeyati và cộng sự, 2010; Ball, 2011; Mishkin, 2012; Jahan, 2014).

Theo Luật NHNN (2010), chính sách tiền tệ (CSTT) là quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về tiền tệ ở cấp quốc gia, nhằm sử dụng các công cụ và biện pháp để đạt được mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền, được thể hiện qua chỉ tiêu lạm phát.

2.2.2 Hệ thống mục tiêu chính sách tiền tệ và các công cụ chính sách tiền tệ

Hệ thống mục tiêu chính sách tiền tệ gồm: mục tiêu cuối cùng, mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động.

Chính sách tiền tệ thường có hai mục tiêu chính: mục tiêu đối nội tập trung vào ổn định giá cả, tăng trưởng bền vững và giảm thất nghiệp, trong khi mục tiêu đối ngoại nhắm đến ổn định tỷ giá và cân bằng cán cân thanh toán Mỗi quốc gia sẽ thiết lập mục tiêu CSTT riêng phù hợp với giai đoạn và đặc thù kinh tế của mình, nhưng nhìn chung, các mục tiêu chủ yếu vẫn là ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế và giảm thất nghiệp Trong đó, ổn định giá cả được coi là mục tiêu quan trọng nhất theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu (Thạch, Ánh và Ước, 2014).

Khi áp dụng các công cụ chính sách tiền tệ, Ngân hàng Trung ương (NHTW) không thể ngay lập tức đạt được mục tiêu cuối cùng, mà các công cụ này chỉ phát huy tác dụng sau một thời gian nhất định Do đó, NHTW thường sử dụng các mục tiêu trung gian để đánh giá phản ứng của nền kinh tế và điều chỉnh cho phù hợp nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng (Mishkin, 2012) Theo Miller và Van Hoose (2001), mục tiêu trung gian cần đáp ứng ba tiêu chuẩn: có mối tương quan cao với mục tiêu cuối cùng, có thể được lượng hoá chính xác và nhanh chóng, và có thể kiểm soát hiệu quả.

Mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ (CSTT) thường có độ trễ do các công cụ như mức cung tiền (M1, M2, M3) và lãi suất không thể tác động ngay lập tức đến nền kinh tế vĩ mô Để khắc phục điều này, Ngân hàng Trung ương (NHTW) thường bổ sung thêm mục tiêu hoạt động, sử dụng cơ số tiền tệ (MB) hoặc lãi suất liên ngân hàng để đạt được mục tiêu trung gian hiệu quả hơn.

Để đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương thường áp dụng các công cụ như dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu và nghiệp vụ thị trường mở Những công cụ này giúp điều chỉnh và quản lý khối lượng tiền trong lưu thông, từ đó hướng tới việc thực hiện các mục tiêu kinh tế trong từng giai đoạn cụ thể.

Chính sách an toàn vĩ mô

2.3.1 Khái niệm chính sách an toàn vĩ mô

Thuật ngữ “an toàn vĩ mô” lần đầu tiên xuất hiện trong cuộc họp của ủy ban Cooke vào năm 1979 và được sử dụng chính thức vào năm 1986 với mục tiêu cải thiện sự ổn định của hệ thống tài chính và cơ chế thanh toán quốc tế Mặc dù đã tồn tại hơn bốn thập kỷ, thuật ngữ này chỉ thực sự nổi bật sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu từ giữa năm 2007.

Theo định nghĩa, CSATVM là việc áp dụng các công cụ chính sách nhằm cải thiện sự ổn định của hệ thống tài chính, giảm thiểu nguy cơ đổ vỡ và xử lý các rủi ro phổ biến để tránh hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế (Clement, 2010) Khác với CSTK và CSTT, vốn là chính sách bình ổn nhằm điều chỉnh sản lượng sau cú sốc, CSATVM được thực hiện để kiểm soát và ngăn ngừa các cú sốc (Thạch và cộng sự, 2017).

