CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Cơ sở lý luận
1.1.1 Đại cương về bệnh vảy nến
Vảy nến là một bệnh da mạn tính với nhiều hình thái biểu hiện khác nhau, đặc trưng bởi các tổn thương da đỏ, bong vảy và có thể ảnh hưởng đến niêm mạc, móng, khớp, cũng như liên quan đến hội chứng chuyển hóa Bệnh thường tiến triển theo từng đợt, xen kẽ giữa các giai đoạn nặng và thuyên giảm Đến nay, nguyên nhân gây bệnh vẫn chưa được làm rõ, và chưa có phương pháp điều trị triệt để nào được xác định.
- Đây là một trong những bệnh da thường gặp nhất trên thế giới, chiếm tỷ lệ 1-3% dân số thế giới [7].
-Bệnh xuất hiện ở cả hai giới và có thể ở mọi lứa tuổi
Tại Việt Nam, năm 2010, Bệnh viện Da liễu Trung ương ghi nhận 2,2% tổng số bệnh nhân đến khám mắc các bệnh da liễu Nguyên nhân gây bệnh vẫn chưa được xác định rõ ràng, nhưng các nghiên cứu hiện nay cho thấy bệnh có liên quan đến yếu tố di truyền, rối loạn miễn dịch, sự tăng sinh của thượng bì và một số yếu tố khởi phát khác.
-Di truyền và bệnh vảy nến:
Mối liên quan giữa gen HLA và bệnh vảy nến đã thu hút sự chú ý của nhiều nghiên cứu trong hơn 70 năm qua Gen di truyền nằm trên nhiễm sắc thể số 6 liên quan đến các kháng nguyên bạch cầu người (HLA) như DR7, B13, B17, BW57 và đặc biệt là CW6 Một nghiên cứu trên 91 bệnh nhân vảy nến thông thường cho thấy sự liên quan giữa các HLA lớp I (HLA-CW6) và lớp II (HLA-DR7) Kết quả cho thấy 91,9% bệnh nhân có tính đặc thù CW6 đều mang kháng nguyên DR7, trong khi tỷ lệ này ở nhóm chứng chỉ là 50,3%.
Tiền sử gia đình được xem là yếu tố rủi ro quan trọng trong bệnh vảy nến, với khoảng 30% trường hợp có liên quan đến yếu tố di truyền Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu và công nhận tính chất gia đình của bệnh này từ lâu.
Rối loạn miễn dịch là nguyên nhân chính gây bệnh vảy nến, liên quan đến sự tham gia của lympho T hoạt hóa và các cytokines như IL-1, IL-6, IL-8 Các chất trung gian hóa học như eicosanoides, prostaglandin và plasminogen cũng đóng vai trò quan trọng, dẫn đến sự tăng sinh tế bào biểu bì và tăng gián phân, từ đó gây ra bệnh vảy nến.
Trong bệnh vảy nến, quá trình tăng sinh tế bào thượng bì diễn ra mạnh mẽ, dẫn đến sự phân chia tế bào nhanh chóng Thay vì mất khoảng 28 đến 30 ngày để tế bào da bình thường phát triển và rời khỏi bề mặt, tế bào da ở bệnh nhân vảy nến chỉ cần 3-4 ngày để trưởng thành và di chuyển lên bề mặt da Kết quả là, các tế bào này không bong ra mà dính chặt với nhau, hình thành nên các tổn thương vảy da đặc trưng của bệnh.
-Yếu tố khởi phát bệnh: một số yếu tố có thể khởi phát bệnh hoặc đợt cấp, làm bệnh nặng hơn đã được ghi nhận:
Chấn thương tâm lý có ảnh hưởng quan trọng đến bệnh vảy nến, với hầu hết người bệnh trải qua các mức độ tác động khác nhau Finlay nhấn mạnh rằng chấn thương tâm lý ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều khía cạnh trong cuộc sống của người mắc bệnh vảy nến Việc đánh giá tác động tiêu cực của chấn thương tâm lý trên từng bệnh nhân cụ thể sẽ góp phần tích cực vào việc xây dựng chiến lược điều trị và phòng ngừa phù hợp cho từng trường hợp.
Nhiễm khuẩn, đặc biệt là các nhiễm khuẩn khu trú như tai mũi họng, thường được các tác giả công nhận là nguyên nhân chính gây khởi phát vảy nến thể giọt, chủ yếu do liên cầu tan huyết β nhóm A Ngoài ra, nhiễm khuẩn cũng có thể làm nặng thêm và duy trì tình trạng bệnh vảy nến đã có thông qua cơ chế kích thích tăng sinh tế bào lympho T.
