1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lăng thoại ngọc hầu (châu đốc – an giang) trong hệ thống lăng mộ thời nguyễn ở nam bộ việt nam tt

28 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 464,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù hệ thống lăng mộ thời Nguyễn ở Nam Bộ chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, văn hoá, tuy nhiên hiện nay, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu khảo cổ học nào về hệ thống này được công

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

Luận án được hoàn thành tại:

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

Dưới sự hướng dẫn: 1 PGS.TS.Đặng Văn Thắng

Luận án có thể được tìm thấy ở:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Thư viện Học viện Khoa học Xã hội

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận án

1.1 Thống kê sơ bộ, ở Nam Bộ Việt Nam đã ghi nhận khoảng

30 lăng mộ của các bậc quan lại đại thần thời Nguyễn và thân quyến Tuy nhiên, trải qua thời gian, một số lăng mộ đã không còn tồn tại, bị lãng quên hoặc đang trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng 1.2 Hệ thống lăng mộ thời Nguyễn ở Nam Bộ là một loại hình

di sản văn hóa chứa đựng nhiều giá trị bởi sự phong phú, đa dạng, đặc sắc về kiến trúc nghệ thuật Bên cạnh những giá trị về mặt kiến trúc nghệ thuật, một khối lượng lớn di vật tùy táng phát hiện trong một số lăng mộ thời Nguyễn qua khai quật, cải táng, giải phóng mặt bằng… chưa được chỉnh lý, nghiên cứu, hệ thống hóa và công bố 1.3 Việc nghiên cứu hệ thống lăng mộ thời Nguyễn ở Nam Bộ một cách có hệ thống cả về kiến trúc, táng tục và di vật tùy táng sẽ góp phần cung cấp tư liệu cho việc nghiên cứu lăng mộ thời Nguyễn

và lăng mộ Việt Nam trong lịch sử

1.4 Mặc dù hệ thống lăng mộ thời Nguyễn ở Nam Bộ chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, văn hoá, tuy nhiên hiện nay, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu khảo cổ học nào về hệ thống này được công bố

Từ thực tiễn trên, nghiên cứu sinh đã mạnh dạn lựa chọn đề tài:

Lăng Thoại Ngọc Hầu (Châu Đốc – An Giang) trong hệ thống lăng

mộ thời Nguyễn ở Nam Bộ Việt Nam làm đề tài nghiên cứu luận án

của mình Hy vọng, góp phần đóng góp vào thành tựu chung của

Trang 4

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

1 Luận án thực hiện hệ thống hóa toàn bộ tư liệu về kiến trúc

và hệ thống di vật tùy táng liên quan đến lăng Thoại Ngọc Hầu cũng như hệ thống lăng mộ quan lại cao cấp thời Nguyễn ở Nam Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung

2 Luận án thực hiện sẽ nhận diện, làm rõ các đặc điểm về di tích kiến trúc trên các mặt: quy mô, bố cục mặt bằng, kết cấu, vật liệu

và trang trí kiến trúc; các yếu tố liên quan đến phong thủy và hình thức táng tục

3 Luận án thực hiện nghiên cứu toàn bộ hệ thống di vật tùy táng tìm thấy trong một số lăng mộ thời Nguyễn ở Nam Bộ, làm rõ được các đặc điểm liên quan đến nguồn gốc xuất xứ, niên đại và những giá trị lịch sử văn hóa của các di vật

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tƣợng nghiên cứu

Nghiên cứu tổng thể hệ thống lăng mộ thời Nguyễn ở Nam Bộ

về mặt kiến trúc và hệ thống di vật tùy táng phát hiện trong một số lăng mộ đã khai quật Trong đó tập trung nghiên cứu lăng Thoại Ngọc Hầu (Châu Đốc – An Giang)

Phạm vi nghiên cứu

Hệ thống lăng mộ thời Nguyễn ở Nam Bộ được giới hạn nghiên cứu trong giai đoạn từ khi Nguyễn Ánh xưng Vương ở Gia Định năm 1780 và kết thúc vào năm 1874, khi triều Nguyễn chính thức công nhận toàn bộ vùng đất Nam Bộ Việt Nam thuộc quyền cai trị của người Pháp

