1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại bệnh viện da liễu trung ương

52 34 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Tuân Thủ Điều Trị Của Người Bệnh Mắc Bệnh Vẩy Nến Đến Khám Tại Bệnh Viện Da Liễu Trung Ương
Tác giả Trần Thị Kim Anh
Người hướng dẫn TS. Vũ Văn Thành
Trường học Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Điều Dưỡng Nội Người Lớn
Thể loại Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN (14)
    • 1.1. Cơ sở lý luận (14)
      • 1.1.1. Đại cương về bệnh vảy nến (14)
      • 1.1.2. Chẩn đoán bệnh vảy nến (16)
      • 1.1.3. Điều trị (18)
    • 1.2. Cơ sở thực tiễn (21)
  • CHƯƠNG 2: LIÊN HỆ VỚI THỰC TẾ .................. Error! Bookmark not defined. 2.1. Đặc điểm tình hình về Bệnh viện Da liễu Trung ương (22)
    • 2.2. Thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại bệnh viện Da liễu Trung ương (24)
      • 2.2.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu (24)
      • 2.2.2. Sự thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành của người bệnh sau khi tư vấn (27)
  • CHƯƠNG 3: BÀN LUẬN (35)
    • 3.1. Thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại Bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2020 (35)
      • 3.1.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu (35)
      • 3.1.2. Sự thay đổi về KAP của NB vảy nến sau khi được tư vấn (37)
    • 3.2. Đề xuất một số giải pháp tăng cường tuân thủ điều trị của người bệnh vẩy nến đến khám tại Bệnh viện Da liễu Trung ương (0)
      • 3.2.1. Đối với Bệnh viện (40)
      • 3.2.2 Đối với người bệnh vfa gia đình nguồi bệnh (0)
  • KẾT LUẬN (42)
  • PHỤ LỤC (48)

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Cơ sở lý luận

1.1.1 Đại cương về bệnh vảy nến

Vảy nến là một bệnh da mạn tính với nhiều hình thái lâm sàng, đặc trưng bởi các tổn thương đỏ da và bong vảy Bệnh có thể ảnh hưởng đến niêm mạc, móng, khớp và liên quan đến hội chứng chuyển hóa Tình trạng bệnh tiến triển theo từng đợt, xen kẽ giữa các giai đoạn nặng và thuyên giảm Hiện tại, nguyên nhân gây bệnh vẫn chưa được làm rõ và chưa có phương pháp điều trị triệt để.

- Đây là một trong những bệnh da thường gặp nhất trên thế giới, chiếm tỷ lệ 1- 3% dân số thế giới [7]

- Bệnh xuất hiện ở cả hai giới và có thể ở mọi lứa tuổi

- Tại Việt Nam, năm 2010, theo thống kê tại Bệnh viện Da liễu Trung ương có 2,2% tổng số người bệnh (NB) trên tổng số NB khám bệnh [8]

1.1.1.2 Căn nguyên và cơ chế bệnh sinh Đến nay vẫn chưa có câu trả lời chính xác cho nguyên nhân gây bệnh, các nghiên cứu mới thừa nhận rằng bệnh có liên quan tới cơ địa di truyền, rối loạn miễn dịch, tăng sinh thượng bì và một số yếu tố khởi phát bệnh [3], [1]

- Di truyền và bệnh vảy nến:

Mối liên quan giữa HLA và bệnh vảy nến đã được nghiên cứu trong hơn 70 năm, với gen di truyền trên nhiễm sắc thể số 6 liên quan đến các kháng nguyên bạch cầu người như DR7, B13, B17, BW57 và CW6 Một nghiên cứu trên 91 bệnh nhân vảy nến cho thấy sự liên kết với HLA lớp I (HLA-CW6) và lớp II (HLA-DR7), trong đó 91,9% bệnh nhân có tính đặc thù CW6 đều mang KN DR7, so với 50,3% ở nhóm chứng.

Tiền sử gia đình được coi là yếu tố rủi ro quan trọng trong bệnh vảy nến, với khoảng 30% trường hợp có liên quan đến di truyền Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu mối liên hệ này, cho thấy tính chất gia đình của bệnh đã được nhận diện từ lâu.

Rối loạn miễn dịch là nguyên nhân chính gây ra bệnh vảy nến, trong đó có sự tham gia của lympho T hoạt hóa cùng với các cytokines như IL-1, IL-6, IL-8 và nhóm trung gian hóa học eicosanoides, prostaglandin, plasminogen Kết quả cuối cùng của quá trình này là sự tăng sinh tế bào biểu bì và tăng gián phân, dẫn đến sự hình thành bệnh vảy nến.

Trong bệnh vảy nến, sự tăng sinh quá mức của tế bào thượng bì diễn ra mạnh mẽ, với thời gian trưởng thành và di chuyển lên bề mặt da chỉ trong 3-4 ngày, thay vì 28 đến 30 ngày như tế bào bình thường Điều này dẫn đến việc các tế bào da không bong ra mà dính lại với nhau, tạo thành các thương tổn vảy da đặc trưng của bệnh.