Hiện tượng KoeNBer trong bệnh vảy nến có thể xảy ra trên các vùng da bị tổn thương như vết xước do gãi, vết mổ, vết bỏng, hay vết tiêm chủng Ngoài ra, hiện tượng này cũng có thể xuất hiện sau khi da bị cháy nắng.
Một số loại thuốc như ức chế β, lithium, corticoid đường toàn thân, interferon, thuốc chống viêm giảm đau nhóm nonsteroid, ức chế enzyme angiotensin, và thuốc chống sốt rét (chloroquin, quinacrin) có vai trò quan trọng trong việc khởi phát bệnh vảy nến Đặc biệt, việc sử dụng corticoid đường toàn thân là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra bệnh vảy nến thể mủ Hơn nữa, trong các trường hợp vảy nến thông thường do corticoid toàn thân, các lần tái phát sau thường xuất hiện vảy nến mụn mủ với mức độ khác nhau.
+ Chế độ ăn uống, rượu và thuốc lá:
Chế độ ăn uống có vai trò quan trọng trong việc quản lý bệnh vảy nến, với các nghiên cứu chỉ ra rằng chế độ ăn giàu dầu cá và các chất tương tự vitamin A có thể mang lại lợi ích Bên cạnh đó, việc tiêu thụ nhiều rau củ và trái cây cũng giúp tăng cường khả năng bảo vệ cơ thể đối với bệnh này Các yếu tố dinh dưỡng như axit béo không bão hòa và gluten được cho là có ảnh hưởng đến sự tiến triển của bệnh, mặc dù vấn đề này vẫn còn gây nhiều tranh cãi.
Nghiên cứu tại Ecolse cho thấy rằng trong số 216 bệnh nhân vảy nến và 626 người chứng, những người nghiện thuốc lá có nguy cơ cao hơn đáng kể so với nhóm không nghiện thuốc lá.
Người bệnh vảy nến nam thường có thói quen uống rượu quá mức, điều này không chỉ ảnh hưởng đến quá trình điều trị mà còn gây rối loạn tâm lý Hơn nữa, việc tiêu thụ rượu có thể làm trầm trọng thêm tình trạng da tổn thương và giảm hiệu quả của các phương pháp điều trị.
Ánh nắng mặt trời và nước ấm có lợi cho sức khỏe người bệnh, trong khi nước lạnh có thể làm tình trạng bệnh nặng thêm Tuy nhiên, một số ít bệnh nhân, đặc biệt là phụ nữ cao tuổi, lại gặp triệu chứng nặng hơn vào mùa hè khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời do tăng nhạy cảm với ánh sáng.
Vảy nến thường liên quan đến các rối loạn chuyển hóa lipid và đạm, đặc biệt là nguy cơ đột quỵ tim mạch Bệnh này cũng có mối liên hệ với các bệnh viêm và tự miễn khác như bạch biến và viêm đa khớp dạng thấp Việc chẩn đoán bệnh vảy nến cần được thực hiện một cách chính xác để xác định tình trạng sức khỏe tổng thể của bệnh nhân.
1.1.2.1 Lâm sàng a Vảy nến thể thông thường:
Cơ sở thực tiễn
Tình hình vảy nến ở Việt Nam và vấn đề nhận thức của người bệnh
Nghiên cứu của PGS Trần Văn Tiến tại Viện Da liễu Trung ương đã ghi nhận 134 bệnh nhân vảy nến được điều trị từ tháng 3/1999 đến tháng 8/2000, chiếm 12,04% tổng số bệnh nhân nội trú tại viện Thống kê này phản ánh tình hình bệnh vảy nến tại Bệnh viện Da liễu Trung ương trong giai đoạn nghiên cứu.
2010, tỷ lệ người bệnh vảy nến chiếm khoảng 2,2% tổng số người bệnh đến khám bệnh
Nghiên cứu chỉ ra rằng 40-70% bệnh nhân không tuân thủ quy định sử dụng thuốc của bác sĩ Các yếu tố như giáo dục bệnh nhân, mối quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân, hiệu quả điều trị, thời gian sử dụng thuốc, sự bất tiện khi dùng thuốc bôi và lo ngại về tác dụng phụ đều góp phần vào tình trạng này.
LIÊN HỆ VỚI THỰC TẾ Error! Bookmark not defined 2.1 Đặc điểm tình hình về Bệnh viện Da liễu Trung ương
Thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại bệnh viện Da liễu Trung ương
Từ ngày 01/01/2020 đến 30/07/2020, nghiên cứu của chúng tôi đã được thực hiện trên 80 bệnh nhân vảy nến tại Bệnh viện Da liễu Trung ương, nhằm tìm hiểu các đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu này.