Trang 5

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận

án

- Vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử vào việc nghiên cứu và giải quyết các vấn đề mà luận án đặt ra

- Sử dụng phương pháp luận sử học trong việc nghiên cứu quy luật vận động các sự kiện lịch sử trên cơ sở phân tích các nguồn sử liệu

- Sử dụng phương pháp truyền thống của khảo cổ học: điều tra, khảo sát, khai quật khảo cổ học, phân loại, thống kê, so sánh, miêu tả

di tích và di vật; thực hiện đồ họa, chụp ảnh hệ thống kiến trúc và trang tri kiến trúc; đo, vẽ, chụp ảnh hệ thống di vật…

- Kết hợp việc sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành như: Phương pháp nghiên cứu dân tộc học; Phương pháp nghiên cứu văn bản học (Hán Nôm); Phương pháp nghiên cứu mỹ thuật; ứng dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học tự nhiên và kiến trúc

để thực hiện luận án

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là công trình đầu tiên thực hiện việc nghiên cứu, hệ thống hóa các tư liệu về lăng mộ thời Nguyễn ở Nam Bộ với những tư liệu, phát hiện mới nhất cho đến thời điểm hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Ý nghĩa về lý luận

Trang 6

Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là một trong những nguồn

tư liệu khảo cổ góp phần làm rõ và bổ sung về mặt lý luận khoa học đối với khảo cổ học mộ táng nói chung và nghiên cứu về lăng mộ Việt Nam trong lịch sử nói riêng

Đóng góp về mặt thực tiễn

Luận án góp phần quan trọng trong việc đánh giá được những giá trị lịch sử văn hoá, khoa học của Lăng Thoại Ngọc Hầu và hệ thống lăng mộ thời Nguyễn ở Nam Bộ qua việc làm rõ lai lịch chủ nhân, đặc điểm kiến trúc và di vật tùy táng, giúp cho công tác trùng tu, tôn tạo di tích có cơ sở khoa học để thực hiện

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mục lục, bảng chữ viết tắt, bảng dẫn chú thích, tài liệu tham khảo, phụ lục… luận án bao gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan tư liệu (33 trang)

Chương 2: Lăng Thoại Ngọc Hầu: Kiến trúc và di vật (62 trang)

Chương 3: Lăng mộ thời Nguyễn ở Nam Bộ (55 trang)

Chương 1 TỔNG QUAN TƯ LIỆU 1.1 Khái quát về lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ

1.1.1 Điều kiện địa lý tự nhiên

Nam Bộ Việt Nam phân theo khu vực địa lý hiện nay nằm

trong khoảng tọa độ địa lý 8032’32” đến 12017’48” Vĩ độ Bắc;

Trang 7

104024’ đến 107032’ Kinh độ đông Tổng diện tích tự nhiên khoảng 64.146,1km2; gồm 17 tỉnh và 02 thành phố trực thuộc Trung ương

Thế kỷ thứ VII, lợi dụng lúc nước Phù Nam suy yếu, Chân Lạp xâm chiếm Thế kỷ XIII, sứ thần Trung Hoa là Chu Đạt Quan đến

vùng đất Nam Bộ đã viết trong tác phẩm Chân Lạp phong thổ ký của

mình về vùng đất Nam Bộ với nhiều nét hoang vắng, ít cư dân Từ cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, nhiều cư dân người Việt đã từ Thuận Quảng tự động vào vùng Đồng Nai, Mô Xoài, khai khẩn đất hoang, lập làng sinh sống

Từ nửa sau thế kỷ XVII, ngày càng có nhiều cư dân người Việt

và tiếp đó là người Hoa vào khai khẩn trên vùng đất Nam Bộ Năm

1698, chúa Nguyễn cho lập phủ Gia Định, gồm dinh Trấn Biên với

Trang 8

huyện Phước Long (Đồng Nai) và dinh Phiên Trấn với huyện Tân Bình (Sài Gòn)