- Yếu tố khởi phát bệnh: một số yếu tố có thể khởi phát bệnh hoặc đợt cấp, làm bệnh nặng hơn đã được ghi nhận:

Chấn thương tâm lý có ảnh hưởng lớn đến bệnh vảy nến, với hầu hết người bệnh trải qua tác động ở mức độ khác nhau Finlay nhấn mạnh rằng chấn thương tâm lý tác động sâu sắc đến nhiều khía cạnh trong cuộc sống của người bệnh vảy nến Việc đánh giá tác động tiêu cực của chấn thương tâm lý trên từng bệnh nhân cụ thể sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng chiến lược điều trị dự phòng hiệu quả cho từng trường hợp.

Nhiễm khuẩn, đặc biệt là các nhiễm khuẩn khu trú ở tai mũi họng, được nhiều tác giả công nhận là nguyên nhân chính gây khởi phát hoặc làm nặng thêm bệnh vảy nến, chủ yếu là thể giọt Liên cầu tan huyết β nhóm A đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích sự tăng sinh tế bào lympho T, từ đó duy trì tình trạng bệnh vảy nến đã có sẵn.

Hiện tượng KoeNBer trong bệnh vảy nến có thể xảy ra trên các vết xước do gãi, vết mổ, vết bỏng, hoặc vết tiêm chủng Ngoài ra, hiện tượng này cũng có thể xuất hiện sau khi da bị cháy nắng.

Một số loại thuốc như ức chế β, lithium, corticoid đường toàn thân, interferon, thuốc chống viêm giảm đau nhóm nonsteroid, ức chế enzyme angiotensin và thuốc chống sốt rét (chloroquin, quinacrin) có vai trò quan trọng trong việc điều trị Trong đó, việc sử dụng corticoid đường toàn thân là nguyên nhân phổ biến nhất gây khởi phát bệnh vảy nến thể mủ Đặc biệt, đối với các trường hợp vảy nến thông thường do corticoid toàn thân, các lần tái phát sau thường xuất hiện vảy nến mụn mủ với các mức độ khác nhau.

+ Chế độ ăn uống, rượu và thuốc lá:

Chế độ ăn uống đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý bệnh vảy nến, với các nghiên cứu cho thấy rằng chế độ ăn giàu dầu cá và vitamin A có lợi Ngoài ra, việc tiêu thụ nhiều rau quả cũng giúp tăng cường khả năng bảo vệ cơ thể Một số yếu tố như acid béo không bão hòa và gluten được cho là có ảnh hưởng đến sự tiến triển của bệnh, tuy nhiên, vẫn còn nhiều tranh cãi xung quanh vấn đề này.

Nghiên cứu tại Ecolse cho thấy, trong số 216 bệnh nhân vảy nến và 626 người chứng, những người nghiện thuốc lá có nguy cơ cao hơn so với nhóm không nghiện thuốc lá.

Người bệnh vảy nến nam thường có thói quen uống rượu quá mức, điều này không chỉ ảnh hưởng đến quá trình điều trị mà còn gây rối loạn tâm lý Hơn nữa, việc tiêu thụ rượu có thể làm nặng thêm tình trạng da tổn thương và giảm hiệu quả của các phương pháp điều trị.

Ánh nắng mặt trời và nước ấm có lợi cho sức khỏe người bệnh, trong khi nước lạnh có thể làm tình trạng bệnh nặng thêm Tuy nhiên, một số ít người bệnh, đặc biệt là phụ nữ cao tuổi, có thể trở nên nặng hơn vào mùa hè do nhạy cảm với ánh sáng mặt trời.

Vảy nến không chỉ là một bệnh da mà còn liên quan đến các rối loạn chuyển hóa lipid và đạm, đặc biệt là nguy cơ đột quỵ tim mạch Bên cạnh đó, bệnh này còn có mối liên hệ với các bệnh viêm khác và các bệnh tự miễn như bạch biến và viêm đa khớp dạng thấp.

1.1.2 Chẩn đoán bệnh vảy nến

1.1.2.1 Lâm sàng a Vảy nến thể thông thường:

Cơ sở thực tiễn

Tình hình vảy nến ở Việt Nam và vấn đề nhận thức của người bệnh

Nghiên cứu của PGS Trần Văn Tiến tại Viện Da liễu Trung ương cho thấy có 134 bệnh nhân vảy nến được điều trị từ tháng 3 năm 1999 đến tháng 8 năm 2000, chiếm 12,04% tổng số bệnh nhân nội trú tại viện Dữ liệu này phản ánh tình hình bệnh vảy nến tại Bệnh viện Da liễu Trung ương trong giai đoạn nghiên cứu.

2010, tỷ lệ người bệnh vảy nến chiếm khoảng 2,2% tổng số người bệnh đến khám bệnh

Nghiên cứu chỉ ra rằng từ 40-70% bệnh nhân không tuân thủ chỉ định sử dụng thuốc của bác sĩ Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm giáo dục bệnh nhân, mối quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân, hiệu quả điều trị, thời gian sử dụng, sự phiền phức khi dùng thuốc bôi, và lo ngại về tác dụng phụ.

