Học thuyết của Khổng Tử được gọi là học thuyết chính trị - đạo đức.Những vấn đề cơ bản của chính trị được bàn đến ở đây như: quyền lực, banggiao, phẩm chất của người cai trị… Khổng Tử và
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ NHO GIA VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TỚI ĐỜI
SỐNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nói đến nền văn minh cổ đại Trung Quốc thì quả là rộng lớn Biết baonhiêu hệ tư tưởng xuất hiện và tồn tại mãi cho đến ngày nay Từ thuyết âmdương ngũ hành, học thuyết của Khổng Tử, Lão tử… Thế nhưng trong các họcthuyết ấy, không ai có thể chối cãi được rằng học thuyết Nho gia Nhà ngườiphát khởi phát là Khổng tử là có vị trí quan trọng hơn hết trong lịch sử pháttriển của Trung Quốc nói chung và các nước Đông Nam Á nói riêng Kể từ lúcxuất hiện từ vài thế kỷ trước công nguyên cho đến thời nhà Hán (Hán Vũ Đế)Nho giáo đã chính thức trở thành hệ tư tưởng độc tôn và luôn luôn giữ vị trí đócho đến ngày cuối cùng của chế độ phong kiến Điều đó đã minh chứng rõ ràng:Nho giáo hẳn phải có những giá trị tích cực đặc biệt, nếu không sao nó có thể cósức sống mạnh mẽ đến như vậy Ở mỗi thời kỳ lịch sử, Nho giáo được bổ sungthêm những giá trị mới phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền, với thời đại.Chính vì lẽ đó mà Nho giáo vẫn có sức sống “trường tồn” cùng với sự phát triểncủa các quốc gia
Ở Việt Nam đã có những thời kỳ tư tưởng chính trị Nho gia sơ kỳ đóngvai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội Nho gia đã hòa cùng với vănhóa, tín ngưỡng dân tộc và các tôn giáo khác để tham gia xây dựng giá trị nềntảng tinh thần cho cộng đồng, điều chỉnh các hoạt động xã hội Đồng thời Nhogiáo cũng có tác động nhiều chiều đến việc tiếp thu các giá trị mới tiến bộ.Trong những năm qua, công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởixướng và lãnh đạo đã mang lại nhiều thành tựu quan trọng Đất nước đã thoátkhỏi tình trạng nước nghèo để bước vào vị thế mới: nước có thu nhập trungbình Song hành với quá trình phát triển của đất nước, Nho gia đã có sự tác
Trang 3động tích cực nhất định đến mọi mặt của đời sống xã hội như: kinh tế, chính trị,văn hoá, giáo dục… Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực đó thì hàngloạt những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng chính trị Nho gia sơ kỳ cản trở đến
sự phát triển xã hội như bệnh bảo thủ, tính gia trưởng, Bởi vậy cần xem xét kỹ
và đưa ra những góp ý nhằm phát triển những tác động tích cực phù hợp vớihoàn cảnh Việt Nam hiện nay đồng thời có những giải pháp nhằm hạn chếnhững tác động tiêu cực
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ NHOGIA VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TỚI ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI VIỆTNAM HIỆN NAY” làm bài tiểu luận của mình
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Bài tiểu luận khái quát làm rõ nguồn gốc ra đời, quá trình phát triển vànhững tư tưởng chính trị cơ bản của Nho giáo
- Sự du nhập Nho giáo vào Việt Nam cùng những ảnh hưởng của tư tưởngchính trị Nho giáo với đời sống chính trị - xã hội nước ta
- Trên cơ sở chỉ ra những hạn chế của Nho giáo với đời sống chính trị - xãhội ở Việt Nam, đồng thời xây dựng những giải pháp cơ bản nhằm nângcao những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực của Nhogiáo
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng tượng nghiên cứu
Trang 4Tư tưởng chính trị Nho gia sơ kỳ và sự ảnh hưởng của nó ở Việt Namhiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Tiểu luận chỉ tập trung làm rõ tư tưởng chính trị Nho gia sơ kỳ được dunhập vào Việt Nam, những ảnh hưởng của nó đối với đời sống chính trị - xã hộicủa Việt Nam hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Tiểu luận được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
-về nhìn nhận, đánh giá những tư tưởng chính trị cơ bản của Nho gia
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp cụ thể chủ yếu được sử dụng trong luận văn là: lịch sử vàlogic; phân tích và tổng hợp, phương pháp quan sát xã hội…
5 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
