Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của luận án là góp phần hoàn thiện lý luận về phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững; trên cơ sở đó, đánh giá toàn diện sự phát triển theo
Trang 11
LỜI MỞ ĐẦU 1.1 Sự cần thiết của nghiên cứu
Tại nhiều nước đang phát triển, cây dược liệu đóng vai trò quan trọng
trong việc chăm sóc sức khỏe của người dân Theo ước tính của WHO (2008),
80% dân số ở Châu Phi và Châu Á phụ thuộc vào các loại thảo dược để chữa
bệnh Cây dược liệu tại các địa phương đã và đang mang lại cho người nông
dân bản địa những cơ hội sinh kế tiềm năng, giúp họ có thể đa dạng danh mục
cây trồng của mình
Việt Nam là quốc gia được đánh giá cao về tiềm năng cây dược liệu
Thực tế ở nhiều địa phương cho thấy cây dược liệu đóng góp giá trị kinh tế cao,
góp phần lớn trong công cuộc xóa đói giảm nghèo Tuy nhiên việc nuôi trồng
dược liệu và thu hái trong nước mới đáp ứng nhu cầu sử dụng ở mức thấp
(khoảng 20-25%) (Viện dược liệu, 2016), còn lại phải nhập khẩu từ Trung
Quốc không rõ nguồn gốc Hơn nữa nguồn tài nguyên dược liệu đang đứng
trước nguy cơ cạn kiệt, nhiều loài có thể bị tuyệt chủng dẫn đến nhiều thách
thức cho sự phát triển bền vững Lào cai nằm trong vùng quy hoạch phát triển
dược liệu theo quy hoạch 1976 của Chính phủ Hiện nay tỉnh đã có quy hoạch
chi tiết phát triển dược liệu tại địa phương và việc canh tác dược liệu mặc dù
còn rất nhiều khó khăn nhưng đã đạt được một số kết quả khả quan
Về mặt lý luận, các công trình nghiên cứu về cây dược liệu trên thế giới
chủ yếu tập trung mô tả về đặc điểm, chủng loại và sự đa dạng hay thống kê về
số lượng của các loài cây dược liệu Các công trình nghiên cứu một cách cụ thể
về sự phát triển bền vững của cây dược liệu hầu như không có Chỉ có một số ít
công trình đưa ra các hàm ý chính sách hoặc các gợi ý dựa trên thực trạng của
cây dược liệu
Từ những phân tích như trên tác giả lựa chọn đề tài “Phát triển cây dược
liệu tại tỉnh Lào Cai theo hướng bền vững” làm đề tài nghiên cứu cho luận án
của mình
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là góp phần hoàn thiện lý luận về phát
triển cây dược liệu theo hướng bền vững; trên cơ sở đó, đánh giá toàn diện sự
phát triển theo hướng bền vững của cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai, từ đó đưa ra
các giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy sự phát triển cây dược liệu tại tỉnh
Lào Cai theo hướng bền vững
2
1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai
Phạm vi nghiên cứu:
-Về không gian: Tỉnh Lào Cai -Về thời gian: Đối với số liệu thứ cấp, tác giả chọn thời gian nghiên cứu từ năm 2012-2018 do số liệu về cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai chỉ mới bắt đầu được thống kê từ năm 2012 Đối với số liệu sơ cấp, tác giả tiến hành khảo sát điều tra cho niên vụ 2017-2018 đối với cây Actiso và cây Đương quy
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
A, Số liệu thứ cấp
Nguồn số liệu thứ cấp được thu thập qua báo cáo thống kê của Bộ y tế, Viện dược liệu TƯ, Cục y học cổ truyền, Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai, Sở y tế Lào Cai, sở Nông nghiệp tỉnh Lào Cai, phòng nông nghiệp các huyện, các dự án trồng cây dược liệu, các báo điện tử Số liệu của các công trình nghiên cứu khoa học về cây dược liệu Các số liệu về quốc tế được thu thập từ Tổ chức y tế thế giới, Ủy ban về lương thực và nông nghiệp quốc tế (FAO), các công trình nghiên cứu trước đây về cây dược liệu trên thế giới…
B, Số liệu sơ cấp
Tác giả sử dụng 02 phương pháp để thu thập số liệu sơ cấp bao gồm (1) phỏng vấn chuyên gia và (2) phát phiếu khảo sát
Phỏng vấn chuyên gia được sử dụng để lựa chọn các tiêu chí và nhân tố phù hợp cho khung phân tích phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững Sau khi phát triển được khung phân tích phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững, tác giả xây dựng bảng hỏi Bảng hỏi được phát thử nghiệm đến 04
hộ nông dân và được chỉnh sửa trước khi gửi đi để thu thập với số lượng lớn
Do cây Actiso và Đương quy là 02 loại cây có giá trị kinh tế cao nhất và đang được chú trọng đầu tư nhiều nhất tại Lào Cai hiện nay nên tác giả lựa chọn 02 loại cây này vào mẫu nghiên cứu để tiến hành khảo sát và điều tra Tổng cộng
có 250 phiếu khảo sát được phát đến các hộ nông dân trồng Actiso và Đương quy thuộc 02 huyện Sapa và Bắc Hà
1.4.2 Phương pháp phân tích số liệu
A, Phương pháp phân tích định tính
Phương pháp phân tích định tính được dùng để mô tả và phân tích đặc điểm về thực trạng phát triển cây dược liệu tại Thế giới, Việt Nam và tỉnh Lào Cai, đồng thời thăm dò và thiết kế thang đo các tiêu chí và nhân tố cho khung
Trang 23
phân tích phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững Cụ thể, tác giả sử dụng
phương pháp phỏng vấn sâu và nghiên cứu tình huống để phân tích định tính
các vấn đề nghiên cứu của luận án
B, Phương pháp phân tích định lượng
Tác giả sử dụng phương pháp phân tích hồi quy đa nhân tố để phân tích
mối quan hệ thống kê giữa các nhân tố thuộc chủ thể sản xuất và các tiêu chí về
nâng cao hiệu quả sản xuất và tiêu chí môi trường Hồi quy tuyến tính (linear
