1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Tài liệu Thực trạng xuất khẩu 10 ngành chủ lực của Việt Nam giai đoạn 2001- 2007 docx

66 468 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng xuất khẩu 10 ngành chủ lực của Việt Nam giai đoạn 2001- 2007
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 919,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu như không tính năm 2002 xuất khẩu mặt hng nygiảm đi do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới thì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quncủa mặt hng ny giai đoạn 2003-2007 đạt 29,4%,

Trang 1

Thực trạng xuất khẩu 10 ngành chủ lực của

Việt Nam giai đoạn 2001- 2007

Trang 2

Mục lục

I Khái quát tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam 2001 - 2007

1) Giá trị và tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu - 3

2) Các mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch trên 1 tỷ USD -4

3) Các thị trường xuất khẩu chủ yếu -5

II Thực trạng các ngành hàng 1) Ngành dầu thô Việt Nam - 7

2) Ngành dệt may Việt Nam -11

3) Ngành giày dép Việt Nam -16

4) Ngành thủy sản Việt Nam -21

5) Ngành gạo Việt Nam -27

6) Ngành gỗ Việt Nam -34

7) Ngành điện tử máy tính Việt Nam -43

8) Ngành cà phê Việt Nam -49

9) Ngành cao su Việt Nam -58

10) Ngành than đá Việt Nam -67

11) Ngành hồ tiêu Việt Nam -74

12) Ngành điều Việt Nam -81

Trang 3

III Giải pháp chung cho xuất nhập khẩu Việt Nam -89

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO -90

I Khi qut tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam 2001 - 2007

1 Giá trị và tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu

Trong giai đoạn ny, tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu không ổn định Năm 2001, tăngtrưởng xuất nhập khẩu chỉ đạt 3,7% do tình tình kinh tế - chính trị thế giới biến động Chỉ số ny đđược cải thiện vào năm 2002, v bứt ph trong hai năm 2004-2005 Sau khi suy giảm nhẹ vonăm 2005, tốc độ tăng trưởng tiếp tục giữ ở mức cao, đặc biệt năm 2007 l 28,9%, caonhất trong 7 năm của giai đoạn 2001–2007 Tốc độ tăng trưởng trung bình hng năm l 20,5%

Năm 2007, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 109.217 triệu USD, gấp 3,5 lần so với

31.247 triệu USD của năm 2001 Năm 2007 đ khp lại với mức tăng trưởng xuất khẩu rất ấn

tượng 21,5%, vượt kế hoạch Quốc hội đề ra 4,1% Các chuyên gia cho rằng, với đà này xuấtkhẩu của Việt Nam tiếp tục gặt hái những thành công trong năm 2008

Trong năm 2007, quy mô và tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu tiếp tục được duy trì

ở mức cao, cc chỉ tiu được đặt ra về tăng trưởng xuất khẩu đều đ thực hiện đạt và vượt, đặc biệt

có một số chỉ tiêu đ vượt ở mức cao Kim ngạch xuất khẩu cả năm đạt 48,4 tỷ USD, tăng 21,5%

so với năm 2006 (kế hoạch Quốc hội đề ra là 46,7 tỷ USD, tăng 17,4%)

2 Cc mặt hng xuất khẩu cĩ kim ngạch trn 1 tỷ USD

(1)Dầu thô, than đá:

Năm 2007 chỉ ring hai mặt hng dầu thơ v than đá đ chiếm gần 20% tổng kimngạch xuất khẩu cả nước Sản lượng xuất khẩu dầu thô và than đá tăng trưởng khơng ổn định.Khối lượng xuất khẩu dầu thô chỉ tăng nhẹ trong những năm đầu của giai đoạn 2001-2007 rồigiảm dần Sở dĩ cĩ sự sụt giảm ny l do cc mỏ dầu cũ dần cạn kiệt trong khi cơng tc thăm dị v mualại mỏ dầu mới của cc nước khác không đạt nhiều tiến triển

Để tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường, trong những năm tới kim ngạch xuấtkhẩu cc mặt hng ny sẽ giảm dần Trong đề án xuất khẩu 2006-2010, Bộ thương mại đ điều chỉnhmục tiu xuất khẩu khống sản, nhin liệu xuống cịn 9,6% vo năm 2010, trong đó gi trị xuất khẩudầu thơ cịn 6,1 tỷ USD v than đá cịn 325 triệu USD

(2) Dệt may, da giy:

Tình hình xuất khẩu dệt may, da giy của Việt Nam 7 năm qua luơn ổn định Tốc độ tăngtrưởng bình qun của ngnh dệt may l 23%, da giy l 15,3% Hai ngnh ny cĩ chung đặc điểm l sửdụng nhiều lao động, ph hợp với lợi thế lao động giá rẻ ở Việt Nam Những hạn chế của các

Trang 4

ngành này là phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu của nước ngoài (60%-70%), hao phí điện nănglớn

(3) Sản phẩm gỗ

Cc sản phẩm gỗ gia tăng gi trị xuất khẩu một cch đều đặn trong giai đoạn 2001- 2007.Trong vịng 7 năm, gi trị xuất khẩu tăng gấp 7 lần Năm 2004 cĩ tốc độ tăng trưởng kỉ lục 81%,qua đó đưa gỗ vào nhóm hàng có giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD Gia nhập WTO mở ra nhữngthuận lợi v cả khĩ khăn cho ngnh chế biến gỗ xuất khẩu

(4)Thủy sản, gạo, caf

Trong vịng 7 năm 2001-2007, gi trị xuất khẩu cc mặt hng ny đ tăng ln gần gấp 3 lần Đây

l những mặt hng chịu nhiều tc động của thị trường thế giới Trong những năm 2001-2003, doảnh hưởng của kinh tế thế giới suy giảm, nhu cầu về nông sản, thủy sản giảm làm giảm giá hàngloạt mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Kim ngạch xuất khẩu tăng rất chậm trong giaiđoạn ny Những năm cịn lại của giai đoạn 2001-2007, do tình hình kinh tế thế giới phục hồi v chiphí sản xuất gia tăng; gi trị xuất khẩu nơng, lm, thủy sản đ tăng nhanh

Trong năm 2007, khối lượng xuất khẩu các mặt hàng nông sản có phần giảm hoặc tăngkhơng nhiều Tuy nhin, gi trị xuất khẩu lại tăng rất cao so với năm 2006 Nguyn nhn l gi nơngsản thế giới đang trn đà ln gi Đầu năm 2008, thế giới đối mặt với cuộc khủng hoảng lương thựckhi giá hầu hết các nông sản chính như: bắp, lúa mì, gạo đều tăng gấp 2-3 lần trong vịng chưađầy hai năm

*Tĩm lại, do đ cĩ qu trình pht triển lu di, đ khai thc phần lớn tiềm năng nn hoạt động xuấtkhẩu nơng, lm, thủy sản của Việt Nam những năm qua có xu hướng tăng trưởng chậm lại vềkhối lượng, nhưng vẫn gia tăng nhanh về gi trị do giá cả thế giới có xu hướng tăng ln

Việc gia nhập WTO đ đặt ngành xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trước những thời cơ vthch thức mới

Để cc mặt hng ny thực sự trở thnh thế mạnh của xuất khẩu Việt Nam, về lu di cần phttriển theo hướng: nâng cao dần chất lượng sản phẩm, gia tăng hàm lượng chế biến, đẩy mạnhhoạt động xây dựng và quảng bá thương hiệu, pht triển hạ tầng php lý

(5) My tính v linh kiện điện tử:

Ngnh xuất khẩu hng điện tử v linh kiện my tính đang ngy cng cĩ vai trị quan trọngtrong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam Nếu như không tính năm 2002 xuất khẩu mặt hng nygiảm đi do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới thì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quncủa mặt hng ny giai đoạn 2003-2007 đạt 29,4%, cao nhất trong số cc mặt hng chủ lực

*Tĩm lại, vấn đề nan giải đối với các sản phẩm chế biến: dệt may, da giày, sản phẩm gỗ,sản phẩm nhựa… là nguồn nguyên, phụ liệu phần lớn phải nhập khẩu từ nước ngoài Do vậy, giátrị gia tăng của sản phẩm xuất khẩu chưa cao, các doanh nghiệp chưa thực sự chủ động trongviệc kí kết cc hợp đồng Nhiều sản phẩm chế biến cịn mang tính chất gia cơng

3 Các thị trường xuất nhập khẩu chủ yếu

* Thị trường xuất khẩu:

Các thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam theo thứ tự l: Mỹ, EU, ASEAN,Nhật Bản, Trung Quốc, Australia Trong giai đoạn 2001-2007, Kim ngạch xuất khẩu vào tất cả

Trang 5

các thị trường trọng điểm đều tăng trưởng ấn tượng: xuất khẩu vào EU tăng 2,8 lần, vo Nhật tăng2,3 lần v vo ASEAN tăng 2,8 lần Đáng ch ý nhất l việc gia tăng xuất khẩu vào thị trường Mỹ.Nếu như năm 2001, giá trị xuất khẩu sang thị trường lớn nhất thế giới này chỉ là 1065,3 triệuUSD, thì đến năm 2007, kim ngạch xuất khẩu đạt 10,54 tỷ USD, xấp xỉ 10 lần năm 2001 Kếtquả ny cĩ được là nhờ Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ kí kết vo năm 2000 v cĩ hiệu lực vo cuốinăm 2001

Định hướng xuất khẩu của Việt Nam là đa dạng hóa thị trường, gia tăng xuất khẩu sangcác nước châu Âu, châu Mỹ và giảm xuất khẩu sang các nước chu

* Thị trường nhập khẩu:

Cc đối tc Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất đều thuộc khu vực Đông : Trung Quốc,Singapore, Đài Loan, Nhật Bản, Hn Quốc, Thi Lan, Malaysia, Hồng Kơng Năm 2001, Việt Namnhập khẩu đến 73,7% hàng hóa từ các nước trên; đến 11 thng đầu năm 2007, con số ny l 76,3%.Trong chính sch về cơ cấu thị trường nhập khẩu, định hướng đưa ra là giảm tỷ trọngnhập khẩu từ các nước châu Á xuống cịn 55% vo năm 2010 Chiến lược phát triển xuấtnhậpkhẩu thời kì 2001-2010 cịn đề cập tới việc gia tăng nhập khẩu từ các thị trường công nghệnguồn như Mỹ, EU, Nhật Bản lên 40% vào năm 2010 Tuy nhin, đến thời điểm ny cĩ thể thấymục tiu ny hồn tồn khơng khả thi

*Tuy hng hĩa của chng ta xuất khẩu sang khoảng 200 nước và vùng lnh thổ nhưng kimngạch xuất khẩu sang 40 thị trường lớn nhất đ chiếm đến 97% giá trị xuất khẩu, 20 thị trường lớnnhất chiếm đến 90% gi trị xuất khẩu Trong nhập khẩu, Việt Nam mua đến 76,3% hng hĩa từ 8đối tc lớn nhất Cc đối tc xuất khẩu chủ yếu là các thị trường có công nghệ nguồn, trong khi cácđối tác nhập khẩu chủ yếu lại là các thị trường không có công nghệ nguồn

Biểu đồ các ngành hng cĩ kim ngạch xuất khẩu trn 1 tỷ USD

8 tháng đầu năm 2008 (Đơn vị: Tỷ USD)

(Nguồn: Bộ Cơng Thương)

Trang 6

Tử Vàng, Sông Đốc, Bunga Orkid, đảm bảo gia tăng trữ lượng dầu khí cả năm đạt 35 – 40 triệutấn dầu quy đổi Bên cạnh đó, PVN cũng phấn đấu hoàn tất đàm phán và ký kết 3 dự n dầu khí ởnước ngoài (với Zarubeznhep trong tháng 9, OAO Gasprom vào tháng 10 – cùng của Nga vàPDVSA – Venezuela vào tháng 11).

