Nghiên cứu đặc điểm lời nói giới thiệu và tự giới thiệu góp phần vào nghiên cứu sự lựa chọn các biểu thức ngôn ngữ trong sử dụng của người Việt cho phù hợp với những đặc trưng ngôn ngữ-
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
TƯỞNG THỊ PHƯƠNG LIÊN
LỜI NÓI GIỚI THIỆU VÀ TỰ GIỚI THIỆU TRONG TIẾNG VIỆT
(CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG ANH)
Ngành: N n n ọc
Mã số: 9.22.90.20
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN NGÔN NGỮ HỘC VIỆN KHOA HỌC XÁC HỘI VIỆT
Vào hồi giờ ngày tháng năm 201
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Nghiên cứu đặc điểm lời nói giới thiệu và tự giới thiệu góp phần vào nghiên cứu sự lựa chọn các biểu thức ngôn ngữ trong sử dụng của người Việt cho phù hợp với những đặc trưng ngôn ngữ- văn hoá- xã hội Ở mỗi phạm vi giao tiếp, bối cảnh giao tiếp quy thức và phi quy thức lời nói giới thiệu và tự giới thiệu có các biểu hiện khác nhau Vì vậy, đây là vấn đề đáng quan tâm ở Việt nam trước những tác động về yếu tố giao thoa văn hoá, ngôn ngữ ngày một mạnh mẽ từ nước ngoài
1.2 Lời nói giới thiệu và tự giới thiệu xuất hiện thường xuyên trong mọi lĩnh vực của đời sống và trở thành một nội dung nghiên cứu của dụng học Nghiên cứu ngôn ngữ giao tiếp của người Việt trong các phạm vi cụ thể sẽ làm sáng tỏ đặc điểm lời nói giới thiệu và tự giới thiệu tiếng Việt Đồng đồng thời kết quả khảo sát có liên hệ với dữ liệu tiếng Anh trong ngữ cảnh tương đồng sẽ giúp củng cố thêm kết quả nghiên cứu
1.3 Cho đến nay, theo hiểu biết bước đầu của chúng tôi, hầu như chưa có nghiên cứu nào chuyên sâu, hệ thống về những hành vi nói này Vì thế,
chúng tôi lựa chọn “Lời nói giới thiệu và tự giới thiệu trong tiếng Việt (có
liên hệ với tiếng Anh)” làm đề tài luận án
2 Mục đíc và n iệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đíc n iên cứu: Thông qua việc nghiên cứu lời nói giới
thiệu (LNGT) và tự giới thiệu (TGT) trong tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh) trong giao tiếp quy thức và phi quy thức, luận án góp phần vào chứng minh cho lí thuyết của ngữ dụng học về hành vi ngôn từ, lý thuyết của ngôn ngữ học xã hội về lời nói, đồng thời góp phần vào nghiên cứu đặc điểm của giao tiếp tiếng Việt và tiếng Anh nói chung, từ phạm vi chính trị - xã hội, phạm vi vui chơi giải trí và phạm vi sinh hoạt hàng ngày nói riêng
2.2 N iệm vụ n iên cứu: 1)Trên cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu,
luận án giới thiệu một số nội dung cơ bản về vấn đề lý thuyết giao tiếp nhìn từ góc độ dụng học xã hội 2) Chỉ ra những đặc điểm về LNGT và TGT trong tiếng Việt và tiếng Anh nói riêng bằng cách phân tích các nhân
tố giao tiếp, khảo sát và chỉ ra các biểu thức lời nói, các thành phần trong nội dung GT và TGT và các thành phần khác trong LNGT và TGT trong lĩnh vực chính trị - xã hội, phạm vi vui chơi giải trí và phạm vi sinh hoạt hàng ngày 3) Chỉ ra các nhân tố văn hoá-xã hội, chính trị tác động đến LNGT và TGT trong tiếng Việt và liên hệ với tiếng Anh
3 Đối tƣợn , p ạm vi và n uồn tƣ liệu n iên cứu
3.1 Đối tƣợn n iên cứu: LNGT và TGT trong tiếng Việt trong phạm vi
chính trị-xã hội, phạm vi vui chơi giải trí và phạm vi giao tiếp hàng ngày
Trang 43.2 P ạm vi n iên cứu: Các đoạn trích về lời giới thiệu của người dẫn