Ba khía cạnh quan trọng trong CSATVM bao gồm cấu trúc, thời gian và quy định Cấu trúc liên quan đến rủi ro hệ thống phát sinh từ các ngoại tác trong tổ chức, như tính liên kết và mức độ tập trung của các TCTD (Johnston, 2011) Thời gian được sử dụng để xác định rủi ro trong các giai đoạn kinh tế và chu kỳ tài chính Cuối cùng, khía cạnh quy định tập trung vào việc thiết lập khung pháp lý nhằm giảm chênh lệch pháp lý (regulatory arbitrage) và ngăn chặn các TCTC chuyển hoạt động sang khu vực ít bị ràng buộc về pháp lý hơn.

2.3.2 Mục tiêu và phạm vi chính sách an toàn vĩ mô

CSATVM được coi là một phương pháp hướng tới ổn định tài chính, với hai quan điểm chính được chấp nhận rộng rãi Quan điểm đầu tiên cho rằng ổn định tài chính liên quan đến việc cải thiện khả năng chống chịu của hệ thống tài chính trước các cú sốc từ bên ngoài (Allen và Wood, 2006; Padoa-Schioppa).

Quan điểm thứ hai về căng thẳng tài chính nhấn mạnh tính chất nội tại của nó, cho rằng ổn định tài chính liên quan đến việc giảm thiểu các cú sốc xuất phát từ bên trong hệ thống Những cú sốc này thường có tính chu kỳ, dẫn đến việc chúng khuếch đại mức độ bất ổn trong các chu kỳ khủng hoảng tài chính.

Mục tiêu chính của CSATVM là giảm thiểu rủi ro hệ thống để giảm thiểu chi phí mà sự bất ổn tài chính có thể gây ra cho nền kinh tế NHTW Anh cam kết thực hiện điều này nhằm bảo vệ sự ổn định kinh tế.

Mục tiêu cốt lõi của CSATVM là thiết lập các quy định nhằm ổn định dịch vụ tài chính trung gian, bao gồm dịch vụ thanh toán, trung gian tín dụng và tổ chức bảo hiểm, nhằm chống lại các rủi ro cho nền kinh tế và tránh các khủng hoảng theo chu kỳ Theo Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB, 2010), CSATVM hướng tới việc giảm thiểu rủi ro quá mức từ yếu tố ngoại tác và thất bại của thị trường, đảm bảo hệ thống tài chính hoạt động hiệu quả, đồng thời nâng cao khả năng phục hồi và giảm thiểu tác động lan truyền của khủng hoảng.

Borio (2003) đã phân tích sự khác biệt giữa CSATVM và chính sách an toàn vi mô, nhằm cung cấp cho các nhà nghiên cứu cái nhìn toàn diện về bản chất của CSATVM.

Bảng 2.2 Khác biệt giữa chính sách an toàn vĩ mô và chính sách an toàn vi mô

Mục tiêu cuối cùng Đặc tính của rủi ro

Sự phơi thường với rủi ro hệ thống

Hiệu chuẩn của kiểm soát an toàn prudential controls)

2.3.3 Các công cụ chính sách an toàn vĩ mô

Cuộc khủng hoảng tài chính gần đây đã kích thích những tranh luận sôi nổi về cơ chế giám sát tài chính và các công cụ thực thi của nó trên các diễn đàn khoa học quốc tế (Galati và Moessner, 2011).

Theo Galati và Moessner (2011), phạm vi của CSATVM rất rộng, bao gồm các biện pháp nhắm vào ba thành phần chính của hệ thống tài chính Đầu tiên, các công cụ CSATVM giải quyết các lỗ hổng từ thị trường tài chính, như các biện pháp liên quan đến thị trường chứng khoán và các công cụ tài chính như ký quỹ hoặc cắt lỗ Thứ hai, các giải pháp nhằm xử lý lỗ hổng liên quan đến cơ sở của thị trường tài chính, khuyến khích sử dụng phương thức bù trừ và thanh toán qua trung tâm bù trừ cho giao dịch phái sinh Cuối cùng, việc xử lý rủi ro từ các tổ chức tài chính được thực hiện thông qua các công cụ giám sát và điều tiết, nhằm hạn chế rủi ro hệ thống.