Biểu bảng xuất khẩu dầu thơ của Việt Nam từ 2000- 8 tháng đầu năm 2008

( VT : 1.000 T n) (Ngu n: T ng c c Th ng k)ĐVT : 1.000 Tấn) (Nguồn: Tổng cục Thống k) ấn) (Nguồn: Tổng cục Thống k) ồn: Tổng cục Thống k) ổng cục Thống k) ục Thống k) ống k)

thángđầunăm)

Sản

Biểu đồ sản lượng dầu thơ xuất khẩu của Việt Nam từ 2000- 8 tháng đầu năm 2008

(Nguồn: Tổng cục Thống k)

Trang 7

Sản lượng dầu thô xuất khẩu từ 2000-2008

15500167001690017169

19558 1743717300

15000 9000

0 5000 10000 15000 20000 25000

*Th tr ng xu t kh u : ị trường xuất khẩu : ường xuất khẩu : ấn) (Nguồn: Tổng cục Thống k) ẩu :

Đơn vị

tính: 1000 USD, 1.000 USD

Nguồn: http://vietnamnet.vn/

Trang 8

Thị trường Số lượng Kim ngạch

Thuận lợi lớn nhất mà ngành dầu khí đ tạo dựng được trong hoạt động xuất khẩu dầu thô

là dù giá lên cao hay xuống thấp, dầu thô Việt Nam được khai thác từ mỏ Bạch Hổ, Rạng Đông,Ruby, Đại Hùng và gần đây là Sư Tử Đen, vẫn luôn hấp dẫn được khách hàng gần xa bởi chấtlượng, uy tín trong giao dịch

Trong đó, dầu thô Bạch Hổ chiếm tới 60% tổng sản lượng dầu thô xuất khẩu của ViệtNam

Một thuận lợi nữa là Petechim (Công ty Thương mại Dầu khí) đ xy dựng cho mình một

hệ thống khch hng truyền thống, gắn kết chặt chẽ với cơng ty trong mọi hồn cảnh, nhất l những

lc khĩ khăn, giá dầu sụt xuống, thị trường dầu thô thế giới gần như bị “đóng băng”, nhưng dầuthô Việt Nam vẫn xuất khẩu đều, tránh được hiện tượng phải đóng mỏ (trong hoàn cảnh bìnhthường, đây là điều tối kỵ nhất trong quá trình khai thc v xuất khẩu dầu thơ)

Một sự kiện rất quan trọng, mang tính bổ sung hết sức kịp thời cho việc khai thác dầukhí của Việt Nam là trong khi lượng dầu khai thác gần 20 năm qua từ mỏ Bạch Hổ đang giảmdần thì từ năm 2003, dầu thô từ mỏ Sư Tử Đen bắt đầu được khai thác và đưa vào xuất khẩu vớisản lượng khoảng 70.000 thùng/ngày

Bn cạnh đó, trong vài năm tới, mỏ Sư Tử Vàng và Sư Tử Trắng sẽ đi vào khai thác, hứahẹn một sự tăng trưởng mới cho ngành dầu khí Việt Nam

c/ Hạn chế khó khăn :

Trang 9

Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu dầu thô của nước ta thời gian qua cũng đang phải đối mặtvới nhiều khó khăn, trở ngại, nhất là khi giá dầu thô trong xu thế ngày càng tăng

Theo quy luật cung cầu, khi giá cao, xuất khẩu dầu thô không hẳn hoàn toàn thuận lợi.Cũng như nhiều mặt hàng khác, dầu thô của Việt Nam đang vấp phải sự cạnh tranh quyết liệt vềgiá của nhiều nước khác, nhất là khu vực châu Phi Khi giá dầu lên cao, các khách hàng tiêu thụ

có xu hướng tìm cc nguồn dầu khc thay thế rẻ hơn, ví dụ từ châu Phi, Trung Đông

Cũng do vậy nên mới đây, những khách hàng Trung Quốc trước đây mua dầu Việt Nam,

đ chuyển sang mua dầu của chu Phi Đây là trở ngại lớn của chúng ta hiện nay

Bên cạnh các khách hàng mua dầu truyền thống, Petechim cùng Tổng công ty Dầu khíViệt Nam đ v đang thiết lập các mối quan hệ hợp tác kinh doanh dầu thơ với cc khch hng mớitrong v ngồi khu vực

Ví dụ như trước đây, công ty đ tham gia kinh doanh dầu thơ với đối tác Iraq trongchương trình “Đổi dầu lấy lương thực” của Liên hợp quốc Đó là những bước triển khai ban đầu,tạo đà thuận lợi cho Tổng công ty dầu khí Việt Nam trong công tác nhập khẩu dầu thô sau này từTrung Đông, châu Phi cho nhà máy lọc dầu Dung Quất khi nhà máy này đi vào hoạt động

2 Ngnh dệt may Việt Nam

a/ Thực trạng xuất khẩu:

Hiện, Việt Nam có hơn 2.000 doanh nghiệp dệt may và đang sử dụng hơn hai triệu laođộng, sản xuất khoảng 1,8 tỷ sản phẩm dệt may; trong đó, 65% dành cho xuất khẩu Các doanhnghiệp dệt may tập trung chủ yếu ở TPHCM với 1.400 doanh nghiệp; Hà Nội và vùng phụ cậnkhoảng 300 doanh nghiệp

Tồn ngành dệt may hiện có năng lực sản xuất khoảng 10.000 tấn xơ bông; 50 ngàn tấn xơsợi tổng hợp; 260 ngàn tấn xơ sợi ngắn Về dệt, sản xuất được 150 ngàn tấn vải dệt kim; vải dệtthoi được 680 triệu m2

8 tháng đầu năm 2008, Hàng dệt may đạt 6 tỷ USD, tăng 20%

Kim ngạch xuất khẩu dệt may VN từ 2000- 8 tháng đầu năm 2008

( VT : 1.000.000 USD) (Ngu n: T ng C c Th ng K)ĐVT : 1.000 Tấn) (Nguồn: Tổng cục Thống k) ồn: Tổng cục Thống k) ổng cục Thống k) ục Thống k) ống k)

Trang 10

Tốc độ (%)

* Thị trường xuất khẩu :

Hiện có khoảng 170 nước/vùng lnh thổ nhập khẩu hng dệt may của Việt Nam, trong đó

Mỹ chiếm trên dưới 55%, EU 19%, Nhật Bản 13%, Đài Loan 4% Tỷ trọng hàng gia công chiếmtrên 90%, hàng mua đứt bán đoạn chiếm tỷ trọng thấp, nên thực thu ngoại tệ không lớn, hiệu quảthấp

Trong số các thị trường xuất khẩu dệt may chủ lực của Việt Nam bao gồm Pháp, Đức, HàLan, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Anh, Hoa Kỳ chiếm tỷ trọng xấp xỉ 60% (số liệu từ Tổng cụcThống k)

Đứng đầu trong các thị trường xuất khẩu dệt may Việt Nam là Mỹ với kim ngạch hơn 3

tỷ USD (chiếm 55% thị phần); Liên minh châu Âu (EU) xếp thứ hai với 1,2 tỷ USD (chiếm 20%thị phần); tiếp theo là các thị trường Nhật Bản, ASEAN, Canada, Nga và một số thị trường khác

Công nghiệp dệt may đạt giá trị xuất khẩu toàn cầu hơn 350 tỷ USD/năm là nguồn thuđáng kể của nhiều nền kinh tế như Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Malaysia, Pakixtan, HànQuốc… Trung Quốc đứng đầu thế giới về xuất khẩu sản phẩm may mặc Dệt – may chiếm 4%tổng sản lượng hàng hóa, 4,8% tổng lượng thương mại và 7% việc làm của EU, 177 nghìn cơng

ty với khoảng 2,1 triệu cơng nhn của ngnh ny năm 2003 làm ra đạt giá trị 200 tỷ EUR, so với

115 tỷ trước đó Cùng với Mỹ, EU đứng đầu thế giới về kinh doanh dệt – may, đứng đầu về xuất

Trang 11

khẩu sản phẩm dệt, đứng thứ hai về xuất khẩu sản phẩm may mặc, năm 2002 xuất khẩu hàng dệt– may đạt 43,8 tỷ EUR.

Với mức tăng trưởng 30% và dự kiến đạt 7,5 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu trong năm

2007, Việt Nam đ cĩ bước nhảy vọt ngoạn mục từ vị trí thứ 16 lên t p 10 n c xu t kh u d tống k) ước xuất khẩu dệt ấn) (Nguồn: Tổng cục Thống k) ẩu : ệtmay l n nh t th gi i, chi m t tr ng 26,25% c a th gi i.ớc xuất khẩu dệt ấn) (Nguồn: Tổng cục Thống k) ế giới, chiếm tỷ trọng 26,25% của thế giới ớc xuất khẩu dệt ế giới, chiếm tỷ trọng 26,25% của thế giới ỷ trọng 26,25% của thế giới ọng 26,25% của thế giới ủa thế giới ế giới, chiếm tỷ trọng 26,25% của thế giới ớc xuất khẩu dệt

Thị trường xuất khẩu Mặt hng Sản phẩm dệt may

Trang 12

Antigua and Barbuda 23

Bên cạnh đó, một thuận lợi lớn nữa cho ngành dệt may chính là thị trường Tuy xuất khẩunhiều nhưng tập trung ở thị trường Hoa Kỳ và châu Âu Trong đó Hoa Kỳ chiếm gần 62% Đây

là thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới và là thị trường xuất khẩu chính của ccdoanh nghiệp dệt may Việt Nam nĩi chung v Bình Dương nói riêng Hiện tại, Việt Nam đang xếpthứ 7 về xuất khẩu hàng dệt may vào Hoa Kỳ Chính vì vậy m Gim đốc Sở Thương mại - Du lịchNguyễn Thị Điền cho rằng, việc Việt Nam gia nhập WTO v việc bi bỏ hạn ngạch của Hoa Kỳđối với Việt Nam đ tạo bước đột phá lớn trong xuất khẩu hàng dệt may vào các thị trường này,góp phần đáng kể vào mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu chung, đưa tốc độ tăng trưởng nàytrong năm 2006 tăng 32,4% so với năm 2005

c/ Hạn chế khó khăn :

Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam đang phải cạnh tranh gay gắt với các nước/vùnglnh thổ như Trung Quốc, Hồng Kông, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, Mêhicô, Bangladesh, Hàn Quốc, đặcbiệt là Trung Quốc- nước có kim ngạch xuất khẩu tới 40 tỷ USD chiếm tới 20% thị phần xuấtkhẩu dệt may thế giới

Ngành đang đứng trước rất nhiều thách thức lớn, trong đó hiện hữu r nhất chính l nguynvật liệu phần lớn vẫn phải nhập khẩu (NK), tỷ lệ nội địa hoá rất thấp, trong khi phần gia công cịncao (khoảng 65%), đa số DN chưa xây dựng được thương hiệu

d/ Giải php :

Bộ Công Thương và Hiệp hội Dệt may Việt Nam cần tăng cường định hướng để cácdoanh nghiệp có khả năng kiểm soát xuất khẩu, có thể sản xuất các sản phẩm có chất lượng và cógiá trị gia tăng cao

Đồng thời, Chính phủ Việt Nam tạo mọi điều kiện để các doanh nghiệp chủ động mởrộng, đa dạng hóa các thị trường, nhất là thị trường Nhật Bản Tận dụng tối đa cơ hội để có thể

ký kết hiệp định đối tác chiến lược giữa Việt Nam và Nhật Bản, nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàngdệt may sang thị trường này

Trang 13

Các doanh nghiệp Việt Nam cần phải chú trọng tăng trưởng về chất lượng, vì tăng trưởng

về chất lượng mới là tăng trưởng bền vững, đem lại hiệu quả về lâu dài

Muốn vậy, cc doanh nghiệp Việt Nam cần ch trọng đào tạo công nhân, tăng quản lý, đầu

tư thiết bị chuyên dùng để chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm; lựa chọn và làm việc trựctiếp với các tập đoàn có đơn giá cao, thương hiệu nổi tiếng của Mỹ, EU

3 Ngnh giy dp Việt Nam

a/ Thực trạng xuất khẩu:

“Việt Nam sẽ trở thành 1 trong 5 nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới”

Ông Bùi Xuân Khu - Thứ trưởng Bộ Công Thương

Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu giy dp VN từ 2000- 8 tháng đầu năm 2008

Trang 14

Mọi dự báo về kết quả xuất khẩu dệt may năm 2007 của các chuyên gia hồi đầu năm gầnnhư sai lệch khi kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam đạt khoảng 7,8 tỷ USD, tăng 31%

so năm 2006 Việt Nam là 1 trong 10 nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới Đây là kết quảkhông thể tốt hơn trong năm đầu tiên Việt Nam thực hiện theo các cam kết của WTO Đến lúcnày, các nhà hoạch định chính sách đ đưa ra mục tiêu đến năm 2020 kim ngạch xuất khẩu dệtmay của Việt Nam đạt 25 tỷ USD, là 1 trong 5 nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới

8 tháng đầu năm 2008, kim ngạch xuất khẩu giày dép đạt 3,2 tỷ USD, tăng 18,5%

Kim ngạch xuất khẩu giy dp từ 2000- 8 tháng đầu năm 2008

2692 3005

356039933200

05001000150020002500300035004000

Trang 15

*Thị trường xuất khẩu :

Hiện cĩ khoảng 160 nước/vng lnh thổ nhập khẩu giy, dp của Việt Nam, trong đó lớn nhất

l EU (60%), tiếp đến l Mỹ (20%), Nhật Bản (3%) Kim ngạch xuất khẩu giy, dp của Việt Namhiện đứng thứ 6 thế giới, chiếm khoảng 6,9% tổng kim ngạch xuất khẩu 43- 45 tỷ USD của thếgiới

b/ Thnh cơng :