2.2.1.1 Phân bố người bệnh theo tuổi
Bảng 2.1 Phân bố NB theo tuổi (n= 80)
Theo bảng 2.1: Tuổi thấp nhất trong nhóm nghiên cứu là 18 tuổi, tuổi cao nhất là 76 tuổi Nhóm tuổi từ 40-49 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 28 người bệnh (35%)
2.2.1.2 Phân bố người bệnh theo tuổi khởi phát
Bảng 2.2 Phân bố NB theo tuổi khởi phát (n) Tuổi khởi phát ≤ 20 tuổi 20-40 tuổi ≥40 tuổi Tổng
Kết quả nghiên cứu cho thấy trong số 80 bệnh nhân, tuổi khởi phát bệnh dao động từ 6 đến 70 tuổi, với tỷ lệ cao nhất (51%) thuộc nhóm tuổi từ 20 đến 40.
2.2.1.3 Phân bố người bệnh theo giới tính:
Bảng 2.3 Phân bố người bệnh theo giới (n)
Theo kết quả bảng 2.3: Tỷ lệ nam giới mắc vảy nến là 56% cao hơn nữ giới là
2.2.1.4.Phân bố người bệnh theo trình độ văn hóa
Bảng 2.4 Phân bố người bệnh theo trình độ văn hóa (n)
Trình độ văn hóa Tổng số Tỷ lệ % n %
Cao đẳng, đại học Đại học 25 32
Theo kết quả bảng 2.4, tỷ lệ người bệnh (NB) có trình độ trung học phổ thông cao nhất đạt 35%, trong khi đó, tỷ lệ người bệnh có trình độ cao đẳng và đại học là 32% Ngược lại, tỷ lệ người bệnh không biết chữ thấp nhất, chỉ chiếm 9%.
2.2.1.5 Phân bố người bệnh theo nghề nghiệp
Bảng 2.5 Phân bố người bệnh theo nghề nghiệp (n)
Nghề nghiệp Tổng số Tỷ lệ % n %
Theo bảng 2.5, tỷ lệ người lao động làm công việc chân tay chiếm 43,75%, trong khi đó tỷ lệ người lao động hưu trí, lao động trí óc và học sinh-sinh viên lần lượt là 22,5%, 18,75% và 15%.
2.2.1.6 Phân bố người bệnh theo nơi ở
Bảng 2.6 Phân bố người bệnh theo nơi ở (n)
Nơi ở Tổng số Tỷ lệ % n %
Kết quả từ bảng 2.6 cho thấy tỷ lệ người bệnh (NB) mắc bệnh vảy nến ở nông thôn đạt 47,5%, trong khi tỷ lệ này ở thành phố là 52,5% Điều này phản ánh sự phân bố khác nhau của bệnh vảy nến giữa các khu vực Trước khi nhận tư vấn tại Bệnh viện Da liễu Trung ương, người bệnh thường sử dụng nhiều phương tiện để tìm kiếm thông tin về bệnh này.
Bảng 2.7 Phương tiện tìm kiếm thông tin về bệnh vảy nến của NB trước khi tư vấn tại bệnh viện da liễu Trung ương (n)
Phương tiện tìm kiếm Trước tư vấn n %
Phương tiện thông tin đại chúng 13 16.2
Theo kết quả từ bảng 2.7, 52,5% bệnh nhân vảy nến nhận được kiến thức về bệnh từ nhân viên y tế, trong khi đó, cả phương tiện thông tin đại chúng và người thân đều chiếm 16,25% Nguồn thông tin từ sách vở chỉ chiếm tỷ lệ thấp nhất, với 15%.
2.2.1.8 Biện pháp người bệnh đã điều trị trước khi điều trị tại bệnh viện
Bảng 2.8 Biện pháp người bệnh đã điều trị trước khi điều trị tại Bệnh viện da liễu Trung ương (n)
Tự điều trị theo kinh nghiệm dân gian, thuốc đông y… 23 28.75 Đi khám tại phòng khám của huyện, tỉnh, điều trị theo đơn 45 56.25
Trước khi khám tại Bệnh viện Da liễu Trung ương, 56,25% người bệnh đã lựa chọn khám tại phòng khám huyện, tỉnh theo đơn Tự điều trị theo kinh nghiệm dân gian và thuốc đông y đứng thứ hai với 38,75%, trong khi 15% người bệnh không thực hiện bất kỳ biện pháp nào.
