tiểu luận triết học mac lenin Vấn đề con người trong nho giáo và ảnh hưởng của nó ở việt nam hiện nay , tiểu luận triết học mac lenin Vấn đề con người trong nho giáo và ảnh hưởng của nó ở việt nam hiện nay , tiểu luận triết học mac lenin Vấn đề con người trong nho giáo và ảnh hưởng của nó ở việt nam hiện nay
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÔNG Á
Khoa Quản Trị
- -TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC MÁC – LÊ NIN
ĐỀ TÀI:
VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG NHO GIÁO VÀ ẢNH
HƯỞNG CỦA NÓ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Thực hiện: Nguyễn Văn Tuấn
Lớp: BA17A1
Đà Nẵng, Tháng 6 năm 2021
MỤC LỤC
PHẦN I VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC NHO GIÁO 4
Trang 2I Vài nét về tiến trình phát triển của Nho giáo 4
1.1 Lịch sử hình thành 4
1.2 Các giai đoạn trong quá trình nho giáo du nhập Việt Nam 4
1.2.1 Giai đoạn đầu Nho giáo được truyền bá vào Việt Nam 4
1.2.2 Giai đoạn Nho giáo được tiếp nhận chủ động ở Việt Nam 5
1.2.3 Giai đoạn Nho giáo được tiếp nhận làm hệ tư tưởng chính thống của nhà nước phong kiến Việt Nam 5
II Một số nội dung chính của Nho giáo 6
2.1 Tu thân 6
2.2 Hành đạo 8
PHẦN II ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO ĐẾN VIỆT NAM HIỆN NAY 9
2.1 Ảnh hưởng tích cực 9
2.1.1 Ảnh hưởng đến việc giáo dục ý thức tự tu dưỡng đạo đức 9
2.1.2 Ảnh hưởng đến việc giáo dục ý thức tôn trọng kỷ cương, tinh thần trách nhiệm đối với gia đình và xã hội 10
2.1.3 Ảnh hưởng đến việc xây dựng đời sống đạo đức nhân văn 11
2.2 Ảnh hưởng tiêu cực 12
2.2.1 Ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng gia trưởng, đầu óc địa vị, ngôi thứ, chuyên quyền độc đoán, thiếu dân chủ 12
2.2.2 Ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng tuyệt đối hóa vai trò của gia đình, đặt lợi ích của gia đình lên trên, lợi ích của xã hội 12
2.2.3 Ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng trọng nam khinh nữ, coi thường vị trí và vai trò của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội 13
Phần III Kết luận 17
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Nho giáo có một vị thế hết sức to lớn trong đời sống xã hội Trung Quốc trong nhiều thế kỷ Nho giáo như là một thành tố văn hoá góp phần làm phong phú văn hoá Trung Quốc vốn được hình thành trên nền tảng của văn hoá Hán cùng với sự giao lưu tiếp xúc văn hoá với các tộc người khác Tuy nhiên, trong suốt chiều dài lịch sử mất ngàn năm của Trung Quốc, Nho giáo được nhìn nhận hết sức khác nhau: có những giai đoạn lịch sử, người ta đề cao Nho giáo, coi đó như là chuẩn mực để xây dựng đời sống
xã hội, lại có thời gian, người ta phê phán, bài bác, thậm chí phủ nhận Nho giáo Đương nhiên, khi đã coi Nho giáo như là một học thuyết thì việc xem xét, đánh giá trong các giai đoạn lịch sử cũng là việc làm bình thường
Ngay từ khi xâm nhập vào Việt Nam, Nho giáo đã nhanh chóng thích nghi và phát triển mạnh mẽ, sự ảnh hưởng, tác động của nó đến đời sống người Việt Nam rất sâu sắc không chỉ trong quá khứ mà vẫn còn tiếp tục phát huy đến ngày nay, góp phần
phong phú thêm cho nền văn hóa Việt Nam Vì vậy, đề tài: “Vấn đề con người trong
Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam hiện nay” được thực hiện nhằm làm rõ
