TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Khái quát về dân tộc Tày, Then và Then cấp sắc
1.1.1 Vài nét về đời sống văn hóa của dân tộc Tày
Trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, người Tày là dân tộc đông thứ hai sau người Kinh, với dân số khoảng 1.626.392 người Họ chủ yếu sinh sống ở các tỉnh miền núi phía Bắc và một số tỉnh Tây Nguyên như Đăk Lăk, Lâm Đồng Tại miền núi phía Bắc, người Tày thường cư trú ở những thung lũng màu mỡ, có độ cao trung bình, thuận lợi cho việc trồng trọt và chăn nuôi, giúp họ ổn định cuộc sống.
Người Tày thuộc nhóm Âu Việt trong khối Bách Việt, cư trú chủ yếu tại Miền Bắc Việt Nam và Miền Hoa Nam Trung Quốc Vào thế kỷ III TCN, họ cùng với Lạc Việt thành lập Vương quốc Âu Lạc dưới sự lãnh đạo của An Dương Vương Thục Phán Trong quá trình sinh sống và đấu tranh bảo vệ đất nước, người Âu Lạc và Lạc Việt đã thiết lập mối quan hệ gần gũi, dễ hòa hợp và giao lưu văn hóa với nhau.
Tiếng Tày, thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái trong ngữ hệ Thái - Ka Đai, là một ngôn ngữ phổ biến trong giao tiếp Việc sử dụng tiếng Tày ngày càng trở nên quan trọng trong đời sống hàng ngày.
1 Theo kết quả điều tra dân số năm 2009 của Tổng cục thống kê
Người Tày đã phát triển chữ Nôm Tày để ghi lại các câu thành ngữ, tục ngữ, cao dao, thơ ca và truyện cổ, với nhiều tác phẩm nổi bật như Phong slư, Lượn cọi và truyện thơ Nôm Từ vựng tiếng Tày bao gồm từ gốc Tày và từ mượn từ các ngôn ngữ khác, trong đó từ gốc Tày giữ vai trò quan trọng trong giao tiếp hàng ngày giữa người Tày Để diễn đạt các khái niệm xã hội, chính trị và khoa học kỹ thuật, tiếng Tày thường vay mượn từ tiếng Hán và tiếng Kinh (Việt), điều này không chỉ làm phong phú thêm ngôn ngữ mà còn giúp người Tày giao tiếp hiệu quả trong xã hội.
Người Tày là cư dân nông nghiệp lúa nước, với kỹ thuật thâm canh và các biện pháp thủy lợi như đào mương và làm cọn lấy nước Họ có tập quán đập lúa ở đồng và trồng nhiều loại cây như lúa cạn, hoa màu, và cây ăn quả Ngoài trồng trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng phát triển mạnh mẽ Nghề thủ công là nghề phụ quan trọng, với nhiều sản phẩm truyền thống đạt trình độ cao như thổ cẩm, đồ nội thất từ trúc, và các sản phẩm đan lát Các nghề như kéo sợi, dệt vải, và nấu mật cũng rất phổ biến trong các gia đình người Tày.
Người Tày sở hữu nhiều phong tục tập quán và tín ngưỡng dân gian độc đáo, thể hiện nét văn hóa đặc sắc của họ Một trong những phong tục nổi bật là tục nhận họ, trong đó người Tày thường kết thân với những người có cùng họ, như Bế hay Hoàng, bất kể dân tộc khác nhau, với niềm tin rằng "tồng slính slam phăn chăn" (người cùng họ có mối liên hệ gần gũi) Các phong tục khác như nhận con nuôi, kết tồng kết đẳm và cưới hỏi cũng góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hóa của cộng đồng này.
Sau khi nhận con nuôi, quan hệ giữa hai bên trở nên thân thiết và thiêng liêng, với trách nhiệm chia sẻ như một thành viên trong tông tộc Gia đình hiếm con thường tổ chức nhận con nuôi, và người con nuôi phải bỏ họ của mình để nhận họ cha nuôi, được đối xử như con đẻ với đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ Nếu gia đình không có con trai, con nuôi có quyền thừa tự như con đẻ Tục kế tồng kết đẳm cho phép những người có cùng năm sinh hoặc tên gọi kết nối với nhau, tạo ra mối quan hệ gắn bó.
"Việc kết hôn giữa hai người thường được gọi là 'tồng' hay 'đẳm', và được thực hiện trên cơ sở tự nguyện Lễ kết hôn này được chính thức hóa trong một bữa cơm thân mật, có sự chứng kiến và công nhận của gia đình và bạn bè thân thiết."
