Với những bài làm sai, giáo viên không nhận xét chung chung là sai mà phải dựa vào quy trình làm bài, chia ra từng bước nhỏ hơn để thực hiện, từ đó chỉ rõ ra chỗ sai của HS một cách chi [r]
Trang 1PHẦN LÝ THUYẾT MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN VÀ VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO DẠY LUYỆN TỪ VÀ CÂU :
I/ Một số phương pháp cơ bản dạy luyện từ và câu:
Phân môn LT&C mang tính chất thực hành nên các kiến thức lí thuyết ở đây chỉ được đưa đến cho HS ở mức sơ giản và tập trung chú trọng đến các quy tắc sử
dụng từ, câu Giáo viên phải có biện pháp dạy học để HS không phải học thuộc lòng mà ghi nhớ trên cơ sở những hiểu biết chắc chắn Ngay cả dạy phần này, giáo viên cũng không nên đi sâu vào giảng giải lí thuyết Phần Luyện tập là trọng tâm của giờ dạy Phần này giúp HS củng cố và vận dụng những kiến thức lí thuyết đã học vào những bài tập cụ thể Chúng ta có thể sử dụng những phương pháp cơ bản
sau:
1 Phương pháp luyện từ theo mẫu
Là phương pháp dạy học mà giáo viên đưa ra các mẫu cụ thể về lời nói hoặc
mô hình lời nói (cũng có thể cùng học sinh xây dựng mẫu lời nói) để thông qua đó hướng dẫn học sinh tìm hiểu đặc điểm của mẫu, có thể tạo mẫu, từ mẫu đó học sinh biết cách tạo ra các đơn vị lời nói theo định hướng của mẫu
Ví dụ: Khi dạy học về dấu câu với bài tập
Em đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong mỗi câu dưới đây?
a, Vì thương dân Chử Đồng Tử và công chúa đi khắp nơi dạy dân cách trồng lúa nuôi tằm dệt vải
b,Vì nhớ lời mẹ dặn không được làm phiền người khác, chị em Xô-phi đã về ngay
c, Tại thiếu kinh nghiệm nôn nóng và coi thường đối thủ Quắm Đen đã bị thua
Để giúp học sinh làm được bài tập này giáo viên hướng dẫn học sinh làm mẫu một phần chẳng hạn khi làm mẫu câu và bài tập trên Giáo viên đọc lên câu đó (thể hiện rõ chỗ nghỉ hơi sau trạng ngữ và các thành phần cùng loại rồi nói: Trong câu a, chúng ta cần dùng đúng dấu phẩy, để tách các từ ngữ chỉ nguyên nhân (vì thương dân) với bộ phận câu còn lại và tách các loại công việc được kể ở trong câu với nhau (cách trồng lúa, nuôi tằm, dệt vải…) Khi đọc ta nghỉ hơi nhẹ sau dấu phẩy
"Vì thương dân, /Chử Đồng Tử và công chúa đi khắp nơi dạy dân cách trồng lúa, /nuôi tằm, /dệt vải"
Sau khi làm mẫu và suy ra cách làm bài các bài tập tương tự còn lại giáo viên có thể lưu ý học sinh : Nếu trong câu nhắc đến nhiều nguyên nhân thì phải dùng dấu phẩy để tách các nguyên nhân đó với nhau
Trang 22 Phương pháp phân tích ngôn ngữ
Yêu cầu phân tích ngôn ngữ đối với học sinh Tiểu học chỉ ở mức độ đơn giản, với sự giúp đỡ, gợi ý, hướng dẫn tỉ mỉ của giáo viên Bởi vậy phương pháp này được áp dụng để dạy học dấu câu nhằm giúp học sinh làm rõ cấu trúc các kiểu đơn vị được học trong chương trình
Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh làm bài tập
Chép đoạn văn dưới đây vào vở sau khi đặt dấu chấm vào chỗ thích hợp và viết hoa những chữ đầu câu:
Ông tôi vốn là thợ gò hàn vào loại giỏi có lần, chính mắt tôi đã nhìn thấy ông tán đinh đồng chiếc búa trong tay ông hoa lên, nhát nghiêng, nhát thẳng, nhanh đến mức tôi không thể thấy được, mặt ông phất phơ những sợi tơ mỏng của Ông là niềm tự hào của cả gia đình tôi.
