Dựa trên các kết quả nghiên cứu của người đi trước, chúng tôi thống kê được 06 văn bản Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm VNCHN.. Mục đích nghiên
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN TUÂN
NGHIÊN CỨU VĂN BẢN THEN CẤP SẮC NÔM TÀY
TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM
Ngành: Hán Nôm
Mã số: 9 22 01 04
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÁN NÔM
HÀ NỘI - 2019
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Học viện Khoa học xã hội – Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Tá Nhí
Người phản biện 1: PGS.TS Đinh Khắc Thuân
Người phản biện 2: PGS.TS Hà Văn Minh
Người phản biện 3: TS Trịnh Ngọc Ánh
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng bảo vệ luận án cấp Học viện họp tại: Học viện Khoa học Xã hội, 477 Nguyễn Trãi – Thanh Xuân – Hà Nội
Vào hồi ngày tháng năm 2019
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, dân tộc Tày có số dân đông thứ hai sau người Kinh, sống tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, sau này số ít di cư vào vùng Tây Nguyên Với người Tày, không chỉ có số dân đông, mà còn có một kho tàng tư liệu văn hóa rất đặc sắc mà ngày nay vẫn còn lưu giữ được, đó
là những tập truyện thơ, lượn cọi, phong slư, hát Then, v.v Các nguồn tư liệu này thường được ghi chép bằng chữ Nôm của người Tày (gọi là chữ Nôm Tày) Trong khối
tư liệu này, chúng tôi đặc biệt chú ý đến các văn bản Then cấp sắc Bởi vì, Then cấp sắc
là một đại lễ có quy mô tổ chức lớn nhất trong hệ thống các nghi lễ của Then, chứa đựng nhiều giá trị đặc sắc thuộc về phong tục tập quán và văn hóa cũng như nghệ thuật diễn xướng nghi lễ của người Tày Vì vậy việc tìm hiểu, nghiên cứu văn bản Then cấp sắc ghi bằng chữ Nôm Tày không những làm rõ thêm vấn đề nội dung trong Then cấp sắc, mà còn góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị bản sắc văn hóa dân tộc Tày nói riêng, dân tộc Việt Nam nói chung Điều này phù hợp với quan điểm đúng đắn của Đảng và Nhà nước về chủ trương xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Dựa trên các kết quả nghiên cứu của người đi trước, chúng tôi thống
kê được 06 văn bản Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (VNCHN) Số lượng văn bản này tuy chưa phải là nhiều, nhưng qua khảo sát, nghiên cứu cho thấy được bức tranh toàn cảnh của Then cấp sắc Tày
Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề “Nghiên cứu văn
bản Then cấp sắc Nôm Tày tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm” làm đề tài cho luận án
Tiến sĩ chuyên ngành Hán Nôm
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trong luận án này, mục đích nghiên cứu của chúng tôi là hướng tới giải quyết những vấn đề về văn bản học của Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày, tiến hành xác định bản tin cậy và nghiên cứu giá trị nội dung phản ánh trong văn bản Then cấp sắc Kết quả của việc nghiên cứu này, góp phần vào việc giới thiệu, bảo tồn và phát huy văn bản Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày nói riêng và văn bản chữ Nôm Tày nói chung
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu đã đề ra, chúng tôi đặt nhiệm vụ nghiên cứu cho luận án như sau:
- Hệ thống hóa các văn bản Then cấp sắc hiện lưu trữ tại VNCHN, giới thiệu văn bản, so sánh và đối chiếu văn bản, xác định bản tin cậy để khảo sát, nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm văn bản, kết cấu văn bản, chữ Nôm, xác định số lượng các chương, khúc hát trong các văn bản; từ đó xác định khái niệm “đường Then” và
“đường Then cấp sắc” ghi chép trong văn bản Then cấp sắc