5.1 Ý nghĩa lý luận
Tiểu luận góp phần làm rõ nội dung tư tưởng chính trị Nho giáo sơ kỳ vànhững tác động của nó đối với đời sống chính trị - xã hội của Việt Nam hiệnnay
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Từ đề tài này người thực hiện có thể khái quát hơn những kiến thức về tưtưởng chính trị Nho gia sơ kỳ và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống ViệtNam hiện nay
6 Cấu trúc tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luận gồm
3 chương, 14 tiết
Trang 5NỘI DUNGCHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ NHO GIA
1.1 Hoàn cảnh ra đời của tư tưởng chính trị Nho gia
Trung Quốc cổ đại có một nền văn minh ra đời rất sớm so với các khuvực trên thế giới Từ thế kỷ XXI TCN (Trước công nguyên), ở lưu vực châu thổHoàng Hà đã chứng kiện sự xuất hiện và kế tiếp nhau của các triều đại (Tamđại) là: Hạ, Ân (Thương) và Chu
Tới thế kỷ XII TCN tộc Chu từ Tây Bắc men theo dòng Hoàng Hà tiếnvào đất nhà Ân tiêu diệt triều đại của vua Trụ tàn bạo, hoang dâm lập nên nhàChu gồm Tây Chu (1135 - 771 TCN) và Đông Chu (711 - 221 TCN) Đặc biệtthời Đông Chu gồm Xuân Thu (711 - 481 TCN) và Chiến Quốc (481 - 221TCN)
Thời Tây Chu có những đặc điểm cơ bản sau: Lực lượng sản xuất pháttriển, đồ sắt đã xuất hiện góp phần đưa năng suất lao động lên cao Nhà Chuthực hiện chế độ quốc hữu về tư liệu sản xuất (ruộng đất) và sức lao động.Ruộng đất và nhân dân đều thuộc quyền quản lý của vua nhà Chu Với cáchphân chia ruộng đất thì cả quý tộc ở trên và nông nô ở dưới đều có nguồn thu vàphương tiện sinh sống Đây là phương thức phân chia tổng sản phẩm xã hội độcđáo và là chính sách phù hợp để đảm bảo cho xã hội duy trì ổn định trật tự NhàChu đã chính trị hoá tư tưởng kính trời, thờ thượng đế, hợp mệnh trời Nhà Chucho rằng: nhà Ân không hợp mệnh trời do không biết mệnh trời nên thượng đếkhông còn ưa nhà Ân nữa mà ban mệnh xuống cho nhà Chu được “nhận dân,nhận cõi” do đó con cháu nhà Chu phải dốc tâm gìn giữ Tầng lớp quý tộc Chuđược đề cao, vua Chu là thiên tử, là Hạ đế (trời là thượng đế) Nhà Chu tồn tại
là hợp mệnh trời, do đó tầng lớp quý tộc Chu có thể “nhận dân, trị dân và hưởngdân”, nếu kẻ “làm dân” mà làm loạn thì kẻ được “hưởng dân” sẽ phải dùng cácphép “không phải đạo thường” mà chém giết, cai trị Gần như cả thời Xuân Thu
Trang 6“chư hầu trở thành lãnh chúa, các đức quân trong đó có những kẻ trội lên trởthành bá” Khắp thiên hạ, các nước chư hầu gây chiến tranh liên miên vô cùngtàn khốc nhằm thôn tính, tranh giành địa vị của nhau, khiến cho người thời đóthan rằng: “Khắp thiên hạ đều loạn lạc như nước đổ cuồn cuộn Làm thế nàocho thiên hạ trị?” Cảnh tôi giết vua, con hại cha, anh em vợ chồng chia lìa nhauthường xuyên xảy ra Thiên hạ trở nên “vô đạo”, trật tự lễ nghĩa, cương thườngcủa xã hội bị đảo lộn
Đến đời Bình Vương (771 TCN) do bị giặc dã quấy phá, nhà Chu dời đôtới Lạc Ấp, thuộc phía Đông Trung Quốc (nay thuộc Lạc Dương, tỉnh Hà Nam).Lúc này Trung Quốc bước vào thời kỳ lịch sử đặc biệt do những biến đổi lớnlao về mọi mặt của đời sống xã hội - thời Xuân Thu - Chiến Quốc (771 - 221TCN)
Thời kỳ Đông Chu trước hết là thời Xuân Thu với sự xuất hiện phổ biếncủa đồ sắt đã thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển mạnh mẽ Ngoài ra còn tạođiều kiện cho việc khai khẩn đất hoang, phát triển kỹ thuật canh tác, dẫn thủynhập điền, sử dụng súc vật làm sức kéo trong nông nghiệp Những tiến bộ đó lạithúc đẩy cho việc khai khẩn đất hoang, ngăn lụt chống hạn, giao thông vận tải…
và góp phần nâng cao năng suất lao động nông nghiệp Thủ công nghiệp cũngrất phát triển với những kỹ thuật như đúc thau, làm mộc, làm muối… Một sốnghề mới xuất hiện như luyện sắt, luyện sơn, luyện gang thép Thương nghiệp
ra đời và phát triển, xuất hiện những thành thị buôn bán nhộn nhịp ở Hàn, Tề,Tần, Sở…
Tuy nhiên, kết cấu giai cấp, tầng lớp trong xã hội đã thay đổi Nếu trướckia đất đai là của vua Chu thì nay bị một tầng lớp mới lên (thương nhân) có tiềnmua và xác lập quyền sở hữu Nhà Chu dần dần mất nước, mất dân, địa vị xãhội lại ngày càng sa sút, địa vị chính trị cũng gặp khủng hoảng Sự phân biệt xãhội căn cứ theo số lượng tài sản bởi vậy những thương nhân giàu có, có địa vịkinh tế cũng đòi hỏi địa vị chính trị Vua Chu tồn tại chỉ mang tính chất là hìnhthức, các nước chư hầu không còn phục tùng nhà Chu mà thôn tính lẫn nhau