Các công cụ nâng cao khả năng phục hồi của hệ thống tài chính

Ủy ban Basel đã đưa ra các đề xuất liên quan đến công cụ chính sách ảnh hưởng đến bảng cân đối kế toán của tổ chức tài chính, bao gồm các biện pháp an toàn vi mô nhằm tăng cường khả năng phục hồi của các tổ chức này Các công cụ này cũng bao gồm các biện pháp giám sát để đạt được các mục tiêu an toàn vĩ mô, như quy định sửa đổi về giám sát rủi ro tín dụng phái sinh và rủi ro từ hoạt động tài trợ qua các công cụ phái sinh, thường bộc lộ trong các cuộc khủng hoảng tài chính Thêm vào đó, ủy ban còn đề xuất các công cụ xử lý rủi ro hệ thống theo chiều thời gian, như thiết lập bộ đệm vốn điều chỉnh theo chu kỳ tín dụng và các khoản dự phòng khác.

Bảng 2.3 Tóm tắt các công cụ an toàn vĩ mô và vi mô cho khu vực ngân hàng

Công cụ đề xuất cho vốn và các khoản dự phòng

Rủi ro hệ thống theo chiều không gian Định nghĩa về vốn

Rủi ro tín dụng phái sinh (counterparty credit risk)

Rủi ro hệ thống theo chiều thời gian

Yêu cầu vốn tối thiểu.

Tấm đệm bảo toàn vốn (capital conservation buffer).

Tấm đệm vốn phản chu kỳ

Công cụ đề xuất cho thanh khoản

Tỷ lệ quỹ ổn định ròng (net stable funding ratio)

Tỷ lệ bảo đảm thanh khoản (Liquidity coverage ratio)

Để nâng cao sự ổn định của hệ thống tài chính, Tổ chức ổn định tài chính (FSB) đã đề xuất bổ sung các công cụ mới, bao gồm việc áp dụng khoản phụ phí vốn đối với các tổ chức tài chính quan trọng (SIFIs) Khoản phụ phí này sẽ được xác định dựa trên mức độ rủi ro mà SIFIs gây ra cho toàn bộ hệ thống, yêu cầu các tổ chức này phải duy trì mức vốn cao hơn so với các tổ chức tài chính khác.

Tổ chức này đề xuất một công cụ tài chính gọi là vốn tiềm tàng, cho phép các tổ chức tài chính phát hành nợ tự động chuyển đổi thành vốn cổ phần trong những tình huống căng thẳng Công cụ này sẽ giúp tăng cường khả năng kháng cự của các tổ chức trước những cú sốc tài chính bất ngờ.

Cơ chế bảo hiểm tiền gửi dựa trên rủi ro là một công cụ quan trọng trong việc xử lý khủng hoảng và điều tiết hành vi của các tổ chức tín dụng (TCTD) trong quyết định đầu tư rủi ro Những TCTD có khoản đầu tư rủi ro cao hoặc ảnh hưởng lớn đến hệ thống tài chính sẽ phải chịu mức bảo hiểm tiền gửi cao hơn Cơ chế này đã được áp dụng tại nhiều quốc gia châu Âu và trên thế giới, được công nhận là một phần thiết yếu trong bộ công cụ quản lý rủi ro tài chính (CSATVM) theo ECB (2010).

Bộ công cụ CSATVM xử lý sự mất cân đối tài chính

Bộ công cụ của CSATVM không chỉ tập trung vào nguồn cung tín dụng mà còn hướng tới nguồn cầu tín dụng, nhằm nâng cao sự lành mạnh của hệ thống tài chính và tăng khả năng trụ vững trước cú sốc (Ovenden, 2019) Các giải pháp này được thiết kế để xử lý nguyên nhân gây mất cân bằng tài chính, với cơ quan giám sát an toàn vĩ mô như NHTW đề xuất các công cụ ảnh hưởng đến cầu tín dụng Qua việc giám sát liên tục các rủi ro nội và ngoại, cơ quan này có thể phát hiện sớm các lỗ hổng trong hệ thống tài chính, đặc biệt liên quan đến đòn bẩy trong các khu vực kinh tế có nguy cơ cao Các công cụ kiểm soát mất cân bằng có thể bao gồm việc điều chỉnh tỷ lệ khoản vay trên giá trị tài sản (LTV) và tỷ lệ khoản vay/thu nhập (LTI) để hạn chế khả năng vay vốn của khách hàng trong các lĩnh vực có rủi ro cao.