Năm 1802, sau khi tiêu diệt xong quân khởi nghĩa Tây Sơn, vua Gia Long sắp đặt tổ chức quản lý hành chính đất nước, Nam Bộ trở thành Gia Định thành với 5 trấn: Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Thanh, Hà Tiên

Năm 1859, Pháp đánh chiếm Gia Định cho đến 1945 Từ năm

1945 Nam Bộ là một phần quan trọng của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Từ năm 1946 đến 1954, Nam Bộ là bị thực dân Pháp trở lại xâm lược Năm 1955 – 1975, Đất nước chia cắt làm hai miền, Nam

Bộ tạm thời thuộc về nhà nước của chính quyền Việt Nam Cộng hòa Năm 1975, Nam Bộ thuộc về nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho đến nay

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về lăng mộ thời Nguyễn ở Nam Bộ

1.2.1 Thư tịch cổ

Lăng mộ thời Nguyễn ở Nam Bộ thuộc sở hữu có tính chất

“đặc quyền” của tầng lớp trên trong xã hội đương thời, cụ thể là của tầng lớp quan lại thời Nguyễn Do đó, thư tịch cổ thời Nguyễn là một trong những ghi chép đầu tiên liên quan đến lăng mộ của các quan lại

đại của triều đình như: Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ, Hoàng Việt luật lệ, Đại Nam liệt truyện, Đại Nam nhất thống chí, Gia Định thành thông chí…

Trang 9

1.2.2 Nghiên cứu về lăng mộ thời Nguyễn ở Nam Bộ trước năm 1975

Công trình nghiên cứu sớm nhất đề cập đến lăng Thoại Ngọc

Hầu là ghi chép của người Pháp viết về: Địa lý hình thể, kinh tế và lịch sử Nam Kỳ, tập VI - tỉnh Châu Đốc của Ban Nghiên cứu xã hội

Đông Dương năm 1902 Năm 1943, học giả Ngạc Xuyên (Ca Văn

Thỉnh) có một bài viết về Nguyễn Văn Thoại với sự đào Thoại Hà và Kinh Vĩnh Tế đăng trên Tạp chí Đại Việt Năm 1972, học giả Nguyễn

Văn Hầu nghiên cứu công phu về cuộc đời và sự nghiệp của Thoại

Ngọc Hầu qua Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang Có thể nói đây là sách “gối đầu” cho những nghiên cứu về

Thoại Ngọc Hầu nói riêng và lịch sử vùng đất miền Hậu Giang nói chung sau này

Ngoài thư tịch cổ và một vài công trình đã đề cập ở trên, nghiên cứu về lăng mộ thời Nguyễn ở Nam Bộ được xem có khởi đầu bằng những cuộc “khai quật” lăng mộ nằm trong khu vực giải toả

để giải phóng mặt bằng phục vụ cho các công trình xây dựng cơ sở

hạ tầng dưới thời Pháp thuộc: Năm 1939 lăng mộ Khâm sai chưởng

cơ Trần Văn Học ở quận Phú Nhuận bị khai quật di dời, được

Mauger công bố trong Tạp chí Hội nghiên cứu Đông Dương năm

1939

Năm 1960, học giả Vương Hồng Sển giới thiệu sơ lược về một

số lăng mộ các quan đại thần thời Nguyễn ở Sài Gòn: Lăng Lê Văn Duyệt, Lăng Trương Tấn Bửu, Lăng Võ Tánh, Lăng Bá Đa Lộc,

Trang 10

Lăng Lê Văn Phong, Lăng Nguyễn Văn Học, Lăng quý tộc họ Hồ

trong sách Sài Gòn năm xưa

Năm 1962, để mở rộng sân bay Biên Hoà, Nha căn cứ hàng không Việt Nam Cộng Hoà và tỉnh Biên Hoà đã khai quật di dời 2 lăng mộ “Thiên vương Thống chế” và “Tiền chi” tại Tân Phong, Thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai Thông tin trên được Nguyễn Bá Lăng công bố trong Nội san Viện khảo cổ năm 1965