Trang 7lịch sử gọi thời này là: Vương đạo suy vi, bá đạo lấn át vương đạo Chiến tranhdiễn ra liên miên khiến cho nhân dân đau khổ, đói kém, chia ly
Tới cuối thời Chiến Quốc, chiến tranh loạn lạc, ruộng đất bỏ hoang, có kẻquá đói đổi con cho nhau mà ăn thịt Xã hội đại loạn có nhiều mâu thuẫn đanxen thực chất báo hiệu chế độ chiếm hữu nô lệ đã đến lúc khủng hoảng và cầnđược thay thế Hoàn cảnh lịch sử Đông Chu rối ren, loạn lạc, xáo trộn cái cũ vớicái mới, cái tụt xuống với cái trồi lên như vậy chính là hoàn cảnh lịch sử thúcđẩy và chứng kiến sự ra đời của nhiều trường phái cùng với tầng lớp tri thức
Đó là các nhà tư tưởng đã đứng trên các lập trường giai cấp của mình để giảiquyết những vấn đề do lịch sử đặt ra Thời kỳ này Trung Quốc nổi lên trên 100trường phái, trong rất nhiều nhà đó, tiêu biểu có thể nói tới Nho gia
Hệ tư tưởng chính trị Nho gia được thể hiện một cách cơ bản, có hệ thống
tư tưởng của người khởi xướng - Khổng Tử Có thể nói Nho gia chiếm vị trí rấtquan trọng trong chính trị, xã hội Trung Quốc lúc đó
1.2 Các nhà tư tưởng chính trị tiêu biểu
Hệ tư tưởng chính trị Nho gia được thể hiện một cách cơ bản mà ngườikhởi xướng là Khổng Tử Những nhà Nho khác cũng từ đó mà cụ thể hóa vàphát triển theo những hướng, cách nhìn khác nhau, tiêu biểu là Mạnh Tử vàTuân Tử
1.2.1 Khổng Tử
Khổng Tử (551 - 479 TCN), tên là Khâu, tự Trọng Ni, sinh ra ở nước Lỗ,trong một gia đình quý tộc nhỏ bị sa sút Quê hương nước Lỗ của Khổng Tử lànơi trụ cột, nơi bảo tồn được nhiều di sản văn hóa cũ của nhà Chu Như trên đãnói, thời đại của Khổng Tử là thời đại "Vương đạo suy vi", "Bá đạo" đang nổilên lấn át "Vương đạo" của nhà Chu; trật tự lễ pháp cũ của nhà Chu đang bị đảolộn, như ông than rằng "vua không phải đạo vua, tôi không phải đạo tôi, chakhông phải đạo cha, con không phải đạo con" Đứng trên lập trường của bộphận cấp tiến trong giai cấp quý tộc Chu, ông chủ trương lập lại pháp chế kỷ
Trang 8cương của nhà Chu, với một nội dung mới cho phù hợp Ông lập ra học thuyết,
mở trường dạy học, đi chu du các nơi trong nước, tranh luận với các phái khác
để tuyên truyền lý tưởng của mình, nhằm phục vụ mục đích trên
Khổng Tử nhiều lần đi sang các nước khác mong muốn áp dụng họcthuyết của mình vào việc trị nước, nhưng không được xã hội trọng dụng Sau 14năm du thuyết không thành, ông quay về nước Lỗ viết sách và dạy học, học tròtheo học rất đông trong đó có 72 học trò giỏi (thất thập nhị hiền), sau này đã cónhiều học trò và thế hệ học trò tiếp tục sự nghiệp Nho học mà thầy là người cócông tập đại thành
Kinh điển của Nho giáo bao gồm Tứ thư và Ngũ kinh: Tứ thư gồm bốncuốn sách:
Luận ngữ là cuốn sách được học trò tập hợp lời nói, lời dạy của Khổng
Tử về đức của người quân tử
Đại học do Tăng Tử (Tăng Sâm - học trò của Khổng Tử) viết Trên cơ sởnhững lời thầy dạy, Tăng Tử viết thành cuốn Đại học Đại học là cuốn sách dạylục nghệ: lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số
Trung dung do Tử Tư (Tử Cấp - cháu nội Khổng Tử, học trò của TăngTử) viết Mạnh Tử do Mạnh Tử hay còn gọi Mạnh Kha (Mạnh Kha là học tròcủa Tử Tư) viết bổ sung thêm những giá trị mới cho Nho giáo
Ngũ kinh đây là tập sách do Khổng Tử sưu tập, chỉnh lý và bổ sungnhững thư tịch cổ biên tập thành sáu bộ sách gồm:
Thi: Những bài thơ tồn tại trong dân gian về tình yêu đôi lứa được Khổng
Tử sưu tập;
Thư: Sách ghi lại truyền thuyết về những đời vua trước kia Trong Thư,Khổng Tử nêu gương Nghiêu, Thuấn và phê bình Kiệt, Trụ;
Dịch: Kinh dịch bàn về âm dương, bát quái;
Lễ: Sách ghi chép các lễ nghi, các quy định;
Xuân Thu: Khổng Tử chép sử ở nước lỗ hai mùa Xuân
Trang 9Học thuyết của Khổng Tử được gọi là học thuyết chính trị - đạo đức.Những vấn đề cơ bản của chính trị được bàn đến ở đây như: quyền lực, banggiao, phẩm chất của người cai trị…
Khổng Tử và các nhà Nho nói chung đều có hoài bão xây dựng một chế