Người Tày có tín ngưỡng dân gian đa thần, thờ cúng tổ tiên và các thần thánh, với niềm tin rằng có nhiều loại thần thánh và ma quỷ, gọi chung là “phi” “Phi” tồn tại cả trên trời và dưới đất, được chia thành hai loại là lành và dữ Loại phi lành như phi tổ tiên, phi mụ, phi bếp, luôn bảo vệ con người và mùa màng, nhưng cũng sẽ trừng phạt nếu không được cúng bái chu đáo Ngược lại, phi dữ như ma rừng và yêu tinh có thể gây hại, vì vậy người Tày không thờ cúng chúng, nhưng sẽ làm lễ cúng khi gặp họa nạn Tín ngưỡng này thể hiện rõ nét trong đời sống văn hóa của người Tày.
1.1.2 Khái quát về Then và Then cấp sắc
1.1.2.1 Các khái niệm cơ bản
* Về khái niệm “Then”, hiện chúng chúng tôi thấy có 7 cách giải thích theo trình tự thời gian như sau:
(1) Nhóm tác giả Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo, Hoàng Chí giải thích: Then tức “hết Pụt hết Then” (làm Bụt làm Then) [77, 423]
Dương Kim Bội cho rằng Then là một loại hình mê tín, mặc dù chưa có định nghĩa hay giải thích rõ ràng về nó.
Nông Văn Hoàn cho rằng Then, hay còn gọi là Tiên 仙 hoặc sliên, là những người đại diện cho trời, giữ mối liên hệ giữa con người trần gian với Ngọc hoàng và Long vương Khi thực hiện nghi lễ Then, họ giúp con người cầu mong sự tốt lành, tai qua nạn khỏi, và chỉ thực hiện những điều thiện để cứu giúp nhân gian.
(4) Triều Ân thì cho rằng: Then là những khúc hát thuộc về thờ cúng (chant cultuel) do những Then làm nghề (chan-teuse cultuelle) hát trong nghi lễ [17, 7]
Theo Hoàng Phê, từ "Then" có ba ý nghĩa chính: Thứ nhất, đó là lực lượng siêu nhiên sáng tạo ra thế giới, theo quan niệm của một số dân tộc thiểu số miền Bắc Việt Nam Thứ hai, "Then" cũng chỉ những người làm nghề cúng bái, thường là nữ, trong các cộng đồng dân tộc này Cuối cùng, "Then" còn là một loại hình nghệ thuật tổng hợp, bao gồm đàn, hát, và múa, gắn liền với tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số.
Then là một hình thức sinh hoạt văn hóa – văn nghệ dân gian của các dân tộc Tày, Thái, với nhiều tên gọi và kiểu trình diễn khác nhau tùy thuộc vào mục đích lễ hội, như Then kỳ yên, Then cầu hoa, và Then nối số Đặc biệt, Then cấp sắc hay lẩu Then là hình thức đầy đủ nhất Người thực hiện Then được gọi là thầy Then, và khi họ muốn nghỉ hưu, sẽ tổ chức lễ Then cáo lão Then bắt nguồn từ niềm tin vào sự tồn tại của các siêu linh trong các thế giới khác nhau Khi con người ốm, hồn hay vía của họ được cho là đã bay vào những thế giới đó, và để chữa bệnh, họ cần sự giúp đỡ từ các thầy Then, những người sử dụng giọng hát để dẫn dắt âm binh tìm hồn trở về, giúp người bệnh hồi phục.
Nguyễn Thị Yên trong cuốn Then Tày đã phân tích sự tương đồng giữa tên gọi Then (từ chữ Hán thiên - trời) với các hình thức cúng bái tương tự của người Tày, Nùng, Thái như Pụt, Sliên, Một, từ đó đưa ra giả định về mối liên hệ văn hóa giữa các dân tộc này.
Tên gọi Then xuất phát từ tín ngưỡng thờ trời (phạ) của cư dân Tày, Thái, nhưng trong quá trình phát triển, Then đã tiếp nhận ảnh hưởng từ Phật giáo và Đạo giáo Sự giao thoa này được tác giả đề cập trong cuốn Tín ngưỡng dân gian Tày, Nùng, đặc biệt trong phần viết về “Then, Pụt và sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng Then, Pụt”, mục “Khái niệm, phân loại”.
Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong văn hóa người Tày, Then và Then cấp sắc là thể loại dân ca nghi lễ gắn liền với tín ngưỡng, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu từ các lĩnh vực như văn hóa, tôn giáo và dân tộc học Những nghiên cứu này đã mở ra cái nhìn sâu sắc hơn về Then và Then cấp sắc Để tổng hợp những công trình nghiên cứu này, chúng tôi phân chia thành các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản.
1.2.1 Các công trình nghiên cứu từ góc độ văn hóa tín ngưỡng
1.2.1.1 Các công trình nghiên cứu từ góc độ văn hóa tín ngưỡng về Then
Vào nửa đầu thế kỷ XX, học giả Nguyễn Văn Huyên đã tiên phong trong việc nghiên cứu tôn giáo tín ngưỡng của người Tày Năm 1939, ông đã công bố hai bài thuyết trình trên tạp chí Pháp, trong đó bài đầu tiên mang tên “Về điện thờ Lão” đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến tín ngưỡng của cộng đồng này.
Bài viết "Tử ở người Tày" khám phá nỗi sợ hãi rừng núi trong văn học dân gian Việt Nam, bao gồm ma quỷ và yểm bùa, cùng với danh sách các thần linh ở Cao Bằng và bảy mươi pháp thuật tại vùng thượng du Bắc Kỳ, đồng thời mô tả một số đền thờ Lão giáo của người Tày Bài viết nhận được sự đánh giá cao từ giới học giả Pháp nhờ vào sự phong phú thông tin, cái nhìn sâu sắc và tính khách quan trong nghiên cứu tôn giáo của người Tày Bài thứ hai, "Một dạng ma thuật ở miền thượng du Bắc kỳ: Những cách chữa bệnh bằng phép lạ," do Nguyễn Văn Huyên trình bày, mô tả sinh động các phương pháp chữa bệnh của thầy Phù thủy qua các nghi lễ dành cho cả người lớn và trẻ em.
Dương Kim Bội (1974) đã viết bài “Cái cấu cầu bjoóc - những vần thơ đẹp của dân tộc Tày” trong cuốn Bước đầu tìm hiểu vốn văn nghệ Việt Bắc do Sở VHTT Việt Bắc xuất bản Bài viết tập trung vào việc khai thác giá trị nghệ thuật của các lời ca trong Then cầu hoa (cầu tự), làm nổi bật vẻ đẹp văn hóa của dân tộc Tày.
Nông Minh Châu (1974) đã có bài viết "Khảm hải - một tác phẩm văn học cổ của dân tộc Tày" trong cuốn Bước đầu tìm hiểu vốn văn nghệ Việt Bắc, xuất bản bởi Sở VHTT Việt Bắc Bài viết này khám phá giá trị văn hóa và nghệ thuật của tác phẩm Khảm hải, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của văn học cổ trong việc gìn giữ bản sắc dân tộc Tày.
Bắc), phân tích giá trị hiện thực của cuộc sống phu phen chèo thuyền vượt biển đầy dẫy sự khắc nghiệt
Nông Quốc Thắng (1977) trong bài viết “Quá trình chuyển hóa của Then và yếu tố hiện thực trong Then” đăng trên Tạp chí Văn học đã phân tích vai trò của Then trong văn hóa tín ngưỡng của người Tày Bài viết nhấn mạnh giá trị phản ánh hiện thực trong đời sống của người dân trong xã hội có giai cấp qua lời hát Then, cũng như quá trình chuyển hóa của Then để phục vụ cho đời sống văn nghệ của cộng đồng.
Hà Văn Thư và Lã Văn Lô (1984) trong tác phẩm "Văn hóa Tày Nùng" đã giới thiệu về nghề cúng bái, đặc biệt là Then, với những đặc điểm cơ bản như ảnh hưởng của Đạo giáo và mối quan hệ với Tào, Mo, Pụt Các tác giả nhấn mạnh rằng "Làm Then (tức là cúng Then) vừa là một hình thức cúng bái, vừa là một hình thức văn nghệ để cho mọi người đến thưởng thức." Mặc dù chưa đầy đủ, nhưng bài viết đã khái quát được bản chất tín ngưỡng của Then, điều mà các công trình trước đây chưa đề cập hoặc chưa làm rõ.
Hoàng Quyết (1995) trong tác phẩm "Phong tục tập quán dân tộc Tày ở Việt Bắc" (Nxb Văn hóa Dân tộc) đã nghiên cứu sâu về đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Tày tại khu vực Việt Bắc Tác phẩm đề cập đến các phong tục tập quán như ăn mặc, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tang ma và cưới hỏi từ xa xưa của người Tày, tuy nhiên, nó chỉ trình bày vấn đề một cách chung chung về vùng Việt Bắc.