2.2.2.Sự thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành của người bệnh sau khi tư vấn 2.2.2.1 Thay đổi kiến thức của người bệnh về nguyên nhân gây bệnh
Bảng 2.9 Thay đổi kiến thức của NB về nguyên nhân gây bệnh và các vấn đề liên quan đến bệnh vảy nến (n)
Thời điểm Trước tư vấn Sau tư vấn
Nhiễm khuẩn (Virut, vi khuẩn, ký sinh trùng) 46 57.5 75 93.75
Do yếu tố môi trường 52 65 69 86.25
Kết quả bảng 2.9: Trước và sau tư vấn, tỉ lệ cao nhất thuộc về nhóm căn nguyên chưa rõ (61,25% và 97,5%).
Kiến thức của bệnh nhân (NB) về nguyên nhân gây bệnh đã có sự cải thiện rõ rệt, với tỷ lệ bệnh nhân cho rằng căn nguyên của bệnh chưa được làm rõ tăng từ 61.25% lên 97.5% sau khi được tư vấn.
2.2.2.2 Thay đổi kiến thức của người bệnh về dịch tễ của bệnh
Bảng 2.10.Thay đổi kiến thức của NB về mức độ phổ biến bệnh (n)
Thời điểm Trước tư vấn Sau tư vấn
Kết quả từ bảng 2.10 cho thấy chỉ có 56,25% bệnh nhân nhận thức rằng bệnh này phổ biến trước khi được tư vấn, nhưng con số này đã tăng lên trên 87,5% sau khi được tư vấn Bảng 2.11 tiếp tục minh họa sự thay đổi trong kiến thức của bệnh nhân về các yếu tố khởi phát hoặc làm nặng thêm bệnh.
Trước tư vấn Sau tư vấn n % n %
Hút thuốc lá, uống nhiều rượu bia 46 57.5 49 61.25
Khi vùng da của người bệnh tiếp xúc với những chất có tính base cao 42 52.5 47 58.75
Kết quả bảng 2.11: Tất cả sự hiểu biết của NB về yếu tố làm nặng lên và khởi phát bệnh đều tăng lên.
2.2.2.4 Thay đổi kiến thức của NB về đặc điểm của bệnh
Bảng 2.12 Thay đổi kiến thức của NB về đặc điểm của bệnh (n)
Thời điểm Trước tư vấn Sau tư vấn
Chỉ số n % n % Đã có thuốc điều trị khỏi hoàn toàn 25 31.2 27 33.7
Bệnh da mạn tính, có tính tái phát, chưa 58 72.5 75 93.7 có thuốc điều trị đặc hiệu
Bệnh không gây ảnh hưởng tới môi trường, xã hội và nguy hiểm cho người 25 31.2 46 57.5 khác
Kết quả từ bảng 2.12 cho thấy nhận thức về đặc điểm của bệnh đã được cải thiện đáng kể, tuy nhiên, số lượng bệnh nhân tin rằng bệnh có thể được chữa khỏi vẫn giữ nguyên Đặc biệt, tỷ lệ bệnh nhân nhận thức rằng bệnh không lây truyền đã giảm mạnh, từ 26 người (32,5%) xuống còn không ai.
2.2.2.5 Thay đổi kiến thức của NB về vị trí biểu hiện của bệnh
Bảng 2.13 Thay đổi kiến thức của NB về vị trí biểu hiện của bệnh (n)
Thời điểm Trước tư vấn Sau tư vấn
Kết quả từ bảng 2.13 cho thấy trước tư vấn, vị trí da và niêm mạc được lựa chọn cao nhất với tỷ lệ 66,25%, tiếp theo là móng tay với 65% Sau khi tư vấn, tỷ lệ này tăng lên rõ rệt, đạt 98,75% cho da và niêm mạc, cùng với 87,5% cho móng tay Trước tư vấn, biểu hiện khớp có tỷ lệ thấp nhất, nhưng sau tư vấn, tỷ lệ người bệnh cho rằng bệnh có biểu hiện ở các cơ quan khác vẫn giữ mức thấp nhất.
2.2.2.6 Thay đổi kiến thức của NB về cách dùng thuốc duy trì
Bảng 2.14 Thay đổi kiến thức của NB về cách dùng thuốc điều trị duy trì (n)
Thời điểm Trước tư vấn Sau tư vấn
Kết quả bảng 2.14: Đa phần trước tư vấn NB chọn dùng thuốc theo đơn (85%), sau tư vấn, tăng lên 97,5%, tỉ lệ NB dùng thuốc không thường xuyên giảm
10 lần Tỷ lệ NB không dùng thuốc giảm từ 26,25% xuống còn 2,5%
2.2.2.7 Thay đổi thái độ của NB khi mắc bệnh
Bảng 2.15.Thay đổi thái độ của NB khi mắc bệnh (n)
Thời điểm Trước tư vấn Sau tư vấn n % n %
Lo lắng, hoảng sợ vì nghĩ rằng bệnh 49 61.2 5 6.2 nguy hiểm đến tính mạng.