LIÊN HỆ VỚI THỰC TẾ Error! Bookmark not defined 2.1 Đặc điểm tình hình về Bệnh viện Da liễu Trung ương

Thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại bệnh viện Da liễu Trung ương

Từ 01/01/2020 đến 30/07/2020, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu trên 80 người bệnh vảy nến đến khám và điều trị tại Bệnh viện Da liễu Trung ương

2.2.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

2.2.1.1 Phân bố người bệnh theo tuổi

Bảng 2.1 Phân bố NB theo tuổi (n= 80)

Theo bảng 2.1: Tuổi thấp nhất trong nhóm nghiên cứu là 18 tuổi, tuổi cao nhất là

76 tuổi Nhóm tuổi từ 40-49 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 28 người bệnh (35%)

2.2.1.2 Phân bố người bệnh theo tuổi khởi phát

Bảng 2.2 Phân bố NB theo tuổi khởi phát (n) Tuổi khởi phát ≤ 20 tuổi 20-40 tuổi ≥40 tuổi Tổng

Trong nghiên cứu với 80 bệnh nhân, tuổi khởi phát bệnh dao động từ 6 đến 70 tuổi Đặc biệt, tỷ lệ bệnh nhân có tuổi khởi phát từ 20 đến 40 tuổi chiếm ưu thế, với 51%.

2.2.1.3 Phân bố người bệnh theo giới tính:

Bảng 2.3 Phân bố người bệnh theo giới (n)

Theo kết quả bảng 2.3: Tỷ lệ nam giới mắc vảy nến là 56% cao hơn nữ giới là 44%

2.2.1.4.Phân bố người bệnh theo trình độ văn hóa

Bảng 2.4 Phân bố người bệnh theo trình độ văn hóa (n)

Trình độ văn hóa Tổng số Tỷ lệ % n %

Cao đẳng, đại học Đại học 25 32

Theo bảng 2.4, tỷ lệ người bệnh (NB) có trình độ trung học phổ thông cao nhất đạt 35%, trong khi 32% là người có trình độ cao đẳng, đại học Tỷ lệ thấp nhất thuộc về những người không biết chữ, chỉ chiếm 9%.

2.2.1.5 Phân bố người bệnh theo nghề nghiệp

Bảng 2.5 Phân bố người bệnh theo nghề nghiệp (n)

Nghề nghiệp Tổng số Tỷ lệ % n %

Theo bảng 2.5, tỷ lệ người lao động làm việc trong lĩnh vực lao động chân tay chiếm 43,75%, trong khi đó tỷ lệ người lao động hưu trí, lao động trí óc và học sinh-sinh viên lần lượt là 22,5%, 18,75% và 15%.

2.2.1.6 Phân bố người bệnh theo nơi ở

Bảng 2.6 Phân bố người bệnh theo nơi ở (n)

Nơi ở Tổng số Tỷ lệ % n %

Kết quả từ bảng 2.6 cho thấy tỷ lệ người bệnh (NB) mắc bệnh vảy nến ở nông thôn là 47,5%, trong khi tỷ lệ này ở thành phố là 52,5% Ngoài ra, phương tiện tìm kiếm thông tin về bệnh vảy nến của người bệnh trước khi đến tư vấn tại Bệnh viện Da liễu Trung ương cũng rất quan trọng.

Bảng 2.7 Phương tiện tìm kiếm thông tin về bệnh vảy nến của NB trước khi tư vấn tại bệnh viện da liễu Trung ương (n)

Phương tiện tìm kiếm Trước tư vấn n %

Phương tiện thông tin đại chúng 13 16.2

Kết quả từ bảng 2.7 cho thấy, 52,5% người bệnh vảy nến nhận được kiến thức từ nhân viên y tế, tỷ lệ này cao nhất so với các nguồn khác Trong khi đó, thông tin từ phương tiện truyền thông đại chúng và người thân đều chiếm 16,25% Đáng chú ý, nguồn thông tin từ sách vở chỉ đạt tỷ lệ thấp nhất là 15%.

2.2.1.8 Biện pháp người bệnh đã điều trị trước khi điều trị tại bệnh viện Da liễu Trung ương

Bảng 2.8 Biện pháp người bệnh đã điều trị trước khi điều trị tại Bệnh viện da liễu Trung ương (n)

Tự điều trị theo kinh nghiệm dân gian, thuốc đông y… 23 28.75 Đi khám tại phòng khám của huyện, tỉnh, điều trị theo đơn 45 56.25

Trước khi khám tại Bệnh viện Da liễu Trung ương, 56,25% người bệnh đã lựa chọn khám tại phòng khám huyện, tỉnh theo đơn Tự điều trị theo kinh nghiệm dân gian và thuốc đông y đứng ở vị trí thứ hai với 38,75% Cuối cùng, 15% người bệnh không thực hiện bất kỳ biện pháp nào.