Kết thúc năm 2007, dệt may xuất khẩu Việt Nam ước đạt khoảng 7,8 tỷ USD, tăng 31%

so năm 2006 Trong đó, thị trường Hoa Kỳ chiếm vị trí chủ đạo, đạt 4,4-4,5 tỷ USD, chiếm 56%tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may, tăng 32%, tiếp đó là thị trường EU đạt khoảng 1,45-1,5

tỷ USD, chiếm 18%, tăng khoảng 20%, thị trường Nhật Bản đạt khoảng 700 triệu USD, chiếm9%, tăng khoảng 12% Việt Nam đ trở thnh 1 trong 10 nước xuất khẩu hàng dệt may lớn nhấtthế giới Đây là kết quả không thể tốt hơn trong năm đầu tiên Việt Nam thực hiện các cam kếtcủa WTO

Việt Nam đ thực hiện cc cam kết WTO chính thức từ ngy 11/1/2007 Cĩ thể thấy, đây là

cơ hội lớn đối với xuất khẩu dệt may Việt Nam bởi các hàng rào hạn ngạch được gỡ bỏ, tuynhiên cũng đầy thách thức vì xuất pht điểm của Việt Nam cịn nhỏ b, những mặt yếu của ViệtNam cịn rất nhiều Nhưng Việt Nam đ cĩ kết quả xuất khẩu dệt may rất tốt trong năm 2007 như đ

nu trn Điều này cho thấy, Việt Nam đ vượt qua những thách thức trước sự cạnh tranh gay gắtcủa các cường quốc xuất khẩu hàng dệt may như Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Indonesia…đứng vững và tạo đà phát triển cho những năm tiếp theo

c/ Hạn chế khó khăn :

Phải cạnh tranh với Trung Quốc (với 11 tỷ USD, chiếm 25% thị phần xuất khẩu của thế giới);nguyên liệu trong nước chất lượng kém, phụ thuộc tới 60% vào nhập khẩu; mẫu m đơn điệu;công tác quảng cáo, tiếp thị cịn yếu, phải bn qua trung gian; gần đây lại bị EU kiện bán phágiá , nên thực thu ngoại tệ thấp, hạn chế việc tăng lượng xuất khẩu

So các nước trong khu vực và trên thế giới Việt Nam cịn yếu ở 5 điểm chính sau đây:

Thứ nhất, hầu hết nguyên vật liệu (vải, phụ liệu…) vẫn phải nhập khẩu là chính Điều nàycho thấy tỷ lệ nội địa hoá trong ngành dệt may cịn rất thấp, phần gia cơng cịn cao (khoảng 65%)

Thứ hai, khu thiết kế, tạo mốt, tạo dng sản phẩm của Việt Nam cịn rất yếu, chưa chủđộng nắm bắt nhu cầu của thị trường, người tiêu dùng

Thứ ba là vấn đề về thương hiệu Việt Nam xuất khẩu năm 2007 là 7,8 tỷ USD, nhưngthương hiệu chính của Việt Nam là chưa đáng kể, những DN mạnh như Thành Công, Việt Tiến,May 10, Nhà Bè, Thái Tuấn… mặc dù đích thân sản xuất nhưng thương hiệu lại là nước ngoài.Việt Nam chưa có đủ điều kiện cạnh tranh vì thương hiệu chiếm vị trí rất quan trọng Cũng sảnphẩm như vậy, thời gian sản xuất như vậy nhưng với thương hiệu nổi tiếng, uy tín, giá cả có thểgấp 3 lần so cùng sản phẩm kém về thương hiệu nhưng vẫn có khả năng cạnh tranh cao

Thứ 4, Việt Nam có đội ngũ lao động dồi dào, có kỷ luật, có tay nghề nhưng cán bộ quản

lý, cn bộ kỹ thuật cịn thiếu, những gim đốc giỏi, doanh nhân giỏi trong ngành dệt may rất thiếu.Đây là điểm khó khăn cũng như bất lợi của dệt may Việt Nam, bởi chính con người sẽ tạo nêngiá trị và mong muốn trong việc pht triển ngnh dệt may

Trang 16

Thứ năm là khả năng cạnh tranh: Tính thời trang, nhanh nhạy của thị trường dệt may, giácả… Chính vì Việt Nam khơng cĩ nguyn liệu tại chỗ, khơng cĩ thương hiệu… nên khả năng cạnhtranh của dệt may Việt Nam bất lợi so các cường quốc xuất khẩu hng dệt may khc Với TrungQuốc, Việt Nam chỉ cĩ thể cạnh tranh bằng những sản phẩm cao cấp hoặc từ trung bình trở ln.

d/ Giải php :

Việt Nam đ tham gia vo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), ngành da giày cũng cần đadạng hoá thị trường xuất khẩu, đổi mới thiết bị và công nghệ để thu hút khách hàng Đây sẽ làđiểm tựa vững chắc và quan trọng để đứng vững trên trường quốc tế Một trong những điểm yếutồn tại từ rất lâu của ngành là bị động về nguồn nguyên liệu Nguyên phụ liệu phần lớn đều phảinhập khẩu từ nước ngoài với giá thành cao nên ảnh hưởng đến giá trị gia tăng trong kim ngạchxuất khẩu của ngành Tuy kim ngạch xuất khẩu của ngành rất cao nhưng hiệu quả kinh tế thấp,giá trị gia tăng chỉ đạt 25%

Bn cạnh những nỗ lực của ngnh nhằm giải quyết vấn đề này, Nhà nước cần có chính sáchnhằm khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất nguyên phụ liệu thay vì phải nhậpkhẩu như hiện nay; Các dự án xây dựng các khu “chợ” vật tư, nguyên liệu cho ngành giày ở cácvùng có nhiều nhà máy tập trung cần nhanh chóng được triển khai, đưa vào hoạt động

Đối với hệ thống phân phối sản phẩm, 60% các sản phẩm da giày Việt Nam là gia côngcho phiá đối tác nước ngoài dưới hình thức theo đơn đặt hàng, với giá nhân công rẻ nên cácdoanh nghiệp chỉ giao hàng đến các nhà buôn mà không trực tiếp xuất khẩu đến các nhà phânphối Do phải phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống phân phối kinh doanh nước ngoài nên ngành dagiày Việt Nam bị lệ thuộc vào nước ngoài trong quá trình sản xuất Để tránh tình trạng trn, Chínhphủ cần tiếp tục đàm phán với những thị trường xuất khẩu da giày lớn của nước ta là Mỹ và EU

để họ công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường Như vậy, các doanh nghiệp Việt Nam mớiphát huy được thế mạnh của mình v khơng gặp khĩ khăn lúng túng khi thị trường xuất khẩu cónhững biến động bất thường do những tranh chấp thương mại

Để thúc đẩy hoạt động của ngành da giày, bên cạnh việc giải quyết vấn đề về nguồnnguyên phụ liệu phục vụ cho sản xuất và xuất khẩu, tăng cường xúc tiến thương mại và xây dựngchiến lược đào tạo đội ngũ công nhân chất lượng cao cũng được lnh đạo các cấp bộ, ngành quantâm Từ năm 2003, được sự hỗ trợ của Chính phủ thông qua chương trình xc tiến thương mạitrọng điểm quốc gia, đến nay, Hiệp hội đ tổ chức gần 30 đoàn tham gia trưng bày sản phẩm vàkhảo sát thị trường tại Đức, Pháp, Mỹ, Ý, Trung Quốc với sự tham gia của trn 300 lượt doanhnghiệp trong cả nước Các hoạt động trên đ gip cc doanh nghiệp tiếp cận trực tiếp với cc khchhng tiềm năng, giới thiệu, quảng b cc sản phẩm v nng cao hình ảnh doanh nghiệp, nắm bắt suhơn nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng ở từng khu vực khác nhau trên trường quốc tế Do

đó, các doanh nghiệp đ ch trọng tới việc chuẩn bị mẫu m, cc bộ sưu tập mới để trưng bày tại cácgian hàng tham gia, có tính toán kỹ về gía cả, chi phí thực hiện các đơn hàng để ký kết hợp đồngngay tại hội chợ Sự hiện diện của các doanh nghiệp, gian hàng chung cuả Hiệp hội đ tạo dựngmột hình ảnh ngnh da giy Việt Nam trn trường quốc tế… Ngoài ra, Hiệp hội cịn tổ chức nhiềukhố đào tạo về thiết kế và phát triển sản phẩm, marketing, kinh doanh, xuất nhập khẩu và cáckhoá dành cho các doanh nghiệp hướng tới vượt qua các rào cản thương mại, đảm bảo các yêucầu về môi trường, an toàn sức khoẻ… của các nhà nhập khẩu Hiệp hội tập trung công tác đàotạo vào hai đối tượng chính là đội ngũ cán bộ thiết kế và phát triển sản phẩm; đội ngũ maketing,xuất nhập khẩu Hai lực lượng này là nhân tố quyết định giúp cho việc đáp ứng mẫu m v thời hạn

Trang 17

giao mẫu cho hàng Song hành với các hoạt động trên, công tác tuyên truyền, quảng bá sản phẩm

và giới thiệu hình ảnh doanh nghiệp cũng đ được ý thức v quan tm

Trang 18

8 tháng đầu năm 2008, kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản đạt 2,9 tỷ USD, tăng 20,8%.

Kim ngạch xuất khẩu hng thủy sản từ 2000- 8 tháng đầu năm 2008

( VT: 1.000.000 USD) (Ngu n: B Th y S n)ĐVT : 1.000 Tấn) (Nguồn: Tổng cục Thống k) ồn: Tổng cục Thống k) ộ Thủy Sản) ủa thế giới ản)

05001000150020002500300035004000

*Thị trường xuất khẩu :

Hiện có 90 nước/vùng lnh thổ nhập khẩu thuỷ sản của Việt Nam, đứng đầu là Mỹ, tiếpđến là EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan Tuy nhiên, xuất khẩu thuỷsản của Việt Nam mới bằng 3,5% tổng số của thế giới, đứng sau nhiều nước và tương đối nhỏ sovới tiềm năng

Từ vị trí số 6 về xuất khẩu thủy sản hiện nay, nếu nhập khẩu được khoảng 1-2 tỷ USDnguyên liệu mỗi năm, Việt Nam có thể tăng kim ngạch xuất khẩu thêm 1,8-3,5 tỷ USD, đưa giátrị xuất khẩu lên 6-8 tỷ USD, xếp vị trí thứ 2 trên thế giới, sau Trung Quốc

b/ Thnh cơng :

Trang 19

Từ năm 1981, thủy sản đ l ngnh kinh tế đầu tiên được vận dụng cơ chế kinh tế thị trườngtrong sản xuất, kinh doanh; được phép thoát ly cơ chế bao cấp để thử nghiệm cơ chế "tự cân đối,

tự trang trải", xuất khẩu trực tiếp các sản phẩm thủy sản vào thị trường "khu vực 2" thu ngoại tệ

để mua máy móc, vật tư, thiết bị đầu tư trở lại cho sản xuất

Sau một phần tư thế kỷ hoạt động trong cơ chế thị trường, ngành thủy sản đ từng bướctrưởng thành Ðng ch ý l, sau khi chính sách đổi mới của Ðảng được thực hiện trong cả nước, từ

1986, thị trường xuất khẩu thủy sản được mở rộng và tăng trưởng với tốc độ rất nhanh Sự mởrộng thị trường đ kích thích sản xuất pht triển Cĩ thể nĩi, thị trường xuất khẩu thủy sản đ mởđường, hướng dẫn cho qu trình chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu nghề trong khai thác hải sản trênbiển Trong các năm từ 1981 trở lại đây, các nghề sản xuất trên biển đ hướng theo các sản phẩm

có giá trị xuất khẩu Cơ cấu sản phẩm khai thác phục vụ xuất khẩu đ lin tục tăng từ khoảng 5%trong những năm trước đây lên 30 - 35% trong thời gian gần đây

Thị trường xuất khẩu thủy sản đ l động lực, kích thích sự phát triển nuôi trồng thủy sản,

và nuôi trồng thủy sản trở thành hướng đi chủ yếu cho sự chuyển đổi các vùng diện tích sản xuấtnơng nghiệp km hiệu quả thnh những vng sản xuất nguyn liệu lớn cho chế biến thủy sản xuấtkhẩu Ðịnh hướng đúng đắn có tính chiến lược đó được khẳng định bằng Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP ngày 15/6/2000 của Chính phủ về một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơcấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Từ kết quả đó, năm 2000 xuất khẩu thủy sản vượtmột tỷ USD, năm 2002 vượt hai tỷ USD, và năm 2005, mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng ngànhthủy sản đ hồn thnh xuất sắc chỉ tiu kế hoạch của Nghị quyết Ðại hội tồn quốc lần thứ IX củaÐảng: kim ngạch xuất khẩu đạt và vượt 2,5 tỷ USD