regression) được sử dụng đối với các biến liên tục Hồi quy logistic được sử
dụng để phân tích các dữ liệu phân tổ (categorical data) Các kiểm định về giả
thiết của hồi quy cũng được thực hiện để đảm bảo rằng phương pháp phân tích
hồi quy đa biến không vi phạm các giả thiết của hồi quy ví dụ như đa cộng
tuyến (kiểm định bằng Pearson correlation test) và phương sai sai số thay đổi
(khắc phục bằng lệnh robust) Luận án sử dụng kiểm định Hosmer-Lemeshow
để kiểm tra sự phù hợp của mô hình hồi quy Logistic đối với dữ liệu nghiên
cứu Phần mềm Stata được sử dụng để phân tích dữ liệu của luận án
1.5 Những đóng góp mới của luận án
Thứ nhất, luận án đã đưa ra khái niệm, nội hàm về phát triển cây dược
liệu theo hướng bền vững của địa phương Theo đó, phát triển cây dược liệu
theo hướng bền vững của địa phương được xác định theo 3 nội dung: (i) duy
trì, bảo tồn và mở rộng quy mô diện tích và chủng loại cây dược liệu; (ii) Nâng
cao hiệu quả sản xuất cây dược liệu; (iii) tăng cường sự tác động lan toả tích
cực của cây dược liệu đến kinh tế, xã hội và môi trường của địa phương phát
triển cây dược liệu
Thứ hai, luận án chỉ ra được các biểu hiện bền vững trong phát triển cây
dược liệu trên địa bàn tỉnh Lào Cai: (i) Số diện tích (ha) được quy hoạch trong
các khu bảo tồn thiên nhiên ngày càng tăng và tỷ lệ số cây sách đỏ được bảo tồn
nguyên vị trong các khu bảo tồn lớn, quy mô diện tích canh tác cây dược liệu tăng
qua các năm; (ii) So với các loài cây nông nghiệp khác, cây dược liệu mang lại
hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều lần; (iii) Phát triển cây dược liệu góp phần tích cực
đến giảm nghèo và tạo công ăn việc làm; (iv) Cây dược liệu thân thiện hơn với
môi trường so với cây lúa và cây ngô
Thứ ba, Luận án đã phát hiện đươc những biểu hiện không tích cực trong
phát triển cây dược liệu đứng trên góc độ phát triển bền vững: (i) Công tác bảo
tồn cây dược liệu tự nhiên còn nhiều hạn chế, số lượng các loài trong sách đỏ
được bảo tồn thành công còn thấp, diện tích đất để trồng cây dược liệu hàng năm
ít, nhỏ lẻ, manh mún; (ii) Chi phí sản xuất ban đầu cho cây dược liệu cao hơn so
4
với các cây trồng truyền thống khác (lúa, ngô), trong khi đó, các sản phẩm dược liệu chủ yếu chế biến thô rồi xuất bán giá trị kinh tế thấp và chưa phát huy được hiệu quả của chuỗi giá trị cây dược liệu; (iii) Thu nhập và đời sống của nhiều hộ dân, đặc biệt là các hộ dân đồng bào miền núi cao từ cây dược liệu chưa thực sự
ổn định; (iv) Một số hiện tượng gây hại môi trường của địa phương do hậu quả phát triển cây dược liệu ngày càng có xu hướng gia tăng như: xói mòn chất đất, ảnh hưởng không tích cực đến môi trường sinh thái trong quá trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hoá học tràn lan hoặc sau khi thu hoạch cây dược liệu không có phân huỷ rác tập trung
Thứ tư, Luận án đã chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong việc phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững tại tỉnh Lào cai bao gồm: (i) nguyên nhân liên quan đến chính sách đất đai, tín dụng và đầu tư cho khoa học
kỹ thuật, cơ sở hạ tầng; (ii) nguyên nhân liên quan đến năng lực của chủ thể sản xuất và kinh doanh cây dược liệu; (iii) nguyên nhân liên quan đến liên kết trong sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu; (iv) nguyên nhân liên quan đến thị trường đầu ra; (v) nguyên nhân liên quan đến quản lý cây dược liệu
Thứ năm, dựa trên các nguyên nhân dẫn đến các hạn chế trong phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững, luận án đã đưa ra 04 nhóm giải pháp bao gồm: (i) hoàn thiện chính sách; (ii) nâng cao năng lực cho chủ thể sản xuất và kinh doanh dược liệu; (iii) mở rộng thị trường đầu ra (iv) áp dụng mô hình quản
lý dựa vào cộng đồng đối với cây dược liệu và nâng cao vai trò của nhà nước trong phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về cây dược liệu
1.1.1 Khái niệm cây dược liệu
Theo Luật Dược năm 2016 “dược liệu là nguyên liệu làm thuốc có nguồn gốc tự nhiên từ thực vật, động vật, khoáng vật và đạt tiêu chuẩn làm thuốc”
Như vậy cây dược liệu được hiểu là thực vật đạt tiêu chuẩn làm thuốc hay gọi ngắn gọn là cây thuốc Theo Tổ chức nông nghiệp và lương thực liên hợp quốc (FAO), thuật ngữ phổ biến dùng để chỉ cây dược liệu là Medicinal Aromatic Plants (MAPs), được định nghĩa là những cây thuốc giúp con người phòng ngừa bệnh tật, duy trì sức khỏe hoặc chữa bệnh (Marshall, 2011)
1.1.2 Phân bổ các loài cây dược liệu tự nhiên
Hiện nay có khoảng 60.000 loại cây dược liệu được sử dụng trên toàn thế giới Tuy nhiên việc phân bổ các loài cây dược liệu lại không đồng đều ở các
Trang 35
khu vực Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia có nhiều loài cây dược liệu tự
nhiên nhất thế giới với 11.146 loài ở Trung Quốc và 7.500 loài ở Ấn Độ, tiếp
theo là Colombia, Nam Phi, Mỹ và 16 quốc gia khác
1.1.3 Vai trò của cây dược liệu đối với đời sống kinh tế và xã hội
Ngày nay, ở nhiều nước đang phát triển và các nước đang chuyển đổi, cây
dược liệu đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe của người dân
Tính đến năm 2014, trên toàn thế giới có 18.226 cơ sở chữa bệnh y học dân tộc