độ xã hội phong kiến có kỷ cương, nề nếp, thanh bình thịnh trị, đất nước có vuathánh tôi hiền, dân an cư lạc nghiệp, đất nước thanh bình thịnh trị, vua có đạođức, có trí tuệ, biết dùng người Xã hội đó lấy gia đình làm cơ sở, trọng hiếu đễ,yêu trẻ, kính già, ai nấy đều trọng tình cảm và công bằng, không ai nghèo quácũng không ai giàu quá Được như vậy thì các giai cấp hòa hợp với nhau, trênkhông hiếp dưới, dưới không oán trên Để thực hiện lý tưởng chính trị củamình, ông xây dựng nên học thuyết Nhân – Lễ - Chính danh Đây là ba phạmtrù quan trọng nhất trong toàn bộ học thuyết của Khổng Tử
Đạo “Nhân” là phương pháp cai trị được Khổng Tử tiếp cận từ quan niệm
về phẩm chất người cai trị, nếu theo điều nhân sẽ tập hợp được dân và dễ saikhiến dân Học thuyết của Khổng Tử lấy đạo nhân làm gốc (nhân là nhân đạo,
là ái nhân) lấy hiếu đễ, lễ nhạc làm cơ bản cho sự giáo hoá, để gây thành đạonhân Khổng Tử cho rằng: “Nhân đạo mẫn chính, địa đạo mẫn thụ Phù chínhgiả dã, bồ lư giã Cố vi chính trị nhân; thủ nhân dĩ thân, tu thân dĩ đạo, tu đạo dĩnhân: cái nhanh thành hiệu của đạo người là việc chính trị, cái nhanh thành hiệucủa đạo đất là sự mọc cây cối Việc chính trị cũng như cây lau cây sậy vậy Chonên làm việc chính trị cốt ở dùng người hiền; sửa mình mà dùng người hiền, lấyđạo mà sửa mình, lấy nhân mà sửa đạo”
Thời đại Khổng Tử là thời mà theo ông “Lễ nhạc hư hỏng”, cần phải khôiphục lại “Lễ” Ông cho rằng, “Lễ” quy định danh phận thứ bậc người trong xãhội “Lễ” mà Khổng Tử nói ở đây là những lễ nghi, quy phạm đạo đức thời TâyChu, tức là Lễ nhà Chu Chuẩn mực ứng xử mang tính hình thức trong xã hộinói chung, chính trị nói riêng Khi thực hiện quan hệ, mọi người phải tuân theo
“lễ” Và chỉ có tuân theo “lễ”, xã hội mới trật tự, thực hiện được cai trị vươngđạo Khổng Tử đề cao “lễ” đến mức “nếu hiểu rõ giá trị của lễ giao (tế trời) thì
Trang 10việc trị nước như ngửa bàn tay ra xem vậy”; hoặc “biết dùng lễ thì cai trị khógì”; “bề trên thích lễ thì dễ sai khiến dân”
Theo Khổng Tử, Lễ quan trọng trong việc cai trị vì các lý do sau: Thứnhất, Lễ quy định danh phận thứ bậc người trong xã hội; Thứ hai, Lễ có tácdụng điều chỉnh hành vi con người trong quan hệ ứng xử, “không học lễ, không
có gì làm chỗ dựa; Thứ ba, Lễ có tác dụng hình thành thói quen đạo đức, ví dụnhư “cho cha mẹ ăn phải cung kính Nếu không cung kính thì không khác nàocho chó, ngựa ăn” Cung kính dần thành thói quen ứng xử
Lễ bao gồm hai nội dung cơ bản là tam cương và Ngũ luân Tam cương
là ba quan hệ cơ bản, rường cột trong xã hội: Quân - Thần (vua - tôi); Phụ - Tử(cha - con); Phu - Thê (chồng - vợ); Trong đó thần đối với quân phải Trung; conđối với cha phải Hiếu; Vợ đối với chồng phải Tiết hạnh Ngũ luân là Tamcương được Khổng Tử mở rộng thêm hai quan hệ nữa là: Trưởng - Ấu (anh -em); Bằng - Hữu (bạn bè); Trong đó Trưởng - Ấu phải Thuận, Bằng -Hữu phảiTín Tam cương và Ngũ luân là những quan hệ cơ bản để điều chỉnh các hoạtđộng xã hội Bản thân Khổng Tử là người giữ nghiêm Lễ Ông bỏ vua Lỗ ĐịnhCông mà đi, vì vua Lỗ không thực hiện đúng Lễ, mặc dù ông đang giữ chức Đại
Tư khấu
Quan niệm về “Chính danh”: Chính danh là danh phận đúng đắn, ngaythẳng là phạm trù cơ bản của Khổng Tử trong thuyết chính trị phải xác địnhđẳng cấp vị trí của từng cá nhân từng lớp trong xã hội Danh phải phù hợp vớithực, nội dung phải phù hợp với hình thức Phải đặt con người vào đúng vị trí,chức năng, phải xác minh danh tính trước khi có thực
“Chính danh” tư tưởng phân biệt và duy trì đẳng cấp (quý tộc lãnh đạo).Xác định và duy trì đẳng cấp trong xã hội, ai ở vị trí nào thì phải làm tròn bổnphận ở vị trí ấy: “quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử” không được việt vị (bấtviệt vị) Danh phải đi đôi với thực (nói phải đi đôi với làm)
Khổng Tử khẳng định: chỉ nào thu phục được lòng dân thì mới có quốcgia hưng thịnh Chủ trương dùng ”Nhân”, “Lễ”, “Chính danh”, nêu gương và
Trang 11noi theo điều nhằm thu phục lòng dân Bên cạnh đó Khổng Tử còn nêu nhữngvấn đề khác có liên quan đến việc cai trị như xây dựng hình mẫu con người lítưởng, người quân tử; phương pháp rèn luyện đạo đức con người, giáo hóa dân.