Hoàng Quyết, Triều Ân, Hoàng Đức Toàn (1996) đã biên soạn "Từ điển văn hóa cổ truyền dân tộc Tày" (Nxb Văn hóa Dân tộc), một công trình nghiên cứu sâu sắc về văn hóa cổ truyền của dân tộc Tày Tác phẩm được chia thành ba phần chính: Phần 1 tập trung vào phong tục, tập quán, sinh hoạt và lễ hội; Phần 2 khám phá chùa chiền và đền miếu; và Phần 3 giới thiệu về văn hóa, nghệ thuật và sự tích.
Đỗ Hồng Kỳ (1997) trong bài viết “Những biểu hiện của tôn giáo, tín ngưỡng trong truyện thơ Nôm Tày, Nùng” đăng trên Tạp chí Văn hoá dân gian đã phân tích truyện thơ Khảm hải, nhấn mạnh vai trò của nó trong các nghi lễ tôn giáo thông qua phương pháp hát Bài viết này là công trình đầu tiên đưa Khảm hải vào bối cảnh cụ thể của một nghi lễ Then để thực hiện phân tích sâu sắc.
Nguyễn Thị Yên (1997) đã hoàn thành luận văn về lễ hội Nàng Hai của người Tày Cao Bằng, và xuất bản vào năm 2003 (Nxb Văn hóa thông tin) Trong nghiên cứu, tác giả đã phân tích lễ hội Nàng Hai ở Hòa An, Phục Hòa, Cao Bằng như một hình thức Shaman của người Tày, có nhiều điểm tương đồng với Then Năm 1998, tác giả đã viết bài “Tìm hiểu yếu tố tín ngưỡng trong lễ hội của người Tày, Nùng” đăng trên Tạp chí Văn hoá dân gian, nhằm tìm hiểu Then từ góc nhìn văn hóa tâm linh Đến năm 2002, bài viết “Khảo sát đối tượng cúng trong Then” được đăng trong Thông báo văn hóa dân gian, cung cấp tư liệu cụ thể về các đối tượng thờ cúng trong Then miền đông Cao Bằng.
Năm 2006, bài viết “Về sự hình thành và biến đổi của Then Tày” được đăng trong Tạp chí Văn hóa dân gian đã phân tích và so sánh sự biến đổi của Then Tác giả cho rằng, sự chuyển biến từ Sliên đến Then Tày là một quá trình đáng chú ý.
Then là một hình thức Đạo giáo dân gian độc đáo của người Tày, hình thành từ sự tham gia của nhiều tầng lớp tín ngưỡng khác nhau Năm 2007, bài viết “Khảo sát đối tượng thờ cúng trong Then” đã giới thiệu chi tiết về các đối tượng thờ cúng như Ngọc Hoàng, 30 tướng nhà phép, và 80 tướng nhà công Năm 2008, bài “Dấu ấn cổ sơ trong các hình thức cúng bái Then, Pụt của người Tày Nùng” so sánh các hình thức cúng bái của người Tày, Nùng với người Thái Năm 2009, cuốn sách Tín ngưỡng dân gian Tày Nùng tổng hợp và phân loại các hình thức sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng tiêu biểu, giới thiệu các nghi lễ phổ biến như tang ma, lễ cấp sắc, và lễ mừng thọ.
Hà Đình Thành (1999) đã chủ biên cuốn sách "Văn hoá tín ngưỡng Then, Tào, Mo của người Tày - Nùng ở miền núi phía Bắc Việt Nam", xuất bản bởi Viện Văn hóa dân gian Tác phẩm này tập hợp các bài viết của nhiều tác giả, nghiên cứu về Then như một hình thức sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng truyền thống của người Tày, đặc biệt nhấn mạnh vào “Đời sống tâm linh” của cộng đồng này.
Nghiên cứu về Then đã được đề cập qua nhiều tác phẩm, như “20 của Then” của Đoàn Thị Tuyến và “Then - một nghi lễ tôn giáo” của Nguyễn Thị Hiền, góp phần làm rõ các vấn đề cốt yếu về tín ngưỡng này Một trong những bài viết đáng chú ý là của Hà Đình Thành vào năm 2002, với tiêu đề “Then của người Tày - Nùng với tín ngưỡng tôn giáo dân gian”, được đăng trong tạp chí Văn hoá nghệ thuật.