cổ truyền, cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho 80% dân số trên toàn cầu
(WHO, 2014) Hiện nay có khoảng 3.000 loài cây dược liệu được mua bán toàn
cầu Theo Ban thư ký về đa dạng sinh học của Liên hợp quốc, tổng giá trị kim
ngạch xuất khẩu của cây dược liệu trên toàn cầu là 1,2 tỷ USD (tính theo giá trị
khai báo hải quan) Hơn 30% lượng thuốc bán trên toàn thế giới có nguồn gốc từ
cây dược liệu (FAO, 2005) Khoảng hơn 100 loài dược liệu được sử dụng trong
sản xuất thuốc tây y Mặc dù công nghệ sản xuất thuốc hiện đại từ cây thảo dược
chủ yếu nằm trong tay các công ty sản xuất thuốc lớn tuy nhiên điều này cũng
mang đến những cơ hội tiềm năng cho những người nông dân khi họ có thể canh
tác và trồng cây dược liệu để cung cấp cho các công ty dược với quy mô lớn
1.2 Tổng quan các nghiên cứu ngoài nước về phát triển cây dược liệu theo
hướng bền vững
1.2.1 Về nội hàm phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững
Trong phạm vi tiếp cận được của luận án, vấn đề phát triển theo hướng bền
vững cây dược liệu chủ yếu tập trung ở một số khía cạnh sau: (1) bảo tồn và
duy trì cây dược liệu; (2) sản xuất cây dược liệu theo hướng bền vững; (3) thu
hoạch bền vững cây dược liệu và (4) sử dụng bền vững cây dược liệu
1.2.2 Về tiêu chí đánh giá phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững
Do các nghiên cứu về cây dược liệu chủ yếu được tiếp cận theo góc độ
quy trình kỹ thuật, như đã tổng quan ở trên, hiện chưa có công trình ngiên
cứu về phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững dưới giác độ kinh tế
phát triển, do đó các tiêu chí đánh giá sự phát triển cây dược liệu theo hướng
bền vững chỉ được gợi ý rải rác trong các công trình nghiên cứu trước đây
Theo đó, các tiêu chí bao gồm: trữ lượng cây dược liệu trong tự nhiên, diện
tích khu bảo tồn (Chen và cộng sự, 2016); khối lượng dược liệu thu hoạch
(Hamilton, 2004); sản lượng dược liệu xuất khẩu (Prahalathan, 2004), số loài
cây dược liệu được canh tác, diện tích canh tác (Van De Kop, P và cộng sự,
2006), thu nhập, thu nhập ròng từ cây dược liệu (Nautiyal MC và Nautiyal
BP, 2004) Các tiêu chí trên chủ yếu đánh giá một phần khía cạnh bảo tồn và
6
hiệu quả sản xuất cây dược liệu Hiện theo hiểu biết của tác giả, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến các tiêu chí về môi trường và xã hội đối với cây dược liệu
1.2.3 Về các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững
Các nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển theo hướng bền vững của cây dược liệu gồm: (1) Điều kiện tự nhiên sinh thái; (2) Điều kiện cơ sở hạ tầng; (3) Năng lực của các bên liên quan trong chuỗi cung ứng; (4) Kỹ thuật canh tác và thu hoạch; (5) Sự phát triển của khoa học kỹ thuật; (6) Nhu cầu thị trường và (7) chính sách của nhà nước
1.3 Tổng quan các nghiên cứu trong nước về phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững
1.3.1 Về nội hàm phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững
Nội hàm phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững được thể hiện ở một số công trình như Phan Văn Tân và cộng sự (2013); Trần Thế Hùng và Đinh Thị Lệ Giang (2014) và Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 Theo đó phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu gồm: (1) phải bảo tồn và khai thác hợp lý cây dược liệu
tự nhiên; (2) sản xuất cây dược liệu theo hướng an toàn, chất lượng, hiệu quả, (3) gia tăng đóng góp của cây dược liệu cho các mục tiêu phát triển kinh tế,
xã hội
1.3.2 Về tiêu chí đánh giá
Do các nghiên cứu về phát triển cây dược liệu từ góc độ kinh tế còn hạn chế mà chủ yếu được tiếp cận theo góc độ quy trình kỹ thuật vì vậy, các tiêu chí
để đánh giá sự phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu ở Việt Nam cũng chưa được đề cập nhiều trong các nghiên cứu Chỉ một vài tiêu chí được đưa ra trong quy hoạch phát triển dược liệu như diện tích trồng, thu nhập, sản lượng (Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai, 2017)
1.3.3 Về các nhân tố ảnh hưởng
Các nghiên cứu trong nước cũng đã chỉ ra các nhân tố tác động đến phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu gồm:
- Ý thức của người dân trong việc khai thác nguồn tài nguyên dược liệu:
- Trình độ kỹ thuật của người sản xuất
- Hệ thống cơ sở hạ tầng
- Cơ chế chính sách
- Liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị cây dược liệu
Trang 47
1.3.4 Các nghiên cứu về phát triển cây dược liệu tại Lào Cai
Dưới góc độ kỹ thuật Nguyễn Bá Hoạt (2002) và Trần Anh Tuấn và
Trương Ngọc Kiểm (2017) đã đánh giá về điều kiện tự nhiên, khí hậu, các
thông số sinh thái để đánh giá mức độ thích nghi của cây dược liệu tại Lào
Cao, từ đó xác định các biện pháp kỹ thuật trồng cơ bản, hoàn thiện quy trình
trồng trọt, xây dựng các mô hình kinh tế hộ trồng cây thuốc… nhằm nâng
cao năng suất, tăng hiệu quả kinh tế của một số cây thuốc có giá trị kinh tế
cao, có thị trường, phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá ở Sa Pa
Dưới góc độ kinh tế, nghiên cứu của Đại học Thái nguyên (2018 đã
đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong phát triển cây dược liệu tại Lào Cai
và thực trạng tình hình sản xuất vùng trồng dược liệu tỉnh Lào Cai giai đoạn