hơn tư tưởng triết học chủ đạo của Nho giáo cũng như tầm ảnh hưởng sâu rộng của nó đến đời sống người Việt Nam trãi qua bao thế hệ
Trang 4PHẦN I VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC NHO GIÁO
I Vài nét về tiến trình phát triển của Nho giáo
1.1 Lịch sử hình thành
Khổng giáo (Nho giáo) là một giáo lý đạo đức cơ bản xuất xứ ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ 5 và 6 trước CN Dựa trên những cơ cấu và sự tu tập nó đã phổ biến lâu đời trong xã hội Trung Quốc, chẳng hạn hệ thống gia tộc và sự thờ cúng ông bà, tổ tiên của nó, Khổng giáo đã trở thành hệ thống tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất Trung Quốc, cùng tồn tại với Lão giáo (đạo) và Phật giáo qua nhiều thế kỷ Người sáng lập ra nó đức Khổng Phu Tử (551-479 trước CN) một nhà cải cách chính trị cũng là một nhà giáo dục, ngài bất mãn với sự suy đồi đạo đức trong thời đại của mình và tìm cách khôi phục lại những giá trị mà ngài cho là những phong tục tốt đẹp của thời đại Hoàng Kim Những tư tưởng triết lý, đạo lý và tín ngưỡng đặt nền tảng cho một hệ thống đạo đức đã tồn tại qua nhiều thời gian thử thách Trãi qua hơn hai nghìn năm, tư tưởng nho giáo ảnh hưởng đối với Trung Quốc không chỉ về chính trị, văn hóa mà còn thể hiện trong hành vi và phương thức tư duy của mỗi con người Trung Quốc Có học giả còn xem nho giáo là tư tưởng tôn giáo của Trung Quốc Trong thực tế, nho giáo là một trong rất nhiều trường phái thời cổ Trung Quốc, nó là tư tưởng triết học chứ không phải là tôn giáo và được coi là tư tưởng chính thống trong xã hội phong kiến hơn hai nghìn năm ở Trung Quốc và có ảnh hưởng tới một số nước ở Châu Á
1.2 Các giai đoạn trong quá trình nho giáo du nhập Việt Nam
1.2.1 Giai đoạn đầu Nho giáo được truyền bá vào Việt Nam
Giai đoạn đầu tiên Nho giáo được truyền bá vào Việt Nam tương ứng với thời
kỳ Bắc thuộc trong lịch sử dân tộc Nho giáo được truyền vào Việt Nam với mục đích thống trị và đồng hóa người Việt của các triều đại Trung Quốc Lực lượng truyền bá Nho giáo lúc này chủ yếu là chính quyền đô hộ, các viên quan cai trị như Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp Bên cạnh đó, các nho sĩ di cư từ Trung Quốc sang Việt Nam vì nhiều lý do khác nhau cũng tham gia vào quá trình truyền bá Nho giáo và văn hóa Hán
ở Giao Châu bấy giờ Sau khi xâm lược nước ta, cùng với việc chia lại khu vực hành chính và tổ chức bộ máy cai trị trên vùng đất mới chiếm được theo chế độ quận huyện của Trung Quốc, lực lượng đô hộ thực hiện một loạt các chính sách, biện pháp nhằm đồng hóa nhân dân ta mà theo đó Nho giáo được truyền bá vào:
Thứ nhất, bắt nhân dân ta thay đổi phong tục tập quán theo người Trung Quốc;
Trang 5Thứ hai, phổ biến tiếng Hán và chữ Hán trong nhân dân nhằm thay đổi ngôn ngữ, chữ
viết của người Việt;
Thứ ba, mở trường dạy học để truyền bá Nho giáo nhằm đồng hóa dân tộc ta về tư
tưởng tinh thần
1.2.2 Giai đoạn Nho giáo được tiếp nhận chủ động ở Việt Nam
Xuất phát từ nhu cầu củng cố nhà nước quân chủ tập quyền và trật tự của xã hội phong kiến, nhu cầu phát triển văn hóa giáo dục, từ thời Lý - Trần, nhà nước phong kiến đã chủ động tiếp nhận và sử dụng Nho giáo trong quản lý đất nước Nho giáo trong giai đoạn này được truyền vào Việt Nam chủ yếu thông qua các hoạt động như: Các chuyến đi sứ; Xin sách, nhân bản sách; Những luồng người nhập cư