Với bài tập này giáo viên hướng dẫn học sinh đọc lướt, tìm các câu được viết theo các mẫu đã học (ai là gì? ai làm gì? ai thế nào?) rồi tách riêng các câu đó ra
Ông tôi vốn là thợ hàn loại giỏi // Có lần, chính mắt tôi đã nhìn thấy ông tán đinh đồng.Chiếc búa trong tay ông hoa lên, nhát nghiêng, nhát thẳng, nhanh đến mức tôi không thể thấy được, mặt ông phất phơ những sợi tơ mỏng // Ông là niềm tự hào của cả gia đình tôi.
Khi đã xác định được các câu đã viết theo các mẫu đã học, các em có thể tìm cách ngắt câu, bằng cách đọc lên sau khi xác định nghỉ hơi hoặc giáo viên có thể chuyển thành bài tập trắc nghiệm nhiều lựa chọn để học sinh lựa chọn, để học sinh thực hiện Cụ thể học sinh phải đặt được dấu câu cho đoạn còn lại như sau: "Có lần, chính mắt tôi đã nhìn thấy ông tán đinh đồng chiếc búa trong tay ông hoa lên, nhát nghiêng, nhát thẳng, nhanh đến mức tôi không thể thấy được, mặt ông phất phơ những sợi tơ mỏng"
3 Phương pháp thực hành giao tiếp
Với phương pháp này không chỉ hướng học sinh vận dụng lí thuyết được học vào thục hiện các nhiệm vụ của quá trình giao tiếp mà còn là phương pháp cung cấp lí thuyết cho học sinh Trong quá trình giao tiếp chẳng hạn, khi dạy xong bài luyện từ và câu Câu kể Ai làm gì? giáo viên có thể cho học sinh làm việc theo nhóm 4 - 8 để các em tự giới thiệu về gia đình mình
Sau khi các em thảo luận các em trong nhóm có thể tự giới thiệu về công việc của bố mẹ mình, anh chị, ông, bà Như thế sẽ tạo ra không khí giờ học và giúp các em hiểu nhau hơn
Khi vận dụng phương pháp này thì chúng ta đã kiểm tra được kĩ năng sử dụng từ đặt câu và giúp học sinh rèn được kĩ năng học tập mới
Trang 3II Một số điểm lưu ý khi dạy thực hành Luyện từ và câu.
Các bài thực hành LT&C được xây dựng từ một tổ hợp bài tập nên dạy thực hành từ, câu chính là tổ chức cho học sinh làm các bài tập LT&C Sau đây là một
số điều cầu lưu ý khi tiến hành các bước lên lớp một giờ dạy bài thực hành LT&C
Để tổ chức thực hiện các bài tập LT&C, giáo viên phải nắm được mục đích,
ý nghĩa, cơ sở xây dựng, nội dung bài tập và biết cách giải chính xác bài tập, biết trình tự cần tiến hành giải bài tập để hướng dẫn cho học sinh
Tuần tự công việc giáo viên cần làm trên lớp lúc này là ra nhiệm vụ (nêu yêu cầu), hướng dẫn thực hiện và kiểm tra đánh giá
- Giáo viên cần nêu đề bài một cách rõ ràng, yêu cầu học sinh nhắc lại đề bài, khi cần, phải giải thích để em nào cũng nắm được yêu cầu của bài tập
Có nhiều hình thức nêu bài tập : dùng lời, viết lên bảng, yêu cầu học sinh xem đề ra trong SGK hoặc vở bài tập Nhưng dù đề bài được nêu ra dưới hình thức nào cũng cần kiểm tra xem tất cả học sinh đã nắm được yêu cầu của bài tập chưa
Có những trường hợp không thể sử dụng bài tập của SGK như một đề bài mà phải có sự điều chỉnh cho hợp lí Có trường hợp phải chia cắt bài tập của SGK thành những bài tập nhỏ hơn Tùy thời gian và trình độ học sinh mà quy định số lượng bài tập cần tiến hành trong giờ học Có thể lựa chọn, lược bỏ, bổ sung thêm bài tập của SGK
Khi giao bài tập cho học sinh, cần lưu ý để có sự phân hoá cho phù hợp đối tượng : Có bài tập chỉ dành riêng cho học sinh khá, giỏi, còn với học sinh yếu thì phải giảm mức độ yêu cầu của bài tập (theo chuẩn kiến thức kĩ năng)
- Khi hướng dẫn học sinh làm bài tập, giáo viên phải nắm chắc trình tự giải bài tập.