Ðể cĩ được kết quả 2,5 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu, các năm qua và năm 2005 này,những người lao động nghề cá đ nỗ lực hết mình vượt qua khó khăn, gian khổ trong lao động sảnxuất; những thiệt hại, thất bát do thiên tai, bo, lũ, nắng hạn; những khĩ khăn, thử thách khắcnghiệt trên thương trường qua các vụ kiện bán phá giá cá tra, cá ba sa; kiện bán phá giá tôm trênthị trường Mỹ; các rào cản kỹ thuật về dư lượng kháng sinh, hóa chất tồn dư trong sản phẩm

Nhìn lại chặng đường đ qua với bao khĩ khăn, thách thức trong những lúc cam go nhất, càngnhận thức sâu sắc về vai trị, vị trí cốt tử của đội ngũ doanh nhân trên thương trường Cùng vớihơn bốn triệu lao động nghề cá trong khai thác và nuôi trồng thủy sản, đội ngũ doanh nhân ngànhthủy sản thật sự lớn mạnh, trở thành lực lượng nịng cốt, tin phong trong những thời điểm khókhăn nhất Nhiều doanh nhân, nhiều thương hiệu đ khẳng định được uy tín của mình trn cc thịtrường lớn, như: Seaprodex, Minh Phú, Kim Anh, Saota (fimex), Phú Cường, Camimex,Cafatex, Angifish, Vĩnh Hoàn, Sea Minh Hải, Sea Sài Gịn, Seaspimex, Sea Ð Nẵng, Sea HNội,

Đến nay, cả nước đ có 439 nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu, trong đó có 171 doanhnghiệp được xếp vào danh sách 1 xuất khẩu vào EU, 300 doanh nghiệp áp dụng quy trình quản

lý chất lượng sản phẩm theo HACCP, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu vào thị trường Mỹ, 222 doanhnghiệp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sản phẩm vào Hàn Quốc, 295 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xuấtkhẩu vào Trung Quốc Những con số đó cho thấy sự trưởng thành của công nghiệp chế biếnxuất khẩu thủy sản Việt Nam cả về công nghệ, kỹ thuật và trình độ quản lý Các doanh nghiệpchế biến thủy sản xuất khẩu Việt Nam đ đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, đ tiếp cận, đáp ứngcác yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm khắt khe nhất của thị trường quốc tế

Trang 20

Bn cạnh vai trị nịng cốt của đội ngũ doanh nhân, lực lượng khoa học - công nghệ đ cĩđóng góp to lớn Từ những năm đầu của thập kỷ 80 của thế kỷ trước, công nghệ sinh sản tôm súnhân tạo đ được du nhập và phát triển thành công ở miền trung, sau đó nhân ra cả nước, tạo tiền

đề cho phong trào nuôi tôm phát triển, là cơ sở để có được nguồn nguyên liệu chủ yếu cho chếbiến, xuất khẩu thủy sản Giá trị từ tôm xuất khẩu đến nay chiếm hơn 50% tổng kim ngạch xuấtkhẩu thủy sản Ðồng thời với việc lm chủ cơng nghệ sinh sản nhn tạo tơm s, cc nh khoa học thủysản đ nghin cứu cho đẻ thành công nhiều giống, loài thủy sản quý hiếm, như cá mú, cá giị, c dìa,

c bớp, c chẽm, c rơ phi, rơ đồng, cá lóc, cua biển, ốc hương, sị, vẹm, tơm cng, tơm he, tơm rảo, Những thnh tựu khoa học ny l nền tảng để phát triển các sản phẩm thủy sản xuất khẩu

Cùng với sự nỗ lực trong nội bộ ngành thủy sản, có được kết quả 2,5 tỷ USD xuất khẩucịn cĩ sự phối hợp, gip đỡ của các bộ, ban, ngành ở trung ương, sự chỉ đạo đúng đắn, cụ thể, sâusát của các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp địa phương, cơ sở Chỉ bốn tỉnh vùng bán đảo CàMau đ cĩ doanh số thủy sản xuất khẩu l một tỷ USD, trong đó riêng Cà Mau đ đóng góp hơn 500triệu USD, chiếm 20% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước

Trong điều kiện của một nước chậm phát triển, cơ sở vật chất kỹ thuật cịn ngho nn, lạchậu, việc xuất khẩu thủy sản đạt 2,5 tỷ USD, sản phẩm thực phẩm bảo đảm chất lượng cao, đượctiêu thụ ở các nước công nghiệp phát triển là thành tựu rất đáng tự hào Ðấy l kết quả của sựdũng cảm đi tiên phong trong cơ chế thị trường, sẵn sàng đương đầu vượt qua thử thách; là bảnlĩnh, là trí tuệ của những người lao động nghề cá dám nghĩ, dám làm; biết khiêm nhường học hỏinhững bài học khắc nghiệt nhất từ cơ chế thị trường trong thời kỳ hội nhập; biết phát huy sứcmạnh đoàn kết, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ trong và ngoài ngành, trong và ngoài nước; biết vậndụng hài hịa cc quy luật kinh tế cơ bản, lấy lợi ích của người lao động làm động lực cho pháttriển

c/ Hạn chế khó khăn :

Cc nh my hoạt động dưới 50% cơng suất: Lng phí lớn về đầu tư

Khảo sát của VASEP cho thấy, sản lượng hải sản sẽ không tăng hơn mức hiện tại (dưới2,1 triệu tấn/năm) do nguồn lợi thủy sản ven bờ đ cạn kiệt, trong khi đội tàu khai thác xa bờ chưaphát huy được hiệu quả, nhất là trong tình trạng giá nhiên liệu tăng cao Về nuôi trồng, sản lượngtôm những năm gần đây chỉ duy trì ở mức 350.000 tấn/năm và dự kiến chưa thể tăng cao Sảnlượng cá tra tuy tăng mạnh, vượt mức 1 triệu tấn/năm (năm 2007), nhưng tốc độ tăng sẽ bị hạnchế do yếu tố thị trường, ngưỡng môi trường, cũng như khả năng quản lý

Trong khi đó, hệ thống nhà máy chế biến thủy sản phát triển nhanh hơn nhiều so với tốc

độ tăng trưởng sản lượng khai thác và nuôi trồng Chỉ tính riêng công suất cấp đông của các nhàmáy chế biến thủy sản đông lạnh đ ln đến trên 1,5-1,7 triệu tấn thành phẩm mỗi năm, tương ứngvới khoảng 4,5-5,1 triệu tấn nguyên liệu, trong khi tổng sản lượng nguyên liệu đủ tiêu chuẩn làmthực phẩm ước tính dưới 3,2 triệu tấn mỗi năm Do vậy, đa số nhà máy đều thiếu nguyên liệu,chỉ hoạt động dưới 50% công suất thiết kế, gây lng phí lớn về đầu tư

Nhập nguyn liệu không tác động đến nuơi trồng trong nước

So với phương án đầu tư cho sản xuất nguyên liệu, việc nhập khẩu nguyên liệu thủy sản

có ưu thế do không phải đầu tư lớn và tránh được các tổn thất về môi trường Từ nhiều năm nayhàng chục doanh nghiệp trong nước đ nhập khẩu nguyn liệu để chế biến xuất khẩu và đạt hiệuquả kinh tế cao như Công ty Hải Việt (Vũng Tàu), Công ty Incomfish, Công ty CP Chế biếnhàng xuất khẩu Cầu Tre (TP Hồ Chí Minh), Cơng ty Hạ Long Simexco (Hải Phịng) Một doanh

Trang 21

nghiệp quy mơ nhỏ, ở địa bàn khó khăn như Công ty CP Thủy sản Bình Định (Bidifishco) cũng

đ tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu từ 5 triệu USD năm 2006 lên 17,8 triệu USD năm 2007

Ngoài ra, nhập khẩu nguyên liệu sơ chế không chỉ buộc các nhà máy chế biến thủy sảnViệt Nam phải đầu tư dây chuyền tiên tiến, kỹ thuật cao, phương thức quản lý hiện đại để sảnxuất được nhiều mặt hàng giá trị gia tăng đa dạng, mà xa hơn, sẽ góp phần giảm nhập siêu, tạocân bằng về cán cân xuất nhập khẩu cho quốc gia; đưa Việt Nam hội nhập sâu hơn

Liệu việc khai thác, nuôi trồng thủy sản trong nước có bị tác động? Câu trả lời đượcVASEP đưa ra là không, bởi vì nguồn nguyn liệu trong nước với giá rẻ sẽ là ưu tiên số 1 của cácdoanh nghiệp chế biến khi chính vụ; giá nguyên liệu nhập khẩu thường cao hơn giá trong nước

do nhiều yếu tố Có chăng, việc nhập khẩu nguyên liệu chỉ tạo áp lực để ngành khai thác và nuôitrồng thủy sản phải nâng cao năng lực, chất lượng cạnh tranh

d/ Giải php :

Đưa giá trị xuất khẩu lên 7,5 đến 8 tỷ USD

VASEP đ cĩ văn bản chính thức đề nghị Chính phủ cho phép áp dụng thuế nhập khẩuthống nhất 0 hoặc 0,5% cho các loại nguyên liệu thủy sản nhập khẩu Trước mắt, khi chưa giảmđược thuế xuống đến mức 0-0,5%, VASEP ủng hộ chủ trương của Tổng cục Hải quan đề nghị

Bộ Tài chính bỏ những yêu cầu quá phức tạp đối với bộ chứng từ khi thanh khoản tờ khai nhậpkhẩu Theo VASEP, quá trình tồn cầu hĩa đang đẩy nhanh sự phân công lại lao động, dịngnguyên liệu thủy sản được chuyển dần sang các nước đang phát triển để chế biến sản phẩm giátrị gia tăng cung cấp cho thị trường các nước phát triển Những nước xuất khẩu hàng đầu nhưHoa Kỳ, Malaixia, Thái Lan cũng là những nước nhập khẩu nguyên liệu lớn Riêng năm 2007,

để có thể đạt giá trị trên 9 tỷ USD xuất khẩu thủy sản, Trung Quốc đ nhập khẩu 5,3 tỷ USDnguyn liệu

Việt Nam đang có cơ hội rất lớn, do uy tín chất lượng và an toàn thực phẩm mặt hàngthực phẩm của một số nước đang bị suy giảm Nhiều công ty Nhật Bản và châu Âu đang tìm cchchuyển dịng nguyn liệu nhập khẩu sang Việt Nam để chế biến VASEP tính toán, nếu đón nhậnđược dịng nguyn liệu ny, chủ yếu từ cc nước xứ lạnh (Bắc Âu, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Nam TháiBình Dương) Việt Nam có cơ hội trở thành cường quốc về chế biến và xuất khẩu thủy sản Từ

vị trí số 6 về xuất khẩu thủy sản hiện nay, nếu nhập khẩu được khoảng 1-2 tỷ USD nguyên liệumỗi năm, Việt Nam có thể tăng kim ngạch xuất khẩu thêm 1,8-3,5 tỷ USD, đưa giá trị xuất khẩulên 6-8 tỷ USD, xếp vị trí thứ 2 trn thế giới, sau Trung Quốc

5 Ngnh gạo Việt Nam

a)Thực trạng xuất khẩu gạo Việt Nam

Lúa gạo luôn là mặt hàng xuất khẩu có thế mạnh truyền thống của Việt Nam ta từ trướcđến nay Từ chổ đảm bảo lương thực cịn l nỗi lo, Việt Nam vươn lên đứng thứ 2 trong 10 nướcxuất khẩu gạo hàng đầu thế giới giá trị xuất khẩu gạo vượt qua con sồ 2 tỷ USD mỗi năm

Dưới đây là bảng thống kê về 10 nước nhập khẩu và xuất khẩu hàng đầu thế giới năm

2007, theo Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA)

Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA) cho biết, tính đến hết ngày 30/6, các doanh nghiệp

đ xuất khẩu 2.294.065 tấn gạo, trị gi 1,215 tỉ USD, tăng 99% so với cùng kỳ năm 2007, chiếmkhoảng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng nông, lâm, thuỷ sản của Việt Nam Mặc dù lượnggạo xuất khẩu chỉ tăng 5,8% nhưng do giá gạo thế giới tăng nên giá trị xuất khẩu tăng gần 100%

Trang 22

Được biết, từ ngày 30/6, VFA sẽ phân bổ chỉ tiêu xuất khẩu 600.000 tấn gạo sang Philippines vớigiá 940 USD/tấn bao gồm cả cước phí vận chuyển, thời gian giao hng trong 3 thng 7, 8 v 9

Đây là một tín hiệu để doanh nghiệp tăng tốc mua lúa gạo của nông dân, có thể đẩy giálúa tăng sau một thời gian sụt giảm Hiện các doanh nghiệp đ ký hợp đồng đủ chỉ tiêu mới đượcThủ tướng Chính phủ nới rộng cho cả 9 tháng đầu năm với 3,5 triệu tấn, tức có thể ký hợp đồngmới với số lượng 1,2-1,3 triệu tấn gạo