Không lo lắng nhiều vì tin tưởng vào bác 25 31.2 35 43,7 sỹ điều trị.
Không cần điều trị gì, nghĩ rằng bệnh tự 23 28.75 1 1.25 khỏi
Mặc cảm, tự ti vì bệnh ảnh hưởng tới 65 81.2 40 50 thẩm mỹ
Lo lắng vì bệnh truyền cho con cái 29 36.2 11 13.7
Giấu bệnh,tự tìm hiểu trên mạng hoặc 12 15 0 0 theo mách bảo của người khác
Trước khi được tư vấn, 61,25% bệnh nhân lo lắng và hoảng sợ về tính mạng do bệnh nguy hiểm Tuy nhiên, sau khi nhận được tư vấn, tỷ lệ này giảm đáng kể, với 10 bệnh nhân không còn cảm thấy lo lắng về mức độ nguy hiểm của bệnh Chỉ còn một bệnh nhân tin rằng bệnh có thể tự khỏi, và không còn ai giấu bệnh hay tự tìm hiểu thông tin trên mạng hoặc theo lời khuyên không chính xác.
Nhiều người bệnh vẫn cảm thấy mặc cảm và tự ti do ảnh hưởng của bệnh tật đến thẩm mỹ, đồng thời lo lắng về khả năng truyền bệnh cho con cái Bên cạnh đó, thói quen ăn uống và sinh hoạt của họ cũng có sự thay đổi đáng kể.
Bảng 2.16 Thay đổi thực hành của NB trong chế độ ăn uống, sinh hoạt (n)
Thời điểm Trước TV Sau TV
Hạn chế các loại thức ăn gây bệnh, làm bệnh nặng lên, tái phát 33 41.2 62 77
Hạn chế TĂ gây bệnh 41,2%; 77%
Không uống rượu và dùng các chất kích thích 59 73.7 68 85 Ăn uống điều độ để tránh tăng cân 34 42.5 75 93.7
Kết quả từ bảng 2.16 cho thấy rằng hành vi không uống rượu, tránh sử dụng các chất kích thích, và duy trì chế độ ăn uống điều độ đã gia tăng, giúp ngăn ngừa tăng cân và hạn chế các loại thực phẩm có thể gây bệnh hoặc làm bệnh nặng thêm, đồng thời giảm nguy cơ tái phát.
2.2.2.9 Thay đổi thực hành của NB trong việc khám bệnh khi có triệu chứng của bệnh
Bảng 2.17.Thay đổi thực hành của NB trong việc đi khám bệnh khi có triệu chứng của bệnh (n)
Thời điểm Trước tư vấn Sau tư vấn
Chỉ số n % n % Đi khám ngay 48 60 65 81.25
Bệnh nặng lên mới khám 42 52.5 12 15
Công việc bận rộn, khi có thời gian sẽ đi 53 66.25 9 11.25 khám
Kết quả từ bảng 2.17 cho thấy, trước khi nhận tư vấn, 60% người bệnh đi khám ngay khi có triệu chứng, nhưng sau tư vấn con số này đã tăng lên 81,25% Hành vi chờ đợi để bệnh nặng mới đi khám đã giảm 3,5 lần, trong khi tỷ lệ không đi khám ngay cũng giảm đáng kể.
2.2.2.10 Thay đổi thực hành của NB trong chăm sóc da
Bảng 2.18 Thay đổi thực hành của NB trong chăm sóc da (n)
Thời điểm Trước tư vấn Sau tư vấn
Tắm hàng ngày, nhẹ nhàng, tránh tổn 50 62.5 73 91.2 thương da
Thoa kem làm ẩm thường xuyên theo chỉ 50 62.5 69 86.2 định của bác sĩ Đắp lá, tắm bằng nước lá hàng ngày 53 66.25 0 0
Trong khi tắm, kỳ cọ thật kỹ, bong sạch 29 36.25 2 2.5 vảy da.
Dùng nhiều xà phòng khi tắm 32 40 4 5
BÀN LUẬN
Thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại Bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2020
3.1.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tuổi thấp nhất của bệnh nhân vảy nến là 18 tuổi và tuổi cao nhất là 76, tương đồng với kết quả nghiên cứu của BS Hoàng Văn Tâm.
Năm 2015, tại Bệnh viện Da liễu Trung ương, có hơn 30 bệnh nhân mắc bệnh vảy nến thông thường được khám Độ tuổi mắc bệnh chủ yếu nằm trong khoảng 40-49 tuổi, chiếm 35%, kết quả này tương đồng với nghiên cứu của PGS Trần Văn Tiến, cho thấy 72,4% bệnh nhân ở cùng độ tuổi.