2015-2016 trên các khía cạnh gồm diện tích trồng, hiệu quả kinh tế của một
số loại cây dược liệu dựa trên số liệu về năng suất bình quân (tấn/ha), giá bán
bình quân (triệu đồng/ tấn) và tổng thu Từ đó đã đề xuất một số giải pháp
quy hoạch phát triển cây dược liệu gồm đầu tư, hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ
tầng cần thiết cho vùng quy hoạch trồng dược liệu, đầu tư cho khoa học công
nghệ, đào tạo tập huấn, thị trường tiêu thụ và xúc tiến thương mại, và cơ chế,
chính sách
1.4 Đánh giá tổng quan các nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu
Qua tổng quan các nghiên cứu trong nước và ngoài nước có liên quan đến
phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu nêu trên, luận án rút ra một số
nhận xét như sau:
Đối với các nghiên cứu ngoài nước: phát triển theo hướng bền vững cây
dược liệu được nghiên cứu khá nhiều, với nhiều khía cạnh khác nhau, ở nhiều
giai đoạn khác nhau đều đã chỉ ra vai trò quan trọng của cây dược liệu và sự cần
thiết phải phát triển bền vững cây dược liệu Tuy nhiên, chủ yếu các nghiên cứu
được tiếp cận dưới góc độ các giải pháp kỹ thuật Các nghiên cứu mang tính lý
luận về phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu dưới góc độ kinh tế, xã
hội và môi trường vẫn chưa được hoàn thiện
Đối với các nghiên cứu trong nước:
Các nghiên cứu về phát triển cây dược liệu ở Việt Nam mặc dù còn khá
hạn chế, song cũng đã đạt được một số kết quả:
- Các nghiên cứu đã chỉ ra tiềm năng và lợi thế để phát triển cây dược liệu
Việt Nam nói chung và tỉnh Lào Cai nói riêng
8
- Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra được những biểu hiện thiếu bền vững trong phát triển cây dược liệu ở một số địa phương ở Việt Nam trong những giai đoạn vừa qua
- Các nghiên cứu cũng đã đề xuất được các giải pháp nhằm phát triển cây dược liệu Tuy nhiên, phần lớn các giải pháp được đưa ra dưới góc độ quy trình
kỹ thuật sản xuất, còn thiếu các giải pháp dưới góc độ quản lý và kinh tế
- Đối với các nghiên cứu liên quan đến phát triển cây dược liệu ở Lào Cai:
đã đánh giá được tiềm năng và lợi thế của Lào Cai trong phát triển cây dược liệu, đánh giá được thực trạng phát triển cây dược liệu Lào Cai Tuy nhiên, những phân tích đánh giá trên chủ yếu từ thực tiễn, theo góc độ quy trình kỹ thuật, những phân tích từ góc độ kinh tế chưa được làm rõ, đồng thời các nghiên cứu mang tính toàn diện về phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững thì chưa được thực hiện
Từ những phân tích, đánh giá khoảng trống nêu trên, luận án sẽ giải quyết các vấn đề sau:
Thứ nhất, luận án sẽ xây dựng và hoàn thiện khung phân tích về phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững trên góc độ kinh tế, xã hội và môi trường Thứ hai, luận án phân tích đánh giá toàn diện thực trạng phát triển cây dược liệu ở Lào Cai theo hướng bền vững để từ đó rút ra được những thành tựu cũng như những hạn chế, phân tích nguyên nhân gây ra những hạn chế này để
có cơ sở đề xuất các giải pháp và kiến nghị để phát triển cây dược liệu ở Lào Cai theo hướng bền vững trong thời gian tới
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÂY DƯỢC LIỆU
THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 2.1 Cơ sở lý luận về phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững
2.1.1 Phát triển
Phát triển cây dược liệu là một phạm trù thuộc phát triển sản xuất vật chất
và bao gồm các quan điểm cơ bản như sau:
- Phát triển gắn liền với sự gia tăng về số lượng và thay đổi chất lượng
- Phát triển được hiểu là phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu
- Phát triển là tăng trưởng quy mô và hoàn thiện về cơ cấu.development
2.1.2 Phát triển theo hướng bền vững
Phát triển theo hướng bền vững được coi là sự phát triển cân bằng giữa kinh tế, xã hội và môi trường Nó lồng ghép các quá trình sản xuất với bảo tồn
Trang 59
Trang 612
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÂY DƯỢC LIỆU THEO
HƯỚNG BỀN VỮNG TẠI TỈNH LÀO CAI 3.1 Thực trạng phát triển cây dược liệu trên thế giới
3.1.1 Nguồn cung cây dược liệu trên thế giới
Theo FAO (2005), có hai nguồn cung cấp cây dược liệu trên thế giới bao gồm: thu hái tự nhiên và nuôi trồng Hiện nay nguồn dược liệu từ thu hái tự nhiên cung cấp đến 90% tổng sản lượng tiêu thụ cây dược liệu trên toàn thế giới
(Chen và cộng sự, 2016) Nuôi trồng cây dược liệu hiện chỉ cung cấp 10% tổng
sản lượng tiêu thụ thảo dược trên toàn thế giới
3.1.2 Tình hình tiêu thụ và xuất nhập nhập khẩu cây dược liệu trên thế giới
Theo ước tính của các nhà khoa học, cây dược liệu đáp ứng khoảng 80% nhu cầu chữa bệnh của người dân ở các nước đang phát triển (Ramawat và Ahuja, 2016) và trên 25% thuốc kê đơn ở các nước phát triển được chế biến từ các loại dược liệu tự nhiên.Ước tính tổng giá trị thị trường toàn cầu đối với cây dược liệu
là 83 tỷ USD năm 2008 (Barata và cộng sự, 2016) và tăng trưởng hàng năm với tốc độ là 7-10% (Nagpal và Karki, 2004; Subrat, 2005) Tổng kim ngạch buôn bán cây dược liệu chủ yếu tập trung ở các trung tâm thương mại quốc tế lớn bao gồm Đức, Mỹ, Nhật và Hồng Kông
3.1.3 Chuỗi cung ứng cây dược liệu
Chuỗi cung ứng cây dược liệu thường rất dài gồm 06 đến 07 bước bắt đầu