Trang 4- Nghiên cứu giới thiệu giá trị của văn bản Then cấp sắc trong đời sống văn hóa dân tộc Tày xưa, từ đó đề xuất biện pháp bảo tồng và phát huy giá trị của văn bản Then cấp sắc trong đời sống văn hóa đương đại
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án chọn đối tượng nghiên cứu chủ yếu là một nhóm 6 văn bản Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày hiện lưu trữ tại VNCHN, với các ký hiệu, là: NVB.1; VNv.671; NC.50; ST.2227; ST.2201; ST.557 Đây là những văn bản chưa từng được biên dịch và công bố
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu vào các vấn đề văn bản học của các văn bản Then cấp sắc, vấn đề sử dụng chữ Nôm trong văn bản, khái niệm “đường Then cấp sắc” và giá trị nội dung của văn bản Then cấp sắc trong đời sống văn hóa tín ngưỡng của dân tộc Tày
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận
Dựa trên cơ sở quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc sưu tầm, bảo tồn, nghiên cứu khai thác và phát huy văn hóa truyền thống, xây dựng nền văn hóa Việt Nam “tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” Những tri thức về Ngữ văn Hán Nôm, văn bản học, văn hóa học, văn tự học và nghiên cứu liên ngành sẽ được vận dụng lý thuyết nghiên cứu khoa học trong từng chương của luận án
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Cung cấp số liệu đáng tin cậy về số lượng chương hát, khúc hát trong văn bản Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày của ba dòng Then ở ba tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn So sánh “đường Then cấp sắc” của ba dòng Then để thấy được sự tương đồng
Trang 5và khác biệt giữa ba dòng này Đưa ra cứ liệu về việc sử dụng chữ Nôm trong văn bản, từ
đó góp phần gợi mở cho việc tìm hiểu sự giao lưu văn hóa Tày - Kinh thời trung đại
- Phân tích, đánh giá làm sáng tỏ giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản Then cấp sắc, góp phần vào việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày Đồng thời giúp các nhà quản lý văn hóa có biện phát bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc Tày
- Phiên âm, dịch nghĩa, chú thích và giới thiệu văn bản Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm của người Tày (Bản NVB.1)
6 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Việc nghiên cứu nhóm văn bản Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày hiện lưu trữ tại VNCHN, đưa lại những ý nghĩa khoa học như sau:
- Nghiên cứu văn bản và phân tích văn bản, xác định bản đáng tin cậy để phiên dịch, giới thiệu, công bố văn bản Then cấp sắc; nghiên cứu hệ thống chữ Nôm trong văn bản, góp phần nghiên cứu hệ thống văn bản chữ Nôm của dân tộc Tày
- Phác họa được bức tranh tổng thể về “đường Then” cấp sắc của dân tộc Tày gồm: Hành trình Then đi từ trần gian lên đến thượng giới để gặp Ngọc Hoàng, số lượng các chương, khúc hát được ghi chép trong văn bản Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày hiện lưu trữ tại VNCHN
- Luận án tạo hướng mở cho việc nghiên cứu các văn bản Then cấp sắc nói riêng, dân ca nghi lễ của dân tộc Tày nói chung Hy vọng đề tài sẽ có những đóng góp cho việc bảo tồn, nghiên cứu và phát huy những giá trị tốt đẹp trong văn hóa của đồng bào dân tộc Tày
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Khái quát về dân tộc Tày, Then và Then cấp sắc
1.1.1 Vài nét về đời sống văn hóa dân tộc Tày
Trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, người Tày có số dân đông thứ hai sau người Kinh (1.626.392 người)1
, sống tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam và một số tỉnh thuộc Tây Nguyên như Đăk Lăk, Lâm Đồng Ở các tỉnh miền núi phía Bắc, người Tày cư trú chủ yếu ở các thung lũng màu mỡ, có độ cao trung bình, thuận tiện cho việc trồng trọt, chăn nuôi và ổn định cuộc sống