134 NB vảy nến điều trị nội trú tại Bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2004 [17]
Trong nhóm nghiên cứu, độ tuổi khởi phát bệnh vẩy nến cao nhất là từ 20-40 tuổi, tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2009) tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, cho thấy bệnh thường xảy ra ở những người trong độ tuổi lao động 20-39, giai đoạn có nhiều biến động về thể chất và tinh thần Những biến động này có thể kích thích sự bùng phát của bệnh trên nền tảng di truyền Tuy nhiên, nghiên cứu của PGS Trần Văn Tiến (2004) và PGS Đặng Văn Em (1994-1999) lại cho thấy tỷ lệ khởi phát cao hơn ở nhóm tuổi 10 Việc xác định tuổi khởi phát có thể gặp khó khăn, vì nhiều bệnh nhân không nhớ chính xác thời điểm xuất hiện tổn thương da đầu tiên, và một số cơ sở y tế thiếu kinh nghiệm có thể chẩn đoán nhầm với các bệnh da khác, đặc biệt là khi tổn thương không điển hình.
Do đó tỷ lệ tuổi khởi phát có sự khác nhau ở các tác giả
Trong nhóm nghiên cứu, tỷ lệ nam giới mắc vảy nến là 56%, cao hơn so với 44% ở nữ giới Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Trần Thị Thoan năm 2018, cho thấy tỷ lệ nam giới mắc bệnh đạt 67,5% Các yếu tố khởi phát bệnh vảy nến như hút thuốc, uống rượu và sinh hoạt không điều độ thường phổ biến hơn ở nam giới, có thể là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ mắc bệnh cao hơn ở nhóm này.
Theo thống kê, 35% người bệnh (NB) có trình độ Trung học phổ thông, 32% có trình độ Cao đẳng, Đại học, trong khi 9% là người không biết chữ Đáng chú ý, 43,7% NB làm lao động chân tay, trong khi chỉ 15% là lao động trí óc Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Oanh (2007) cho thấy nhóm nghề liên quan đến lao động chân tay chiếm tỷ lệ cao nhất Nguyên nhân có thể do đối tượng lao động chân tay chủ yếu là nông dân, những người thường xuyên phải chịu đựng chấn thương, vi chấn thương và stress thể lực do công việc nặng nhọc, khó khăn trong cuộc sống, góp phần làm phát sinh bệnh vẩy nến.
Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh vẩy nến ở nông thôn là 47,5%, trong khi ở thành phố là 52,5%, cho thấy sự khác biệt không đáng kể, tương tự như kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Liên năm 2011 Điều này có thể được lý giải bởi việc người dân ở vùng nông thôn gặp khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giáo dục y tế, dẫn đến việc họ tự ý tìm thuốc điều trị không đúng cách, từ đó làm tăng tỷ lệ mắc bệnh.
Nguồn thông tin chủ yếu mà người bệnh (NB) tiếp cận đến từ nhân viên y tế (52,5%), tiếp theo là phương tiện thông tin đại chúng và người thân (16,25%), trong khi sách vở chỉ chiếm 15% Kiến thức từ nhân viên y tế được xem là đáng tin cậy, do đó cần nâng cao hơn nữa việc truyền đạt thông tin từ nguồn này cho người dân Các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là internet, ngày càng phổ biến và dễ tiếp cận, nhưng người bệnh cần thận trọng khi tiếp nhận thông tin từ những nguồn này Một vấn đề nghiêm trọng là nhiều thông tin sai lệch trên internet có thể dẫn đến hiểu biết sai về bệnh tật, khiến người bệnh lãng phí tiền bạc cho các phương pháp điều trị không hiệu quả, và thậm chí gây hại cho sức khỏe.
Trước khi đến khám tại Bệnh viện Da liễu Trung ương, phần lớn bệnh nhân đã từng khám tại các phòng khám huyện, tỉnh và điều trị theo đơn thuốc (74,6%) Ngoài ra, 38,75% bệnh nhân tự điều trị bằng kinh nghiệm dân gian, thuốc đông y và thuốc nam Chỉ có 15% bệnh nhân không thực hiện bất kỳ phương pháp điều trị nào.
Bệnh vảy nến là một bệnh mạn tính, có khả năng tái phát sau khi thuyên giảm và hiện tại chưa có phương pháp điều trị triệt để Do đó, nhiều bệnh nhân (NB) thường tìm đến nhiều cơ sở y tế và áp dụng nhiều phương pháp khác nhau với hy vọng cải thiện tình trạng bệnh Sau khi được tư vấn, sự thay đổi về kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) của bệnh nhân vảy nến đã có những chuyển biến tích cực.