từ người thu hái và sơ chế, trung gian thu mua tại địa phương, trung gian thu mua tại khu vực, người thu mua và bán sỉ, những nhà cung cấp chuyên biệt và khách hàng
3.1.4 Thực trạng suy kiệt nguồn dược liệu tư nhiên trên thế giới
Việc khai thác quá mức cùng với sự suy thoái về môi trường sống đã dẫn đến hiện tượng suy kiệt nguồn dược liệu tự nhiên một cách trầm trọng trên toàn thế giới Tính trung bình, cứ hai 2 năm trái đất mất đi một loại cây dược liệu quý (Pimm và cộng sự, 1995) Theo Ủy ban bảo vệ thiên nhiên và thế giới hoang giã quốc tế có khoảng 15.000 cây dược liệu đang có nguy cơ bị tuyệt chủng do tình trạng khai thác quá mức và sự suy giảm của môi trường sinh thái (Chen và cộng sự, 2016) Bên cạnh đó khoảng gần 20% nguồn dược liệu
tự nhiên gần như cạn kiệt do sự gia tăng dân số và nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng cao
Trang 73.2 Thực trạng phát triển cây dược liệu tại Việt Nam
3.2.1 Quản lý nhà nước về cây dược liệu
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao hiện nay, cây dược liệu thuộc
thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế Tuy nhiên trong thực tế việc quản lý cây dược
liệu còn liên quan đến nhiều bộ ngành khác như Bộ Nông Nghiệp và Phát triển
nông thôn, Bộ công thương, Bộ Tài chính, Bộ khoa học và công nghệ, Bộ quốc
phòng, Ủy ban nhân dân các tỉnh
3.2.2 Tiềm năng tài nguyên cây dược liệu tại Việt Nam
Theo điều tra về tri thức bản địa, đã thu thập các cây thuốc và kinh
nghiệm sử dụng cây thuốc và bài thuốc của đồng bào dân tộc: H’Mông (Lào
Cai), Mường (Thanh Hóa, Hòa Bình, Yên Bái, Nghệ An), Dao (Ba Vì, Lào
Cai, Hòa Bình, Vĩnh Phúc), Ka Tu (Thừa Thiên Huế), Vân Kiều (Tây Nguyên),
Tày (Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên), Nùng (Lạng
Sơn), Sán Dìu (Vĩnh Phúc), Khơ Me (An Giang) Đã tổng hợp được danh lục
các loài cây thuốc của 15 dân tộc lớn trên cả nước Thu thập và sưu tầm được
1.296 bài thuốc dân gian chữa bệnh của cộng đồng các dân tộc, những bài thuốc
này đã phục vụ cho việc nghiên cứu sàng lọc, nghiên cứu phát triển tạo sản
phẩm phục vụ công tác phòng chống bệnh tật, song những thành phẩm này ở
dạng nguyên liệu thô, chưa thành hàng hóa nên sức cạnh tranh kém
3.2.3 Về bảo tồn và phát triển nguồn gen cây thuốc
Một số nét chính trong công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen của cây
dược liệu như sau:
- Hiện Việt Nam duy trì mạng lưới bảo tồn nguồn gen tại 07 vùng sinh thái
- Đã khảo sát và xác định được số loài cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn tại
các vườn quốc gia
- Lưu giữ và bảo tồn 1.531 nguồn gen thuộc 884 loài cây thuốc tại 7 vườn
cây thuốc thuộc các đơn vị trong và ngoài ngành Y tế Lưu giữ trong kho
lạnh hạt giống của 200 loài; bảo tồn chuyển vị 15 loài thuộc diện quí
hiếm hoặc có tiềm năng phát triển
- 100% các nguồn gen bảo tồn được đánh giá ban đầu; 30% nguồn gen
được đánh giá chi tiết về các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển
- Nguồn gen và giống của gần 30 loài cây thuốc đã được chọn lọc
3.2.4 Về nuôi trồng và thu hái cây dược liệu
Theo kết quả điều tra giai đoạn 2013 – 2015 của Viện Dược Liệu (Bộ y
tế, 2017), hiện có khoảng 70 loài/nhóm loài cây dược liệu có tiềm năng khai thác,
với trữ lượng ước tính là 18.372 tấn/năm Trong đó, 45/70 loài/nhóm loài có tiềm
14
năng khai thác lớn như diếp cá, cẩu tích, lạc tiên, rau đắng đất, ngũ gia bì chân chim, thiên niên kiện.Trong số các loài cây thuốc đã biết khoảng gần 4.000 loại, chỉ có hơn 500 loài là cây thuốc đã được trồng với các mức độ khác nhau, nhiều loài là cây lương thực, thực phẩm, gia vị làm thuốc Trên thực tế, hiện chỉ có khoảng 92 loài cây dược liệu được trồng phục vụ nhu cầu thị trường
3.2.5 Về chế biến, sản xuất, kinh doanh và buôn bán dược liệu
Theo số liệu của Bộ y tế (2016), tính đến tháng 02/2017, có khoảng 200
cơ sở kinh doanh dược liệu trên toàn quốc, trong đó có 12 cơ sở đã đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất chế biến dược liệu Phần lớn các cơ sở chỉ thực hiện sơ
chế dược liệu Việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị thực hiện chế biến dược
liệu là khâu rất quan trọng để đảm chất lượng của dược liệu lưu hành trên thị trường Đặc biệt chế biến sau thu hoạch còn bảo đảm được hàm lượng hoạt chất
có trong dược liệu Tuy nhiên, phần lớn các cơ sở chưa đầu tư các công nghệ chế biến dược liệu sau thu hoạch
3.2.6 Về xuất nhập khẩu cây dược liệu
Tính đến tháng 03/2016, Bộ y tế đã cấp phép nhập khẩu dược liệu cho 16 doanh nghiệp với tổng khối lượng dược liệu được cấp phép nhập khẩu là 93.000 tấn dược liệu Theo số liệu của Bộ y tế, năm 2016 có khoảng 2000 tấn dược liệu
đã được nhập khẩu về Việt Nam
Về xuất khẩu, theo số liệu tổng hợp từ Tổng Cục Hải quan (2012 - 2016), các doanh nghiệp trong nước đã xuất khẩu khoảng 1.000 - 5.000 tấn dược liệu các loại, với giá trị xuất khẩu đạt 15 – 30 triệu USD/năm Thị trường xuất khẩu dược liệu chủ yếu là các nước Châu Á như Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan và một số nước châu Âu như Pháp và Nga
3.3 Thực trạng phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững tại tỉnh Lào Cai