Nhìn chung, trước năm 1975, mặc dù có nhiều lăng mộ ghi nhận việc khai quật, tuy nhiên, không có một cuộc khai quật lăng mộ nào được thực hiện đúng với phương pháp của khảo cổ học Đa số thực hiện mang tính cải táng, di dời Các công bố liên quan đến lăng

mộ và di vật tùy táng tìm thấy trong một số lăng mộ rất hạn chế về tư liệu và phạm vi công bố

1.2.3 Nghiên cứu lăng mộ thời nguyễn ở Nam Bộ sau năm

1975 đến nay

Sau năm 1975, ngoài những nghiên cứu tản mạn đề cập đến lăng Thoại Ngọc Hầu qua một số nghiên cứu khác như địa chí, văn học, dân tộc học, tôn giáo học…, có một số nghiên cứu sử học và liên

ngành đáng chú ý đề cập đến lăng Thoại Ngọc Hầu như: Địa chí An Giang do UBND tỉnh An Giang thực hiện; Kỷ yếu Hội thảo khoa học

về Danh nhân Thoại Ngọc Hầu – Nguyễn Văn Thoại với 50 tham

luận khoa học

Năm 2010, trong quá trình tu bổ lăng Thoại Ngọc Hầu, đã phát hiện một khối lượng lớn gồm 523 di vật tùy táng bên cạnh mộ của Thoại Ngọc Hầu và chính thất phu nhân – bà Châu Thị Tế Kết quả

Trang 11

ghiên cứu giám định sơ bộ được công bố trong Hội nghị thông báo khảo cổ học năm 2011 Và sau đó, các tác giả đã bổ sung thêm một

số nội dung tư liệu công bố trong sách Nam Bộ đất và người Gần đây, tác giả Lê Duy Anh đã viết một chuyên khảo có tựa đề: Danh thần Thoại Ngọc Hầu với quê hương và miền Tây Nam Bộ Công

trình nghiên cứu này thật ra là sử dụng toàn bộ những tư liệu của

cuốn Thoại Ngọc Hầu và Những cuộc khai phá miền Hậu Giang mà

Nguyễn Văn Hầu công bố, kết hợp với việc sử dụng toàn bộ các tham

luận trình bày trong cuốn Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Thoại Ngọc Hầu – Nguyễn Văn Thoại năm 2009

Cùng với việc nghiên cứu lăng Thoại Ngọc Hầu, sau năm

1975, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã tiến hành một số cuộc khảo sát, khai quật một số lăng mộ các quan đại thần triều Nguyễn, cung cấp nhiều thông tin tư liệu về kiến trúc và di vật tuỳ táng… trong đó nổi bật là các cuộc khai quật lăng mộ gắn với các quan lại thời Nguyễn ở thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Tiền Giang, Bến Tre…

Kết quả nghiên cứu được công bố trong ấn phẩm khoa học Một số vấn đề khảo cổ học ở miền Nam Việt Nam; Tạp chí Khảo cổ học và Những phát hiện mới về khảo cổ học thường niên

Mặc dù chưa có công trình nghiên cứu có tính chất hệ thống về lăng mộ triều Nguyễn ở Nam Bộ, tuy nhiên từ các kết quả nghiên cứu khảo sát, những phát hiện đơn lẻ, cũng đã có một số bài nghiên cứu bắt đầu đề cập có tính rộng hơn về nhiều khía cạnh khác nhau của lăng mộ triều Nguyễn ở Nam Bộ

Trang 12

1.3 Cơ sở lý thuyết

Tính chất chung mà giới nghiên cứu thường hay gọi là

“Lăng - Lăng mộ” với hàm nghĩa để chỉ những nơi an táng của vua chúa, hoàng tộc, hệ thống quan chức và thân quyến của triều đình phong kiến, biểu hiện bằng quy mô, bố cục, kết cấu, vật liệu và trang trí kiến trúc Trong luận án này, chúng tôi tạm

sử dụng tên gọi Lăng mộ cho đối tượng nghiên cứu của mình là những công trình kiến trúc mộ táng của các quan triều Nguyễn