2.2.2.Sự thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành của người bệnh sau khi tư vấn 2.2.2.1 Thay đổi kiến thức của người bệnh về nguyên nhân gây bệnh

Bảng 2.9 Thay đổi kiến thức của NB về nguyên nhân gây bệnh và các vấn đề liên quan đến bệnh vảy nến (n) Thời điểm

Trước tư vấn Sau tư vấn n % n %

Nhiễm khuẩn (Virut, vi khuẩn, ký sinh trùng) 46 57.5 75 93.75

Do yếu tố môi trường 52 65 69 86.25

Kết quả bảng 2.9: Trước và sau tư vấn, tỉ lệ cao nhất thuộc về nhóm căn nguyên chưa rõ (61,25% và 97,5%)

Kiến thức của bệnh nhân về nguyên nhân gây bệnh đã tăng đáng kể từ 61.25% trước khi được tư vấn lên 97.5% sau khi nhận được sự hỗ trợ thông tin.

2.2.2.2 Thay đổi kiến thức của người bệnh về dịch tễ của bệnh

Bảng 2.10.Thay đổi kiến thức của NB về mức độ phổ biến bệnh (n) Thời điểm

Trước tư vấn Sau tư vấn n % n %

Trước khi được tư vấn, chỉ có 56,25% người bệnh nhận thức rằng bệnh này là phổ biến, nhưng sau khi nhận tư vấn, tỷ lệ này đã tăng lên trên 87,5%.

2.2.2.3 Thay đổi kiến thức về yếu tố khởi phát hoặc làm bệnh nặng lên

Bảng 2.11 Thay đổi kiến thức của NB về yếu tố khởi phát hoặc làm bệnh nặng lên (n)

Trước tư vấn Sau tư vấn n % n %

Hút thuốc lá, uống nhiều rượu bia 46 57.5 49 61.25

Khi vùng da của người bệnh tiếp xúc với những chất có tính base cao 42 52.5 47 58.75

Kết quả bảng 2.11: Tất cả sự hiểu biết của NB về yếu tố làm nặng lên và khởi phát bệnh đều tăng lên

2.2.2.4 Thay đổi kiến thức của NB về đặc điểm của bệnh

Bảng 2.12 Thay đổi kiến thức của NB về đặc điểm của bệnh (n)

Trước tư vấn Sau tư vấn n % n % Đã có thuốc điều trị khỏi hoàn toàn 25 31.2 27 33.7

Bệnh da mạn tính, có tính tái phát, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu

Bệnh không gây ảnh hưởng tới môi trường, xã hội và nguy hiểm cho người khác

Kết quả từ bảng 2.12 cho thấy phần lớn người bệnh đã nâng cao nhận thức về đặc điểm của bệnh, tuy nhiên, số lượng người nghĩ rằng bệnh có thuốc điều trị khỏi vẫn không thay đổi.

Số người bệnh nhận thức được bệnh không lây truyền đã giảm từ 26 NB ( 32,5%) xuống không còn NB nào

2.2.2.5 Thay đổi kiến thức của NB về vị trí biểu hiện của bệnh

Bảng 2.13 Thay đổi kiến thức của NB về vị trí biểu hiện của bệnh (n) Thời điểm

Trước tư vấn Sau tư vấn n % n %

Kết quả khảo sát cho thấy trước tư vấn, vị trí da và niêm mạc được lựa chọn cao nhất với 66,25%, tiếp theo là móng tay với 65% Sau khi tư vấn, tỷ lệ này tăng lên lần lượt là 98,75% và 87,5% Trong khi đó, trước tư vấn, biểu hiện khớp có tỷ lệ thấp nhất, nhưng sau tư vấn, tỷ lệ người bệnh cho rằng bệnh có biểu hiện ở các cơ quan khác vẫn chiếm tỷ lệ thấp nhất.

2.2.2.6 Thay đổi kiến thức của NB về cách dùng thuốc duy trì

Bảng 2.14 Thay đổi kiến thức của NB về cách dùng thuốc điều trị duy trì (n)

Trước tư vấn Sau tư vấn n % n %

Kết quả từ bảng 2.14 cho thấy, trước khi nhận tư vấn, 85% bệnh nhân chọn sử dụng thuốc theo đơn, nhưng sau tư vấn, tỷ lệ này tăng lên 97,5% Đồng thời, tỷ lệ bệnh nhân sử dụng thuốc không thường xuyên giảm 10 lần, và tỷ lệ bệnh nhân không sử dụng thuốc giảm từ 26,25% xuống còn 2,5%.