chương trình trong phạm vi chính trị - xã hội ở các buổi lễ; lời tự giới thiệu của người tham gia trong 8 chương trình giải trí trên truyền hình thuộc phạm vi vui chơi giải trí ; lời giới thiệu và tự giới thiệu giới thiệu trong phạm vi sinh hoạt hàng ngày
3.3 Nguồn tƣ liệu nghiên cứu: Nguồn ghi âm các hoạt động giao tiếp của
phạm vi sinh hoạt hàng ngày từ năm 2016 đến năm nay Nguồn ngữ liệu phim; các sự kiện chính trị- xã hội; các chương trình giải trí trên truyền hình phát sóng trên các kênh truyền hình Việt Nam và Mỹ và trên mạng internet
4 P ƣơn p áp và t ủ p áp n iên cứu
4.1 Phương pháp miêu tả
Dựa trên kết quả khảo sát được, tiến hành miêu tả những biểu hiện cụ thể trong LNGT và TGT để thấy được các nhân tố giao tiếp, các nhân tố ảnh hưởng và chi phối đến từng lời nói giới thiệu quy thức trong các buổi lễ trong phạm vi chính trị và LNTGT của người tham gia các chương trình giải trí trên truyền hình, và các LNGT và TGT trong mối quan hệ bạn bè, đồng nghiệp, gia đình trong phạm vi sinh hoạt hàng ngày trong tiếng Việt
và tiếng Anh Trên cơ sở đó, chỉ ra những đặc điểm nổi bật, những điểm giống và khác nhau trong từng phương diện, phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.2 Phương pháp phân tích diễn ngôn, phân tích hội thoại
Dựa vào kết quả thống kê, tiến hành phân tích các diễn ngôn LNGT và TGT để thấy được những biểu thức lời nói và đặc điểm ngôn từ trong văn hoá giao tiếp của Việt Nam và Mỹ Qua đó, chỉ ra được mối quan hệ cũng như sự chi phối giữa lí thuyết và thực tế sử dụng ngôn ngữ; đồng thời, chỉ
ra sự tương tác giữa ngôn ngữ trong hệ thống và nghĩa ngữ dụng trong hai ngôn ngữ Để cụ thể hoá các phương pháp trên, chúng tôi sử dụng một số thủ pháp nghiên cứu sau:
4.3 Thủ pháp thống kê, phân loại
Khảo sát và thống kê sự xuất hiện của các LNGT các đại biểu, khách mời trong phạm vi chính trị - xã hội; các LNTGT của những người tham gia các chương trình truyền hình trong phạm vi vui chơi giải trí và các LNGT
và TGT trong giao tiếp hàng ngày Trong luận án, chúng tôi thống kê và đếm các LNGT theo cặp thoại giữa SP1 (người dẫn chương trình, người điều hành buổi lễ) và SP2 (khán giả); LN TGT theo cặp thoại/hội thoại giữa SP1 (người tham gia sự kiện) với SP2 (người dẫn chương trình, thành viên ban giám khảo, khán giả); các LNGT và TGT theo cặp thoại/hội thoại giữa bạn bè, đồng nghiệp, con cái, cha mẹ, hàng xóm, người quen, người mới gặp của nhau trong các buổi gặp mặt, giao lưu, trò chuyện trên phần
Trang 5mềm word và excel Nhận định và đánh giá mà luận án đưa ra dựa vào tình hình khảo sát thống kê và phân loại hơn 1000cặp thoại/hội thoại lấy từ nguồn tư liệu trên
4.4 Thủ pháp so sánh, đối chiếu
Thông qua kết quả thống kê, tiến hành so sánh, đối chiếu để thấy được những điểm tương đồng và khác biệt trong các lời nói giới thiệu và tự giới thiệu trên từng phương diện cụ thể ở những sự kiện chính trị - xã hội, vui chơi giải trí và sinh hoạt hàng ngày từ năm 2000 đến nay
Sử dụng thủ pháp này còn để so sánh và đánh giá sự khác nhau về cấu trúc, các thành phần trong nội dung lời nói giới thiệu và tự giới thiệu các thói quen sử dụng biểu thức ngôn ngữ, giao tiếp xưng hô… Từ đó thấy được sự chi phối của các nguyên lí giao tiếp, nghi thức lời nói tới các lĩnh vực của LNGT và TGT
5 Ý n ĩa lí luận và t ực tiễn của luận án