Theo số liệu của Hiệp hội Lương thực Việt Nam, đến ngày 7/8/2008, xuất khẩu đạt gần2,760 triệu tấn gạo, trị giá FOB trên 1,603 tỷ USD, trị giá CIF 1,743 tỷ USD Riêng tháng 7 xuấtkhẩu 405.226 tấn, trị giá FOB 333,40 triệu USD, CIF là 379,79 USD.Như vậy so với cùng kỳnăm 2007, về lượng giảm khoảng gần 1,7%, trị giá tăng 94%

Số liệu của hải quan cũng cho thấy, ước giao hết tháng 7/2008 là 2,794 triệu tấn trị giá1,810 tỷ USD, giảm 6,8% về lượng và tăng 87,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2007

Thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của nước ta l Philipines lại giảm mạnh, đạt 61.542 tấnvới trị gi 58,3 triệu USD, giảm 77,5% về lượng v giảm 73,9% về trị gi so với thng 5/2008 Tuynhin, tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm sang thị trường ny ln tới1.101.806 tấn với trị gi 633,6 triệu USD, tăng 40,7% về lượng và tăng 158,6% về trị gi so vớicng kỳ năm 2007

Đáng chú ý, xuất khẩu gạo sang thị trường Angola với mức tăng đột biến tới 148,1% vềlượng và tăng 224,3% về trị gi so với tháng trước đạt 25.600 tấn với trị gi 19,4 triệu USD Xuấtkhẩu gạo sang thị trường Nga cũng cĩ mức tăng vọt, đạt 8.097 tấn, trị gi 5,768 triệu USD tăng129,5% về lượng và tăng 137% về trị gi so với thng 5/2008 Nng tổng lượng xuất khẩu gạo củanước ta sang thị trường này đạt 36.426 tấn, trị gi 20,21 triệu USD tăng 168,4% về lượng và tăng316% về gi

Đặc biệt, thị trường Ba Lan l thị trường cĩ kim ngạch không cao nhưng lại l thị trường cĩ

sự tăng trưởng mạnh nhất với mức tăng 153,9% về lượng v 187,9% về trị gi so với tháng trướcđạt 438 tấn với trị gi 3,6 triệu USD tăng tới 1.099,9% về lượng, tăng 2.218,1% về trị gi so vớicng kỳ năm ngoái

Tiếp đến, xuất khẩu gạo sang thị trường Lituania cũng cĩ mức tăng vọt đạt 1.500 tấn vớitrị gi 1,2 triệu USD, tăng 30,6% về lượng v 49,8% về trị giá Sáu tháng đầu năm xuất khẩu gạosang thị trường này đạt 2.791 tấn với trị gi 1,68 triệu USD tăng 564,5% về lượng và tăng 945,6%

về trị gi so với cng kỳ năm 2007

Tri với xu hướng trn thì xuất khẩu gạo sang thị trường Kenya cĩ mức giảm kh mạnh,giảm 75% về lượng v giảm 68,7% về trị gi so với tháng trước, đạt 500 tấn với trị gi 0,4 triệu

Trang 23

USD Nhưng lại cĩ mức tăng mạnh nhất thị trường trong 6 tháng đầu năm 2008, tăng 1.698,6%

về lượng và tăng 2.589,7% so với cng kỳ năm 2007 đạt 45.414 tấn với trị gi 20,4 triệu USD

*Về chủng loại:

Trong thng 2/2008, xuất khẩu gạo 25% tấm đạt cao nhất và được xuất chủ yếu sang cc thịtrường lớn như Philippin, Indonêsia Cụ thể trong thng 2/2008 xuất khẩu loại gạo này đạt 156nghìn tấn với trị gi gần 64 triệu USD, tăng 68,24% về lượng và tăng 74,04% về trị gi so với thng1/2008

Xuất khẩu gạo 5% tấm tăng mạnh đạt 117 nghìn tấn, trị gi 49,34 triệu USD, tăng 1,33 lần

về lượng và tăng 1,46 lần về trị gi so với tháng trước Đặc biệt tiu thụ gạo loại ny chủ yếu là cácnước châu Phi như Angôla (44 nghìn tấn), Kenya (21,2 nghìn tấn), Tanzania (12,8 nghìn tấn)

b)Những thch thức

Bn cạnh những thnh tựu đ đạt được , Việt Nam cịn phải đối mặt với những thch thức phíatrước, nhất la trong thời điểm Việt Nam mới gia nhập WTO

Thứ nhất: Liệu cĩ duy trì được nguồn cung? Cĩ một thực tế đối với các nước xuất khẩu

gạo l hầu như họ khơng phải lo đầu ra cho sản phẩm vì nhu cầu tiu dng gạo của thế giới ngàycàng cao, trong khi lượng cung luơn thấp hơn nhiều so với cầu

Trước tình hình hiện nay, một số bà con nông dân đ bn ruơng đất, bỏ nghề nơng lm choViệt Nam đang đứng trước tình thế nguồn cung có nguy cơ giảm mạnh Thêm vào đó, một sốchính quyền đia phương ăn hối lộ, sử dụng nhiều biện pháp để cướp lấy ruông đất của b con, quyhoạch để làm sân golf Điếu này đ lm ảnh hưởng khơng ít tới tình hình sản xuất la gạo

Thứ hai: Thch thức về chất lượng v gi thnh Để tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu gạo

thì ngồi việc tăng khối lượng hng xuất, việc cải tiến chất lượng để tăng giá thành là vấn đề hếtsức quan trọng

Trong những năm vừa qua để ph hợp với yu cầu thị trường, chất lượng gạo của Việt Nam

đ được cải thiện một bước đáng kể, loại gạo chất lượng trung bình chiếm tỷ lệ từ 22,4% (năm1996) tăng lên 85% (năm 2003) Loại gạo chất lượng thấp chiếm tỷ lệ 23% giảm xuống cịn 8%.Nhưng so với gạo của Thi Lan thì gạo xuất khẩu của Việt Nam phần lớn cĩ chất lượng trungbình Qua khảo st cho thấy gạo xuất 5% tấm của Việt Nam mới đạt 35%; 15% tấm chiếm 40%;25% tấm chiếm 12%; cc loại khc l 13%

Do chất lượng gạo chưa cao nên giá bán bình qun cc loại gạo xuất khẩu luơn thấp hơn giágạo bình qun của Thi Lan Khoảng cch chnh lệch gi gạo xuất khẩu Việt Nam với Thi Lan loại5% tấm năm 2000 là 40-50USD/tấn, nay tuy cĩ rt ngắn nhưng gạo 5% tấm của ta vẫn thấp hơn từ20- 35USD/tấn so với Thi Lan Cịn so snh bình qun tất cả cc loại gạo xuất khẩu thì hng của taluơn thấp hơn hàng Thái Lan khoảng 12-24 USD/tấn

Thứ ba: Thch thức về thị trường và thương hiệu Gạo Việt Nam được xuất sang nhiều

thị trường với mức độ khc nhau, bao gồm Châu Á 46%; Trung Đông 25%; Châu Phi 12%; Châu

Mỹ 1%; các nước khc 13,5% Ngồi ra Việt Nam cịn xuất sang Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan Phần lớn cc khu vực thị trương này cĩ trình độ tiu dng thấp, khả năng thanh toán hạn chế So vớiThi Lan việc gạo Việt Nam dành được những thị trường tiu thụ cĩ chất lượng tiu dng cao cịn rấthạn chế Nhìn chung việc xuất khẩu gạo của ta vo thị trường cĩ chất lượng tiêu dùng cao đang bịcạnh tranh quyết liệt

Trang 24

Sở dĩ không giành được thị trường tốt ngồi việc chất lượng gạo cịn do chng ta chậmtrong xy dựng thương hiệu Khơng phải chng ta hồn tồn yếu km về chất lượng, chng ta cũng cĩnhiều sản phảm chất lượng cao và độc đáo như gạo thơm, gạo đồ nhưng nhiều người tiu dng thếgiới lại khơng biết đến Họ tưởng chỉ Thi Lan mới cĩ, vì chng ta chưa sớm xy dựng thương hiệucho những mặt hàng độc đáo này.

c) Những hạn chế, khó khăn trong tình hình xuất khẩu gạo của nước ta hiện nay

Năm 2008, thị trường nơng sản vẫn trong thế cung không đủ cầu, nhu cầu của thế giới vềmặt hng gạo vẫn rất lớn Xuất khẩu gạo khơng lo về thị trường, khơng lo bn gi thấp Vấn đề quantrọng l phải chỉ đạo sản xuất tốt để có thêm lượng hng cho xuất khẩu Theo đánh giá thì tình hìnhxuất khẩu gạo đang tiến triển tốt, tuy nhien cc doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải đối mặt với khókhăn về nguồn cung

Trước hết l việc thu mua gạo vẫn gặp nhiều khó khăn do nguồn cung vẫn bị hạn chế bởinhiều yếu tố, gi gạo trong nước tăng cao khiến cho việc thu mua gặp khó khăn Vì vậy, Tổ điềuhnh xuất khẩu gạo cho rằng, khó khăn trong công tác điều hnh v kế hoạch xuất khẩu gạo của DNnăm tới l phải cân đối giữa việc xuất khẩu được nhiều gạo nhưng giá thu mua cũng phải tốtnhưng không quá tác động tới gi cả trong nước Bởi vì, lượng thực l một trong những mặt hàngtăng giá mạnh trong năm góp phần lm cho chỉ số giá tiêu dùng tăng, trong khi đĩ Chính phủ rấtquyết liệt với mục tiu kiềm chế tăng giá nên việc ổn định giá lương thực được ưu tiên

Một khó khăn khác tác động đến hoạt động xuất khẩu gạo năm 2008 là chi phí vậnchuyển đ tăng tới 60-70% Tuy nhiên, giá cước tăng thì cũng phải chấp nhận do gi dầu tăngnhưng nghiêm trọng nhất là DN không thuê được tàu để vận chuyển Điều ny lm giảm hiệu quảxuất khẩu của cc DN do thời gian giao hàng kéo dài, chi phí tăng lên và DN có thể không đảmbảo đơn hàng đ ký với các đối tc

d) Cc giải php cho tình hình xuất khẩu gao hiện nay

Điều hành xuất khẩu cần thận trọng

Các đơn hàng mà DN Việt Nam ký kết vừa qua l thực hiện hợp đồng từ trước cho đếntháng 2 Những hợp đồng mới sẽ được điều tiết theo quy chế xuất khẩu 2008

việc điều hành xuất khẩu gạo năm nay cần hết sức thận trọng và có lưu ý đến việc mấtmùa có thể xảy ra ở miền Bắc (do giá rét) Bộ Công thương đ ln kế hoạch với cc cơng ty lươngthực lớn, như Công ty Lương thực miền Nam, để có kế hoạch điều tiết gạo ra miền Bắc khi cầnthiết

Trong khi đó, Hiệp hội Lương thực dự báo giá gạo cịn tăng cao do nhu cầu tăng mạnhtrên thị trường thế giới Điển hình l cầu gạo từ chu Phi v khu vực Trung Đông (do hạn hán vàdân số tăng) lên cao ngay trong những tháng đầu năm Hơn nữa, theo ông Thông, thời tiết giálạnh không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà cả Trung Quốc cũng mất mùa do giá rét Do vậy, xuhướng lương thực khan hiếm, giá tăng dễ xảy ra Ngoài ra, nguồn cung cũng khan hiếm tại một

số nước xuất khẩu gạo khiến Thái Lan, sau một thời gian đẩy mạnh xuất khẩu, đ phải mở cửa cảkho dự trữ

trong công tác điều hành xuất khẩu gạo, đ cĩ lc Việt Nam thực hiện rất nghim ngặt đểkhống chế số lượng gạo xuất khẩu hàng tháng và hàng quý nhằm đảm bảo an ninh lương thực vàgiá cả trong nước

Trang 25

Điển hình như năm ngoái, khi miền Trung bị lũ lụt, bên cạnh gạo việc xuất gạo dự trữ,

Bộ Công thương đ phải điều chuyển gạo từ miền Nam ra để cân đối thị trường

Do vậy, năm nay, Bộ Công thương đ thống nhất với Bộ NN-PTNT, Hiệp hội Lương thực,một số tỉnh xuất khẩu gạo ĐBSCL đề xuất cơ chế xuất khẩu gạo trình Chính phủ xem xt Nguyntắc chung l điều hành xuất khẩu gạo đề đảm bảo an ninh lương thực, đảm bảo đời sống ngườidân Không để xuất khẩu gạo ảnh hưởng đến giá gạo trong nước Việc xuất khẩu gạo cũng phảicân đối lợi ích 3 nhà: Nhà nước - DN - nhà nông