3.3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại Tỉnh Lào Cai
3.3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới, thuộc khu vực Tây Bắc, được tái lập tháng 10/1991 Diện tích tự nhiên của tỉnh là 638.389,58 ha Toàn tỉnh có 01 thành phố, 08 huyện, 144 xã, 12 phường và 8 thị trấn Địa hình của Lào Cai được chia làm các dạng khác nhau từ địa hình thung lũng, địa hình vùng núi thấp đến địa hình vùng núi cao
3.3.1.2.Điều kiện kinh tế
Lào Cai được xếp vào một trong những tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao của cả nước Tính trung bình giai đoạn 2014-2018, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của tỉnh Lào Cai, tăng trên 10%, trong đó công
Trang 8nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất trên 14%, dịch vụ trên 8% và nông
nghiệp trên 5% (bảng 3-9) Thu nhập bình quân đầu người của tỉnh Lào Cai đã
có xu hướng tăng qua các năm tuy nhiên vẫn thấp hơn mức trung bình của cả
nước Năm 2017, thu nhập bình quân của cả nước là 2.385 USD trong khi thu
nhập bình quân của tỉnh Lào Cai là 2.296 USD Điều này cho thấy điều kiện
kinh tế và thu nhập của tỉnh Lào Cai còn thấp
3.3.1.3 Điều kiện xã hội
Theo thống kê của tỉnh, dân số trung bình năm 2015 của tỉnh Lào Cai có
665.152 người, trong đó dân số nông thôn 513.189 người, chiếm 77,15% dân số
chung Nhìn chung lực lượng lao động nông nghiệp có trình độ chuyên môn kỹ
thuật ở Lào Cai hiện còn thấp, nhiều hộ nông dân còn sống dưới mức nghèo đói
3.3.2 Thực trạng phát triển cây dược liệu tại Lào Cai
3.3.2.1 Tiềm năng phát triển cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai
Lào cai có tiềm năng phát triển dược liệu rất phong phú bao gồm cả
nguồn dược liệu tự nhiên và dược liệu nuôi trồng Theo ước tính của ủy ban
nhân dân tỉnh, Lào Cai hiện có diện tích quy dồn đông đặc dự kiến là 205,5 ha
dược liệu tự nhiên Đối với dược liệu nuôi trồng, diện tích trồng dược liệu ngày
càng tăng cao Bên cạnh đó Lào cai có tiềm năng về đất đai trồng cây dược liệu
rất phong phú
3.3.2.2 Thực trạng bảo tồn và khai thác cây dược liệu tự nhiên
Hiện nay tỉnh Lào Cai thực hiện công tác bảo tồn dược liệu thông qua các
khu bảo tồn tự nhiên và các trung tâm nghiên cứu giống cây thuốc Bên cạnh
một số kết quả đạt được, công tác bảo tồn và quản lý khai thác cây dược liệu
tự nhiên tại địa phương vẫn chưa được quan tâm đúng mực, còn hạn chế và
chưa hiệu quả Thực trạng nhiều cây dược liệu quý hiếm đang bị khai thác
cạn kiệt dẫn đến bị mất dần tính đa dạng sinh học, thậm chí có nguy cơ tuyệt
chủng đang là một thực tế cấp bách tại địa phương
3.3.2.3 Thực trạng sản xuất cây dược liệu tại tỉnh Lào cai
Từ năm 2012-2016 tổng diện tích trồng dược liệu ở tỉnh Lào Cai tăng
mạnh, năm 2014 diện tích trồng dược liệu của tỉnh tăng 35% so với năm 2012,
năm 2015 tăng 86% so với năm 2014 và năm 2016 tăng 51% Hiện nay hình
thức sản xuất cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai chủ yếu là theo hình thức hộ gia
đình Quy mô diện tích trên mỗi hộ sản xuất biến động tùy theo chủng loại cây
trồng Với nhóm cây dược liệu được trồng xen trên đất rừng, quy mô sản xuất
trên mỗi hộ dân tương đối lớn từ 0,5-5 ha trên mỗi hộ Đối với các cây dược
liệu hàng năm như Actiso, Xuyên khung, Đương quy, Bạch truật thì quy mô sản
16
xuất tương đối nhỏ từ 50-1000 m2/hộ.Trên 95% sản lượng cây dược liệu được bán buôn cho các công ty dược liệu hoặc tiểu thương, chỉ 5% sản lượng cây
dược liệu được bán lẻ ở chợ hoặc tại các hộ gia đình Bước đầu có sự tham gia
của các doanh nghiệp.Tình hình sơ chế, bảo quản, chế biến sản phẩm dược liệu trên địa bàn tỉnh vẫn ở mức đơn giản, thô sơ chủ yếu là sơ chế sản phẩm thô rồi bán ra thị trường
3.3.2.4 Phân tích thực trạng phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững tại tỉnh Lào Cai
A Các tiêu chí phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững tại tỉnh Lào Cai
- Duy trì, bảo tồn và mở rộng quy mô và số lượng
Thực tế cho thấy công tác bảo tồn tại tỉnh Lào Cai có những chuyển biến tích cực như số diện tích (ha) được quy hoạch trong các khu bảo tồn thiên nhiên ngày càng tăng và tỷ lệ số cây sách đỏ được bảo tồn nguyên vị trong các khu bảo tồn lớn Tuy nhiên, việc bảo tồn cây dược liệu tại tỉnh Lào cai còn nhiều hạn chế như số cây trong sách đỏ được trồng tại vườn trong các khu bảo tồn (bảo tồn chuyển vị) còn thấp, tỷ lệ phá rừng có cây dược liệu tăng qua các năm Đối với
khía cạnh mở rộng, số liệu thống kê về diện tích canh tác dược liệu cho thấy diện
tích canh tác cây dược liệu có xu hướng tăng qua các năm và tăng mạnh sau năm
2016 (sau khi Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai hoàn thiện quy hoạch chi tiết về phát triển dược liệu) Điều này cho thấy, cây dược liệu ngày càng được sản xuất với quy mô mở rộng hơn
- Nâng cao hiệu quả sản xuất cây dược liệu Các tiêu chí đánh giá bao gồm tỷ lệ tăng diện tích canh tác, sản lượng bình quân và thu nhập bình quân đều cho thấy so với các loài cây nông nghiệp khác như lúa và ngô, cây dược liệu mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều lần
- Tăng cường lan tỏa tích cực đến xã hội Cây dược liệu góp phần tích cực đến sự phát triển của xã hội thông qua việc giảm nghèo và tạo công ăn việc làm Tuy nhiên chỉ tiêu về giảm nghèo chưa thể đánh giá rõ ràng