Về cách thức Nho giáo được tiếp nhận ở Việt Nam:
Thứ nhất, các vị vua thời Lý - Trần đã cho mở mang giáo dục Nho giáo, xem trọng
khoa cử Nho học và từng bước đưa nó trở thành công cụ chính để tăng cường sự thống trị của giai cấp phong kiến, tạo nên sức mạnh cho bộ máy nhà nước
Thứ hai, Nho giáo được phổ biến và gây ảnh hưởng trong xã hội cùng với sự mở rộng
và vị thế ngày càng tăng của tầng lớp nho sĩ
Thứ ba, sự du nhập và phát triển của Nho giáo ở Việt Nam giai đoạn này còn thông
qua đóng góp của của các tăng sĩ - những người có ảnh hưởng lớn trong triều đình 10
và xã hội bấy giờ Sự ảnh hưởng của Nho giáo trong lĩnh vực giáo dục đã tác động trực tiếp vào sự hình thành đội ngũ trí thức dân tộc, tạo nên những bậc danh nho, danh tướng lẫy lừng, những người có đóng góp lớn trong lịch sử dân tộc Việt Nam như Lê Văn Hưu, Nguyễn Trung Ngạn, Trương Hán Siêu, Chu Văn An, Lê Bá Quát, Phạm Sư Mạnh, Đoàn Nhữ Hài, Lê Phụng Hiểu, Lý Thường Kiệt, Trần Nhật Duật, Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư
1.2.3 Giai đoạn Nho giáo được tiếp nhận làm hệ tư tưởng chính thống của nhà nước phong kiến Việt Nam
Nhằm củng cố và tăng cường chế độ tập quyền phong kiến trung ương, chuẩn mực hóa kỷ cương triều đình và trật tự xã hội, từ thời Lê sơ trở đi, giai cấp cầm quyền
đã hết sức đề cao Nho giáo, xem đó là cơ sở lý luận để xây dựng đất nước, làm bệ đỡ
tư tưởng bảo vệ lợi ích của vương triều Nho giáo trong giai đoạn này được truyền bá vào nước ta thông qua nhiều hoạt động: hoạt động chính trị, ngoại giao hai nước, trao đổi ấn phẩm, dịch thuật sách chữ Hán và sự tiếp xúc với những người di cư Từ thời
Trang 6Lê đến thời Nguyễn, nhà nước phong kiến đã tiến hành rất nhiều biện pháp nhằm phổ biến Nho giáo trong nhân dân, làm cho nó trở thành tư tưởng chi phối sâu sắc toàn diện xã hội:
Thứ nhất, giai cấp thống trị thời kỳ này hết sức chú trọng mở mang giáo dục và khoa
cử Nho học;
Thứ hai, thời kỳ này, nhà nước phong kiến còn ban hành các văn bản chính trị - xã hội
dựa trên hệ thống quan điểm Nho giáo;
Thứ ba, nhằm đề cao Nho giáo, triều đình còn thi hành những biện pháp hạn chế Phật
giáo, Đạo giáo Thông qua các chính sách, biện pháp đó, Nho giáo đã từng bước thâm nhập vào các lĩnh vực xã hội, đi sâu vào các thiết chế làng xã, tác động lớn đến thế giới quan, nhân sinh quan của những người theo học đạo nho Giai đoạn này gắn liền với tên tuổi của những nhà nho xuất sắc như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Lê Thánh Tông và Minh Mệnh những người với tài năng, trí tuệ và bản lĩnh của mình đã có những đóng góp to lớn, để lại những dấu ấn sâu sắc trong lịch sử nước nhà
II Một số nội dung chính của Nho giáo
2.1 Tu thân
Khổng Tử đặt ra một loạt tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức… để làm chuẩn
mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội Tam cương và ngũ thường là lẽ đạo đức mà nam giới phải theo Tam tòng và Tứ đức là lẽ đạo đức mà nữ giới phải
theo Khổng Tử cho rằng người trong xã hội giữ được tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức thì xã hội được an bình
A Tam cương: Tam là ba, cương là giềng mối Tam cương là ba mối quan hệ: quân
thần (vua tôi), phụ tử (cha con), phu phụ (vợ chồng)