Do nhu cầu cuộc sống, người Tày đã sáng tạo ra chữ viết riêng của mình là chữ Nôm Tày để ghi chép lại những câu thành ngữ, tục ngữ, cao dao và các bài thơ, lời ca, truyện cổ mà ngày nay vẫn còn lưu giữ được rất nhiều tác phẩm, như: Phong slư,
1
Theo kết quả điều tra dân số năm 2009 của Tổng cục thống kê
Trang 6Lượn cọi, truyện thơ Nôm, Then, v.v Người Tày có nhiều phong tục đẹp thể hiện nét văn hóa độc đáo của riêng mình, như: tục nhận họ, tục nhận con nuôi, tục kết tồng kết đẳm, tục cưới hỏi, v.v…
1.1.2 Khái quát về Then và Then cấp sắc
1.1.2.1 Các khái niệm cơ bản
* Khái niệm “Then” và “Then cấp sắc”
Về khái niệm “Then”, hiện chúng chúng tôi thấy có 7 cách giải thích khác nhau Tổng hợp từ các nhận định về Then của các nhà nghiên cứu đi trước, khái niệm “Then” được chúng tôi hiểu là tên gọi một hình thức cúng bái có nguồn gốc từ tín ngưỡng thờ trời (phạ) của các cư dân Tày, Thái nói chung, gọi chung là văn hóa tín ngưỡng Then, Pụt (theo giải thích của tác giả Nguyễn Thị Yên) “Then” gắn với tên gọi các nghi lễ cụ thể của văn hóa tín ngưỡng Then như: Then kỳ yên, Then giải hạn, Then cấp sắc,
“Then” gắn với tên gọi các hình thức nghệ thuật biểu diễn trong Then như: Hát Then, đàn Then (tính tẩu), múa Then,
Về khái niệm “Then cấp sắc”, chúng tôi tán đồng ý kiến của Nguyễn Thị Yên cho rằng: “là nghi lễ công nhận tư cách hành nghề của thày Then là thuộc loại Then đại
lễ có quy mô tổ chức lớn hơn cả và có liên quan đến việc thờ cúng tổ nghề của Then”
* Khái niệm “Văn bản Then” và “Văn bản Then cấp sắc”
Văn bản Then nói chung và văn bản Then cấp sắc nói riêng, là những lời hát của Then thực hiện được văn bản hóa bằng chữ Nôm Tày Với ý nghĩa đó,
“văn bản Then cấp sắc” mà chúng tôi giới hạn sử dụng để khảo sát trong luận
án này là những lời hát Then cấp sắc được văn bản hóa bằng chữ Nôm Tày, được triển khai nghiên cứu ở góc độ văn bản học, còn các hình thức nghệ thuật khác (âm nhạc, diễn xướng,…) không được đề cập trong luận án
1.1.2.2 Nguồn gốc của Then, người làm Then và hệ thống nghi lễ
- Về nguồn gốc của Then: Các nhà nghiên cứu đi trước như Nông Văn Hoàn,
Hoa Cương, Dương Kim Bội, Triều Ân… đều có nhận xét gần giống nhau là Then chính thức được phổ biến rộng rãi vào cuối thế kỷ XVI khi nhà Mạc lên cát cứ Cao Bằng Đúng vậy, Then Tày nảy sinh ra từ thời đại phong kiến Việt Nam đã phát triển,
xã hội Tày đã có sự phân chia đẳng cấp rõ rệt, dân tộc Tày đã có tầng lớp trí thức Nho học, văn hóa Tày đã có sự giao lưu rộng với các dân tộc anh em khác Chúng ta thấy trong Then có sự chồng chất và sự pha tạp của nhiều tầng lớp văn hóa: Tày có, Kinh có, Hán có, cổ có, mới có, Phật giáo có, Đạo giáo Chúng tôi nhất trí với quan điểm của Nguyễn Thị Yên là khi nhà Mạc tan rã, Then ra ngoài dân gian thâm nhập vào các địa phương khác nhau, dưới hình thức trao truyền bằng phương thức truyền miệng, trải qua nhiều thế hệ mà Then đã có sự cải biến, bổ sung tùy vào từng khu vực cư trú cụ thể
- Về những người làm Then: Người làm Then có thể là nam giới hoặc là nữ giới,
và họ đều có khả năng đánh đàn tính rất thuần thục Nhiệm vụ của họ là thực hành các nghi lễ thờ cúng chuyển tải những thông điệp của trần gian tới thần linh thông qua việc đàn và hát
Trang 7- Về hệ thống nghi lễ: Trong văn hóa tín ngưỡng của người Tày có nhiều nghi lễ
khác nhau như Then cầu an giải hạn, Then Nàng Hai, Then cúng mụ, v.v Thế nhưng, khảo sát các văn bản Then viết bằng chữ Nôm Tày, chúng tôi tán đồng ý kiến của Trịnh Khắc Mạnh và chia hệ thống nghi lễ làm 3 loại cơ bản là: 1/Then chúc tụng được sử dụng trong các nghi lễ: đầu năm mới, làm nhà mới, khi làm ăn phát đạt ; 2/Then cầu