Tác động của chính sách tiền tệ và chính sách an toàn vĩ mô đến ổn định tài chính

2.4.1 Mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và chính sách an toàn vĩ mô

Mục tiêu chính của chính sách tiền tệ (CSTT) tại nhiều quốc gia là duy trì sự ổn định giá cả hàng hóa và dịch vụ, đồng thời hướng tới các mục tiêu như tăng trưởng kinh tế, ổn định lãi suất và tỷ giá, cũng như giảm tỷ lệ thất nghiệp Ngân hàng trung ương (NHTW) có trách nhiệm đảm bảo sự ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô Song song đó, chính sách an toàn tài chính (CSATVM) đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính bằng cách cải thiện sức khỏe của hệ thống này, ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro hệ thống, từ đó hỗ trợ vai trò của hệ thống tài chính trong việc đảm bảo ổn định cho môi trường kinh tế vĩ mô.

Việc duy trì ổn định hệ thống tài chính là nhiệm vụ quan trọng ở cả cấp độ quốc gia và toàn cầu, với các nhà hoạch định chính sách luôn chú trọng đến rủi ro lớn đối với kinh tế vĩ mô nếu xảy ra bất ổn tài chính Mặc dù thiếu cơ sở chính thức, các Ngân hàng Trung ương (NHTW) thường thực hiện chính sách ổn định tài chính (CSATVM) trong thực tế Ngoài việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ truyền thống và phi truyền thống, NHTW còn áp dụng các công cụ CSATVM để phân tích và giám sát rủi ro hệ thống, đánh giá khả năng chịu tổn thương của các khu vực kinh tế, và báo cáo về ổn định tài chính NHTW không chỉ đóng vai trò là người cho vay cuối cùng để duy trì ổn định tài chính, mà còn cung cấp và giám sát cơ sở hạ tầng tài chính, kiểm soát rủi ro, và hợp tác để tìm kiếm giải pháp đồng bộ nhằm duy trì sự ổn định tài chính toàn cầu.

Mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ (CSTT) và ổn định tài chính đã từng bị đơn giản hóa, nhưng cuộc khủng hoảng gần đây đã chỉ ra sự lỗi thời của quan điểm này Ngày nay, sự vững mạnh của hệ thống tài chính được coi là điều kiện tiên quyết cho hiệu quả của CSTT, trong khi hiệu quả của CSTT lại là yếu tố quyết định đảm bảo ổn định tài chính Nhiều quốc gia hiện nay đã luật hóa nghĩa vụ của Ngân hàng Trung ương (NHTW) trong việc thực thi CSTT và chịu trách nhiệm đảm bảo ổn định tài chính Theo nghiên cứu, 89% NHTW ở châu Âu và 93% ở phần còn lại của thế giới có trách nhiệm này.

CSTT đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định tài chính bằng cách giảm thiểu sự bóp méo thị trường và rủi ro lãi suất, nhưng cũng có thể gây ra tác động tiêu cực cho sự ổn định tài chính Việc duy trì lãi suất cơ bản thấp có thể khuyến khích tăng trưởng tín dụng và rủi ro quá mức, dẫn đến bong bóng giá tài sản và tiềm ẩn nguy cơ khủng hoảng Đối với nền kinh tế nhỏ và mở, tăng lãi suất có thể cần thiết để kiềm chế lạm phát, nhưng cũng có thể thu hút dòng vốn quốc tế và gia tăng rủi ro hệ thống Ngược lại, cắt giảm lãi suất có thể kích thích nhu cầu nội địa nhưng cũng làm gia tăng rủi ro mất ổn định tài chính.