5.1 Ý n ĩa lí luận: Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần vào
nghiên cứu lời nói trong giao tiếp của người Việt Từ việc nghiên cứu LNGT và TGT trong tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh – Mỹ) thấy được chiến lược giao tiếp của mỗi dân tộc, cộng đồng gắn với các đặc trưng văn hóa-ngôn ngữ- xã hội của các dân tộc, cộng đồng đó
5.2 Ý n ĩa t ực tiễn: Kết quả nghiên cứu giúp xây dựng được các mô
hình LNGT và TGT của người Việt, người Mỹ hiện nay Phát hiện điểm giống và khác nhau trong cách thức GT và TGT trong tiếng Việt và tiếng Anh – Mỹ Có thể vận dụng vào đời sống giao tiếp hằng ngày hay các mô hình rèn luyện kĩ năng sống cho người Việt trẻ hiện nay; có thể ứng dụng vào nghiên cứu, giảng dạy trong các nhà trường, đặc biệt trong giảng dạy ngoại ngữ ở Việt Nam
6 BỐ CỤC LUẬN ÁN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận án được cấu trúc thành 3 chương:
C ƣơn 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở lí thuyết
C ƣơn 2 Đặc điểm lời nói giới thiệu và tự giới thiệu tiếng Việt trong
giao tiếp quy thức (có liên hệ với tiếng Anh)
C ƣơn 3 Đặc điểm lời nói giới thiệu và tự giới thiệu tiếng Việt trong
giao tiếp phi quy thức (có liên hệ với tiếng Anh )
Trang 6C ươn 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SƠ
LÝ THUYẾT
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và tron nước
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới về lời nói giới thiệu và tự giới thiệu
Trên thế giới, theo hiểu biết của chúng tôi chưa có công trình nào chuyên sâu về LNGT và TGT mà chỉ có một số tác giả như Emily Post, Nagesh Belludi, John Corcoran, Jo Bryant, Pamela Martin, v.v viết về cách thức giới thiệu trong một số tình huống giao tiếp phổ biến Nguyễn
Quang (2017), trong cuốn “Ways of expression”, tác giả đưa khá cụ thể
các biểu thức hành vi ngôn ngữ cụ thể theo các nhóm như chào hỏi và chia hay (Greeting and taking leave), thể hiện tình cảm và thái độ (showing feeling and attitude)… Trong đó giới thiệu và hỏi giới thiệu (introducing and asking for introduction) nằm ở mục chào hỏi và chia tay Nguyễn Quang đưa ra 85 biểu thức lời nói giới thiệu (giới thiệu, tự giới thiệu) trong bối cảnh qui thức và phi qui thức Đây là những biểu thức rất hữu ích, có tính dụng học cao, giúp chúng tôi có những so sánh, gợi mở trong quá trình nghiên cứu của mình Về hành vi tự giới thiệu (self-introduction), ngoài một số biểu thức của Nguyễn Quang, chúng tôi chỉ thấy trên một số trang báo điện tử Tất cả chỉ ở mức độ sơ giản, bằng việc chỉ có các biểu thức cụ thể
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước về lời nói giới thiệu và tự giới thiệu
Ở Việt Nam, có ba hướng nghiên cứu về lời nói giới thiệu và tự giới thiệu nhưng chỉ có một số các nghiên cứu ở phạm vi hẹp 1/ Một số nghiên cứu theo hướng chỉ ra các mô hình lời nói, tương ứng với các biểu thức lời nói giới thiệu và tự giới thiệu trong tiếng Việt, tiếng Anh như của Thái Duy Bảo (1988); Nguyễn Văn Lập (1989); 2/ Áp dụng lý thuyết về hành vi ngôn ngữ của Austin và Searle, một số nghiên cứu về hành vi giới thiệu được tiến hành trong phạm vi một luận văn như của Đỗ Thị Mai Hương (2009), Hoàng Minh Hằng (2011), Khúc Thị Hạnh (2015)
1.2 Cơ sở lí luận của luận án
1.2.1 Một số vấn đề về giao tiếp