an, giải hạn: cúng cầu an, cúng giải hạn để cầu mong an lành và tránh khỏi tai họa; 3/Then lễ hội được sử dụng trong các nghi lễ: cầu mùa, lễ cấp sắc
1.1.2.3 Sơ lược về lễ cấp sắc
- Mục đích tổ chức lễ cấp sắc: Đây là nghi lễ công nhận người học nghề làm
Then chính thức được là Then, đủ tư cách làm nghề Việc tổ chức lễ cấp sắc này được coi là “chính thống”, bởi vì có được sự đồng ý của Ngọc Hoàng, có được sự chứng kiến của các đấng thần linh, các Then và đông đảo mọi người gần xa tới dự lễ
- Về không gian thực hiện nghi lễ cấp sắc: Lễ cấp sắc được thực hiện tại nhà của
người được cấp sắc làm Then Không gian này được thực hiện trọng tâm nhất là trong ngôi nhà sàn, được bài trí thể hiện theo quan niệm của Then về thế giới tâm linh thông qua nghệ thuật trang trí và nghệ thuật sắp đặt, cùng với các thành tố nghệ thuật khác làm nên nét riêng đặc sắc của nghi lễ Then
- Về thời gian và nội dung thực hiện nghi lễ: Thời gian tiến hành một nghi lễ cấp
sắc phụ thuộc vào kinh tế của gia chủ, thông thường sẽ được diễn ra vào bốn ngày ba đêm Nội dung: Các hoạt động và thủ tục ban đầu như lập đàn cúng, giải uế, trình báo Thổ công và tổ tiên, mời các tướng, xin binh mã, v.v Khao binh mã, lên đường vào cửa các tướng nộp lễ, lại tiếp tục lên đường tới đồng ve sầu thì nghỉ ngơi Tiếp tục vào các cửa nộp lễ vệt, đến cửa Ngọc Hoàng nộp lễ vật xin được cấp sắc và được cấp sắc, trở về trần gian Cuối cùng là mời tổ tiên và chư tướng hưởng cỗ khao và khoản đãi mọi người tham gia buổi lễ
1.2 Tổng quan các công trình sưu tầm, nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong kho tàng văn hóa của người Tày, Then nói chung, Then cấp sắc nói riêng thuộc loại dân ca nghi lễ gắn với tín ngưỡng, nên đã sớm thu hút được
sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu khai thác từ nhiều góc độ, như: văn hóa, tôn giáo, dân tộc học, v.v Có thể nói, những thành tựu nghiên cứu này đã mở
ra cách nhìn nhận sâu sắc hơn về Then và Then cấp sắc Để có cái nhìn tổng quan về những công trình nghiên cứu này, chúng tôi xin chia làm các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản như sau:
1.2.1 Các công trình nghiên cứu từ góc độ văn hóa tín ngưỡng
1.2.1.1 Các công trình nghiên cứu từ góc độ văn hóa tín ngưỡng về Then 1.2.1.2 Các công trình nghiên cứu từ góc độ văn hóa tín ngưỡng Then cấp sắc
1.2.2 Các công trình nghiên cứu từ góc độ văn hóa nghệ thuật
1.2.2.1 Các công trình nghiên cứu từ góc độ văn hóa nghệ thuật về Then 1.2.2.2 Các công trình nghiên cứu từ góc độ văn hóa nghệ thuật về Then cấp sắc
Trang 81.2.3 Các công trình sưu tầm, giới thiệu văn bản Then
1.2.3.1 Các công trình sưu tầm, giới thiệu văn bản lời hát Then
1.2.3.2 Các công trình sưu tầm, giới thiệu văn bản lời hát Then cấp sắc
1.2.4 Nhận xét chung về tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
Qua các công trình, các bài viết của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi nhận thấy, những công trình nghiên cứu của các tác giả đều đạt được thành tựu ở nhiều góc độ văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo, nghệ thuật, v.v
Do xuất phát từ những hoàn cảnh và mục đích nghiên cứu khác nhau, nên các công trình nghiên cứu về Then nói chung, Then cấp sắc nói riêng chỉ có một số ít nhà nghiên cứu như Triều Ân, Lục Văn Pảo, Nguyễn Thị Yên có căn
cứ vào một số văn bản Nôm Tày để giới thiệu, còn lại đa phần dừng lại ở chỗ điền dã thực tế, khai thác theo góc độ văn hóa dân gian và còn mang tính chất khoanh vùng, chưa có sự so sánh mang tính tổng thể Như vậy có thể thấy, hầu như các tác giả chưa khai thác trực tiếp đến những văn bản thành văn viết bằng chữ Nôm Tày - một cứ liệu có tính lịch sử rất đáng tin cậy Đặc biệt đối với Then cấp sắc, chưa thấy có một công trình nghiên cứu nào căn cứ vào văn bản Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày hiện lưu trữ tại VNCHN để khảo sát, nghiên cứu một cách hệ thống toàn diện
