Cơ sở lý luận
1.1.1 Tổng quan về suy tim
Suy tim là một tình trạng bệnh lý đặc trưng bởi sự bất thường trong chức năng của tim, dẫn đến khả năng bơm máu không đủ để đáp ứng nhu cầu oxy cho các hoạt động của cơ thể.
Có nhiều cách phân loại suy tim khác nhau, dựa trên cơ sở: [7], [8] Tình trạng tiến triển: suy tim cấp và suy tim mạn tính
Theo hình thái định khu: suy tim phải, suy tim trái và suy tim toàn bộ Đây là cách thường được sử dụng trên lâm sàng 1.1.1.3 Nguyên nhân
Suy tim trái thường do các nguyên nhân như tăng huyết áp động mạch, bệnh động mạch vành, các vấn đề về van tim như hở hoặc hẹp van động mạch chủ và hở van hai lá Ngoài ra, tổn thương cơ tim, rối loạn nhịp tim và một số bệnh tim bẩm sinh cũng góp phần vào tình trạng này.
Nguyên nhân gây suy tim phải: một số bệnh về phổi, một số bệnh lý tim mạch (hẹp VHL, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn…)
Nguyên nhân gây suy tim toàn bộ: suy tim trái tiến triển, bệnh cơ tim giãn… 1.1.1.4 Các yếu tố làm nặng suy tim
Trên cơ sở một số bệnh lý tim mạch, một số nguyên nhân làm khởi phát, tăng nặng hoặc thúc đẩy suy tim nhanh hơn như
Dùng các thuốc hóa trị liệu Rối loạn nhịp tim
Trên cơ sở bệnh van tim lại có thêm bệnh động mạch vành 1.1.1.5 Triệu chứng
Khó thở là triệu chứng phổ biến nhất, thường xuất hiện đầu tiên khi gắng sức Theo thời gian, tình trạng này trở nên nghiêm trọng hơn, khiến người bệnh gặp khó khăn khi nằm, buộc họ phải ngồi dậy để thở.
Đau ngực, cảm giác nặng ngực hoặc đánh trống ngực có thể xảy ra vào ban đêm hoặc khi người bệnh gắng sức Ngoài ra, triệu chứng đi tiểu đêm và tiểu ít cũng thường gặp, kèm theo nhịp tim nhanh.
Tím da và niêm mạc Phù.
Theo Hội Tim mạch châu Âu 2008 (ESC) suy tim là một hội chứng bệnh lý gồm các dấu hiệu sau:
Người bệnh có các triệu chứng đặc hiệu của suy tim: khó thở khi gắng sức, mệt mỏi, phù, và
Nhịp nhanh, thở nhanh, tĩnh mạch cổ nổi, phù ngoại biên, và
Có bằng chứng khách quan của tổn thương cấu trúc tim
1.1.1.7 Đánh giá mức độ suy tim
Phân hội tim mạch New York (NYHA)
Hội tim mạch học Mỹ/Trường môn tim mạch Mỹ (AHA/ACC).
Dựa trên sự đánh giá mức độ hoạt động thể lực và các triệu chứng cơ năng của người bệnh. Độ
Bảng 1.1: Phân loại mức độ suy tim theo NYHA
Người bệnh có bệnh tim nhưng không có triệu chứng cơ năng nào, vẫn sinh hoạt và hoạt động thể lực gần như bình thường
Các triệu chứng cơ năng chỉ xuất hiện khi gắng sức nhiều Người bệnh bị giảm nhẹ các hoạt động về thể lực.
III Các triệu chứng cơ năng xuất hiện kể cả khi gắng sức rất ít, làm hạn chế nhiều các hoạt động thể lực.
Các triệu chứng cơ năng tồn tại một cách thường xuyên, kể cả lúc người bệnh nghỉ ngơi không làm gì cả.
Bảng 1.2: Phân giai đoạn suy tim theo AHA/ACC (2008) Đặc điểm
Bệnh nhân có các nguy cơ cao của suy tim nhưng chưa có các bệnh lý tổn thương cấu trúc tim
Bệnh nhân có tiền sử các bệnh lý ảnh hưởng đến cấu trúc tim nhưng chưa xuất hiện triệu chứng suy tim Trong khi đó, một số bệnh nhân đã có triệu chứng suy tim hoặc đang có biểu hiện liên quan đến các bệnh lý gây tổn thương cấu trúc tim.
Bệnh nhân suy tim giai đoạn cuối cần các biện pháp điều trị đặc biệt
Nghỉ ngơi đóng vai trò quan trọng trong việc giảm gánh nặng cho tim, nhưng cần hiểu rằng chế độ nghỉ ngơi phải linh hoạt tùy theo mức độ suy tim Người bệnh suy tim nhẹ có thể tập luyện thể lực nhưng cần tránh hoạt động nặng, trong khi người bệnh suy tim nặng hơn nên thực hiện các hoạt động nhẹ Đối với những trường hợp suy tim rất nặng, việc nghỉ ngơi tại giường với tư thế nửa nằm nửa ngồi là cần thiết Nếu người bệnh phải nằm điều trị lâu dài, việc xoa bóp, bắt đầu từ thụ động đến chủ động cho các chi, đặc biệt là hai chi dưới, sẽ giúp cải thiện lưu thông máu và giảm nguy cơ huyết khối tĩnh mạch.