2.2.2.7 Thay đổi thái độ của NB khi mắc bệnh

Bảng 2.15.Thay đổi thái độ của NB khi mắc bệnh (n)

Trước tư vấn Sau tư vấn n % n %

Lo lắng, hoảng sợ vì nghĩ rằng bệnh nguy hiểm đến tính mạng

Không lo lắng nhiều vì tin tưởng vào bác sỹ điều trị

Không cần điều trị gì, nghĩ rằng bệnh tự khỏi

Mặc cảm, tự ti vì bệnh ảnh hưởng tới thẩm mỹ

Lo lắng vì bệnh truyền cho con cái 29 36.2 11 13.7 Giấu bệnh,tự tìm hiểu trên mạng hoặc theo mách bảo của người khác

Kết quả từ bảng 2.15 cho thấy trước khi được tư vấn, 61,25% bệnh nhân lo lắng và hoảng sợ về tính mạng do bệnh nguy hiểm Sau khi tư vấn, tỷ lệ này giảm 9,8 lần, với 10 bệnh nhân không còn lo lắng nhiều về mức độ nguy hiểm của bệnh Chỉ có một bệnh nhân tin rằng bệnh có thể tự khỏi, và không còn ai giấu bệnh hay tìm hiểu thông tin từ mạng hoặc theo lời người khác Tuy nhiên, số bệnh nhân cảm thấy mặc cảm và tự ti vì bệnh ảnh hưởng đến thẩm mỹ, cũng như lo lắng về khả năng lây truyền cho con cái vẫn không giảm nhiều.

2.2.2.8 Thay đổi thực hành của NB trong ăn uống, sinh hoạt

Bảng 2.16 Thay đổi thực hành của NB trong chế độ ăn uống, sinh hoạt (n)

Hạn chế các loại thức ăn gây bệnh, làm bệnh nặng lên, tái phát

Hạn chế TĂ gây bệnh 41,2%; 77%

Không uống rượu và dùng các chất kích thích 59 73.7 68 85 Ăn uống điều độ để tránh tăng cân 34 42.5 75 93.7

Kết quả từ bảng 2.16 cho thấy rằng hành vi không uống rượu, hạn chế sử dụng các chất kích thích, và duy trì chế độ ăn uống điều độ có tác dụng tích cực trong việc ngăn ngừa tăng cân Ngoài ra, việc tránh các loại thực phẩm có thể gây bệnh hoặc làm nặng thêm tình trạng sức khỏe cũng gia tăng đáng kể.

2.2.2.9 Thay đổi thực hành của NB trong việc khám bệnh khi có triệu chứng của bệnh

Bảng 2.17.Thay đổi thực hành của NB trong việc đi khám bệnh khi có triệu chứng của bệnh (n) Thời điểm

Trước tư vấn Sau tư vấn n % n % Đi khám ngay 48 60 65 81.25

Bệnh nặng lên mới khám 42 52.5 12 15

Công việc bận rộn, khi có thời gian sẽ đi khám

Kết quả từ bảng 2.17 cho thấy, trước khi nhận tư vấn, 60% người bệnh đi khám ngay khi có triệu chứng, nhưng sau tư vấn, tỷ lệ này đã tăng lên 81,25% Hành vi chờ đợi đến khi bệnh nặng mới đi khám đã giảm 3,5 lần, trong khi tỷ lệ không đi khám ngay cũng giảm đáng kể.

2.2.2.10 Thay đổi thực hành của NB trong chăm sóc da

Bảng 2.18 Thay đổi thực hành của NB trong chăm sóc da (n)

Trước tư vấn Sau tư vấn n % n %

Tắm hàng ngày, nhẹ nhàng, tránh tổn thương da

Thoa kem làm ẩm thường xuyên theo chỉ định của bác sĩ

50 62.5 69 86.2 Đắp lá, tắm bằng nước lá hàng ngày 53 66.25 0 0

Trong khi tắm, kỳ cọ thật kỹ, bong sạch vảy da

Dùng nhiều xà phòng khi tắm 32 40 4 5

Kết quả từ bảng 2.18 cho thấy rằng hành vi tắm hàng ngày, nhẹ nhàng, tránh gãi và chấn thương da đã giảm, đồng thời việc thoa kem dưỡng ẩm cũng được thực hiện thường xuyên hơn Không còn bệnh nhân nào sử dụng lá để đắp hoặc tắm bằng nước lá Hành vi kỳ cọ kỹ lưỡng và bong sạch vảy da đã giảm 1,5 lần, và không còn ai lơ là trong việc chăm sóc da.

2.2.2.11 Thay đổi thực hành của người bệnh khi tiếp xúc với người khác

Bảng 2.19 Thay đổi thực hành của NB khi tiếp xúc với người khác (n)

Trước tư vấn Sau tư vấn n % n %

Cách ly vì sợ lây cho họ 24 30 0 0

Cách ly vì tự ti 31 38.75 6 7.5

Không cách ly vì bệnh không lây nhiễm 45 56,25 74 92.5

BÀN LUẬN

Thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh mắc bệnh vẩy nến đến khám tại Bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2020

3.1.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân vảy nến có độ tuổi thấp nhất là 18 và cao nhất là 76, tương tự như kết quả nghiên cứu của BS Hoàng Văn Tâm năm 2015 với 30 bệnh nhân tại Bệnh viện Da liễu TW Độ tuổi mắc bệnh chủ yếu tập trung ở nhóm từ 40-49 tuổi, chiếm 35%, không khác biệt nhiều so với tỷ lệ 72,4% ở cùng độ tuổi trong nghiên cứu của PGS Trần Văn Tiến năm 2004 trên 134 bệnh nhân điều trị nội trú Độ tuổi khởi phát bệnh cao nhất trong nhóm nghiên cứu là từ 20-40 tuổi, phù hợp với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Hạnh năm 2009.