Và thấy rằng, lý tưởng chính trị của Khổng Tử có giá trị nhân đạo caonhưng trong thực tế tư tưởng đó không phù hợp với bản chất chế độ phong kiếntrừ nội dung ông coi trọng quan hệ chủ yếu của chính thể phong kiến với nhữngquan hệ cốt lõi như vua - tôi; cha - con; vợ - chồng…
1.2.2 Mạnh Tử
Mạnh Tử tên là Mạnh Kha, người nước Lỗ Ông là học trò của KhổngCấp (cháu nội Khổng Tử, Khổng Cấp là học trò của Tăng Sâm, Tăng Sâm làhọc trò của Khổng Tử) Lên 3 tuổi, cha mất, Mạnh Tử được mẹ hiền nuôi dạy
và hướng theo học đạo của Khổng Tử Ông có tài hùng biện, thường đi cácnước: Lương, Tống, Tề, Đằng để thuyết phục vua các nước theo đạo thánhnhân Nhưng các nước chỉ lo chiến tranh, không lo nhân nghĩa nên đạo của ôngkhông được thi hành, bản thân ông không được trọng dụng
Cũng như Khổng Tử, Mạnh Tử ít bàn đến cách thức tổ chức thể chế chínhtrị mà thường bàn nhiều về phương pháp cai trị Ông thường lên án “bá đạo”(cai trị bằng bạo lực, làm bá chủ chư hầu), ca ngợi lựa chọn “vương đạo” để caitrị (cai trị bằng đạo đức) Ông chủ trương theo các đời vua Nghiêu, vua Thuấn,vua Vũ Mạnh Tử lý giải nguồn gốc quyền lực mang tính duy tâm thần bí với bayếu tố: ý trời - lòng dân - nhân đức Theo ông ba yếu tố này có quan hệ vớinhau Theo ông, sở dĩ các vua: Nghiêu, Thuấn, Thang, Vũ trở thành thiên tử là
do ý trời Trời trao ngôi thiên tử cho người đức hạnh, nhưng trao một cáchngấm ngầm, bí mật mà biểu hiện bề ngoài là lòng dân Theo ông ngôi thiên tửkhi lòng dân thuận, là trời đã trao, lòng dân không thuận, là trời không ưng vàkhi đó trời mượn tay người mà trừ bỏ ngôi thiên tử
Trong mối quan hệ quyền lực ý trời - lòng dân - nhân đức, Mạnh Tử lậpluận: muốn giành, giữ ngôi thiên tử, thì phải nhân đức; nhân đức mới được lòng
Trang 12dân; được lòng dân sẽ thuận ý trời Do đó, ông bàn nhiều về vua nhân đức, vớinhững yêu cầu cụ thể về phẩm chất đạo đức, phương pháp cai trị để thu phụclòng dân: “vui cái vui của thiên hạ, lo cái lo của thiên hạ”, biết chọn lựa và sửdụng nhân tài; tiêu dùng tiết kiệm, theo “lễ” , nhưng điều quan trọng nhất vẫn
là được lòng dân Muốn vậy, trước hết phải hiểu dân Mạnh Tử cho rằng, conngười vốn có tính thiện, đều có nhân, lễ, trí, nghĩa, nguồn gốc từ cái tâm vốn cólương tri, lương năng Nhưng do cai trị không khéo, để dân đói khổ, cùngđường, đi làm trộm cướp mà trở thành ác Người cai trị không hiểu điều đó, chờlúc họ phạm tội mới dùng hình để phạt thì cách cai trị như vậy là chăng lưới đểbắt dân
Học thuyết “nhân chính” của Mạnh Tử có nhiều nhân tố tiến bộ hơn sovới Khổng Tử Tuy vẫn đứng trên lập trường của giai cấp thống trị, nhưng ông
đã nhìn thấy được sức mạnh của nhân dân, chủ trương thi hành nhân chính,vương đạo Tuy nhiên, điểm hạn chế của ông là còn tin vào mệnh trời và tínhthần bí trong lý giải vấn đề quyền lực Trước hết là thuyết tính thiện, TheoMạnh Tử, bản tính tự nhiên của con người là thiện (nhân tri sơ tính bản thiện).Con người có lòng trắc ẩn thì tự nhiên có lòng tu ố, từ nhượng, thị phi lòng trắc
ẩn là nhân, lòng tu ố là nghĩa, lòng từ nhựa là lễ, lòng thị phi là trí
Quan niệm về Vua - Tôi - Dân, Mạnh Tử cho rằng dân có thể thay trời đểlật vua Ông cho rằng: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh: dân quý nhất,
xã tắc thứ hai, vua là nhẹ nhất” (Cáo Tử, hạ) Có dân mới có nước, có nước mới
có vua Nghĩa vụ của người làm vua là phải giữ gìn hạnh phúc của dân Nếungười làm vua mà không hiểu rõ nghĩa vụ ấy là làm việc trái lòng dân, tức làtrái mệnh Trời Và trái mệnh trời có thể thay Ông nói trong lịch sử là ta giết làgiết thằng Trụ, thằng Kiệt chứ không phải giết vua, Trụ, Kiệt bị thay là dokhông hợp mệnh trời Theo Mạnh Tử, quan hệ vua tôi đã bớt đi tính hà khắc,một chiều Ông cho rằng vua coi bề tôi như thế nào thì bề tôi cũng có cách xử
sự tương ứng: “Vua coi bề tôi như chân tay, bề tôi coi vua như ruột thịt; vua coi