Hạn chế xuất khẩu để cứu giá

Một khối lượng lương thực thực phẩm khổng lồ được điều tiết hỗ trợ ngành chăn nuôi,cùng với sự chuyển dịch cơ cấu đất trồng và thành phẩm lương thực thực phẩm cho sản xuấtnhiên liệu sinh học (biofuel) thay thế xăng dầu; sự tác động tiêu cực của khí hậu toàn cầu đượccoi là những nguyên nhân chính khiến lương thực thế giới khan hiếm, giá leo thang Giá gạo hiện

đ ở mức cao nhất kể từ năm 1974

Khảo sát của Chương trình Lương thực Thế giới (WFP) cho thấy, đến cuối năm ngoái, 37quốc gia đ lm vo khủng hoảng lương thực, 20 nước khác áp đặt các hình thức kiểm sốt gi thựcphẩm Đây quả là một thảm họa Tổ chức này đang cần 600-700 triệu USD để mua thức ăn cấpbách cho 89 triệu người

Một loạt quốc gia xuất khẩu gạo trên thế giới đ ra quyết định cấm hoặc hạn chế xuất khẩu

để đảm bảo nguồn cung nội địa, góp phần hạ nhiệt giá gạo Mới đây nhất, Chính phủ Ấn Độ, đquyết định cấm xuất khẩu gạo non-basmati để kiểm soát giá lương thực trong nước tăng vọt Giágạo thơm basmati xuất khẩu cũng tăng lên 1.200 USD/tấn nhằm giảm bớt lượng xuất khẩu

Ai Cập ngày 27/3 cũng thông báo sẽ cấm xuất khẩu gạo từ tháng 4 cho tới 10/2008, khi

vụ mới được thu hoạch Quốc gia láng giềng Việt Nam là Campuchia cuối tháng 3 quyết địnhhạn chế xuất khẩu, do hàng ngày, một lượng lớn gạo nước này đ xuất qua bin giới Việt, Thi

Trung Quốc - quốc gia hàng đầu thế giới về sản xuất gạo, một mặt áp đặt hạn ngạchkhống chế và tăng thuế xuất khẩu gạo, mặt khác bỏ thuế nhập khẩu nhóm lương thực cơ bản Lầnthứ 2 trong năm nay nước này tăng mức giá thu mua tối thiểu đối với gạo và lúa mỳ nhằmkhuyến khích nông dân sản xuất lương thực và khống chế tình trạng lạm pht

Tại Việt Nam, Chính phủ đ hạ chỉ tiu xuất khẩu gạo 10 tháng đầu năm nay xuống cịn 3,5triệu tấn, tức sản lượng gạo xuất khẩu giảm 22% so với cùng kỳ năm ngoái Bộ Công thương đgiao Hiệp hội Lương thực điều hành tiến độ xuất khẩu gạo từng quý trong khoảng: quý I/2008 từ700.000-800.000 tấn; quý II từ 1,3-1,5 triệu tấn; quý III từ 1,3-1,4 triệu tấn v quý IV từ 700.000-800.000 tấn

Trong khi đó, Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc (FAO) cho biết, chỉ số giá lương thựctrong năm 2007 đ tăng lên mức kỷ lục, sẽ tiếp tục tăng Nhiều chuyên gia dự đoán, giá gạo thếgiới nhiều khả năng đạt và vượt ngưỡng 1.000 USD/tấn

Việt Nam: Đón đầu cơ hội hay cẩn trọng?

Trong bối cảnh này, các chuyên gia kinh tế cho rằng, bài toán đặt ra đối với các cơ quanđiều hành cũng như DN xuất khẩu gạo đó là: giữ vững sản xuất; ổn định giá gĩp phần quan trọngtrong kiểm sốt tình hình lạm pht; cn đối đảm bảo an ninh lương thực và cung cấp hàng hóa choxuất khẩu

Trang 26

R rng, gi la gạo thế giới tăng là cơ hội để Việt Nam đón đầu xuất khẩu Tổng lượng gạoxuất khẩu quý I năm nay dự kiến đạt gần 800.000 tấn, thu về khoảng 310 triệu USD, chỉ tăng20% về lượng song đạt trên 61% về giá trị.

Tuy nhiên số lượng xuất khẩu gạo hiện chưa có lý do để điều chỉnh Kim ngạch xuấtkhẩu sẽ tăng nhờ giá gạo đang tăng mạnh Nếu chúng ta duy trì được sản lượng thì kim ngạch sẽtăng lên Song, xuất khẩu chỉ là một phần của vấn đề, mà quan trọng là cần cung cấp đủ lươngthực cho nông dân, nhất là vùng thiên tai và vùng khó khăn

Một quan chức Bộ Công thương cũng khuyến co, phải xem xét lượng tiêu dùng trongnước so với xuất khẩu nhiều hay ít Từ đó, cân nhắc số lượng xuất khẩu cĩ gip nng mức sống của75% nơng dn khơng hay lm ảnh hưởng đến 85 triệu người đang sử dụng lương thực?

Trong tình hình giao dịch gạo thế giới khoảng 20 triệu tấn, trong đó, riêng Việt Nam xuấtkhẩu khoảng 1/4-1/5 tổng lượng gạo Trung Quốc cũng như các nước đang đứng trước nỗi lo vềthiếu lương thực nên trong tương lai, cây lúa sẽ là cây chiến lược Ông Hoàn nhận định, bất ổn

về lương thực thì x hội sẽ bất ổn ngay, điển hình như ở Indonesia

Do vậy, tương lai giá gạo có thể sẽ lên tới 1.000 USD/tấn (nay là khoảng 750 USD/tấn)nên với 4-5 triệu tấn gạo xuất khẩu, Việt Nam sẽ thu về nguồn kim ngạch lớn.,

Ở khía cạnh khác, giá một số nông sản như lúa mì, ngơ, đậu tương đang tăng rất nhanhtrên thị trường thế giới mà chúng ta vẫn nghĩ đến việc nhập khẩu, không nhân cơ hội này để pháttriển sản xuất trong nước

nông thôn Việt Nam đang có xu hướng quay trở về độc canh lúa, từ gi việc đa dạng hoásản xuất Chúng ta thiếu các biện pháp để chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, thiếubiện pháp để tăng năng suất lao động Tình trạng ny sẽ dẫn dến nguy cơ mất an ninh lương thực

và thực phẩm như các nước công nghiệp mới Đông Á và Đông Nam Á Dự báo của các tổ chứcquốc tế thì trong thế kỷ XIX thế giới sẽ thiếu lương thực, vậy đây có phải là một thời cơ cho ViệtNam phát triển nông nghiệp không

6 Ngnh gỗ Việt Nam

a) Thực trạng xuất khẩu:

Xuất khẩu đồ gỗ của VN đang trong giai đoạn tăng trưởng nóng Trong 6 năm qua tổnggiá trị kim ngạch tăng gấp 10 lần (năm 2000 chỉ đạt 200 triệu USD, năm 2006 sẽ đạt trên 2,1 tỉUSD), đưa VN vươn lên đứng hàng thứ 4 ở khu vực Đông Nam Á (sau Malaysia, Indonesia,Thái Lan) Các sản phẩm đồ gỗ VN đ được xuất sang bán tại thị trường của 120 nước và vùnglnh thổ trên thế giới, trong đó Mỹ chiếm 20%, EU 28%, Nhật 24%

Chỉ trong vịng 5 năm trở lại đây, kim ngạch xuất khẩu của ngành Gỗ đ tăng gần 10 lần,

từ 219 triệu USD năm 2000 lên 1,57 tỉ USD năm 2005 và dự kiến đạt 2 tỉ USD trong 2006 Nước

ta hiện có tới 2.000 doanh nghiệp (DN) sản xuất, chế biến, kinh doanh mặt hàng gỗ và lâm sản.Sản phẩm gỗ Việt Nam đ cĩ mặt trn thị trường của 120 nước và vùng lnh thổ

Trong cơ cấu các thị trường xuất khấu sản phẩm gỗ chủ yếu của Việt Nam trong tháng7/2008, thì Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt kim ngạch cao nhất của Việt Namvới 97,8 triệu USD, tăng 12,7% sovới tháng trước và chiếm 40% tổng kim ngạch xuất khẩu sảnphẩm gỗ của cả nước trong tháng Tính chung, trong 7 tháng đầu năm 2008, tổng kim ngạch xuấtkhẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam vào thị trường Mỹ đạt 562 triệu USD, tăng 11,4% so với cùng

kỳ năm 2007

Trang 27

Như vậy, sau khi giảm sút trong tháng 4, thì lin tục trong 3 thng gần đây, kim ngạch xuấtkhẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam vào thị trường Mỹ đ tăng trở lại Các mặt hàng sản phẩm gỗxuất khẩu chính vào thị trường Mỹ trong tháng 7 đ tăng trở lại.

Các sản phẩm gỗ xuất khẩu chính vào thị trường Mỹ trong tháng 7 là: đồ nội thất dùngtrong phịng ngủ đạt 41,7 triệu USD; Đồ nội thất dùng trong phịng ngủ đạt 50,1 triệu USD; đồ nộithất dùng trong phịng khch v phịng ăn đạt 19,5 triệu USD; ghế khung gỗ đạt 12,6 triệu USD; đồnội thất dùng trong văn phịng đạt 5,1 triệu USD; gỗ nguyên liệu đ xẻ thanh hoặc vn ghp đạt 1,8triệu USD; đồ nội thất dùng trong nhà bếp đạt 1,8 triệu USD; gỗ mỹ nghệ đạt 1,4 triệu USD…

Kế đến là thị trường Nhật Bản, với kim ngạch xuất khẩu trong tháng 48,5 triệu USD, tănggấp 2 lần so với tháng trước và chiếm 19,8% tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của

cả nước trong tháng Như vậy, sau khi giảm sút trong tháng 6 (giảm 13%), thì sang thgn 7, kimngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam vo thị trường Nhật Bản đ tăng bất ngờ tăng mạnh.Đáng chú ý l sau khi lin tục giảm st trong thng 5 v thng 6, thì sang thng 7 , kim ngạch xuất khẩudăm gỗ của Việt Nam vào thị trường Nhật Bản đ bất ngờ tăng mạnh, đạt 15,1 triệu USD, tăng109,7%, tiếp đến là đồ nội thất dùng trong phịng ngủ, đồ nội thất dùng trong phịng khch v phịng

ăn và đồ nội thất, đồ dùng nhà bếp… xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản trong tháng cũng đồngloạt tăng

Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc trongtháng 7/2008 đạt 13,7 triệu USD, tăng 7% so với tháng trước và chiếm 5,6% tổng kim ngạchxuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của cả nước trong tháng Tính chung, tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ

và sản phẩm gỗ của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc trong 7 tháng đầu năm 2008 đạt 82,8triệu USD, nhưng chỉ tăng 1,1% so với cùng kỳ năm 2007 Các mặt hàng xuất khẩu chính vào thịtrường Trung Quốc trong tháng là: dăm gỗ đạt 10,5 triệu USD; gỗ nguyên liệu đạt 1,9 triệu USD,

đồ nội thất dùng trong phịng khch v phịng ăn đạt 649 nghìn USD, gỗ mỹ nghệ đạt 115 nghìnUSD, ghế khung go đạt 78 nghìn USD, đồ nội thất, đồ dùng nhà bếp đạt 40 nghìn USD…

Trong tháng đầu của năm 2008, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Namtới hầu hết các thị trường chính (trừ thị trường Nhật Bản và Đài Loan) đều tăng, trong đó đángchú ý nhất l xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam vo một số thị trường trong khối EU đ tăng khámạnh, cụ thể là: Xuất khẩu vào thị trường Anh đạt 25,7 triệu USD, tăng 30,18%; Đức đạt 19,9triệu USD, tăng 61,52%; Pháp đạt 17,8 triệu USD, tăng 32,45%; Hà Lan đạt 9,7 triệu USD, tăng55,38%; Italia đạt 7,6 triệu USD, tăng 68,12%; Tây Ban Nha đạt 6,5 triệu USD, tăng 64,52%;Đan Mạch đạt 3,3 triệu USD, tăng 29,78%; Phần Lan đạt 3,2 triệu USD, tăng 34,98%; ThuỵĐiển đạt 3,2 triệu USD, tăng 61,78%; Ai Len đạt 2,8 triệu USD, tăng 32,26%

Trong cơ cấu các thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ chủ yếu trong tháng 1 năm