Nghiên cứu năm 2009 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 cho thấy bệnh vẩy nến thường khởi phát ở nhóm tuổi lao động từ 20 đến 39, giai đoạn có nhiều biến động ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tinh thần Những biến động này có thể kích thích sự bùng phát của bệnh ở những người có gen di truyền Tuy nhiên, nghiên cứu của PGS Trần Văn Tiến (2004) và PGS Đặng Văn Em (1994-1999) lại chỉ ra rằng tỷ lệ khởi phát ở nhóm tuổi 10 cao hơn Sự khác biệt này có thể do khó khăn trong việc xác định tuổi khởi phát, khi nhiều bệnh nhân không nhớ chính xác thời điểm xuất hiện tổn thương đầu tiên hoặc bị chẩn đoán nhầm với các bệnh da khác do thiếu kinh nghiệm và phương tiện chẩn đoán.

Trong một nghiên cứu, tỷ lệ nam giới mắc bệnh vảy nến là 56%, cao hơn so với 44% ở nữ giới, kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Trần Thị Thoan năm 2018 cho thấy tỷ lệ nam giới mắc bệnh lên tới 67,5% Các yếu tố khởi phát bệnh như hút thuốc, uống rượu và lối sống không điều độ, thường gặp ở nam giới, có thể là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ mắc bệnh vảy nến cao hơn ở nam so với nữ.

Trong số người lao động, 35% có trình độ Trung học phổ thông, 32% có trình độ Cao đẳng và Đại học, trong khi 9% là những người không biết chữ.

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Oanh năm 2007, lao động chân tay chiếm tỷ lệ cao nhất với 43,7%, trong khi lao động trí óc chỉ chiếm 15% Nguyên nhân có thể do nhóm lao động chân tay chủ yếu là nông dân, thường xuyên phải đối mặt với các chấn thương, vi chấn thương và căng thẳng thể lực từ công việc nặng nhọc Những yếu tố này có thể là nguyên nhân khởi phát bệnh vẩy nến.

Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh vẩy nến ở nông thôn là 47,5%, trong khi ở thành phố là 52,5%, cho thấy sự khác biệt không đáng kể, tương tự như kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Liên năm 2011 Tuy nhiên, điều này có thể được giải thích bởi việc người bệnh ở vùng nông thôn thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc và giáo dục sức khỏe, dẫn đến việc họ tự tìm thuốc điều trị không đúng cách, từ đó làm tăng tỷ lệ mắc bệnh vẩy nến.

Nguồn thông tin chính mà người bệnh (NB) tiếp cận chủ yếu là từ nhân viên y tế (52,5%), tiếp theo là phương tiện thông tin đại chúng và người thân (16,25%), trong khi sách vở chỉ chiếm 15% Kiến thức từ nhân viên y tế được xem là đáng tin cậy, do đó cần nâng cao hơn nữa việc truyền đạt thông tin từ nguồn này cho người dân Mặc dù các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là Internet, ngày càng dễ tiếp cận, nhưng người bệnh cần thận trọng trong việc tiếp nhận thông tin Một mối nguy hiểm từ Internet là sự xuất hiện của quảng cáo sai lệch về các phương pháp chữa bệnh, dẫn đến hiểu biết sai lầm và lãng phí tiền bạc, thậm chí có thể gây hại cho sức khỏe nếu áp dụng các phương pháp chưa được kiểm nghiệm.

Trước khi đến Bệnh viện Da liễu Trung ương, phần lớn bệnh nhân đã từng khám tại các phòng khám huyện, tỉnh và điều trị theo đơn thuốc (74,6%) Ngoài ra, nhiều người còn tự điều trị bằng kinh nghiệm dân gian, thuốc đông y, thuốc nam (38,75%) Chỉ có 15% bệnh nhân không thực hiện bất kỳ phương pháp điều trị nào.

Bệnh này là một bệnh mạn tính, có khả năng tái phát sau khi lui bệnh và hiện tại chưa có phương pháp điều trị triệt để Do đó, nhiều bệnh nhân đã tìm kiếm sự điều trị tốt hơn bằng cách khám tại nhiều cơ sở khác nhau và áp dụng nhiều phương pháp điều trị khác nhau.

3.1.2 Sự thay đổi về KAP của NB vảy nến sau khi được tư vấn

3.1.2.1 Thay đổi kiến thức của NB sau khi được tư vấn:

Trước khi tư vấn, chỉ có 61,25% bệnh nhân biết rõ nguyên nhân bệnh chưa xác định, trong đó thuốc chiếm 43,75%, di truyền 70%, và yếu tố môi trường 65% Đặc biệt, 75% bệnh nhân cho rằng đây là bệnh tự miễn Tuy nhiên, sau khi được tư vấn, tỷ lệ này tăng lên 97,5%, cho thấy sự thay đổi rõ rệt trong nhận thức Nghiên cứu cho thấy hầu hết các bệnh viện mà bệnh nhân đã điều trị không giải thích nguyên nhân gây bệnh, và nhiều bệnh nhân chỉ tập trung vào hiệu quả điều trị Tại Bệnh viện Da liễu Trung ương, bệnh nhân có cơ hội trao đổi kiến thức với nhau và với nhân viên y tế, từ đó nhận được thông tin bổ sung về căn nguyên bệnh.