bề tôi như chó ngựa, bề tôi coi vua như người dưng; vua coi bề tôi như cỏ rác,
Trang 13bề tôi coi vua như thù địch” Bề tôi có thể bỏ vua mà đi nếu vua không nghe lờican gián đúng Hoặc bề tôi có thể giết vua bạo ngược như Kiệt, Trụ mà không
có tội, mà đó là thay trời hành đạo Mạnh Tử là người đầu tiên đưa ra luận điểmtôn trọng dân Tuy nhiên tư tưởng coi trọng dân chỉ là thủ đoạn chính trị đểthống trị tốt hơn mà thôi Trong điều kiện chế độ quân chủ, những quan niệmdân chủ của Mạnh Tử đưa ra dẫu không thực hiện được, nhưng đó là nhữngquan niệm tiến bộ
Trong điều kiện chế độ quân chủ, những quan niệm dân chủ của Mạnh Tửđưa ra dẫu không thực hiện được, nhưng đó là những quan niệm tiến bộ Ngoài
ra, Mạnh Tử còn nêu ra những vấn đề chính trị khác như tổ chức thể chế chínhtrị thời Tây Chu; quan hệ bang giao hợp mệnh trời giữa nước lớn và nước nhỏ Sau Mạnh Tử, Nho giáo bị đứt đoạn một thời gian Một thời gian sau đó Tuân
Tử tiếp thu và phát triển Nho giáo theo một hướng khác Những vấn đề chính trịđược luận giải thêm những nội dung mới
Chính trị là việc của người, ông cho rằng, chính trị là lĩnh vực của conngười “Trời có 4 mùa, đất có sản vật, người có việc trị của người” Trong việcchính trị, trời không chi phối việc của người, người chỉ vận dụng tự nhiên, xãhội để làm việc của mình Trời vận hành bình thường, không vì Nghiêu (tốt) màgiữ lại, không vì Kiệt (xấu) mà trừ bỏ Người ứng phó có trị thì lành, có loạn thìhung Vua là người đứng đầu chính thể nên việc “trị, loạn” trước hết là do vua
Trang 14Bản tính người: “Nhân chi sơ tính bản ác”: Con người sinh ra vốn dĩ là
ác, có được thiện là do quá trình bồi dưỡng, giáo dục mà có Ông cho rằng, conngười khi sinh ra có đầy đủ dục vọng như ham lợi, ham sắc,… Nếu như conngười cứ phát triển theo dục vọng thì mối quan hệ giữa người và người sẽ phátsinh ra tranh đấu và tạo nên một xã hội hỗn loạn, do đó mới cần phải có “lễ” đểđiều chỉnh, sửa đổi bản tính ác của con người Tuy nhiên, ông lại tin rằng chỉ cógiới tinh hoa mới làm được điều này
Theo Tuân Tử, “ác” trong sự đối lập với sự “thiện”: “xưa nay, thiên hạgọi là thiện những gì hợp với sự “chính lí bình trị” gọi là ác những gì hợp với sự
“thiên hiểm bội loạn” Đó là thiện và ác” Những gì mang lại thái bình thịnh trị,đất nước ấm êm thì đó là “thiện”, ngược lại điều gì mang lại hỗn loạn vô lối,chiến tranh bạo lực thì đó là “ác” Theo đó ông nhìn thiện ác trong bình diện củachính trị như những gì ông đã chứng kiến về thời buổi ông đã sống Với Tuân
Tử cái gì đi ngược với đạo đức luân lý của xã hội, đi ngược lại với thái bìnhthịnh trị là ác Theo Tuân Tử: “Tính” là cái trời sinh ra đã có, vốn thế, không thểhọc cũng không thể làm ra được Đó là bản tính tự nhiên của mỗi con người.Tính thì ai cũng như ai, đều ác cả: tính của thánh nhân cũng như tính ngườithường Nếu theo học thuyết, con người có phải hoàn toàn là khuynh hướng ác?Theo Tuân Tử, không hẳn là thế, trong con người tự bản chất từ khi sinh ra đã
có “khuynh hướng xấu” nhưng nơi con người còn có yếu tố giúp con ngườihướng đến sự thiện; ông nhận thấy con người vẫn có thể hướng thiện ngang qua
“tâm” Từ việc thấy được “khuynh hướng ác” trong con người và yếu tố giúpcon người có thể hướng thiện là tâm Giờ đây, Tuân Tử đưa ra đường hướng đểgiúp con người trở nên người tốt Theo ông, giống như cây bị cong, bị vênhmuốn uốn cho thẳng thì trước hết cần phải luộc, phải hơ nóng và phải có khuôn
để uốn, dao bị cùn thì cần mài, dũa mới bén được Như vậy, tính con ngườicũng thế, muốn có điều thiện, muốn trở nên người tốt thì họ cần được dạy dỗ,cần được giáo dục Để giáo dục con người trở nên tốt thì việc đầu tiên là giáodục tâm Giáo dục tâm trong con người có nghĩa là giáo dục về ý thức, về sự
Trang 15hiểu biết Khi tâm trong con người được giáo dục, được huấn luyện, nó sẽ giúpcon người phân định hoặc nhận ra được điều gì là tốt, điều gì là xấu, điều gì nênlàm và điều gì không nên làm.