2008, thì kim ngạch xuất khẩu vo thị trường Mỹ đạt cao nhất với 92,1 triệu USD, tăng 3,4% sovới tháng trước và tăng 18,6% so với cùng kỳ năm 2007 Như vậy, so với tốc độ tăng trưởng31,2% của năm 2006 và 26,9% của năm 2007, thì cĩ thể thấy rằng tốc độ tăng trưởng về kimngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam vào thị trường Mỹ đang chậm lại Các chủng loạisản phẩm gỗ xuất khẩu chính vào thị trường Mỹ trong tháng 1 là: Đồ nội thất dùng trong phịngngủ đạt 46,9 triệu USD; Đồ nội thất dng trong phịng khch đạt 23,1 triệu USD; Ghế và các bộphận của ghế đạt 13 triệu USD; Đồ nội thất, đồ dùng nhà bếp đạt 1,2 triệu USD; Gỗ nguyên liệu,ván, ván sàn đạt triệu USD; Gỗ mỹ nghệ đạt 0,6 triệu USD…

Tiếp đến là thị trường Nhật Bản với kim ngạch xuất khẩu trong tháng 1 năm 2008 đạt29,7 triệu USD, giảm 6,4% so với cùng kỳ năm 2007 và chiếm 10,6% tổng kim ngạch xuất khẩu

Trang 28

gỗ và sản phẩm gỗ của cả nước trong tháng Nguyên nhân chính làm cho kim ngạch xuất khẩu

gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam vào thị trường Nhật Bản trong tháng 1 năm 2008 giảm sút là dotrong tháng, mặ hàng đồ nội thất dùng trong phịng ngủ v gỗ mỹ nghệ của Việt Nam xuất khẩu vothị trường này đ giảm mạnh, cụ thể l kim ngạch xuất khẩu đồ nội thất dùng trong phịng ngủ chỉđạt 5,8 triệu USD, giảm 18,3%; Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng gỗ mỹ nghệ đạt 178 nghìn USD,giảm 78,2% Cc chủng loại sản phẩm gỗ xuất khẩu chính vo thị trường Nhật Bản trong tháng 1là: Dăn gỗ; Đồ nội thất dùng trong phịng ngủ; Đồ nọi thất dùng trong phịng khch v phịng ăn; Đồnội thất văn phịng; Ghế v cc bộ phận của ghế; Đồ nội thất, đồ dùng nhà bếp; Ván, ván sàn, gỗnguyên liệu…

Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ vào thị trường Anh trong tháng 1 năm 2008 đạt25,7 triệu USD, tăng 15,8% so với tháng trước và tăng 30,2% so với tháng 1 năm 2007 Nhưvậy, kể từ tháng 11 năm 2007 đến nay, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Namvào thị trường Anh đ lin tục tăng mạnh Nhìn lại năm 2007, tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm

gỗ của Việt Nam vào thị trường Anh đ tăng 44,6% Do đó, dự báo trong năm 2008, tốc độ tăngtrưởng về kim ngạch xuất khẩu mặt hàng sản phẩm gỗ của Việt Nam vào thị trường Anh đạtkhoảng 30% - 35%

Trong cơ cấu các chủng loại hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam xuất khẩu trongtháng 1 năm 2008, thì kim ngạch xuất khẩu ghế v cc bộ phận của ghế đạt cao nhất với 86,8 triệuUSD, tăng 10,9% so với tháng trước và tăng 46,9% so với cùng kỳ năm 2007 Như vậy, liên tụctrong 3 tháng gần đây, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng ghế và các bộ phận của ghế của Việt Namtăng mạnh, đặc biệt là các loại ghế sử dụng ngoài trời, nguyên nhân chính của sự tăng trưởng này

là do các nhà nhập khẩu đang chuẩn bị hàng để tung ra thị trường vào mùa hè Các thị trườngxuất khẩu chính của Việt Nam trong tháng là: Đức; Mỹ; Pháp; Anh; Hà Lan; Italia; Tây BanNha; Bỉ; Nhật Bản; Phần Lan; Đan Mạch; Hàn Quốc; Ba Lan; Thuỵ Điển; Canada; Hy Lạp; AiLen…

Tiếp đến là đồ nội thất dùng trong phịng khch v phịng ăn, với kim ngạch xuất khẩu trongtháng 1 năm 2008 đạt 67,8 triệu USD, tăng 7,8% so với tháng trước và tăng 26,5% so với cùng

kỳ năm 2007 Các mặt hàng đồ nội thất dùng trong phịng khch v phịng ăn xuất khẩu chủ yếutrong tháng là: Bàn ghế; Tủ; Bàn ăn; Kệ TV; Kệ sách; Tủ buffet; Tủ chén… Các thị trường nhậpkhẩu đồ nội thất dng trong phịng khch v phịng ăn chủ yếu của Việt Nam trong tháng là: Mỹ;Anh; Nhật Bản; Pháp; Đức; Ôxtrâylia; Hà Lan; Hàn Quốc; Italia; Canada; Tây Ban Nha; Bỉ…

Kim ngạch xuất khẩu đồ nội thất dùng trong phịng ngủ của Việt Nam trong thng 1 năm

2008 đạt 64,8 triệu USD, tăng 3,3% so với tháng trước và chiếm 23,1% tổng kim ngạch xuấtkhẩu gỗ và sản phẩm gỗ của cả nước trong tháng Các mặt hàng đồ nội thất dùng trong phịng ngủxuất khẩu chủ yếu trong thng l: Giường và các bộ phận của giường; Tủ các loại; Bàn trang điểm;

Tủ đầu giường; Bàn ghế; Tủ quần áo… Các thị trường nhập khẩu đồ nội thất dùng trong phịngngủ chủ yếu của Việt Nam trong thng l: Mỹ; Nhật Bản; Anh; Canada; Ơxtrylia; Hn Quốc…

b) Những hạn chế khó khăn trong xuất khẩu đồ gỗ

Tuy kim ngạch xuất khẩu sản phẩm thủ công mỹ nghệ chưa lớn, nhưng Cục Xúc tiếnthương mại rất coi trọng tiềm năng của nhóm hàng này, bởi nước ta có truyền thống lâu đời sảnxuất hàng thủ công mỹ nghệ Hiện nay, cả nước có hơn 2.000 làng nghề, thu hút trên 10 triệu laođộng, và khoảng 1.000 doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất khẩu sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Trang 29

Để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, Cục Xúc tiến thương mại đ tổ chức nhiều hội chợtriển lm, cng những chương trình hội thảo, mời cc chuyn gia nước ngoài đến để phổ biến kiếnthức về thị trường, giao thương cho các doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam.

Xuất khẩu hng thủ cơng mỹ nghệ vẫn cịn nhiều khĩ khăn cần giải quyết

Một là, hiện nay, ta vẫn nặng lối tư duy cũ là chỉ bán những sản phẩm mình cĩ, m chưaquan tâm tới nhu cầu của từng nước Để cởi bỏ, doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất cần phải làm

ra những sản phẩm phù hợp thị hiếu người tiêu dùng

Hai là kiến thức về các thị trường nước ngoài vẫn cịn hạn chế

Ba là, rất nhiều nước đang có những sản phẩm cạnh tranh với chúng ta, như Trung Quốc,Thái Lan

Bốn l, trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp quốc tế của các doanh nghiệp trong nước cịnhạn chế

Năm là, đa phần doanh nghiệp cịn nĩng vội, chưa kiên nhẫn trong việc nghiên cứu vàthâm nhập thị trường nước ngoài, nhất là những thị trường khó tính

Sáu là, nguồn cung của chúng ta càng ngày càng khan hiếm Trong những năm qua, uytín của sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam đ tăng cao tại nhiều nước Đặc biệt ở Nhật Bản,đang bùng nổ xu thế sử dụng sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam Đó là nhờ thành quả từnhững hoạt động xúc tiến thương mại

Sau khi VN gia nhập WTO thì cc DN sẽ được giảm thuế nhập khẩu nguyên liệu và xuấtkhẩu thành phẩm từ các đối tác thành viên Tuy nhiên, do các “cường quốc” xuất khẩu đồ gỗ trênthế giới cũng là thành viên WTO nên họ cũng hưởng chính sách thuế ưu đi như DN của VN, vìvậy “vũ khí” ny khơng phải l lợi thế ring của VN

Trong khi nhiều nước tự lực nguồn gỗ nguyên liệu (nhờ trồng rừng tốt) thì VN phải nhậpkhẩu gần như toàn bộ nguyên liệu, cho nên về lâu dài mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu đồ

gỗ có thể tăng cao nhưng hiệu quả kinh tế sẽ giảm sút Mặt khác, do khả năng thiết kế mẫu m kmhơn đối thủ nước ngoài cũng góp phần làm cho ngành xuất khẩu đồ gỗ VN khó cạnh tranh trênthương trường thế giới

Tính đến đầu năm nay, gần 420 nhà sản xuất nước ngoài đ đầu tư hoạt động tại Việt Namtrong lĩnh vực lâm sản, với khoảng 330 triệu USD được thực hiện Nhà đầu tư này chủ yếu đến

từ châu Á (Đài Loan, Singapore, Malaysia, Trung Quốc) và một số nước châu Âu khác Đến nay,hầu hết các dự án đầu tư nước ngoài đều tập trung vào chế biến sản phẩm gỗ từ nguyên liệu nhậpkhẩu

Đồ gỗ có thể bị kiện bán phá giá tại Mỹ

Khả năng phía Mỹ khởi kiện là đến 90%, bởi các nhà sản xuất của Mỹ lên tiếng cho rằng

đồ gỗ nhập khẩu (NK) từ VN đang gây áp lực lên ngành sản xuất đồ gỗ nước họ, khiến nhiều nhàmáy đóng cửa và công nhân không có việc làm

Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệBên cạnh những khó khăn, chúng ta cũng có nhiều lợi thế Chúng ta được thừa hưởng truyềnthống sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ từ lâu đời, đồng thời nhận được sự ưu tiên của Chính phủvới nhiều chính sách thiết thực

Trang 30

Trong những năm qua, uy tín của sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam đ tăng cao tạinhiều nước Đặc biệt ở Nhật Bản, đang bùng nổ xu thế sử dụng sản phẩm thủ công mỹ nghệ củaViệt Nam Đó là nhờ thành quả từ những hoạt động xúc tiến thương mại.

c) Giải php pht triển ngnh gỗ Việt Nam

Các vấn đề về giải quyết nguyên liệu thô cho sản xuất, đào tạo lao động, tiếp cận thịtrường, giảm thuế giá trị gia tăng, áp dụng kỹ thuật công nghệ vào sản xuất bao gồm các giảipháp cụ thể sau:

Thứ nhất là vấn đề nguyên liệu: Nhóm hàng mây tre, lá, cói (chiếm tỉ trọng 30% nhómhàng thủ công mỹ nghệ) có khả năng đẩy mạnh xuất khẩu, mục tiêu năm 2010 đạt khoảng 450triệu USD, tăng 2,5 lần so với năm 2005 (180 triệu USD)

Hiện nay do khai thc bừa bi, thiếu quy hoạch v đầu tư, dẫn đến tình trạng nguồn nguynliệu chính như gỗ, tre, trúc sào, giang, nứa, mây đang dần cạn kiệt Đây là những nguyên liệudịng đời ngắn, dễ trồng, dễ khai thác thu hoạch Vì vậy vấn đề đặt ra phải xây dựng phát triểnnguồn nguyên liệu ổn định, khai thác bền vững và chế biến nguyên liệu thô… Để làm được việc

đó cần:

Khảo st về thực trạng nguyên liệu cho sản xuất hàng thủ công, đặc biệt đối với mây, đấtsét, gỗ, tơ lụa để đánh giá trữ lượng và chất lượng thực tế, đồng thời đánh giá hoạt động khaithác phục vụ sản xuất

Triển khai các chương trình trồng mới v cc chương trình khai thác đối với nguyên liệutrong nước, liên kết giữa các khu vực cung cấp nguyên liệu với khu vực sản xuất trên cơ sở kýkết hợp đồng thu mua… tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hàng Thủ công mỹ nghệ tham giađầu tư, quản lý v trực tiếp khai thc vng nguyn liệu

Hỗ trợ các nhà cung cấp nguyên liệu thô đầu tư vào công nghệ chế biến và kỹ thuật xử lýtin tiến

Khuyến khích đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực chế biến nguyên liệu (gỗ, tre, cói, nhuộmtrong ngành dệt) để thực hiện chuyển giao công nghệ

Thứ hai là vấn đề thuế giá trị gia tăng:

Khi xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, được hoàn thuế giá trị gia tăng (thuế suất 0%).Thủ tục hoàn thuế mất nhiều thời gian và công sức, gây lng phí tiền của x hội, thậm chí l tiu cực.Thuế gi trị gia tăng sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ hiện nay ở mức thuế suát từ 5 đến 10% Đềnghị giảm mức thuế xuống 0% để khuyến khích xuất khẩu hàng thủ công này Lý do hng thủcơng mỹ nghệ sản xuất ra 90% để xuất khẩu, tiêu dùng trong nước không đáng kể, người sảnxuất hầu hết là nông dân nghèo, việc đánh thuế hàng thủ công mỹ nghệ là đánh thuế vào ngườinghèo không khuyến khích sản xuất, đi ngược lại Chủ trương Nhà nước hiện nay đang xem xétgiảm bớt các loại thuế và chi phí cho người dân Thuế suất 0% có thể giảm đi một ít nguồn thungân sách, nhưng được cái lớn hơn là giảm được hộ nghèo vùng sâu vùng xa, nơi mà Nhà nướchàng năm phải chi từ ngân sách cho các dự án xoá đói giảm nghèo…

Thứ ba là vấn đề tiếp cận thị trường và xúc tiến thương mại: Thúc đẩy các doanh nghiệptiếp cận thị trường nước ngoài và tìm biện php thu ht khch hng nước ngoài vào Việt Nam đây lànhiệm vụ chính của doanh nghiệp

Thứ tư là vấn đề đào tạo nguồn nhân lực

Trang 31

Thứ năm là đầu tư kỹ thuật công nghệ mới vào sản xuất, tổ chức liên kết sản xuất.