Bệnh vảy nến là một bệnh da liễu phổ biến, ảnh hưởng đến khoảng 2-3% dân số toàn cầu Nhiều bệnh nhân (NB) khi đến Bệnh viện Da liễu Trung ương thường nghĩ rằng bệnh này ít gặp, với 31,25% cho rằng khu vực họ sống có rất ít người mắc Tuy nhiên, sau khi được tư vấn, con số này giảm xuống còn 10% Dù vậy, vẫn còn 2 NB chưa nhận thức được mức độ phổ biến của bệnh, cho thấy cần nâng cao nhận thức cộng đồng về bệnh vảy nến.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, 68,7% bệnh nhân cho rằng thay đổi thời tiết là yếu tố chính gây bệnh và tái phát, tiếp theo là 57,5% nhận định rằng hút thuốc lá và uống nhiều rượu bia làm bệnh nặng lên Một số nhóm thuốc chỉ chiếm 33,7%, trong khi các yếu tố như chấn thương ngoài da, tâm lý, nhiễm khuẩn, và tiếp xúc với chất có tính base cao đều trên 50% Sự khác biệt này phản ánh nhận thức của bệnh nhân chủ yếu dựa vào quan sát các yếu tố dễ thấy trong cuộc sống hàng ngày Sau tư vấn, bệnh nhân đã nhận thức rõ hơn về các yếu tố làm bệnh nặng lên, bao gồm chấn thương tâm lý, hút thuốc lá, uống rượu bia, nhiễm khuẩn, chấn thương ngoài da, tiếp xúc với chất có tính base cao và thay đổi thời tiết Tuy nhiên, chỉ có 37,5% bệnh nhân hiểu biết về ảnh hưởng của một số nhóm thuốc đối với bệnh vảy nến.

Trước tư vấn, 72,5% bệnh nhân nhận định rằng vảy nến là bệnh da mạn tính, có tính tái phát và chưa có thuốc điều trị đặc hiệu 43,75% cho rằng đây là bệnh di truyền, trong khi 31,25% không cho rằng bệnh ảnh hưởng đến môi trường, xã hội và người xung quanh Sau tư vấn, sự hiểu biết về các đặc điểm này đã tăng lên Trước tư vấn, 32,5% bệnh nhân nghĩ rằng bệnh vảy nến là lây truyền, nhưng sau tư vấn, tất cả đều nhận thức rằng đây là bệnh không lây Tuy nhiên, số người bệnh được điều trị khỏi hoàn toàn vẫn không thay đổi.

Vảy nến thường xuất hiện chủ yếu trên da, với 20-40% trường hợp biểu hiện ở móng tay, trong khi các biểu hiện ở các bộ phận khác ít gặp hơn Trước khi tư vấn, 66,2% người bệnh (NB) cho rằng bệnh chỉ biểu hiện ở da và niêm mạc, nhưng sau khi tư vấn, con số này đã tăng lên 98,7% Hiểu biết về các biểu hiện ở móng tay và khớp cũng gia tăng khoảng 1,3 lần Ngoài ra, có 50% NB nhận thức được rằng bệnh có thể ảnh hưởng đến các cơ quan khác Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng người bệnh vẫn thiếu thông tin về các biểu hiện này, mặc dù họ biết bệnh có thể lan tỏa toàn thân, nhưng không rõ ràng về cụ thể cơ quan nào bị ảnh hưởng.

Bệnh vảy nến là một bệnh mãn tính và tái phát, do đó việc điều trị duy trì rất quan trọng, đặc biệt là việc sử dụng thuốc theo đơn Một nghiên cứu cho thấy trước khi tư vấn, 85% bệnh nhân biết cần dùng thuốc theo đơn trong giai đoạn duy trì; sau khi tư vấn, tỷ lệ này tăng lên 97,5% Số lượng bệnh nhân không sử dụng thuốc hoặc sử dụng không thường xuyên đã giảm rõ rệt, chỉ còn 2,5% và 3,75%.

3.1.2.2 Thay đổi thái độ của NB sau khi được tư vấn

Đề xuất một số giải pháp tăng cường tuân thủ điều trị của người bệnh vẩy nến đến khám tại Bệnh viện Da liễu Trung ương

Tại Trung Quốc, hơn 80% bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc điều trị tại chỗ do cảm thấy hiệu quả điều trị thấp, thất vọng với khả năng khỏi bệnh, gặp phiền toái khi dùng thuốc bôi và chi phí điều trị cao.