Quyền lực tập trung ở vương đạo: Thứ nhất, vua là nguồn gốc nảy sinhmọi việc, là khuôn mẫu để dân chúng noi theo, “vua là nguồn, nguồn trong thìnước trong, nguồn đục thì nước đục” (Quân đạo - Tuân Tử) Thứ hai, vua làngười biết tập hợp dân chúng để tạo nên sức mạnh quốc gia, muốn tập hợp đượcthì vua phải có trí, có nhân Vua phải là tấm gương để cho mọi người dân noitheo Ông nói: “Đạo là gì? Đạo là vua Vua là gì? Vua là người có thể tập hợpđược người ta Tập hợp được vì khéo giữ cho người ta sống, khéo nuôi người ta;khéo định ra trật tự cai trị người ta; khéo làm cho rõ và định việc cho người ta;khéo che đậy sửa sang cho người ta , bốn điều ấy mà đủ là thiên hạ theo về, thế
là quần tụ người ta” (Quân đạo - Tuân Tử) Thứ ba, quan hệ giữa vua với dân.Tuân Tử quan niệm ngôi vua là của chung thiên hạ Ai ngồi vào đó là giữ chothiên hạ, vì thiên hạ “Trời sinh ra dân không phải vì vua, mà ngược lại trời sinh
ra vua là vì dân” (Đại Lược - Tuân Tử) Cho nên quan hệ này được so sánh, vua
là thuyền, dân là nước, nước chở thuyền nhưng cũng có thể làm đắm thuyền(Vương Chế - Tuân Tử) Nếu vua không vì thiên hạ thì trừ bỏ vua là lẽ thườngtình Tuân Tử phân tích rõ quân đạo, khiến cho bậc nhân quân biết chức vụ củamình Bậc nhân quân phải biết rõ cái nghĩa hợp quần Cái nghĩa ấy chính đángthì thiên hạ được yên vui mà sinh sống
Vua là người làm khuôn phép cho thiên hạ, cho nên Tuân tử nói: “quângiả là cái nêu, cái nêu ngay thì cái bóng ngay; quân giả là cái mâm, cái mâmtròn thì nước tròn; quân giả là cái chậu, cái chậu vuông thì nước vuông” (Quânđạo - Tuân Tử) Quân là cái khuôn, dân là cái phải theo khuôn mà ra tròn hayvuông Vậy quân là cái gốc của dân Vua muốn cho dân yêu quý mình thì phải
có nhân, nghĩa
Trang 16CHƯƠNG 2: SỰ DU NHẬP VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ
NHO GIA SƠ KỲ ĐỐI VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Sự du nhập của tư tưởng chính trị Nho gia sơ kỳ và Việt Nam
2.1.1 Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội Việt Nam khi tư tưởng chính trị Nhogia sơ kỳ du nhập
Tư tưởng chính trị Nho gia từ quê hương Trung Quốc, do những điềukiện lịch sử khác nhau mà đã được du nhập vào Triều Tiên, Nhật Bản, ViệtNam… để hình thành một vành đai tư tưởng chính trị Nho gia của khu vực
Nho gia được truyền vào Việt Nam thời Hán từ những năm cuối trướccông nguyên, bằng những con đường khác nhau:
Một là: Thông qua con đường của những đội quân xâm lược được trang
bị tư tưởng Nho gia;
Hai là: Thông qua con đường truyền giáo có tổ chức của đội ngũ quanchức người Trung Quốc được các triều đình phong kiến Trung Quốc đánh pháthực hiện ách thống trị Bắc thuộc ở Việt Nam, trong đó có Quang Tích, NhâmDiên, Sĩ Nhiếp… là những quan lại đã có nhiều nỗ lực trong việc truyền bá tưtưởng chính trị Nho gia tới Việt Nam;
Ba là: Con đường của những thương nhân theo đường biển đưa Nho giatới Việt Nam;
Bốn là: Thông qua con đường của những dân cư tự do người Trung Quốc
có hành động chống lại triều đình và bị truy đuổi đã di cư tới Việt Nam để sinhsống Sự di cư của những người dân Trung Quốc này cũng góp phần đưa tưtưởng Nho gia vào Việt Nam
Trong các cách thức du nhập của Nho gia vào Việt Nam thì con đườngtruyền giáo có tổ chức của đội ngũ những quan lại người Trung Quốc trong suốtthời kỳ Bắc thuộc là chủ yếu Vì nó nằm trong chính sách chủ động âm mưuđồng hoá của các triều đình phong kiến Trung Quốc đối với Việt Nam
Trang 17Sau khi xâm chiếm nước ta, giai cấp phong kiến Trung Quốc đã ra sứccủng cố chế độ nô dịch của chúng, tạo ra những bước chuyển lớn trên các lĩnhvực kinh tế, chính trị, xã hội, tư tưởng
Trên lĩnh vực tư tưởng, Trung Quốc đã truyền bá và phát triển tư tưởngnho gia, biến nó thành hệ tư tưởng chính thống và là xiềng xích nô dịch dân ta.Ngay từ thời Tây Hán, Nho gia đã xâm nhập vào xã hội ta từ buổi đầu côngnguyên Quan lại Trung Quốc đã dựng học hiệu để dạy lễ nghĩa ở Giao Chỉ,Cửu Chân Các sách kinh điển của Nho giáo như Tứ thư, Ngũ kinh đã bắt đầuđược giảng dạy cho con em một số tầng lớp trên của xã hội Việt Nam Số nàynếu đỗ đạt một phần được cử làm quan một số được đưa về Trung quốc để sửdụng
Sau khi giành được độc lập, giai cấp phong kiến Việt Nam củng cố nềnthống trị trên mọi lĩnh vực Giai cấp phong kiến Việt Nam tổ chức lại nền giáodục, củng cố Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo Thời kỳ nhà Lý, nhà Trần, Nhogiáo đứng thứ yếu sau Phật giáo Mặc dù thời kỳ này Phật giáo có thể là quốcgiáo, nhưng không vì thế mà Nho giáo mất đi, Nho giáo vẫn có chỗ đứng trongđời sống xã hội, chi phối các quan hệ cộng đồng
Trong quá trình xây dựng phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, tầng lớpthống trị Việt Nam cảm thấy không thể chỉ dựa và Phật giáo mà cần phải có mộthọc thuyết tích cực hơn Và rõ ràng chỉ có Nho giáo với cả hệ thống tư tưởngquân chủ, cổ vũ cho việc tôn thờ nhà vua, mới có tác dụng tích cực bảo vệ chế