2.4.2 Nguyên tắc phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách an toàn vĩ mô Hình 2.1 Tương tác giữa các chính sách và mục tiêu

Chính sách cấu trúc (Structural

Tăng trưởng cân bằng (Balaced Growth)

Hình 2.1 cho thấy, bên cạnh các mục tiêu riêng biệt, các chính sách kinh tế vĩ mô cũng tạo ra hiệu ứng phụ, ảnh hưởng đến mục tiêu của các chính sách khác.

Nghiên cứu này tập trung phân tích tác động của chính sách tiền tệ (CSTT) đến mục tiêu của chính sách tài khóa (CSTK) và ngược lại Bài viết sẽ xem xét các kênh tác động của CSTT nhằm đạt được mục tiêu ổn định tài chính.

CSATVM có tác động quan trọng đến mục tiêu của CSTT, đặc biệt là trong việc duy trì ổn định tài chính Hiệu ứng phụ của CSTK thường được đánh giá qua hiệu ứng lấn át, dẫn đến sự suy giảm sản lượng do đầu tư khu vực tư nhân bị chèn lấn bởi chi tiêu công Điều này xảy ra khi các khoản chi ngân sách nhà nước và giảm thuế không được sử dụng hiệu quả Nếu CSTK mở rộng không hiệu quả, nó sẽ dẫn đến việc thâm hụt ngân sách nhà nước và trong nhiều tình huống, chính phủ có thể phải can thiệp.

NHTW tạm ứng nhiều hơn để tài trợ cho thâm hụt ngân sách, dẫn đến gia tăng lạm phát và tăng tỷ giá Việc chính phủ vay vốn từ thị trường, dù trong nước hay quốc tế, cũng gây ra những tác động tiêu cực đến chính sách tiền tệ Nếu vay trong nước, lãi suất thị trường sẽ tăng, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh và giảm sản lượng Vay nước ngoài có thể gây ra rủi ro tỷ giá và ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu, đồng thời rủi ro cũng cao hơn so với vay trong nước Nếu chính sách tín dụng thực hiện kém hiệu quả, sẽ ảnh hưởng đến ổn định giá cả và làm gia tăng kỳ vọng lạm phát, giảm uy tín của NHTW Hiệu ứng phụ của chính sách tiền tệ xảy ra khi cơ chế truyền dẫn yếu hoặc thực thi không nhất quán, có thể dẫn đến thắt chặt quá mức và làm giảm tổng cầu Để duy trì sản lượng, chính sách tín dụng có thể được nới lỏng, nhưng điều này sẽ tác động tiêu cực đến cân đối ngân sách Nếu chính sách tiền tệ mở rộng quá mức, sẽ gây ra lạm phát, làm giảm giá trị thực thu ngân sách do hiệu ứng Olivera – Tanzi Tóm lại, nếu chính sách tiền tệ không nhất quán, niềm tin vào NHTW sẽ suy giảm, làm gia tăng lạm phát và ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế dài hạn.

Cơ chếtác động CSTT và CSATVM đến muc ̣ tiêu ổn đinḥ tài chính

CSTT có thể gây ra những tác động phụ ảnh hưởng đến ổn định tài chính, vì vậy CSATVM được coi là một chính sách bổ sung nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng này và tạo điều kiện cho CSTT theo đuổi các mục tiêu chính của mình.

CSATVM có thể giảm sản lượng, từ đó ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng của CSTT, được xem như một tác dụng phụ Để hạn chế tác động này, CSTT cần gia tăng khả năng thích ứng (nới lỏng) nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả.

CSATVM có khả năng tạo ra một tấm đệm tài chính có thể được giải phóng trong thời kỳ căng thẳng, giúp kênh truyền tải của chính sách tiền tệ (CSTT) hoạt động hiệu quả Điều này góp phần duy trì tính hiệu quả của CSTT trong các giai đoạn khó khăn.

2.4.3 Các kênh ảnh hưởng của chính sách tiền tệ đến ổn định tài chính và CSATVM đối ứng để giảm bớt tác động này

Các kênh ảnh hưởng của CSTT đến ổn định tài chính.