1.3 Định hướng nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi kế thừa và định hướng nghiên cứu luận án như sau:
- Tiến hành nghiên cứu, khảo sát văn bản 6 văn bản Then cấp sắc hiện lưu trữ tại VNCHN một cách toàn diện, đưa ra những nhận xét về văn bản, xác định bản tin cậy
để nghiên cứu giới thiệu, số lượng các chương, khúc hát
- Nghiên cứu “đường Then” trong văn bản Then cấp sắc, nhằm xác định khái niệm “đường Then” và “Then cấp sắc” và hành trình của “đường Then” cấp sắc được ghi chép ở trong văn bản Then cấp sắc
- Nghiên cứu những chữ Nôm ghi ở trong văn bản Then cấp sắc, đưa ra những nhận định về những đặc điểm chữ Nôm trong văn bản Then cấp sắc
- Nghiên cứu những đặc điểm của văn bản Then cấp sắc Nôm Tày, chỉ ra những đặc trưng cơ bản nhất của văn bản
- Nghiên cứu giá trị văn bản Then cấp sắc về nội dung và nghệ thuật, đề xuất ý kiến về vấn đề bảo tồn và phát huy văn bản Then cấp sắc, giới thiệu rộng rãi về dân ca nghi lễ của dân tộc Tày trong đời sống văn hóa xã hội Việt Nam nói chung
Tiểu kết chương 1
Trong chương này, chúng tôi đã khái quát một số vấn đề cơ bản về người Tày
và văn hóa của người Tày Đồng thời cũng nêu khái quát về Then và Then cấp sắc của người Tày, qua đó cũng nêu rõ về khái niệm “Then” và “Then cấp sắc” Tập trung tổng quan các công trình nghiên cứu của những người đi trước về Then Tày, Then cấp sắc của người Tày ở ba góc độ cơ bản: Các công trình sưu tầm, nghiên cứu trích đoạn văn
Trang 9bản Then cấp sắc từ góc độ văn học; các công trình sưu tầm, dịch và giới thiệu các văn bản cổ về nghi lễ Then; các công trình sưu tầm, nghiên cứu Then từ kết quả khảo sát văn bản hành lễ Then
Hiện ý kiến về sự ra đời của Then Tày nói chung và Then cấp sắc nói riêng còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng nhìn chung thông nhất là Then được phổ biến khá rộng rãi ở Cao Bằng vào cuối thé kỷ XVI, khi nhà Mạc cát cứ vùng đất này Thời kỳ này, Then phát triển trong cung đình và trong nhân dân Khi nhà Mạc tan rã, Then vẫn tồn tại và phát triển trong đời sống dân ca nghi lễ của người Tày ở vùng núi phía Bắc Việt Nam
Các công trình nghiên cứu về Then nói chung, Then cấp sắc nói riêng của các nhà nghiên cứu trước đây, có số ít đã căn cứ vào một số văn bản Nôm Tày để giới thiệu, còn lại đa phần dừng lại ở góc độ văn hóa dân gian và chưa khai thác trực tiếp đến những văn bản thành văn viết bằng chữ Nôm Tày - một cứ liệu có tính lịch sử rất đáng tin cậy Trên cơ sở dựa vào các văn bản Then cấp sắc hiện lưu trữ tại VNCHN, để
kế thừa kết quả nghiên cứu của người đi trước, từ đó định hướng những nội dung nghiên cứu của luận án
Chương 2 KHẢO SÁT VĂN BẢN THEN CẤP SẮC NÔM TÀY
TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM
2.1 Mô tả văn bản Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày
2.1.1 Văn bản liên quan đến cấp sắc
Chúng tôi dùng từ “văn bản liên quan đến cấp sắc” là vì những văn bản này chỉ được các thày Tào, thày Then căn cứ vào công việc thực tế của buổi lễ mà sử dụng ở chừng mực một hoặc vài phần trong văn bản, không sử dụng hết toàn bộ văn bản Qua khảo sát tại VNCHN, chúng tôi thấy có 5 văn bản được sử dụng trong nghi lễ cấp sắc,
trong đó 2 văn bản còn tên tiêu đề là Thần tiêu ngọc cách công văn, Phật thánh tướng binh tổng khoa, 3 văn bản còn lại do bị rách nên không còn tên tiêu đề Tất cả 5 văn bản
này đều được chúng tôi mô tả kỹ từ hình thức đến nội dung của văn bản, gồm các ký hiệu: A.881, AB.518, ST.1998/93, ST.1998/100, ST.10460