Trong xã hội phong kiến, những mối quan hệ này được các vua chúa lập ra trên những nguyên tắc“chết người”
- Quân thần: “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” nghĩa là: dù vua có bảo cấp dưới chết đi nữa thì cấp dưới cũng phải tuân lệnh, nếu cấp dưới không tuân lệnh thì cấp dưới không trung với vua Trong quan hệ vua tôi, vua thưởng phạt luôn luôn công minh, tôi trung thành một dạ
- Phụ tử: Cha hiền con hiếu, cha có nghĩa vụ nuôi dạy con cái, con phải hiếu và nuôi dưỡng cha khi già
Trang 7- Phu phụ: Chồng phải yêu thương và đối xử công bằng với vợ, vợ chung thủy tuyệt đối với chồng
B Ngũ thường: ngũ là năm, thường là hằng có Ngũ thường là năm điều phải hằng
có trong khi ở đời, gồm: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín
- Nhân: Lòng yêu thương đối với muôn loài vạn vật
- Nghĩa: Cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải
- Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người
- Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai
- Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy
C Tam tòng: tam là ba; tòng là theo Tam tòng là ba điều người phụ nữ phải theo,
gồm: “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”
- Tại gia tòng phụ: người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha
- Xuất giá tòng phu: lúc lấy chồng phải theo chồng
- Phu tử tòng tử: nếu chồng qua đời phải theo con
D Tứ đức: tứ là bốn; đức là tính tốt Tứ đức là bốn tính nết tốt người phụ nữ phải có,
là: công – dung – ngôn – hạnh
- Công: khéo léo trong việc làm
- Dung: hòa nhã trong sắc diện
- Ngôn: mềm mại trong lời nói
- Hạnh: nhu mì trong tính nết
Người quân tử phải đạt ba điều trong quá trình tu thân:
- Đạt đạo: Đạo có nghĩa là “con đường”, hay “phương cách” ứng xử mà người quân
tử phải thực hiện trong cuộc sống “Đạt đạo trong thiên hạ có năm điều: đạo vua tôi, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em, đạo bạn bè” (sách Trung Dung), tương đương với “quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu” Đó chính là Ngũ thường, hay Ngũ luân Trong xã hội cách cư xử tốt nhất là “trung dung” Tuy nhiên, đến Hán nho ngũ luân được tập chung lại chỉ còn ba mối quan hệ quan trọng nhất được gọi là Tam thường hay còn gọi là Tam tòng
- Đạt đức: Quân tử phải đạt được ba đức: “nhân – trí – dũng” Khổng Tử nói: “Đức
của người quân tử có ba mà ta chưa làm được Người nhân không lo buồn, người trí không nghi ngại, người dũng không sợ hãi” (sách Luận ngữ) Về sau, Mạnh Tử thay
“dũng” bằng “lễ, nghĩa” nên ba đức trở thành bốn đức: “nhân, nghĩa, lễ, trí” Hán
Trang 8nho thêm một đức là “tín” nên có tất cả năm đức là: “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín” Năm đức này còn gọi là ngũ thường
- Biết thi, thư, lễ, nhạc: Ngoài các tiêu chuẩn về “đạo” và “đức”, người quân tử còn
phải biết “thi, thư, lễ, nhạc” Tức là người quân tử còn phải có một vốn văn hóa toàn diện
2.2 Hành đạo
Sau khi tu thân, người quân tử phải hành đạo, tức là phải làm quan, làm chính trị Nội dung của công việc này được công thức hóa thành “tề gia, trị quốc, thiên hạ bình “ Tức là phải hoàn thành những việc nhỏ – gia đình, cho đến lớn – trị quốc, và đạt đến mức cuối cùng là bình thiên hạ (thống nhất thiên hạ) Kim chỉ nam cho mọi hành động của người quân tử trong việc cai trị là hai phương châm:
- Nhân trị: Nhân là tình người, nhân trị là cai trị bằng tình người, là yêu người và
coi người như bản thân mình Khi Trọng Cung hỏi thế nào là nhân thì Khổng Tử nói:
“Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân – Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác” (sách Luận ngữ) Nhân được coi là điều cao nhất của luân lý, đạo đức, Khổng
Tử nói: “Người không có nhân thì lễ mà làm gì? Người không có nhân thì nhạc mà làm gì?” (sách Luận ngữ)
- Chính danh: Chính danh là mỗi sự vật phải được gọi đúng tên của nó, mỗi người
phải làm đúng chức phận của mình “Danh không chính thì lời không thuận, lời không thuận tất việc không thành” (sách Luận ngữ) Khổng tử nói với vua Tề Cảnh Công:
“Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử – Vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con” (sách Luận ngữ)
Đó chính là những điều quan trọng nhất trong các kinh sách của Nho giáo, chúng được tóm gọi lại trong chín chữ: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Và đến lượt mình, chín chữ đó chỉ nhằm phục vụ mục đích cai trị mà thôi
Quân tử ban đầu có nghĩa là người cai trị, người có đạo đức và biết thi, thư, lễ, nhạc Tuy nhiên, sau này từ đó còn có thể chỉ những người có đạo đức mà không cần phải có quyền Ngược lại, những người có quyền mà không có đạo đức thì được gọi là tiểu nhân (như dân thường)
Trang 9PHẦN II ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO ĐẾN VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Ảnh hưởng tích cực
2.1.1 Ảnh hưởng đến việc giáo dục ý thức tự tu dưỡng đạo đức
Cùng với việc đề ra những chuẩn mực, những quy phạm đạo đức, Nho giáo còn khẳng định tu thân là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất, quan trọng nhất trong việc rèn luyện, tu dưỡng đạo đức Mặc dù, quan niệm tu thân của Nho giáo không tránh khỏi những hạn chế như chủ yếu chú trọng đến việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của giai cấp thống trị, nhưng nếu tạm thời gạt bỏ những hạn chế ấy ta vẫn sẽ tìm thấy những hạt nhân hợp lý, những ảnh hưởng tích cực của nó đối với yêu cầu tu dưỡng đạo đức của mỗi cá nhân trong xã hội Việt Nam hiện nay Quan niệm tu thân của Nho giáo càng phát huy ý nghĩa to lớn của nó trước thực trạng xuống cấp nghiêm trọng về mặt đạo đức của một bộ phận không nhỏ người Việt Nam trong mọi giai cấp, tầng lớp xã hội như thực tế đang diễn ra ở nước ta hiện nay Những vụ án giết người hết sức tàn độc để cướp của hay vì ân oán cá nhân diễn ra khá phổ biến là một trong những minh chứng rõ nét cho mức độ xuống cấp nghiêm trọng của đạo đức xã hội Ví dụ như, vụ
án Lê Văn Luyện (cướp tiệm vàng, giết 3 người xảy ra vào năm 2011); vụ án Nguyễn Hải Dương (dùng dao sát hại 6 mạng người trong một gia đình để cướp tài sản năm
2015 Khi con người ta có thể dễ dàng ra tay tàn độc, sát hại đồng loại, thậm chí là người thân, người yêu của mình với bất kể lý do gì thì khi ấy họ đã đánh mất nhân tính của bản thân Sở dĩ đánh mất nhân tính là vì họ không tu dưỡng, trau dồi đạo đức thường xuyên, liên tục Cần phải thấy rằng, tự rèn luyện, tu dưỡng đạo đức là điều vô cùng quan trọng đối với cá nhân mỗi con người, bởi lẽ chỉ có tu dưỡng đạo đức thường xuyên và liên tục mới giúp con người giữ vững được nhân cách trước mọi thử thách và cám giỗ của cuộc sống hiện đại Trong quá trình ấy, việc nhận diện và kế thừa những ảnh hưởng tích cực trong quan niệm của đạo đức Nho giáo về vấn đề này là hết sức cần thiết Không phải ngẫu nhiên mà Nho giáo đặc biệt coi trọng quá trình tự tu dưỡng đạo đức trong mỗi con người Thực tế cho thấy, sự tu dưỡng đạo đức của một cá nhân