3.1.2.1 Thay đổi kiến thức của NB sau khi được tư vấn:
Trước tư vấn, chỉ 61,25% bệnh nhân biết rõ nguyên nhân gây bệnh, trong đó 43,75% liên quan đến thuốc, 70% di truyền, 65% yếu tố môi trường và 75% cho rằng đây là bệnh tự miễn Tuy nhiên, sau khi được tư vấn, con số này tăng lên 97,5%, cho thấy sự thay đổi rõ rệt trong nhận thức Nhiều bệnh viện mà bệnh nhân đã điều trị không giải thích nguyên nhân gây bệnh, và một số bệnh nhân chỉ quan tâm đến hiệu quả điều trị Tại Bệnh viện Da liễu Trung ương, bệnh nhân có cơ hội trao đổi kiến thức với nhau và với nhân viên y tế, từ đó nâng cao hiểu biết về bệnh tật.
Bệnh vảy nến là một bệnh da liễu phổ biến, ảnh hưởng đến khoảng 2-3% dân số toàn cầu Nhiều người bệnh (NB) thường nghĩ rằng đây là một bệnh hiếm gặp, với 31,25% cho rằng khu vực họ sống có rất ít người mắc bệnh tương tự Tuy nhiên, sau khi được tư vấn tại Bệnh viện Da liễu Trung ương, con số này giảm xuống chỉ còn 10% Dù vậy, vẫn còn một số NB chưa nhận thức được mức độ phổ biến của bệnh, cho thấy cần nâng cao nhận thức cộng đồng về bệnh vảy nến.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 68,7% người bệnh cho rằng yếu tố thời tiết là nguyên nhân chính gây bệnh và tái phát, tiếp theo là 57,5% cho rằng thuốc lá và rượu bia làm bệnh nặng hơn Các yếu tố khác như chấn thương ngoài da, tâm lý, nhiễm khuẩn, và tiếp xúc với chất có tính base cao đều trên 50% Sau khi tư vấn, nhiều người bệnh nhận thức rõ hơn về các yếu tố làm nặng bệnh như chấn thương tâm lý và thói quen xấu Trước tư vấn, 72,5% cho rằng vảy nến là bệnh mạn tính, 43,75% cho rằng có tính di truyền, và 31,25% nghĩ rằng không ảnh hưởng tới xã hội Sau tư vấn, nhận thức về các đặc điểm này đều tăng lên, và tất cả người bệnh đều biết rằng vảy nến không lây truyền, mặc dù số người có khả năng điều trị khỏi hoàn toàn vẫn không thay đổi.
Vảy nến thường xuất hiện trên da, với 20-40% trường hợp biểu hiện ở móng tay, trong khi các biểu hiện ở các bộ phận khác ít gặp hơn Trước khi tư vấn, chỉ có 66,2% bệnh nhân (NB) nhận thức rằng bệnh biểu hiện ở da và niêm mạc, nhưng sau khi được tư vấn, con số này tăng lên 98,7% Sự hiểu biết về biểu hiện của bệnh ở móng tay và khớp cũng tăng khoảng 1,3 lần, và 50% NB nhận thức được rằng bệnh có thể ảnh hưởng đến các cơ quan khác Tuy nhiên, nhiều NB vẫn thiếu thông tin cụ thể về các biểu hiện này Bệnh vảy nến là một bệnh mãn tính, tái phát, do đó việc điều trị duy trì, đặc biệt là sử dụng thuốc theo đơn, rất quan trọng Trước khi tư vấn, 85% NB biết cần dùng thuốc theo đơn trong giai đoạn duy trì, con số này tăng lên 97,5% sau tư vấn Số lượng NB không dùng thuốc hoặc dùng không thường xuyên giảm rõ rệt, chỉ còn 2,5% và 3,75%.
Chấn thương tâm lý ảnh hưởng lớn đến tình trạng bệnh, vì vậy việc quản lý tâm lý là rất quan trọng trong quá trình điều trị Trước khi được tư vấn, 61,2% bệnh nhân lo lắng về tính mạng do nghĩ rằng bệnh của họ nguy hiểm, nhưng sau khi được tư vấn, chỉ còn 6,2% giữ tâm trạng này Tỷ lệ bệnh nhân không còn lo lắng vì tin tưởng vào bác sĩ điều trị tăng từ 31,2% lên 43,7% Sự thay đổi này chủ yếu do bệnh nhân nhận ra rằng họ không mắc bệnh ung thư, dẫn đến tâm trạng tích cực hơn Tuy nhiên, các thái độ liên quan đến thẩm mỹ vẫn khó thay đổi, do đó cần có thêm tư vấn để giúp bệnh nhân cảm thấy thoải mái hơn khi đối mặt với bệnh.