Chính sách tiền tệ (CSTT) có thể gây ra một chuỗi tác động phụ lên sự ổn định tài chính, đặc biệt là khi lãi suất duy trì ở mức thấp trong thời gian dài, dẫn đến mất cân bằng tài chính Những tác động này có thể được khuếch đại tùy thuộc vào chu kỳ tài chính và luồng vốn Tuy nhiên, chính sách tài chính vĩ mô (CSATVM) có thể làm giảm nhẹ những tác động phụ này, tạo ra không gian cho CSTT theo đuổi mục tiêu chính CSATVM cũng có thể xây dựng tấm đệm giúp làm dịu căng thẳng tài chính, duy trì sự ổn định cho CSTT và đảm bảo tính bền vững trong các giai đoạn khó khăn (Nier và Kang, 2016).

Lãi suất tác động kênh tín dụng

Nới lỏng tiền tệ có tác động tích cực đến cầu tín dụng, khi lãi suất thấp không chỉ nâng cao khả năng chi trả của các khoản vay mà còn làm tăng giá trị tài sản đảm bảo Điều này dẫn đến việc người vay gia tăng sử dụng đòn bẩy tài chính, một hiện tượng được gọi là kênh bảng cân đối kế toán người cho vay (Borrower balance sheets channel) theo nghiên cứu của Bernanke, Gertler và Gilchrist (1996) cũng như Jiménez và cộng sự (2012).

Việc thắt chặt lãi suất có thể gây ra tác động tiêu cực cho người đi vay, làm gia tăng tỷ lệ vỡ nợ và dẫn đến một cuộc khủng hoảng tài chính Các nghiên cứu của Allen và Douglas (2000), Illing (2007), và Goodhart, Tsomocos và Vardoulakis (2009) đã chỉ ra mối liên hệ này, đồng thời Gertler và Gilchrist cũng nhấn mạnh sự quan trọng của việc theo dõi tác động của lãi suất đối với nền kinh tế.

Năm 1994, cơ chế vỡ nợ do chính sách thắt chặt tiền tệ được mô tả như sau: khi lãi suất tăng, gánh nặng cho người vay, đặc biệt là các khoản vay lãi suất thả nổi, cũng tăng theo Điều này dẫn đến chi phí hoạt động của nền kinh tế gia tăng, giảm dòng thu nhập và khả năng trả nợ Hơn nữa, lãi suất cao làm giảm giá trị ròng của các khoản vay, hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng ngắn hạn, từ đó gia tăng rủi ro vỡ nợ cho các khoản vay hiện tại.

Kênh chấp nhận rủi ro (Risk-taking channel)

Tổng quan các nghiên cứu trước

2.5.1 Các nghiên cứu về đo lường ổn định tài chính

Hệ thống lý thuyết về ổn định tài chính hiện nay đang đối mặt với thách thức lớn, không chỉ do sự bất đồng giữa các nhà khoa học về khái niệm ổn định tài chính mà còn do khó khăn trong việc đo lường Hệ thống tài chính bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau, có sự tương tác phức tạp giữa chúng và với các khu vực khác của nền kinh tế Theo Gadanecz & Jayaram (2008), việc sử dụng một chỉ số riêng lẻ để đánh giá sự ổn định của toàn bộ hệ thống là không khả thi; thay vào đó, cần có một bộ chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá sự lành mạnh của hệ thống tài chính.

Trong nhiều thập kỷ qua, các nghiên cứu đã nỗ lực xây dựng chỉ số đo lường mức độ ổn định của hệ thống tài chính Dựa trên lý thuyết về khủng hoảng tài chính, các biến số vĩ mô, vi mô và chỉ số cảnh báo sớm được lựa chọn để tạo thành bộ chỉ tiêu tổng hợp nhằm giám sát và phát hiện sự vận động của hệ thống, cũng như rủi ro tiềm ẩn trong tài chính Mục tiêu của bộ chỉ số này là đánh giá sức khỏe hiện tại của hệ thống tài chính và hỗ trợ thực hiện chính sách tài chính của Ngân hàng Trung ương.