- Tăng cường lan tỏa sự tích cực đến môi trường
Cây dược liệu thân thiện hơn với môi trường so với cây lúa và cây ngô Kết quả khảo sát cho thấy, tính trung bình lượng thuốc bảo vệ thực vật và lượng nước tưới được dùng cho cây dược liệu thấp hơn so với cây lúa và cây ngô, trong khi đó lượng phân hữu cơ sử dụng cho cây dược liệu lại nhiều hơn gấp nhiều lần so với cây ngô và cây lúa
Trang 9B Các nhân tố tác động đến phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững tại
tỉnh Lào Cai
- Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên
Nhóm nhân tố điều kiện tự nhiên có tác động tích cực đến sự phát triển
bền vững của cây dược liệu Tại Lào Cai, các loại đất vàng đỏ trên đá macma
axit (Fa), đất mùn đỏ vàng trên đá sét và biến chất (Hs), đất mùn vàng đỏ trên
đá macma axit (Ha) chiếm diện tích lớn và được đánh giá là rất phù hợp với
nhiều cây dược liệu Mỗi loài dược liệu phù hợp với từng loại độ cao khác
nhau, ví dụ Đương quy phù hợp với độ cao 1.300-1.800m còn Sa nhân tím phù
hợp với độ cao 300-800m Căn cứ vào yếu tố tự nhiên, có 03 huyện có tiềm
năng nuôi trồng dược liệu thích hợp nhất đó là Sapa, Bắc Hà và Bát Xát
- Nhóm nhân tố thuộc chủ thể sản xuất
Nhóm nhân tố về chủ thể sản xuất có tác động trực tiếp đến sự phát triển
theo hướng bền vững của cây dược liệu trên cả khía cạnh nâng cao hiệu quả sản
xuất và lan tỏa tích cực đến môi trường Kết quả hồi quy đa nhân tố của luận án
cho thấy việc áp dụng tiêu chuẩn GACP và tham gia đào tạo là hai nhân tố chính
có tác động tích cực đến năng suất cây dược liệu và thu nhập bình quân của các hộ
nông dân trồng dược liệu Bên cạnh đó, luận án cũng tìm thấy tác động tích cực
của việc đầu tư cho hệ thống tưới tiêu đến năng suất cây Đương quy Đối với tiêu
chí về tăng cường sự lan tỏa tích cực đến môi trường, luận án chỉ ra rằng tham gia
đào tạo và áp dụng tiêu chuẩn GACP góp phần hạn chế việc sử dụng thuốc trừ sâu
và phân hóa học của các hộ nông dân do đó nâng cao sự thân thiện đối với môi
trường của nuôi trồng cây dược liệu Tuy nhiên kết quả hồi quy lại cho thấy trình
độ giáo dục có mối quan hệ cùng chiều với việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật Ở
những nơi dân trí càng cao mức sử dụng phân hóa học càng lớn
- Nhóm nhân tố chính sách và thể chế
Nhóm nhân tố chính sách và thể chế bao gồm các chính sách về bảo tồn
cây dược liệu, gây trồng và tiêu thụ cây dược liệu của Nhà nước đã có tác động
tích cực trong việc tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển hàng hóa của cây
dược liệu Tuy nhiên do chưa có chính sách riêng và đặc thù cho cây dược liệu
nên hiệu quả của nhóm nhân tố thuộc về chính sách còn hạn chế Đối với chính
sách hỗ trợ phát triển cây dược liệu của tỉnh, mặc dù đã góp phần tích cực trong
việc tạo cung cầu và phát triển hàng hóa cho cây dược liệu nhưng về mặt dài
hạn, các chính sách hỗ trợ về đầu vào và đầu ra sẽ gây tác động tiêu cực cho sự
phát triển bền vững của cây dược liệu do các chính sách này tạo nên sự thụ
động và lệ thuộc của các hộ nông dân vào cơ chế và chính sách
18
- Nhóm nhân tố liên kết trong sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu
Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu giữa nông dân-doanh nghiệp và các cơ sở khám chữa bệnh YHCT là rất cần thiết cho sự PTTHBV của cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai do các mô hình liên kết giúp tăng cường sự bền vững của cả cung và cầu cây dược liệu Tuy nhiên hiện nay, sự tham gia liên kết của các doanh nghiệp cũng như các cơ sở khám chữa bệnh bằng YHCT còn rất hạn chế, do đó chưa có sự bền vững thật sự về thị trường cũng như sản xuất cây dược liệu
- Nhóm nhân tố thị trường Nhóm nhân tố thị trường có tác động tích cực đến sự phát triển bền vững của cây dược liệu Nhìn từ giác độ thị trường tiêu thụ, luận án chỉ ra rằng nhu cầu tiêu thụ cây dược liệu cả trong nước và quốc tế đều rất tiềm năng với các dự báo tăng trưởng nhanh trong tương lai Tuy nhiên, để tận dụng được các cơ hội tiềm năng này, cần có sự phát triển đồng bộ về sản xuất, marketing, quảng cáo
và quản lý chất lượng cây dược liệu cũng như các sản phẩm sử dụng cây dược liệu làm nguyên liệu đầu vào Yếu tố giá cả đối với một số loài cây được trồng theo dự án như Đương quy và Actiso (được bao tiêu) khá ổn định và không phụ thuộc vào thị trường, tuy nhiên đối với một số các loài cây khác, giá cả cây dược liệu vẫn bị lệ thuộc vào thương lái Bảng 3- 50 trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu của luận án về tác động của các nhóm nhân tố đến sự phát triển bền
vững của cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai
3.4 Đánh giá chung về thực trạng phát triển cây dược liệu theo hướng bền vững tại tỉnh Lào Cai
3.4.1 Những kết quả đạt được
3.4.1.1 Về duy trì, bảo tồn và mở rộng
Công tác bảo tồn cây dược liệu tự nhiên đã bước đầu đạt được những kết quả tốt như việc thành lập thêm 02 khu bảo tồn mới, tăng tổng diện tích rừng tự nhiên được bảo tồn lên 27,42% Các khu bảo tồn, đặc biệt là Vườn quốc gia Hoàng Liên đã thực hiện tốt việc kiểm soát và bảo tồn nguyên vị nhiều loài cây trong sách đỏ và đang từng bước thực hiện bảo tồn chuyển vị một số loài cây dược liệu quý hiếm Diện tích canh tác nhằm mở rộng quy mô cây dược liệu có