độ phong kiến và tôn ti trật tự của nó Vì thế các triều đại sau này đã dần pháttriển Nho giáo
Đến cuối thời Lê ở thế kỷ XVII, XVIII thì chế độ phong kiến suy tàn đãkéo theo sự thất thế của Nho giáo Đến đầu thế kỷ XIX, nhà Nguyễn đánh bạiTây Sơn, Nho giáo lại được trọng dụng như một quốc giáo Nhà nước phongkiến thời kỳ này đã sử dụng Nho giáo để phục vụ giai cấp cầm quyền lúc bấygiờ Nho giáo thống lĩnh tư tưởng chính trị Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷXIX, suốt hai triều đại Lê, Nguyễn Xét về nguồn gốc lịch sử thì Nho giáo ở
Trang 18Việt Nam cũng tựa như Nho giáo ở các nước Á Đông khác, là một nhánh Nhogiáo mà gốc là Nho giáo Trung Quốc Trải qua năm thế kỷ, lịch sử tư tưởngchính trị Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ trong khuôn khổ của ý thức hệ Nhogiáo Nền tảng tư tưởng này đã đưa chế độ phong kiến Việt Nam phát triển lênđến đỉnh cao của nó Sự phát triển ấy được khẳng định qua những văn kiện quantrọng, trong đó bao gồm các tư tưởng chính trị cơ bản nhất, phản ánh đượcnhững giá trị phổ biến nhất trong lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam với các đạibiểu xuất sắc như Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, NguyễnTrãi, Lê Thánh Tông… và các nhà Nho uyên thâm khác Chế độ phong kiếnngày được củng cố và phát triển Nhà nước vẫn đào tạo những người đắc lực vàtích cực phục vụ cho nó Phật giáo và Đạo giáo không thể đảm nhiệm được việc
ấy, chỉ có Nho giáo với cả hệ thống tư tưởng tuyên truyền và cổ vũ cho việc tônthờ nhà vua, mới có tác dụng tích cực bảo vệ chế độ phong kiến và tôn ti trật tựcủa nó Vì thế, các nhà vua dần cho phép Nho giáo có điều kiện phát triển
2.1.2 Những nội dung tư tưởng chính trị Nho gia sơ kỳ khi du nhập vào ViệtNam
Khi Nho gia trở thành hệ tư tưởng thống trị trong đời sống xã hội ViệtNam, các Nho sĩ đã tiếp thu các yếu tố tích cực của Nho gia để xây dựng quốcgia độc lập, tự chủ và nền văn hóa mang bản sắc dân tộc Đặc biệt trong bốicảnh xã hội đang chịu nhiều tác động tiêu cực rất cần trở lại những giá trị đạođức truyền thống, trong đó có tư tưởng Đức trị Do những giá trị tinh hoa có sứcsống mãnh liệt nên tư tưởng chính trị nho gia vẫn mang tính thời sự mới mẻ và
ý nghĩa
Học thuyết của Nho gia vào Việt Nam từ thế kỷ I TCN, khi ở TrungQuốc nhà Tây Hán đã đánh bại tập đoàn phong kiến họ Triệu và giành lấyquyền thống trị đất Giao Châu Nhưng, trong suốt một ngàn năm Bắc thuộc, ảnhhưởng của Nho gia ở Việt Nam còn rất hạn chế Đa phần sự ảnh hưởng đó chỉ
có ở các đô thị, gắn liền với sinh hoạt của những viên quan cai trị và một bộ
Trang 19phận những người bản xứ giúp việc cho những quan cai trị đó Có thể nói, ởViệt Nam lúc bấy giờ, học thuyết Nho gia là công cụ về tư tưởng chính trị mangtính thống trị Mặt khác, sự truyền bá Nho gia cùng với việc phổ biến chữ Hán
đã đưa tới Việt Nam một kho tàng tri thức về xã hội và tự nhiên, đó là nền vănhọc, sử học, triết học, thiên văn học và y học của người Trung Hoa cổ đại Lúc
đó, ảnh hưởng của Nho gia chưa vượt khỏi phạm vi của các thị trấn để đến vớicác vùng dân cư rộng lớn của đồng bằng và trung du Bắc bộ và Bắc Trung bộ.Nhân dân ở các làng xã chưa thực sự tiếp thu những nguyên tắc của Nho gia
Chính những điều trên tác động dẫn đến nguyên nhân làm cho tư tưởngNho gia ở Việt Nam có sự khác biệt với Nho Trung Quốc Chẳng hạn: Nho củaTrung Quốc lấy mối quan hệ giữa vua và tôi làm đầu, làm số một, còn tư tưởngNho gia ở Việt Nam, lấy mối quan hệ giữa nước với dân làm đầu, làm số mộttrong các mối quan hệ Nho của Trung Quốc không đề cập đến tinh thần yêunước, tính quốc tộc trong tư tưởng Nho gia, có chăng người Trung Quốc chỉ hysinh cho tông tộc, gia tộc mà thôi Trong khi đó tư tưởng Nho gia ở Việt Namkhác hẳn, nó thừa hưởng cái truyền thống đó từ ngày lập nước
Nho gia đã dùng tư tưởng đạo đức Tam cương, ngũ thường, thiên mệnhnhư là công cụ chủ yếu để thống trị, nô dịch nhân dân ta nhằm biến nước tathành quận, huyện của Trung Quốc, biến văn hóa nước ta phụ thuộc một phầncủa văn hóa Hán
Phải đến thế kỷ X, sau chiến thắng Bạch Đằng vĩ đại của Ngô Quyền, khidân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên độc lập, tự chủ và thực sự bắt tay vàoxây dựng nền văn minh Đại Việt trong khuôn khổ của một nhà nước phong kiếnquân chủ tập quyền, thì xã hội Việt Nam lúc này mới đặt ra những yêu cầu đốivới sự tồn tại và phát triển của Nho gia ở Việt Nam
Do đáp ứng được những yêu cầu khách quan của xã hội Việt Nam nhưtrên đã nói, nên ngay từ thời Lý – Trần, tư tưởng của Nho gia đã đóng vai trò là
cơ sở tư tưởng của việc xây dựng nhà nước quân chủ tập quyền, quản lý xã hội
và hoạch định chính sách của triều đình phong kiến Mặc dù xã hội thời Lý