2.1.2 Văn bản Then cấp sắc Nôm Tày
Khảo sát văn bản Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày lưu trữ tại VNCHN, chúng tôi thấy có 6 văn bản 6 văn bản này, có văn bản còn nguyên vẹn đầu cuối, có văn bản bị rách khuyết một số tờ đầu Song tất cả 6 văn bản này đều được chúng tôi mô
tả kỹ từ hình thức đến tiêu đề nội dung chính như: kích cỡ, niên đại, người sao chép, cho đến từng nội dung của văn bản; gồm các ký hiệu: NVB.1, VNv.671, ST.557, NC.50, ST.2227
Trang 102.2 Khảo sát đặc điểm văn bản Then cấp sắc
2.2.1 Hình thức văn bản
2.2.1.1 Lý lịch văn bản
Qua khảo sát 6 văn bản Then cấp sắc hiện lưu trữ tại VNCHN, chúng tôi thấy có
4 văn bản có lý lịch ở Lạng Sơn, 1 băn bản có lý lịch ở Bắc Kạn, 1 văn bản có lý lịch ở Cao Bằng
2.2.1.2 Tên gọi văn bản
Qua khảo sát 6 văn bản Then cấp sắc Nôm Tày hiện lưu trữ tại VNCHN, chúng tôi thấy 4 văn bản có ghi rõ tên gọi của văn bản (hay còn gọi là tên tác phẩm) Thế nhưng, cả 4 văn bản mặc dù có cùng nội dung, nhưng lại ghi 4 tên gọi khác nhau Qua khảo sát văn bản, đối chiếu với những nhận xét của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi bước đầu nhận định, việc đặt tên cho văn bản là do chủ quan của người sao chép sao cho phù hợp mỗi khi đem đi hành nghề và mỗi dòng Then
2.2.1.3 Niên đại văn bản
Qua khảo sát 6 văn bản Then cấp sắc lưu trữ tại VNCHN, chúng tôi thấy không
có văn bản nào ghi niên đại biên soạn, mà chỉ thấy 5 văn bản có ghi năm sao chép Qua khảo sát, chúng tôi cho rằng cả 6 văn bản Then cấp sắc lưu trữ tại VNCHN đều được sao chép vào giai đoạn đầu thế kỷ XX Những văn bản này được sao đi chép lại nhiều lần trong quá trình văn bản hóa, những vẫn còn bảo lưu được nhiều lớp lang văn hóa và văn tự của nhiều thế kỷ trước
2.2.1.5 Thể loại
Qua khảo sát 6 văn bản Then cấp sắc, chúng tôi thấy chủ yếu sử dụng thể thơ thất ngôn, thứ đến là ngũ ngôn, thứ nữa là 9 chữ và cuối cùng là văn xuôi Trong đó, thể thất ngôn lưu thủy (chiếm 78%), thể ngũ ngôn (chiếm 10%), thể chín chữ (chiếm 5%), thể văn xuôi (chiếm 2%) Với những thể văn đa dạng như vậy, lại được đan xen lẫn nhau, khiến cho buổi Then tuy có dài nhưng không nhàm chán
2.2.2 Kết cấu văn bản
2.2.2.1 Các chương hát trong văn bản
Qua kết quả khảo sát 6 văn bản Then cấp sắc, chúng tôi thống kê được bản NVB.1 có 27 chương; bản ST.2227 có 13 chương; bản ST.2201 có 20 chương; bản ST.557 có 16 chương; bản VNv.671 có 22 chương; bản NC.50 có 17 chương Từ kết quả thống kê, chúng tôi thấy giữa các văn bản ngoài những chương có tên chương khác nhau, còn có những chương có tên chương hoàn toàn giống nhau Để làm rõ hơn về
Trang 11vấn đề này, chúng tôi lập bảng so sánh giữa các tên chương giống nhau Từ kết quả so sánh, chúng tôi nhận định rằng, hiện tượng tên chương giữa các văn bản có sự giống nhau và khác nhau là do phụ thuộc vào từng dòng Then
2.2.2.2 Bố cục nội dung của văn bản
Khảo sát 6 văn bản Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày, chúng tôi thấy 6 văn bản đều có bố cục nội dung rất rành mạch, được chia làm ba phần cơ bản Cụ thể như sau:
- Phần một: Nội dung chủ yếu là những công việc chuẩn bị cho một chuyến đi
xa như: sắm sửa các lễ vật để tiến dâng lên Ngọc Hoàng, lễ báo cáo với tổ tiên về mục đích của chuyến đi, chiêu binh chiêu tướng, tế cáo với trời về việc tổ chức chuyến đi, dàn xếp binh lính, v.v
- Phần hai: Nội dung đoàn quân nhà Then bắt đầu xuất phát từ trần gian cho đến khi lên đến tận cửa Ngọc Hoàng và xin được cấp sắc Ở phần này tập trung chủ yếu nói
về cuộc hành trình lên thiên giới đầy gian nan vất vả
- Phần ba: Diễn tả cảnh đoàn quân nhà Then từ mường trời trở về tới trần gian
an toàn trọn vẹn và tổ chức những cuộc vui chơi đầy rộn rã