Sự ổn định của khu vực kinh tế thực được đánh giá qua các chỉ tiêu như tăng trưởng thực, lạm phát, tỷ lệ nợ công trên GDP, tỷ giá hối đoái và lãi suất Những chỉ tiêu này giúp đánh giá tổng thể nền kinh tế quốc gia, khả năng quản lý nợ công và lạm phát của NHTW và chính phủ, cũng như vị thế thương mại quốc tế Đối với khu vực ngân hàng, các chỉ số như tỷ lệ an toàn vốn, thanh khoản, nợ xấu và đòn bẩy tài chính là những yếu tố quan trọng để đánh giá mức độ cung ứng tín dụng và sự ổn định của thị trường tài chính Thị trường tài chính thường phản ứng nhanh với các sự kiện kinh tế, từ đó phản ánh tính dễ tổn thương của nó.

Sự ổn định tài chính của hộ gia đình được đánh giá qua nợ, tài sản và thu nhập, phản ánh khả năng chịu đựng trước điều kiện kinh tế khó khăn Tỷ lệ vỡ nợ và nợ hộ gia đình tác động trực tiếp đến ngân hàng qua kênh tín dụng, trong khi mức tiêu dùng ảnh hưởng đến GDP Đối với khu vực doanh nghiệp, sức khỏe tài chính được đo lường qua xác suất vỡ nợ, nợ trên vốn cổ phần và nhu cầu ngoại tệ ròng trên vốn cổ phần.

Bộ chỉ số Lành mạnh tài chính (Financial soundness indicators – FSI) được xây dựng bởi IMF nhằm đánh giá mức độ ổn định của hệ thống tài chính, ra đời sau các cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong thập niên 80.

Vào năm 1999, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã triển khai Chương trình đánh giá khu vực tài chính (Financial Sector Assessment Program), trong đó xây dựng một bộ chỉ số gồm 12 chỉ tiêu lõi và 28 chỉ tiêu khuyến khích Bộ chỉ số này bao quát 6 khu vực chính, bao gồm khu vực kinh tế thực, khu vực hộ gia đình, khu vực bên ngoài, khu vực doanh nghiệp, khu vực tài chính và thị trường tài chính.

Dưới sự hỗ trợ của IMF, các quốc gia đã hợp tác xây dựng chỉ số tổng hợp FSI chung, giúp cơ quan thực thi chính sách thực hiện phân tích so sánh sự lành mạnh của hệ thống tài chính Đến cuối năm 2018, IMF đã đưa chỉ số FSI của khoảng 103 quốc gia vào cơ sở dữ liệu, tuy nhiên, dữ liệu này vẫn còn thiếu sót.

Bên cạnh chỉ số FSI của IMF, Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) đã phát triển bộ chỉ số an toàn vĩ mô (MPI) để giám sát sự ổn định của hệ thống ngân hàng Châu Âu Bộ chỉ số MPI của ECB được thiết kế một cách toàn diện hơn so với FSI, bao gồm toàn bộ khu vực tài chính, ngân hàng, kinh tế vĩ mô, khu vực phi ngân hàng và các yếu tố kết nối Tuy nhiên, hệ thống dữ liệu này rất phức tạp và yêu cầu một nguồn dữ liệu lớn với bảy nhóm yếu tố tổng cộng 303 chỉ số.