3.1.2.3 Thay đổi thực hành của NB sau khi tư vấn
Trong thực hành ăn uống và sinh hoạt, tỷ lệ người bệnh không uống rượu bia và các chất kích thích đã tăng từ 73,7% lên 85% sau khi tư vấn Hành vi ăn uống điều độ để tránh tăng cân cũng đạt mức cao nhất là 93,7% sau tư vấn Số người bệnh hạn chế các loại thức ăn gây bệnh và làm bệnh nặng lên tăng lên 77,5% sau khi được tư vấn Về thực hành đi khám bệnh, tỷ lệ người bệnh đi khám ngay khi có triệu chứng đã tăng từ 60% lên 81,25% sau tư vấn Tuy nhiên, vẫn tồn tại tình trạng người bệnh trì hoãn việc đi khám cho đến khi bệnh nặng hơn, do phụ thuộc vào bảo hiểm y tế và mong muốn có thuốc điều trị tốt hơn, dẫn đến việc tự làm bệnh tình nặng lên để có cơ hội chuyển tuyến lên tuyến Trung ương.
Đề xuất một số giải pháp tăng cường tuân thủ điều trị của người bệnh vẩy nến đến khám tại Bệnh viện Da liễu Trung ương
Tỷ lệ bệnh nhân chú ý đến việc khám lại theo lịch hẹn đã tăng từ 77,5% lên 93,75% Các hành vi không đúng như chỉ khám khi bệnh nặng hơn, tự mua thuốc về nhà sử dụng, và không tái khám đã giảm đáng kể.
3.1.2.4 Sự thay đổi mức độ kiến thức, thái độ, thực hành của NB sau tư vấn Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy sự thay đổi tích cực giữa mức độ hiểu biết của
Trước khi tư vấn, chỉ có 38,7% người bệnh (NB) hiểu biết đầy đủ về bệnh vảy nến, trong khi tỷ lệ không đạt gấp đôi tỷ lệ đạt Tuy nhiên, sau khi được tư vấn, tỷ lệ này tăng lên 83,7%, cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong nhận thức của người bệnh Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu toàn cầu về sự hiểu biết của người bệnh về bệnh vảy nến trước và sau tư vấn, nhưng các tác giả chủ yếu chỉ tập trung vào tỷ lệ nhận thức về nguyên nhân và yếu tố khởi phát bệnh dựa trên cảm nhận chủ quan Để nâng cao tỷ lệ tuân thủ điều trị của người bệnh vảy nến tại Bệnh viện Da liễu Trung ương, cần triển khai các giải pháp hiệu quả và phù hợp.
Dựa trên thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân mắc bệnh vẩy nến tại Bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2020, tôi đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng tuân thủ điều trị cho người bệnh.
Phòng Điều Dưỡng đã triển khai chương trình giáo dục sức khỏe cho người bệnh Vẩy nến thông qua các buổi truyền thông và tọa đàm, nhằm giải đáp những thắc mắc liên quan đến căn bệnh này.
- Tổ chức đào tạo nâng cao kiến thức, kỹ năng giáo dục sức khỏe cho các điều dưỡng viên,
- Kết hợp với hội người bệnh vẩy nến, các đơn vị truyền thông như báo, đài các kênh youtobe để làm các bài truyền thông giáo dục sức khỏe
-Kết nối nguồn lực hỗ trợ kinh phí cho những người bệnh vẩy nến có hoàn cảnh khó khăn
-Tạo điều kiện để người bệnh vẩy nến được tiếp cận với các dịch vụ kỹ thuật mới của bệnh viện
- Tăng cường các phòng khám sắp xếp thời gian phù hợp để các bác sỹ có nhiều thời gian chia sẻ với người bệnh.
-Nhắc nhở lịch tái khám tư vấn gọi điện chia sẻ
3.2.2 Đối với người bệnh và gia đình người bệnh
Khuyến khích bệnh nhân và gia đình tham gia các buổi tư vấn giáo dục sức khỏe về bệnh vẩy nến, nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc tuân thủ điều trị.
-Tăng cường kiến thức hiểu biết về bệnh
Hạn chế tiếp xúc với các yếu tố có thể làm tổn thương nặng hơn, bao gồm các chất kích thích, đồ uống có cồn, và thuốc lá hoặc thuốc nam không rõ nguồn gốc.
-Khám lại đúng hẹn để việc dùng thuốc được duy trì.
-Cần có chế độ luyện tập, ăn uống sinh hoạt điều độ tránh thức khuya dậy sớm và dùng các chất kích thích