2.2.2.3 Vấn đề xác định thiện bản (bản tin cậy) để nghiên cứu
Đối chiếu các văn bản có cùng dòng Then, chúng tôi thấy 4 bản (NVB.1; ST.2227; ST.2201; ST.557) thuộc dòng then ở Lạng Sơn có sự dị bản rất cao, kể cả về hình thức đến nội dung văn bản; sau khi khảo sát, chúng tôi quyết định lựa chọn bản ký hiệu NVB.1 làm thiện bản (bản tin cậy) cho dòng Then Lạng Sơn; bản ký hiệu VNv.671 đại diện cho dòng Then Bắc Kạn; bản NC.50 đại diện cho dòng Then Cao Bằng, làm đối tượng cho việc nghiên cứu Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày
2.3 Một số vấn đề về chữ Nôm ghi trong văn bản Then cấp sắc
2.3.1 Về nghiên cứu chữ Nôm Tày
Vấn đề nghiên cứu chữ Nôm Tày đã được các nhà nghiên cứu đi trước quan tâm khai thác rất cụ thể ở nhiều góc độ khác nhau, nên tác giả của luận án sẽ không đi sâu vào nghiên cứu cấu tạo chữ Nôm Tày, mà chỉ triển khai nghiên cứu, thống kê, phân loại khối lượng chữ Nôm trong văn bản cụ thể là Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày
2.3.2 Phân loại chữ Nôm Tày trong văn bản Then cấp sắc
2.3.2.1 Thống kê, phân loại chữ Nôm trong văn bản
Qua khảo sát 6 văn bản Then cấp sắc, chúng tôi thấy có tất cả 216.746 lượt chữ
Nôm, trong đó bao gồm 52.397 lượt chữ Nôm Tày tự tạo (chiếm tỷ lệ 24,2%), 106.291 lượt chữ mượn từ chữ Nôm của người Kinh (chiếm tỷ lệ 49%), 58.058 lượt chữ mượn Hán (chiếm tỷ lệ 26,8%) Xét về mặt phân vùng, văn bản ở Lạng Sơn xuất hiện nhiều chữ Nôm mượn của người Kinh nhất, thứ đến là văn bản ở Cao Bằng, cuối cùng là văn
bản ở Bắc Kạn Về số lượng đơn vị chữ Nôm, trong 6 văn bản có tổng cộng 27.412
đơn vị chữ Nôm Trong đó có 9.111 đơn vị chữ Nôm Tày tự tạo (chiếm tỷ lệ 33,2%), 10.003 đơn vị chữ mượn Nôm của người Kinh (chiếm tỷ lệ 36,5%), 8.298 đơn vị chữ mượn Hán (chiếm tỷ lệ 30,3%)
Trang 122.3.2.2 Phân loại chữ Nôm Tày mượn Hán
- Mượn chữ, mượn âm, mượn cả nghĩa: Đây là những trường hợp không những
mượn chữ Hán mà đồng thời mượn luôn cả ngữ tố do chữ Hán đó thể hiện để dùng vào văn bản Nôm Tày Ở loại này, bản NVB.1 xuất hiện 476 chữ (chiếm 35,1%); bản VNv.671 xuất hiện 558 chữ (chiếm 28,4%); bản NC.50 xuất hiện 307 chữ (chiếm 31,0%)
- Mượn chữ, mượn âm, không mượn nghĩa: Phương thức này có thể được coi là
“giả tá theo âm” Loại này bao gồm những chữ Hán được mượn để ghi các ngữ tố Tày, nhưng về nghĩa thì hoàn toàn khác với Hán Đối với loại chữ này, bản NVB.1 xuất hiện
238 chữ (chiếm 17,6%); bản VNv.671 xuất hiện 424 chữ (chiếm 21,6%); bản NC.50 xuất hiện 210 chữ (chiếm 20,3%)
- Mượn chữ, mượn nghĩa, không mượn âm: Đây là những chữ Hán được mượn
bằng phép “giả tá theo nghĩa”, tức là dùng chữ Hán để ghi một ngữ tố Tày cùng nghĩa, nhưng không liên quan gì đến âm đọc của chữ Hán đó Về số lượng, bản NVB.1 xuất hiện 65 chữ (chiếm 4,8%); bản VNv.671 xuất hiện 96 chữ (chiếm 4,9%); bản NC.50 xuất hiện 54 chữ (chiếm 5,4%)
- Mượn chữ, mượn nghĩa, đọc chệch (trại) âm Hán Việt: Trong ngữ âm tiếng
Tày do không có thanh điệu “ngã” và phụ âm “tr”, nên những chữ có thanh điệu “ngã”
sẽ được chuyển thành thanh điệu “nặng”, phụ âm “tr” sẽ được chuyển thành phụ âm
“t” Đối với loại chữ này, bản NVB.1 xuất hiện 127 chữ (chiếm 9,4%); bản VNv.671 xuất hiện 244 chữ (chiếm 12,4%); bản NC.50 xuất hiện 115 chữ (chiếm 11,6%)
- Mượn chữ, không mượn nghĩa, đọc chệch âm Hán Việt: Đây là những trường
hợp mượn một chữ Hán quen thuộc để ghi một ngữ tố Tày không cùng nghĩa có âm đọc gần giống với chữ Hán ấy Về số lượng, bản NVB.1 xuất hiện 251 chữ (chiếm 18,5%); bản VNv.671 xuất hiện 344 chữ (chiếm 17,5%); bản NC.50 xuất hiện 170 chữ (chiếm 17,2%)
- Mượn chữ, không mượn âm, không mượn nghĩa: Đây là trường hợp chỉ mượn