Thứ su l Thnh lập Hiệp hội ngnh hng thủ cơng mỹ nghệ

Thứ bảy là vấn đề thống kê hàng thủ công mỹ nghệ

Ngoài ra, Hiệp hội Gỗ cần lên phương án chuẩn bị cho khả năng sẽ bị các nhà sản xuất

Mỹ khởi kiện, trong trường hợp này hiệp hội khuyến cáo các DN cần minh bạch về giá cả để đưa

ra các số liệu cần thiết nhằm chứng minh về việc không bán phá giá vào thị trường Mỹ

Nổi lên là dự án đầu tư sản xuất máy in của tập đoàn Canon, đầu tư sản xuất chíp điện tử

và linh kiện máy tính của tập đoàn Intel cùng nhiều dự án đầu tư khác của các công ty vệ tinhcủa những tập đoàn lớn đ cĩ mặt tại Việt Nam

Hiện đối thủ cạnh tranh lớn nhất của các doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực nàychính là Malaysia, Thái Lan và Trung Quốc Tuy nhiên, lợi thế về nhân công đ v đang có sự dịchchuyển từ Malaysia và Thái Lan sang Việt Nam

Tại khu vực ASEAN, nhu cầu nhập khẩu mặt hàng này thời gian gần đây khoảng 25 tỷUSD/năm, trong khi xuất khẩu của Việt Nam vào ASEAN năm qua chỉ chiếm 2,2% kim ngạchnhập khẩu của khu vực này Việt Nam phấn đấu đến 2010 nâng tỷ lệ đó lên trên 5%, đạt kimngạch vượt con số 1 tỷ USD

Tương tự, tuy cũng được đánh giá là thị trường rất lớn nhưng năm 2005, kim ngạch xuấtkhẩu hàng điện tử của Việt Nam vào thị trường Nhật Bản mới chiếm 0,8% kim ngạch nhập khẩucủa nước này Các nhà xuất khẩu Việt Nam có kế hoạch đến năm 2010 sẽ đưa tỷ lệ này lên trên3%, cũng đạt kim ngạch hơn 1 tỷ USD

Riêng thị trường EU, xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2005 mới chiếm 0,03% kimngạch nhập khẩu của khu vực này Ðy l con số qu nhỏ b so với nhu cầu nhập khẩu của EU ln tới

484 tỷ USD/năm Việc gia nhập WTO vào cuối năm nay chính là cơ hội lớn cho hàng điện tử vàlinh kiện máy tính Việt Nam thâm nhập thị trường tiềm năng này Các chuyên gia cho rằng, Ðức

v đặc biệt là các nước thành viên mới của EU như Hungary, Ba Lan, Séc và Slovakia là nhữngthị trường tiềm năng mà các doanh nghiệp Việt Nam cần nhắm tới ngay từ bây giờ

Trong nhiều năm qua, xuất khẩu máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện của nước takhông ngừng tăng mạnh Qua 5 tháng đầu năm 2008, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này đạttrên 1 tỉ USD, tăng 30,95% so với cùng kỳ năm 2007

Như vậy, chỉ trong vịng 6 năm, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này đ tăng khoảng 13lần,t ừ mức 166,07 triệu USD trong năm 2002 lên mức 2,154 tỉ USD vào năm 2007 và khoảng 3

tỉ USD trong năm nay

Trang 32

Máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện của nước ta hiện đ xuất khẩu được tới gần 40 thịtrường Trong đó, kim ngạch xuất khẩu tới khối các nước EU chiếm 17% tổng kim ngạch xuấtkhẩu trong 5 tháng đầu năm 2008, đạt 169,5 triệu USD, tăng 38,66% so với cùng kỳ năm ngoái.Trong đó, kim ngạch xuất khẩu tới thị trường Ba Lan đạt mức tăng trưởng ấn tượng 973,8%, đạt11,12 triệu USD, cao gần gấp 2 lần so với cả năm 2007 Hà Lan nhập khẩu hàng điện tử củanước ta đạt kim ngạch cao nhất, trên 88,8 triệu USD, tăng 72,1% so với cùng kỳ năm 2007 Tiếpđến là Phần Lan, Slôvakia, Ba Lan, Anh

Kim ngạch xuất khẩu tới nhiều thị trường lớn như Thái Lan, Nhật Bản, Trung Quốc trong 5 tháng đầu năm 2008 đều đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn so với năm 2007 Một số thịtrường mới có mức tăng mạnh cần được các doanh nghiệp khai thác như Tiểu vương quốc Ả rậpThống nhất, Ucraina, Nam Phi

Sau khi bị suy giảm khá mạnh trong năm 2007, kim ngạch xuất khẩu tới thị trường Ấn

Độ và Indonesia trong 5 tháng đầu năm 2008 đ bật mạnh trở lại với mức tăng 293,58% và65,21% so với cùng kỳ năm 2007 Dự báo, kim ngạch xuất khẩu hàng điện tử của Việt Namtrong năm 2008 đạt khoảng 3 tỉ USD và là một trong những mặt hàng xuất khẩu chiến lược của

cả nước

Theo định hướng chiến lược phát triển các sản phẩm công nghiệp thì mặt hng điện tử vàlinh kiện máy tính được xếp vào nhóm trọng tâm ưu tiên phát triển trong giai đoạn 2006-2010,với kim ngạch xuất khẩu dự kiến đạt khoảng 5 tỉ USD vào năm 2010

ASEAN tiếp tục là thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam

*Tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang các nước thnh vin ASEAN

Trong 5 năm gần đây (từ 2002 - 2006), tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình qun hng nămcủa Việt Nam sang các nước thành viên ASEAN đều cao Cụ thể: Campuchia: 39,8%/năm;Inđônêxia: 36,1%/năm; Lào: 9,5%/năm; Malaixia: 30,8%/năm; Mianma: 28,8%/năm; Phiippin:20,7%/năm; Xingapo: 9,6%/năm; Thái lan: 28,9%/năm Về cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sangASEAN, có hai mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch và tỷ trọng lớn nhất là dầu thô (thường chiếm

tỷ trọng xung quanh mức 40% năm 2005 lên trên 46,6%), sau đó là gạo (chiếm tỷ trọng trên10%) Các nước nhập khẩu gạo lớn trong ASEAN như Inđônêxia, Philipin, Malaixia đều coi gạo

là mặt hàng đặc biệt quan trọng và thực hiện nhiều biện pháp phi thuế quan để quản lý mặt hng

ny Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam sang ASEAN đạt trên 1 tỷ USD và dựkiến năm 2008 sẽ vẫn duy trì mức ny Do lợi thế về vận tải v nhu cầu gạo phẩm cấp thấp ph hợpvới sản xuất của Việt Nam nn thị trường ASEAN vẫn là thị trường quan trọng trong xuất khẩugạo Việt Nam

Mặt hàng điện tử và linh kiện điện tử hiện nay chủ yếu do các công ty liên doanh tại ViệtNam xuất khẩu sang ASEAN Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này dự tính đạt 950triệu USD, tăng 40% so với năm 2007

Thực hiện Hiệp định CEPT/AFTA, hầu hết thuế suất đối với hàng hóa nhập khẩu của cácnước ASEAN chỉ cịn ở mức từ 0-5% Đây là lợi thế mà các doanh nghiệp Việt Nam có thể sửdụng để đưa hàng hóa của Việt Nam vào các nước trong khu vực Các mặt hàng có kim ngạchxuất khẩu khá lớn khác sang ASEAN là linh kiện điện tử, vi tính, hải sản, hàng dệt may , hầuhết đều được Việt Nam và các nước ASEAN đưa vào trong danh mục IL để thực hiệnCEPT/AFTA từ khá sớm, nhưng kim ngạch xuất khẩu sang các nước ASEAN không ổn định,năm tăng năm giảm

Trang 33

Năm 2010, xuất khẩu hàng điện tử và linh kiện điện tử hướng tới mục tiu 5 tỉ USD Như vậy, chỉ trong vịng 6 năm, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này đ tăng khoảng 13lần,t ừ mức 166,07 triệu USD trong năm 2002 lên mức 2,154 tỉ USD vào năm 2007 và khoảng 3

tỉ USD trong năm nay

Máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện của nước ta hiện đ xuất khẩu được tới gần 40 thịtrường Kim ngạch xuất khẩu tới khối các nước EU chiếm 17% tổng kim ngạch xuất khẩu trong

5 tháng đầu năm 2008, đạt 169,5 triệu USD, tăng 38,66% so với cùng kỳ năm ngoái

Trong đó, kim ngạch xuất khẩu tới thị trường Ba Lan đạt mức tăng trưởng ấn tượng973,8%, đạt 11,12 triệu USD, cao gần gấp 2 lần so với cả năm 2007 Hà Lan nhập khẩu hàngđiện tử của nước ta đạt kim ngạch cao nhất, trên 88,8 triệu USD, tăng 72,1% so với cùng kỳ năm

2007 Tiếp đến là Phần Lan, Slơvakia, Ba Lan, Anh

Kim ngạch xuất khẩu tới nhiều thị trường lớn như Thái Lan, Nhật Bản, Trung Quốc trong 5 tháng đầu năm 2008 đều đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn so với năm 2007 Một số thịtrường mới có mức tăng mạnh cần được các doanh nghiệp khai thác như Tiểu vương quốc Ả rậpThống nhất, Ucraina, Nam Phi

Sau khi bị suy giảm khá mạnh trong năm 2007, kim ngạch xuất khẩu tới thị trường Ấn

Độ và Indonesia trong 5 tháng đầu năm 2008 đ bật mạnh trở lại với mức tăng 293,58% và65,21% so với cùng kỳ năm 2007 Dự báo, kim ngạch xuất khẩu hàng điện tử của Việt Namtrong năm 2008 đạt khoảng 3 tỉ USD và là một trong những mặt hàng xuất khẩu chiến lược của

cả nước

Theo định hướng chiến lược phát triển các sản phẩm công nghiệp thì mặt hng điện tử vàlinh kiện máy tính được xếp vào nhóm trọng tâm ưu tiên phát triển trong giai đoạn 2006-2010,với kim ngạch xuất khẩu dự kiến đạt khoảng 5 tỉ USD vào năm 2010

Như vậy, để đạt được mục tiêu này, cơ cấu của ngành cần được thay đổi cho phù hợp với

sở trường của Việt Nam và thích ứng một cách tốt nhất với môi trường hội nhập sâu rộng Theo

đó, sẽ tiến hành chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng phát triển điện tử chuyên dùng, baogồm sản xuất sản phẩm, linh kiện, phụ tùng và sản phẩm phụ trợ cho các lĩnh vực tin học, viễnthông, điện tử y tế, điện tử công nghiệp, cơ điện tử, đo lường, tự động hoá

Đối với các sản phẩm điện tử chuyên dùng và phụ tùng linh kiện, các doanh nghiệp cần

có biện pháp nâng cao chất lượng, tăng cường tính năng sản phẩm để đạt được giá trị gia tăngcao Nhóm sản phẩm điện tử dân dụng sẽ áp dụng các biện pháp để nâng cao chất lượng sảnphẩm, giảm giá thành, cải thiện mẫu m để tăng thị phần và thị trường trong nước

Bảng thống k kim ngạch xuất khẩu mặt hàng điện tử của Việt Nam

qua các năm 2000 - 2007

Triệu đôla Mỹ

Tổng số 14482,7 15029,2 16706,1 20149,3 26485,0 32447,1 39826,2 48561,4 Hàng

điện tử 4903,1 5368,3 6785,7 8597,3 10870,8 13293,4 16389,6 27775,7

Cơ cấu %

Ngày đăng: 12/12/2013, 23:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống k kim ngạch xuất khẩu mặt hàng điện tử của Việt Nam - Tài liệu Thực trạng xuất khẩu 10 ngành chủ lực của Việt Nam giai đoạn 2001- 2007 docx
Bảng th ống k kim ngạch xuất khẩu mặt hàng điện tử của Việt Nam (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w