là sự phản ánh một cách trung thực nhất và sinh động nhất về nhân cách của cá nhân
ấy Có thể khẳng định một cách chắc chắn là, một người thiếu lòng nhân ái thì khó có thể là người yêu nước, thương dân; một người sống không ngay thẳng, trung thực với bản thân thì khó có thể sống trung thực với người khác; một người có lối sống buông thả thì khó chấp hành kỷ cương, kỷ luật của tổ chức, của tập thể; một người trọng vật
Trang 10chất, tiền tài thì sẵn sàng bán rẻ nhân phẩm của mình, bán rẻ đồng chí, đồng bào mình…
Bên cạnh đó, chính quá trình không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của bản thân sẽ giúp cho mỗi người không bị sa vào thói đạo đức giả, coi đạo đức, nhân nghĩa chỉ là phương tiện để dối trên, gạt dưới, để mưu lợi, cầu vinh Hồ Chí Minh từng nhìn nhận một trong những ưu điểm lớn nhất của học thuyết Nho giáo chính là việc đề cao
sự tu dưỡng đạo đức cá nhân Bản thân Người cũng rất coi trọng quá trình tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức Hồ Chí Minh khẳng định: “Đạo đức cách mạng không phải ở trên trời sa xuống Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố Cũng giống như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong Ở đây cần phải lưu ý rằng, chúng ta học tập tinh thần đề cao sự tu dưỡng đạo đức của mỗi cá nhân con người, nhưng không áp dụng nguyên xi những cách thức, những biện pháp mà Nho giáo đề ra trong việc tu dưỡng đạo đức cũng như những chuẩn mực đạo đức mà Nho giáo muốn con người đạt được Bởi lẽ, một số biện pháp và chuẩn mực đạo cụ thể của Nho giáo đã không còn phù hợp với chuẩn mực đạo đức hiện tại
2.1.2 Ảnh hưởng đến việc giáo dục ý thức tôn trọng kỷ cương, tinh thần trách nhiệm đối với gia đình và xã hội
Nho giáo là một học thuyết hết sức đề cao và quan tâm đến, trách nhiệm của mỗi con người trong các mối quan hệ mà họ tham gia Cũng chính bởi thế mà Nho giáo đề ra những chuẩn mực đạo đức rất rõ ràng, quy định, trách nhiệm của mỗi cá nhân (trong các mối quan hệ cơ bản như vua tôi, cha con, chồng vợ) Thông qua việc quy định trách nhiệm của con người trong các mối quan hệ này, Nho giáo cũng hướng tới việc giáo dục con người ý thức tôn trọng trật tự, kỷ cương, kỷ luật của xã hội, xây dựng quan hệ xã hội trên dưới theo quy định chặt chẽ, nhằm ổn định trật tự xã hội Dĩ nhiên, tư tưởng này của Nho giáo cũng có nhiều điểm tiêu cực (vì những quy định của Nho giáo về trách nhiệm, của con người đối với người khác và đối với cộng đồng đã trói buộc con người theo những chuẩn mực đạo đức không phù hợp) Tuy nhiên, nếu gạt bỏ những mặt trái của nó thì Nho giáo cũng góp phần không nhỏ trong việc ngăn chặn lối sống ích kỉ, vô cảm, vô trách nhiệm, vô lương tâm, coi thường trật tự, kỷ cương xã hội trong một bộ phận không nhỏ người Việt Nam hiện nay Trong xã hội hiện tại, mỗi cá nhân hàng ngày, hàng giờ đang tham gia đời sống xã hội với rất nhiều mối quan hệ Nhưng, dù đó có là mối quan hệ nào đi chăng nữa thì việc đề ra những