Giao tiếp là một quá trình trao đổi thông tin, ý tưởng, suy nghĩ, cảm xúc
và xúc cảm thông qua lời nói, tín hiệu, viết, hoặc thái độ Trong quá trình giao tiếp, người gửi (người mã hoá) mã hoá một thông điệp và sau đó sử dụng một kênh trung gian gửi nó tới người nhận (người giải mã) sẽ giải
Trang 7mã thông điệp đó và sau khi thông tin được xử lý thì gửi lại những phản hồi (feedback/reply) sử dụng kênh trung gian
Trong giao tiếp có những hình thức: Dựa vào phương tiện giao tiếp có hai loại giao tiếp bằng ngôn từ và giao tiếp phi ngôn từ 1 Giao tiếp bằng ngôn
từ (verbal communication) gồm giao tiếp bằng lời nói và giao tiếp bằng văn bản; 2 Giao tiếp phi ngôn từ (nonverbal communication): Bao gồm giao tiếp cận ngôn (Paralanguage) và giao tiếp ngoại ngôn (extralanguage) Trong giao tiếp, người sử dụng không ngừng lựa chọn ngôn ngữ (language choice) ở bất kì tầng diện nào của ngôn ngữ như ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, v.v Mỗi một biến đổi nhỏ trong một tầng diện nào đó sẽ tạo nên một ý nghĩa dụng học sâu sắc Sự lựa chọn ngôn ngữ diễn ra một cách chủ quan của người giao tiếp (sự lựa chọn mang tính chiến lược) nhưng cũng có thể diễn ra một cách vô thức (sự lựa chọn mang tính ngữ cảnh) Ba đặc điểm nổi bật của lựa chọn ngôn ngữ là tính dị biến, tính thương lượng và tính thích nghi
Các nhân tố giao tiếp đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập lên các phát ngôn trong mỗi sự kiện giao tiếp Những quan điểm của ngữ dụng học, ngôn ngữ học về nhân tố giao tiếp được các tác giả đề cập như Đỗ Hữu Châu chỉ ra ba nhân tố trong giao tiếp: ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn
ngôn Theo trường phái quan điểm nghiên cứu của ngôn ngữ học xã hội,
Saville-Troike (1986) đưa ra mười hai nhân tố Nguyễn Quang (2002) đưa
ra mười bốn nhân tố để phù hợp với những cộng đồng ngôn ngữ văn hoá
có khuynh hướng thiên về nhóm và mang tính tôn ti cao
Sự kiện giao tiếp (speech event) đã phát triển một mô hình để thúc
đẩy sự phân tích diễn ngôn như một chuỗi sự kiện giao tiếp và hành vi ngôn ngữ trong bối cảnh văn hoá Cấu trúc lấy những chữ cái đầu tiên của các thuật ngữ này gồm 8 nhân tố được viết tắt bằng 8 chữ cái làm thành từ S.P.E.A.K.I.N.G, đó là: 1/Bối cảnh giao tiếp (setting and scence, S): Bối
cảnh giao tiếp bao gồm khung cảnh và thoại trường Khung cảnh chỉ thời
gian và địa điểm của một hành vi ngôn ngữ được diễn ra, nói một cách
khái quát là các tình huống vật lý cụ thể “Setting refers to the time and
place of a speech act and, in general, to the physical cirumstances” Thoại trường (Scene) chỉ hoàn cảnh tâm lí “psychological setting” hoặc giới hạn
về mặt văn hoá “culture definition” của hoạt động giao tiếp này (như
trường quy thức-phi quy thức).2/Người tham gia giao tiếp/tham thể (participants, P): Người tham dự giữ bốn vai là người nói (addressor), người phát ngôn (speaker), người thụ lời (addressee), người nghe (hearer).; 3/Mục đích giao tiếp (end, E): Mục đích của giao tiếp là kết quả đạt được theo sự mong đợi định sẵn của hoạt động giao tiếp và mục đích cá nhân của người
Trang 8tham dự, xuất phát từ hai phương diện, đó là: Kết quả (outcomes) bao gồm kết quả có thể dự đoán và kết quả không thể dự đoán; Đích (goals), tức đích nói chung và đích mang tính cá nhân.; 4/Chuỗi hành vi (acts sequence, A): Chuỗi hành vi chỉ hình thức(form) và trình tự (order) của cuộc giao tiếp.; 5/Phương thức (key, K): Phương thức diễn đạt chỉ ngữ điệu (tone), cách (manner), tinh thần (spirit) chứa đựng trong thông tin đó như:
vô tư, thoải mái (light-hearted); nghiêm túc (serious); rõ ràng, tỉ mỉ (precise);
mô phạm (pedantic); chế giễu (mocking); châm chọc, mỉa mai (sarcastic); tự cao (pompous), v.v Cách diễn đạt có thể dùng ngôn ngữ để biểu thị, cũng
có thể dùng hành vi ngoài ngôn ngữ, như tư thế, thể hiện tình cảm v.v Có thể thấy, cùng một nội dung như vậy, nhưng sử dụng các phong cách truyền đạt khác nhau thì hàm ý truyền đạt có thể khác nhau.; 6/ Phương tiện (instrumentalities, I): Phương tiện chỉ kênh giao tiếp (channel) như nói, viết, điện báo, v.v hoặc hình thức (ngôn ngữ chung, phương ngữ, ngữ vực).; 7/Chuẩn mực xã hội được chấp nhận (norms,N): Chuẩn tương tác (Norm of interaction) thuộc về người nói, còn chuẩn giải thích (norm of interpretation) thuộc về người nghe Nói một cách cụ thể hơn, người nói phải lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp phù hợp với đối tượng giao tiếp, còn người nghe phải cố gắng lí giải phát ngôn trong cùng một khung chung
; 8/Thể loại (genres; G): Thể loại chỉ loại hình của hình thức ngôn ngữ như độc thoại, hội thoại, thơ, tục ngữ, thành ngữ, câu đố, bài thuyết giáo/thuyết trình, bài cầu nguyện, bài giảng, xã luận Mỗi thể loại sẽ thích hợp với từng trường hợp giao tiếp cụ thể Trong mỗi cộng đồng giao tiếp, mỗi dân tộc có những quy tắc ngôn ngữ riêng cho từng loại Sự phân loại này rất hiệu quả
và thực sự có sức mạnh trong việc phân tích các thể loại diễn ngôn khác nhau khi sử dụng mô hình này
1.2.2 Hành vi ngôn ngữ (speech acts)
1.2.2.1 Khái niệm hành vi ngôn ngữ
Con người sử dụng ngôn ngữ để thực hiện nhiều hoạt động khác nhau trong giao tiếp Có thể thấy, các hành vi thể hiện là hết sức đa dạng và chúng đều được gọi chung là các HĐLN
Lý thuyết hành vi ngôn ngữ được Austin (1962) khởi xướng và bổ sung, phát triển bởi Searl (1969) theo hướng dụng học (pragmatics) Tư tưởng
cốt lõi của Austin về hành vi ngôn ngữ là khi tôi nói là tôi hành động
(when I say, (…) I do) Nói năng giống như các hành vi khác của con
người, chỉ khác ở chỗ đây là loại hành vi được thực hiện bằng lời, “nó
gây ra biến đổi nào đó trong thực tế và ảnh hưởng tới đối tượng tiếp nhận”
1.2.2.2 Phân loại hành vi ngôn ngữ
Trang 9Austin cho rằng, trong một ngữ cảnh nào đó, một câu cụ thể được nói ra sẽ thực hiện đồng thời được 3 hành vi :
(i) Hành vi tạo lời (locutionary act): là hành vi sử dụng các yếu tố của
ngôn ngữ như từ ngữ, ngữ âm và cấu trúc theo một cách nhất định để tạo
ra một phát một thành phẩm cả về hình thức và nội dung
Trong hành vi giới thiệu (giới thiệu và tự giới thiệu) trong tiếng Việt và tiếng Anh, hành vi tạo lời được thể hiện như sau:
(ii) Hành vi ở lời (illocutionary act): là “ một hành vi người nói thực
hiện ngay trong khi nói năng” (performance of an act in saying
something)[42, tr.99] Khi chúng ta nói là chúng ta đã thể hiện các hành vi
như thông báo, ra lệnh, cảnh báo, cam kết, v.v những phát ngôn mà có
một lực quy ước nhất định nào đó (informing, ordering, warning, undertaking… utterances which have a certain (conventional) force) )
Ví dụ: Khi lần đầu gặp gỡ và làm quen giữa ba người:
(1)Tôi xin tự giới thiệu, tôi tên là Nguyễn Văn A
(2) Xin giới thiệu với anh, đây là thầy Nguyễn Văn B
Khi phát ngôn của người nói kết thúc thì cũng là lúc người nói thực hiện xong hành vi giới thiệu và tự giới thiệu Trong 3 loại hành vi kể trên,
hành vi ở lời là đối tượng của ngữ dụng học và hành vi giới thiệu và tự
giới thiệu trong luận án này thuộc loại hành vi ở lời
Các hành vi tại lời khi được nói ra đều có một hiệu lực nhất định, tức là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận
Xét theo (1), người nghe có thể đáp lại bằng phát ngôn: “Vâng, chào
anh Tôi là Nguyễn Văn B” hoặc “Xin cảm ơn lời giới thiệu của anh”
Xét theo (2), người nghe có thể đáp lại bằng phát ngôn: “Dạ, em chào
thầy ạ, em tên là Nguyễn Văn B”
Theo Austin, “Hành vi tại lời” bao gồm:
(1) Hành vi trực tiếp (direct speech acts) là hành vi có sự phù hợp giữa hiệu lực của hành vi ở lời với hình thức câu chữ được dùng để biểu thị chúng Như vậy, hành vi giới thiệu trực tiếp là phát ngôn có sử dụng động từ ngữ vi “giới thiệu” để biểu đạt thông tin cho người nghe biết về người nào đó Ví dụ:
Xin trân trọng giới thiệu đồng chí Trương Thị Mai, Uỷ viên Bộ Chính
trị, Bí thư TW Đảng, Trưởng Ban dân vận TW
(2) Hành vi gián tiếp (indirect speech) là hành vi được thực hiện một cách gián tiếp bằng cách thực hiện theo câu chữ của một hành vi tại lời trực tiếp khác Như vậy hành vi giới thiệu gián tiếp là hành vi cung cấp những thông tin cơ bản về ai đó không có động từ ngữ vi giới thiệu mà bằng những hành vi khác Ví dụ:
Trang 10Đến dự sự kiện khai mạc hôm nay có các lãnh đạo, ban bộ ngành đoàn
thể Trung ương, các tỉnh thành phố Quảng Trị, Thừa Thiên Huế.
Hành vi ở lời với hiệu lực ở lời của nó là đã trở thành đối tượng được quan tâm chủ yếu của ngành ngữ dụng học Hành vi giới thiệu thuộc nhóm hành vi ở lời
(iii) Hành vi mượn lời (perlocutionary act): là hành vi khi người
nói muốn gây ra hiệu quả ngoài ngôn ngữ ở người nghe khi người nói cố ý tạo ra những thông tin, hiệu ứng tâm lý, cảm xúc, sự chú ý từ phía người nghe người đọc Ví dụ:
MC: Và người đứng thứ 3 hãy làm quen với khán giả truyền hình ạ
TS: Dạ vâng, chào quý vị khán giả tôi là Phạm Minh Hiệu đến từ Tổng
cục hải quan, hiện tại tôi đang 25 tuổi, chưa có gia đình Xin cảm ơn ạ
MC: Tôi không hiểu tại sao anh Hiệu lại giới thiệu chưa có gia đình ở đây
Vâng, cám ơn anh đã dành thời gian để đến với hãy chọn giá đúng ạ [Hãy
chọn giá đúng 2015]
1.2.3 Phát ngôn ngữ vi, biểu thức ngữ vi và động từ ngữ vi
a Phát ngôn ngữ vi
Theo Nguyễn Đức Dân “các phát ngôn ngữ vi là các phát ngôn thể hiện
những hành vi ngôn ngữ Các phát ngôn ngữ vi cũng được gọi là các biểu thức ngữ vi ”
Theo Đỗ Hữu Châu “Phát ngôn ngữ vi là một phát ngôn sản phẩm của
một hành vi ở lời nào đó khi hành vi này được thực hiện một cách trực tiếp Nhờ có biểu thức ngữ vi mà chúng ta có thể nhận ra các phát ngôn ngữ vi.” Phát ngôn ngữ vi không đồng nhất với biểu thức ngữ vi Phát ngôn
ngữ vi tối thiểu là phát ngôn chỉ có biểu thức ngữ vi
b Biểu thức ngữ vi
Biểu thức ngữ vi là những thể thức nói năng đặc trưng cho một hành vi
ở lời Biểu thức ngữ vi là dấu hiệu ngữ pháp ngữ nghĩa của một hành vi ở loài và được đánh dấu bằng một kiểu kết cấu câu, bằng từ ngữ, bằng ngữ điệu quan hệ giữa các thành tố trong cấu trúc vị từ - tham thể được gọi chung là dấu hiệu ngữ vi