và thân quyến ở Nam Bộ

Tiểu kết chương 1

Nhìn chung, với các điều kiện tư nhiên thuận lợi, ngay từ thời đại Nguyên thủy, vùng đất Nam Bộ đã có dấu vết của người tối cổ sinh sống nơi đây Vượt qua thời đại nguyên thủy, trong những thế

kỷ đầu Công nguyên, Nam Bộ Việt Nam là một phần lãnh thổ của vương quốc Phù Nam với nền văn hóa Óc Eo rực rỡ Từ thế kỷ thứ VII, người Chân Lạp thôn tính Nam Bộ, tuy nhiên không có nhiều hoạt động khai phá và xây dựng chính quyền nơi đây Việc này kéo dài đến tận thế kỷ XVII khi cư dân Việt và các nhóm người Việt gốc Hoa tới khai phá dưới thời chúa Nguyễn

Liên quan đến lịch sử nghiên cứu, từ hệ thống hoá các nguồn

tư liệu, về cơ bản, sử cũ cho ta biết được một số thông tin liên quan đến lăng mộ triều Nguyễn Tuy nhiên sử cũ không cung cấp thông tin

để nhận định và hiểu được một cách tổng thể về quy mô, thức kiến trúc lăng mộ cũng như các quy định về hình thức táng tục đối với các quan lại thời Nguyễn

Trang 13

Trước năm 1975, mặc dù có nhiều lăng mộ ghi nhận việc khai quật, tuy nhiên, không có một cuộc khai quật lăng mộ nào được thực hiện đúng với phương pháp của khảo cổ học Đa số thực hiện mang tính cải táng, di dời Các công bố liên quan đến lăng mộ và di vật tùy táng tìm thấy trong một số lăng mộ rất hạn chế về tư liệu và phạm vi công bố

Sau năm 1975, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã tiến hành một số cuộc khảo sát, khai quật một số lăng mộ các quan đại thần triều Nguyễn, cung cấp nhiều thông tin tư liệu về kiến trúc và di vật tuỳ táng…; từng bước nhận diện và làm rõ được các đặc điểm, đặc trưng của hệ thống lăng mộ thời Nguyễn ở Nam Bộ và đặc biệt là khu lăng Thoại Ngọc Hầu

Trang 14

Chương 2 LĂNG THOẠI NGỌC HẦU: KIẾN TRÚC VÀ DI VẬT 2.1 Vài nét về vùng đất Châu Đốc – An Giang

2.1.1.Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên vùng đất Châu Đốc

Thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, nằm cách tỉnh lỵ Long Xuyên 54km về phía Tây bắc Tổng diện tích tự nhiên của Châu Đốc

là 99,95km2, gồm 5 phường và 2 xã Châu Đốc là thành phố biên giới, cửa ngõ giao lưu với Campuchia, có vị trí quan trọng trong việc bảo vệ an ninh quốc phòng, có thế mạnh đặc biệt là du lịch

2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển Châu Đốc

Năm 1757, chúa Nguyễn đặt đạo Châu Đốc Năm 1788, Nguyễn Ánh chiếm lại Gia Định và thực hiện sắp xếp hành chính Nam Bộ, Châu Đốc thuộc trấn Vĩnh Dinh Năm 1802, trấn Vĩnh Dinh đổi thành trấn Vĩnh Thanh Vì nơi này nhiều chỗ bỏ hoang nên triều đình gọi dân đến ở gọi là Châu Đốc Tân Cương Lịch sử nghiên cứu địa phương cho biết, việc di dân lập ấp ở An Giang có công đóng góp rất lớn của Thoại Ngọc Hầu, bắt đầu từ năm Đinh Sửu (1817) Sau khi quân Pháp thôn tính trọn Nam Kỳ, người Pháp chia Nam Kỳ thành 24 Sở Tham biện (Inspection) Năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa hợp nhất Long Xuyên và Châu Đốc thành tỉnh An Giang Năm 1975, thành phố Châu Đốc thuộc tỉnh An Giang cho đến nay

Ngày đăng: 11/06/2021, 06:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w