Do yêu cầu dữ liệu lớn từ IMF và ECB, việc thu thập và diễn giải thông tin trở nên khó khăn Các cuộc khủng hoảng tài chính ngày càng gia tăng đã thúc đẩy nghiên cứu xây dựng chỉ số đơn giản hơn để nhanh chóng chẩn đoán sức khỏe hệ thống tài chính và phát hiện dấu hiệu khủng hoảng Tuy nhiên, việc tìm ra một chỉ báo đại diện cho ổn định tài chính là thách thức, vì hiện tượng này đa chiều và cần được phân tích qua bộ chỉ số tổng hợp từ nhiều chỉ số “cơ bản” Những chỉ số này cần phản ánh thực trạng thị trường cổ phiếu, hoạt động ngân hàng, chất lượng tín dụng, niềm tin tiêu dùng và bối cảnh kinh tế vĩ mô Để đưa vào chỉ số tổng hợp, các chỉ số riêng lẻ cần được lượng hóa, mặc dù không phải lúc nào cũng có cùng đơn vị đo lường, làm phức tạp quá trình xây dựng chỉ số tổng thể Do đó, việc chuẩn hóa các giá trị của chỉ báo là cần thiết, với các phương pháp chuẩn hóa phổ biến giúp cải thiện khả năng diễn giải thống kê.

- Chuẩn hóa thống kê (Statistical normalization): bao gồm việc thể hiện tất cả các giá trị theo độ lệch chuẩn, và giá trị trung bình bằng 0.

Chuẩn hóa tham chiếu (Empirical normalization) là phương pháp thể hiện trị số chuẩn bằng giá trị chỉ số trong năm tham chiếu Một cách tiếp cận khác là gán giá trị 0 (Min) cho giá trị quan sát thấp nhất và 1 hoặc 10 (Max) cho giá trị quan sát cao nhất Các giá trị còn lại sẽ được tính toán theo công thức tương ứng.

Chuẩn hóa giá trị (Axiological normalization) là phương pháp tham chiếu với các giới hạn tối thiểu và tối đa, trong đó các giới hạn không được xác định về mặt thống kê Đối với tình huống bất lợi, giá trị nhận được là “0”, trong khi trong tình huống lý tưởng, giá trị đạt “1”.

Chuẩn hóa toán học là quá trình chuyển đổi dữ liệu thông qua một hàm toán học, giúp đưa các giá trị về khoảng giới hạn nhất định, chẳng hạn như từ -1 đến +1 hoặc từ 0 đến 1.

Một phương pháp chuyển đổi biến theo bách phân vị sử dụng hàm phân phối tích lũy mẫu (Illing và Liu, 2006) Trong phương pháp này, phân vị cuối cùng biểu thị giai đoạn không ổn định cao, trong khi phân vị đầu tiên thể hiện mức căng thẳng thấp Các giá trị xung quanh giá trị trung bình phản ánh mức độ rủi ro trung bình.

Phân tích nhân tố chính (PCA) là một kỹ thuật quan trọng trong nghiên cứu chỉ số ổn định tài chính, giúp chuyển đổi các biến tương quan thành một bộ dữ liệu mới thông qua ma trận hiệp phương sai Mặc dù PCA thể hiện mối quan hệ giữa các chỉ số, nhưng nó không phản ánh ý nghĩa kinh tế của dữ liệu Trong các nghiên cứu về ổn định tài chính, phương pháp “chuẩn hóa tham chiếu” thường được ưa chuộng vì khả năng tính toán chỉ số căng thẳng hoặc chỉ số ổn định Bước tiếp theo là tổng hợp các giá trị riêng lẻ, có thể sử dụng trọng số đồng đều hoặc khác nhau dựa trên tiêu chí ưu tiên Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều tác giả thường gán cùng một trọng số cho tất cả các biến trong chỉ số tổng hợp.

Các nhà nghiên cứu đã tổng hợp dữ liệu khác nhau thành bộ dữ liệu đồng nhất để đo lường ổn định tài chính Một trong những bộ chỉ số sớm phát triển là chỉ số căng thẳng tài chính, được khởi xướng bởi Kibritỗioğlu (2002), nhằm tính toán tính dễ tổn thương của hệ thống ngân hàng qua ba chỉ báo: tín dụng ngân hàng cho khu vực tư nhân, nợ nước ngoài của hệ thống ngân hàng và tiền gửi ngân hàng Sự gia tăng của chỉ số này cho thấy sự bất ổn trong hệ thống ngân hàng Dựa trên nghiên cứu này, Gersl và Hermanek (2007) đã bổ sung thêm các biến từ bảng cân đối kế toán của các ngân hàng.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 11/06/2021, 07:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w