xu hướng tăng lên
3.4.1.2 Về nâng cao hiệu cảo sản xuất
Cây dược liệu có hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với các loài cây nông nghiệp truyền thống khác như lúa và ngô Tỉnh Lào cai là một tỉnh có lợi thế về điều kiện tự nhiên trong canh tác cây dược liệu Với quỹ đất đỏ mùn vàng trên
Trang 10cao lớn, tỉnh Lào Cai được đánh giá có tiềm năng trong canh tác các loại cây
dược liệu quý có giá trị kinh tế cao như Tam thất, Đương quy, Actiso, Cát cánh,
Sa nhân tím
3.4.1.3 Về lan tỏa tích cực đến xã hội
Phát triển cây dược liệu cũng đem lại sự lan tỏa tích cực đến xã hội Theo số
liệu thống kê của Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai, tỷ lệ hộ nghèo tại 06 huyện trồng
dược liệu với quy mô lớn nhất tại Lào Cai trong các năm 2017 và 2018 đều giảm
từ 4% đến 8% Việc phát triển cây dược liệu cũng góp phần tạo công ăn việc làm
cho người nông dân Bên cạnh đó, phát triển cây dược liệu góp phần duy trì và
phát triển những giá trị văn hóa và tri thức tốt đẹp của người dân bản địa
3.4.1.4 Về lan tỏa tích cực đến môi trường
Canh tác cây dược liệu vẫn bảo đảm thân thiện với môi trường Nghiên
cứu thực tế cho thấy khối lượng phân hóa học và thuốc trừ sâu được sử dụng
trong canh tác cây dược liệu thấp hơn nhiều so với cây ngô và cây lúa Canh tác
dược liệu cũng không làm suy thoái chất đất và nguồn nước Việc áp dụng các kỹ
thuật canh tác dược liệu hiện đại, theo tiêu chuẩn sạch (GACP), góp phần duy trì
và cải thiện chất đất
Phát triển cây dược liệu góp phần trực tiếp vào bao vệ rừng Cây dược liệu
tự nhiên là một phần quan trọng của rừng Việc bảo tồn và duy trì cây dược liệu
tự nhiên có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với môi trường vì góp phần bảo vệ
rừng, bảo vệ môi trường sinh thái và đa dạng sinh học của các loại động vật và
thực vật tự nhiên
Phát triển cây dược liệu góp phần phát triển quỹ đất sản xuất Đa phần cây
dược liệu phù hợp với các loại đất đỏ vàng và đất đỏ mùn vàng trên núi cao Do
đó việc trồng cây dược liệu không làm ảnh hưởng nhiều đến quỹ đất dành cho
các loại cây nông nghiệp khác
3.4.2 Những mặt hạn chế
3.4.2.1 Về duy trì, bảo tồn và mở rộng về quy mô và số lượng
Công tác bảo tồn cây dược liệu tự nhiên còn nhiều hạn chế: chưa có chính
sách riêng biệt để bảo tồn cây dược liệu tự nhiên, nguồn gen quý hiếm, chưa có
các cơ sở dữ liệu thống kê về chủng loại, số lượng và vị trí địa lý phân bổ của các
loài do đó rất khó đánh giá hiệu quả của hoạt động duy trì và bảo tồn Số lượng
các loài trong sách đỏ được bảo tồn thành công còn thấp Chưa có ngân hàng gen
giống dược liệu quý hiếm Công tác nghiên cứu và phát triển nguồn gen dược
liệu quý hiếm tự nhiên còn nhiều hạn chế
20
Có hiện tượng suy giảm khá nghiêm trọng nguồn dược liệu tự nhiên Hiện trạng phá rừng có cây dược liệu vẫn còn diễn ra phổ biến, hoạt động thu hái dược liệu tự nhiên chưa được quản lý nghiêm , vẫn còn nhiều tình trạng thu hái tràn lan, thu hái tận diệt dẫn đến sự sụt giảm nghiêm trọng nguồn dược liệu thiên nhiên, nhiều cây dược liệu đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng
Diện tích đất để trồng cây dược liệu hàng năm ít, nhỏ lẻ, manh mún, trong khi đó yêu cầu của một số loại cây dược liệu phải luân canh thay đổi đất sau mỗi
vụ canh tác và sản xuất tập trung
3.4.2.2 Về hiệu quả sản xuất
Chi phí sản xuất ban đầu cho cây dược liệu cao hơn so với các cây trồng truyền thống khác (lúa, ngô) Năng suất còn thấp Giá trị kinh tế cây dược liệu còn thấp
3.4.2.3 Về tác động lan tỏa đến xã hội
- Ngoại trừ một số loại cây dược liệu được bao tiêu đầu ra như Đương quy, Actiso và chè dây, các cây dược liệu khác đều được bán trên thị trường tư
do, giá cả bấp bênh, không ổn định, do đó đối với nhiều hộ dân, đặc biệt là các
hộ dân đồng bào miền núi cao thu nhập từ cây dược liệu chưa thực sự ổn định Nhiều hộ dân trồng dược liệu phụ thuộc vào chính sách trợ giá của nhà nước (bao tiêu sản phẩm, trợ giá giống và phân bón)
3.4.2.4.Về tác động lan tỏa đến môi trường
Ngoại trừ một số cây được trồng theo tiêu chuẩn sạch và được kiểm soát chặt chẽ về quy trình canh tác bởi khuyến nông, vẫn còn hiện tượng phun thuốc bảo vệ thực vật, sử dụng phân hóa học tràn lan trong canh tác cây dược liệu Ở một số nơi do quy trình xử lý kỹ thuật không tốt, dẫn đến hiện tượng xói mòn chất đất, đặc biệt đối với các loại cây dược liệu lấy củ Thực tế khảo sát tại địa phương cho thấy, các vùng trồng dược liệu chưa có cơ sở phân hủy rác thải nông nghiệp tập trung
3.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong việc phát triển theo hướng bền vững cây dược liệu tại tỉnh Lào Cai
Luận án chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong phát triển theo hướng bền vững tại tỉnh Lào cai bao gồm: (1) nguyên nhân liên quan đến chính sách; (2) nguyên nhân liên quan đến năng lực của chủ thê sản xuất và kinh doanh cây dược liệu; (3) nguyên nhân liên quan đến liên kết trong sản xuất và tiêu thu dược liệu; (4) nguyên nhân về thị trường đầu ra và (5) nguyên nhân liên quan đến quản lý cây dược liệu