Cần phải dự tính trước những khó khăn và những lỗi học sinh mắc phải khi giải bài tập để sửa chữa kịp thời Việc thực hiện bài tập cũng có nhiều hình thức: nói, đọc, viết hoặc nối, tô, vẽ, đánh dấu Có bài trả lời miệng, có bài viết, có bài gạch, đánh dấu trong vở bài tập Bài tập cũng có thể thực hiện trên lớp hoặc ở nhà Với những kiểu bài tập mới xuất hiện lần đầu, giáo viên cần hướng dẫn thật chi tiết,
tỉ mỉ Khi hướng dẫn thực hiện, cần chia ra thành các mức độ cho phù hợp với các đối tượng học sinh khác nhau, cần giúp những học sinh yếu kém bằng những câu hỏi gợi mở
Trong quá trình tiến hành giải bài tập cần phải tăng dần mức độ độc lập làm việc của học sinh Giai đoạn đầu, bài tập được thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy giáo, giai đoạn sau, học sinh tự độc lập làm việc là chính
- Cuối cùng là bước kiểm tra, đánh giá
Trang 4Đây là một việc làm quan trọng mà nhiều giáo viên thường bỏ qua hoặc không chú ý đúng mức Việc kiểm tra, đánh giá vừa kích thích hứng thú học tập của học sinh, vừa cho học sinh một mẫu sản phẩm tốt nhất
Như vậy khi chữa bài tập, giáo viên không chỉ biết đánh giá đúng, sai mà phải giải thích được tại sao như thế là sai, tại sao như thế là đúng, nghĩa là một lần nữa lặp lại quy trình giải bài tập khi có những học sinh làm chưa đúng GV cần dành thời gian thích hợp cho khâu này Phải có mẫu lời giải đúng và dùng nó đối chiếu với bài làm của học sinh Với những bài làm sai, giáo viên không nhận xét chung chung là sai mà phải dựa vào quy trình làm bài, chia ra từng bước nhỏ hơn
để thực hiện, từ đó chỉ rõ ra chỗ sai của HS một cách chi tiết, cụ thể để học sinh có thể sửa chữa được Phải biết cách chuyển từ một lời giải sai sang một lời giải đúng chứ không chỉ nói “Em làm sai rồi” và chuyển sang gọi em khác
III/ Ứng dụng GAĐT dạy phân môn luyện từ và câu.
Trong phân môn luyện từ và câu ở tiểu học giáo viên có thể ứng dụng GAĐT vào việc giảng dạy như sau:
-Dùng GAĐT giúp giáo viên trong thao tác viết bảng Trong tất cả các phân môn thì khi dạy học bằng các phần mềm soạn giảng cùng đèn chiếu sẽ tiết kiệm cho giáo viên một rất nhiều thời gian viết bảng (như ghi ví dụ, nhận xét, các bài tập dài) ngoài ra sử dụng đèn chiếu sẽ cho ta những trang bảng có thẩm mĩ , hợp lí… -Phóng lớn các tranh ảnh trong sách giáo khoa Một số tranh ảnh trong sách giáo khoa quá nhỏ không có tranh lớn để giáo viên sử trên bảng cho cả lớp nhìn Một số tranh trong sách là tranh vẽ, bị mờ, không rõ và không đẹp thì GAĐT có thể thay thế được
-Dùng GAĐT để đưa thêm hình ảnh đoạn clip để giải nghĩa từ làm rõ nội dung, một số hình ảnh trong bài (Như để thấy được âm thanh tiếng đàn bầu, tiếng suối Côn Lôn, Tiếng mưa rơi trên lá cọ…) Qua nhưng hình ảnh, fiel âm thanh, những đoạn clip học sinh dễ hiểu và hiểu kĩ hơn một số từ ngữ mà giáo viên đưa ra
-Tổ chức các trò chơi Biến các bài tập thành trò chơi Một số bài tập trong phân môn luyên từ, và câu giáo viên có thể biến nó thành trò chơi thông qua các phần mềm dạy học từ đó giúp học sinh thêm hứng thú, ham thích học tập…
Người thực hiện
Nguyễn Hồng Hà