Chế độ ăn giảm muối
Chế độ ăn giảm muối là rất quan trọng, vì muối ăn (NaCl) làm tăng áp lực thẩm thấu trong máu, dẫn đến tăng khối lượng tuần hoàn và gây gánh nặng cho tim Đối với bệnh nhân suy tim, cần áp dụng chế độ ăn giảm muối hoặc gần như nhạt hoàn toàn tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể.
Chế độ ăn giảm muối: người bệnh chỉ được dùng < 3g muối NaCl/ngày, tức là < 1,2g (50 mmol) Na+/ngày.
Chế độ ăn gần như nhạt hoàn toàn: người bệnh chỉ được ăn < 1,2g muối Nacl/ngày, tức là < 0,48g (20mmol) Na+/ngày.
Hạn chế nước và dịch dùng cho người bệnh
Ta cần hạn chế nước và dịch dùng cho người bệnh hàng ngày nhằm giảm bớt khối lượng tuần hoàn từ đó giảm bớt gánh nặng đối với tim
Nói chung chỉ nên dùng cho người bệnh khoảng 500 – 1.000ml lượng dịch đưa vào cơ thể mỗi ngày.
Cung cấp oxy là biện pháp thiết yếu trong điều trị suy tim, giúp tăng cường oxy cho các mô và giảm triệu chứng khó thở ở bệnh nhân Đồng thời, phương pháp này cũng hạn chế tình trạng co mạch phổi thường gặp ở những người thiếu oxy.
Loại bỏ các yếu tố nguy cơ khác
Bỏ rượu, thuốc lá, cà phê…
Giảm bớt cân nặng ở những người bệnh béo phì Tránh các xúc cảm mạnh (Stress)
Ngừng những thuốc làm giảm sức bóp của cơ tim nếu đang dùng, như: các thuốc chẹn bê ta giao cảm …
Tránh các thuốc giữ nước như corticoid. Điều trị những yếu tố làm nặng thêm tình trạng suy tim như nhiễm trùng, rối loạn nhịp tim…
1.1.1.9 Các thuốc điều trị trong suy tim
Lợi tiểu giúp giảm khối lượng tuần hoàn và áp lực hệ tĩnh mạch, đồng thời giảm phù nề, trong khi việc giảm muối giúp hạn chế tái hấp thu dịch Những biện pháp này thường được áp dụng để điều trị triệu chứng cho người bệnh.
Thuốc ức chế men chuyển làm giãn mạch, cải thiện chức năng thất trái do vậy cải thiện được tiên lượng.
Thuốc ức chế thụ thể angiotensinlàm giãn mạch, cải thiện chức năng thất trái do vậy cải thiện được tiên lượng.
Hydralazine và nitrates có thể cải thiện triệu chứng, khả năng gắng sức
Thuốc chẹn beta - giao cảm giúp cải thiện triệu chứng, cải thiện chức năng thất trái, cải thiện tiên lượng.
Thuốc kháng aldosterone giúp tăng cường lợi tiểu cải thiện triệu chứng, cải thiện chức năng thất trái, cải thiện tiên lượng.
Digoxin liều thấp làm cải thiện triệu chứng, tăng nhẹ cung lượng tim và giảm số lần nhập viện.
Các thuốc tăng co bóp cơ tim có tác dụng bảo tồn tưới máu cho tổ chức và giảm ứ trệ trong trường hợp suy tim nặng hoặc trong đợt cấp Đồng thời, thuốc chống đông giúp giảm nguy cơ hình thành huyết khối.
MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT
Một số thông tin về viện Tim mạch Việt nam
Viện Tim mạch Bệnh viện Bạch Mai, được thành lập vào ngày 11 tháng 11 năm 1989, đã trải qua 30 năm phát triển và khẳng định vị thế hàng đầu trong lĩnh vực điều trị, giảng dạy, nghiên cứu khoa học và chỉ đạo tuyến.
400 giường bệnh, 450 cán bộ, nhân viên (110 các sỹ, 277 điều dưỡng).
Thực trạng kiến thức và thực hành chăm sóc dinh dưỡng của điều dưỡng cho người bệnh mắc bệnh suy tim mãn tại Viện Tim mạch Việt Nam
Nghiên cứu trên 200 bệnh nhân suy tim đang điều trị tại viện tim mạch từ tháng 10/2020 đến tháng 11/2020.
Bảng 2.1: Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm Số lượng Tỷ lệ
Trung học cơ sở 82 41,0 Trung học phổ thông trở lên 73 36,5 Nghề nghiệp
Khác 31 15,5 Điều kiện kinh tế
Độ tuổi trung bình của bệnh nhân suy tim nam thấp hơn nữ (59,2 ± 15,1 so với 64,7 ± 13,8), với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p