về mặt chữ, còn về âm đọc và ngữ nghĩa của chữ ấy thì hoàn toàn khác Loại chữ này, bản NVB.1 xuất hiện 198 chữ (chiếm 14,6%); bản VNv.671 xuất hiện 299 chữ (chiếm 15,2%); bản NC.50 xuất hiện 144 chữ (chiếm 14,5%)
Qua khảo sát chúng tôi thấy, bản ở Lạng Sơn có tổng cộng 1.355 chữ Hán với tần số xuất hiện 12.548 lượt; bản ở Cao Bằng có tổng cộng 991 chữ Hán với tần số xuất hiện 10.910 lượt; bản ở Bắc Kạn có tổng cộng 1.956 chữ Hán với tần số xuất hiện
13.426 lượt
2.3.2.3 Phân loại chữ Nôm Tày mượn Nôm Kinh
- Mượn chữ, mượn âm, mượn cả nghĩa Loại chữ này, bản NVB.1 xuất hiện
2.248 chữ (chiếm 80,7%); bản VNv.671 xuất hiện 1.774 chữ (chiếm 83,1%); bản NC.50 xuất hiện 1.191 chữ (chiếm 79,8%)
- Mượn chữ, mượn nghĩa, đọc trại âm Loại chữ này, bản NVB.1 xuất hiện 398
chữ (chiếm 14,3%); bản VNv.671 xuất hiện 303 chữ (chiếm 14,2%); bản NC.50 xuất hiện 164 chữ (chiếm 11,0%)
Trang 13- Mượn chữ, mượn nghĩa, không mượn âm Loại chữ này, bản NVB.1 xuất hiện
139 chữ (chiếm 5,0%); bản VNv.671 xuất hiện 58 chữ (chiếm 2,7%); bản NC.50 xuất hiện 137 chữ (chiếm 9,2%)
Xét về tần số xuất hiện những chữ Nôm Kinh được vay mượn dùng trong văn
bản, chúng tôi thấy bản ở Lạng Sơn có tổng cộng 2.786 chữ với tần số xuất hiện 27.546 lượt; bản ở Cao Bằng có tổng cộng 1.493 chữ với tần số xuất hiện 16.436 lượt; bản ở Bắc Kạn có tổng cộng 2.135 chữ với tần số xuất hiện 18.196 lượt
2.3.2.4 Phân loại chữ Nôm Tày tự tạo
- Chữ hội âm đẳng lập: Là những chữ Nôm tự tạo ghép hai thành tố biểu âm, cả
hai thành tố biểu âm đều có vai trò ngang nhau trong trong chức năng biểu âm và hai thành tố này “nương tựa vào nhau” để cùng thể hiện âm đọc của ngữ tố Tày Đối với loại chữ này, bản NVB.1 xuất hiện 201 chữ (chiếm 7,5%); bản VNv.671 xuất hiện 58 chữ (chiếm 5,3%); bản NC.50 xuất hiện 68 chữ (chiếm 5,0%)
- Chữ hội âm chính phụ: Là những chữ Nôm tự tạo ghép hai thành tố biểu âm,
trong đó thành tố biểu âm đóng vai trò biểu âm chính, còn một thành tố biểu âm nữa thì chỉ đóng vai trò phụ trợ để thể hiện phần âm đầu vốn dĩ gồm hai phụ âm của ngữ tố Tày để điều chỉnh âm đọc vốn có của ký tự còn lại Loại chữ này, bản NVB.1 xuất hiện
99 chữ (chiếm 3,7%); bản VNv.671 xuất hiện 36 chữ (chiếm 3,3%); bản NC.50 xuất hiện
50 chữ (chiếm 3,7%)
- Chữ hội ý đẳng lập: Là những chữ Nôm tự tạo được ghép hai thành tố biểu ý,
trong đó các thành tố đều bình đẳng trong chức năng biểu ý Đối với loại chữ này, bản NVB.1 xuất hiện 345 chữ (chiếm 12,9%); bản VNv.671 xuất hiện 129 chữ (chiếm 11,9%); bản NC.50 xuất hiện 269 chữ (chiếm 19,8%)
- Chữ hình thanh đẳng lập: Là những chữ Nôm tự tạo được ghép một thành tố
biểu âm với một thành tố biểu ý, hai thành tố này có vai trò ngang nhau trong cấu tạo chữ và trong chức năng biểu âm hoặc biểu ý của chúng Loại chữ này, bản NVB.1 xuất hiện 797 chữ (chiếm 29,8%); bản VNv.671 xuất hiện 311 chữ (chiếm 28,6%); bản NC.50 xuất hiện 386 chữ (chiếm 28,4%)
- Chữ hình thanh chính phụ: Là những chữ Nôm tự tạo được ghép một thành tố
biểu âm với một thành tố biểu ý, trong đó thành tố biểu âm có vai trò chính trong cấu tạo chữ, thành tố phụ biểu ý là bộ thủ, có chức năng thể hiện nghĩa phạm trù chứ không phải nghĩa thực tại của chữ, và đôi khi nhờ đó mà có thể hỗ trợ cho việc hướng tới âm đọc chính xác của chữ Loại chữ này, bản NVB.1 xuất hiện 1.089 chữ (chiếm 40,7%); bản VNv.671 xuất hiện 523 chữ (chiếm 28,1%); bản NC.50 xuất hiện 542 chữ (chiếm 39,9%)
- Chữ đơn lấy âm: Là những chữ Nôm tự tạo với một thành tố biểu âm đơn nhất,
được viết ắt và tái tạo lại hình chữ vốn thuộc loại chữ mượn Hán biểu âm đơn Đối với loại chữ này, bản NVB.1 xuất hiện 104 chữ (chiếm 3,9%); bản VNv.671 xuất hiện 23 chữ (chiếm 2,1%); bản NC.50 xuất hiện 29 chữ (chiếm 2,1%)