c Động từ ngữ vi
Động từ ngữ vi là động từ giữ chức năng biểu thị một hành vi ngôn ngữ, khi nói xong động từ ngữ vi là hành vi ngôn ngữ đã được thực hiện còn nội dung của hành vi được thể hiện ở phần tiếp theo sau của động từ đó
Trang 11Mỗi hành vi tại lời, ngoài động từ ngữ vi còn có những dấu hiệu ngữ vi khác Đó là những cấu trúc ngữ pháp và những từ ngữ có quan hệ lô gích
- ngữ nghĩa nhất định Ví dụ: Khi giới thiệu cho mọi ngưởi biết thành viên trong gia đình
Nam trung niên2: Đây là vợ em tên là Liên, cháu tên là Huyền
Nam trung niên 1: Trông như hai chị em nhỉ
Dù không có động từ ngữ vi giới thiệu , người nghe vẫn hiểu đây là một
hành vi giới thiệu
1.2.2 Lời nói giới thiệu và tự giới thiệu
1.2.1.1 Khái niệm lời nói
Edward định nghĩa : “lời nói là một hệ thống âm thanh của những phù
hiệu ngôn ngữ học, là một dòng từ được nói ra”
Trong xã hội con người sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp, sự ra đời của ngôn ngữ đã gắn kết con người lại với nhau chặt chẽ hơn và vì thế các quy ước của ngôn ngữ cũng thay đổi mạnh mẽ Điều này thể hiện ở những quy ước, khuôn mẫu của các nghi thức trong giao tiếp ngày càng tinh tế và phức tạp theo sự phát triển của xã hội loài người Yếu tố chi phối đến các quy ước này không chỉ bởi những luật lệ về ngôn từ mà còn bởi những tập tục, lề thói của từng quốc gia Lời nói được sản sinh ra trong hoạt động giao tiếp nói lên đặc trưng xã hội mà nó được sử dụng cùng với những đặc trưng cá nhân vốn có sẵn trong mỗi cá thể
Lời nói quy thức là những lời nói được sử dụng mang tính chất công cụ,
theo chức trách, theo một qui trình đã được thể chế như hội họp, mít tinh, đàm phán các vấn đề trong giao tiếp thường được định trước, thông tin cũng được các chủ thể (biết ít về nhau hoặc chưa hề quen biết) cân nhắc trước, thông tin có độ chính xác cao Trong giao tiếp quy thức các phép tắc của nguyên lý lịch sự, quy ước và nguyên tắc được kèm theo khi đưa ra các thông điệp để đảm bảo tính trang trọng, khách quan Ngôn từ sử dụng đảm bảo độ chính xác, phát âm đúng, không sử dụng tiếng lóng và ngôn
ngữ suồng sã Phạm vi ở ngoài xã hội, loại giao tiếp này thường diễn ra
trong các cuộc họp (doanh nghiệp, đoàn thể), hội thảo, các buổi mít tinh tại các địa điểm công cộng hay trên các phương tiện truyền thông và báo
Trang 12chí theo quyền hạn các cấp (authority lines); ở lễ kỷ niệm, trao tặng và đón nhận danh hiệu vinh dự của Nhà nước, Chính phủ, các phương diện ngoại giao theo nghi thức Nhà nước Phạm vi và đối tượng là các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức
xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân hoạt động trên lãnh thổ đất nước; luôn thể hiện tính thống nhất, trang trọng,
khoa học và hiệu quả Phạm vi ở trong gia đình, họ tộc, giao tiếp qui thức
cũng được sử dụng ở các buổi mang tính nghi thức, lễ nghi như: mừng thọ, cưới xin, tang lễ, họp gia đình, họ tộc, sinh nhật, v.v
Lời nói phi quy thức không mang tính xã giao, kiểu cách mà chỉ đòi hỏi
sự bình dân, giản dị và chỉ là các cuộc nói chuyện thông thường có tính chất tự nhiên, thoải mái; có thể dùng cho mọi vai giao tiếp, với các loại quan hệ tình cảm từ xa lạ, thân tình đến suồng sã Giao tiếp theo cách này thường là những người trong gia đình (biết nhau, có quan hệ thân thiết), những người bạn (biết nhau có quan hệ thân thiết hoặc không thân thiết) vừa ở ngoài xã hội và cả trong gia đình trong các sinh hoạt đời thường Lời nói sử dụng đa dạng không theo cấp bậc chính quyền Ngôn ngữ, cử chỉ sử dụng đa dạng không theo cấp bậc chính quyền và giao tiếp này sẽ giúp xây dựng các mối quan hệ trong xã hội
1.2.1.2 Khái niệm lời nói giới thiệu
“Giới thiệu” là hành vi phổ biến và có vai trò quan trọng trong giao tiếp của con người Ở góc độ dụng học, giới thiệu là một động từ ngữ vi Trong
tiếng Việt và tiếng Anh, hành vi giới thiệu có thể được thể hiện bằng các biểu thức ngôn ngữ có chứa động từ ngữ vi và biểu thức không chứa động
từ ngữ vi
Trong tiếng Việt và tiếng Anh giới thiệu (introduce) được định nghĩa với
nhiều mức độ khác nhau và với nhiều đối tượng (người, vật, sự việc) Chúng
tôi xin đưa ra những định nghĩa giới thiệu về người và giới thiệu người đó sẽ
làm gì trong phạm vi nghiên cứu của mình
Theo từ điển Oxford, giới thiệu (introduce) được hiểu là “giới thiệu tên của
những người mới gặp lần đầu, tự giới thiệu tên”
Trang 13Theo từ điển Cambrige, giới thiệu có nghĩa là: 1 nói cho người nghe biết về
tên người nào đó lần đầu gặp 2/ nói cho người nghe biết về người nào đó sẽ làm gì như phát biểu, hát
Trong từ điển tiếng Việt thông dụng (Nguyễn Như Ý, 1998) định nghĩa
hành vi giới thiệu là “cho biết một số đặc điểm để người ta nhận biết Ví
dụ: giới thiệu khách…”
Theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, 2010), hành vi giới thiệu
là cho biết vài điều cần biết như tên họ, nghề nghiệp, chức vụ, v.v về một
người nào đó để bắt đầu làm quen với nhau Ví dụ: Giới thiệu bạn Xin tự
giới thiệu
Thái Duy Bảo (1989) định nghĩa giới thiệu là “Hành vi nói cho người
nghe những điều mới về một đối tượng nào đó (người vật) hoặc về chính người nói (tự giới thiệu về mình)”
Từ những định nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt cho thấy giới
thiệu bao gồm cả giới thiệu và tự giới thiệu Trong luận án, chúng tôi
nghiên cứu tách biệt lời nói giới thiệu và tự giới thiệu để nhằm chỉ ra
những đặc trưng riêng của mỗi hành vi
Như vậy, lời nói giới thiệu là một hành vi mà ở đó người ta sử dụng
lời nói để giới thiệu ai đó (một người tới một người, một người tới nhiều người, nhiều người tới một người, nhiều người tới nhiều người) trong lần đầu gặp gỡ hoặc giới thiệu dựa theo một mục đích cụ thể (giới thiệu để thông báo, giới thiệu để làm việc gì đó, v.v) dựa trên những cách dùng phổ biến, theo chuẩn mực ngôn ngữ chung của xã hội
1.2.1.3 Khái niệm lời nói tự giới thiệu
Theo Từ điển Tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên), tự xưng cũng có 3 nghĩa: 1 Tự giới thiệu họ tên, lai lịch của mình 2/Tự gán cho mình danh nghĩa, tư cách nào đó 3 Tự nhận và tuyên bố cho mọi người danh hiệu cao quý của mình
Từ định nghĩa trên, có thể hiểu, lời nói tự giới thiệu là một hành vi nói
(hành vi tại lời) mà ở đó người ta tự giới thiệu cho người khác biết về mình trong lần đầu gặp gỡ theo những cách dùng phổ biến được coi là chuẩn mực của xã hội, đôi khi cũng có những nét đặc thù riêng của từng cá thể giao tiếp
1.3 Tiểu kết c ƣơn 1
Chương 1 đã tìm hiểu tình hình nghiên cứu về lời nói giới thiệu và tự giới thiệu, đông thời xác định và trình bày cơ sở lí luận của đề tài luận án