Tỷ lệ bệnh nhân chú ý đến việc khám lại theo lịch hẹn đã tăng từ 77,5% lên 93,75% Đồng thời, các hành vi không đúng như chỉ khám khi bệnh nặng lên, tự mua thuốc về nhà sử dụng và không tái khám đều giảm đáng kể.

3.1.2.4 Sự thay đổi mức độ kiến thức, thái độ, thực hành của NB sau tư vấn

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy sự thay đổi tích cực giữa mức độ hiểu biết của

Trước khi tư vấn, chỉ có 38,7% người bệnh (NB) có mức độ hiểu biết đạt yêu cầu, trong khi tỷ lệ không đạt gấp đôi tỷ lệ đạt Sau khi tư vấn, con số này tăng lên 83,7% với 32,5% NB có mức độ hiểu biết không đạt (25,4%) Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới về sự hiểu biết của người bệnh về bệnh vảy nến trước và sau tư vấn, các tác giả chủ yếu chỉ đưa ra tỷ lệ hiểu biết về nguyên nhân gây bệnh và yếu tố khởi động bệnh dựa trên cảm nhận chủ quan của người bệnh.

3.2 Giải pháp để tăng cường tuân thủ điều trị của người bệnh vẩy nến đến khám tại Bệnh viện Da liễu Trung ương

Từ thực trạng tuân thủ của người bệnh mắc bệnh vẩy nến điều trị tại Bệnh viện

Da liễu Trung ương năm 2020 tôi đưa ra đề xuất một số giải pháp để người bệnh tuân thủ điều trị như sau

Phòng Điều Dưỡng đã phát triển chương trình giáo dục sức khỏe dành cho bệnh nhân mắc bệnh vẩy nến, bao gồm các buổi truyền thông và tọa đàm nhằm giải đáp những thắc mắc liên quan đến căn bệnh này.

- Tổ chức đào tạo nâng cao kiến thức, kỹ năng giáo dục sức khỏe cho các điều dưỡng viên,

- Kết hợp với hội người bệnh vẩy nến, các đơn vị truyền thông như báo, đài các kênh youtobe để làm các bài truyền thông giáo dục sức khỏe

- Kết nối nguồn lực hỗ trợ kinh phí cho những người bệnh vẩy nến có hoàn cảnh khó khăn

- Tạo điều kiện để người bệnh vẩy nến được tiếp cận với các dịch vụ kỹ thuật mới của bệnh viện

- Tăng cường các phòng khám sắp xếp thời gian phù hợp để các bác sỹ có nhiều thời gian chia sẻ với người bệnh

- Nhắc nhở lịch tái khám tư vấn gọi điện chia sẻ

3.2.2 Đối với người bệnh và gia đình người bệnh

Khuyến khích bệnh nhân và gia đình tham gia các buổi tư vấn về bệnh vẩy nến để nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc tuân thủ điều trị.

- Tăng cường kiến thức hiểu biết về bệnh

Để giảm thiểu tổn thương, cần hạn chế tiếp xúc với các yếu tố có thể làm tình trạng trở nên nghiêm trọng hơn, bao gồm các chất kích thích, đồ uống có cồn, và các loại thuốc nam hoặc thuốc lá không rõ nguồn gốc.

- Khám lại đúng hẹn để việc dùng thuốc được duy trì

- Cần có chế độ luyện tập, ăn uống sinh hoạt điều độ tránh thức khuya dậy sớm và dùng các chất kích thích

Ngày đăng: 10/06/2021, 16:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Tiến Bộ (2012). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, yếu tố liên quan và hiệu quả điều trị bệnh vảy nến thông thường bằng uống Vitamin A acid (Soriatane), Luận văn chuyên khoa cấp II, Đại học y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, yếu tố liên quan và hiệu quả điều trị bệnh vảy nến thông thường bằng uống Vitamin A acid (Soriatane)
Tác giả: Đỗ Tiến Bộ
Nhà XB: Đại học y Hà Nội
Năm: 2012
7. Đặng Văn Em (2013). Bệnh vảy nến: Sinh bệnh học và chiến lược điều trị. Sách chuyên khảo, Nhà xuất bản y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh vảy nến: Sinh bệnh học và chiến lược điều trị
Tác giả: Đặng Văn Em
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2013
10. Trần Hậu Khang (2014). Bệnh học Da liễu, Nhà xuất bản Y học - tập 1 11. Nguyễn Thị Liên (2011). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng vàhiệu quả điều trị bệnh vẩy nến thể mủ bằng Methotxetxat phối hợp corticoid, Luận văn thạc sỹ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh học Da liễu
Tác giả: Trần Hậu Khang
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2014
13. Nguyễn Thị Minh (2007). Nghiên cứu hiệu quả điều trị bổ trợ bệnh vảy nến thông thường bằng tắm nước khoáng Mỹ Lâm - Tuyên Quang, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hiệu quả điều trị bổ trợ bệnh vảy nến thông thường bằng tắm nước khoáng Mỹ Lâm - Tuyên Quang
Tác giả: Nguyễn Thị Minh
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2007
15. Nguyễn Thị Kim Oanh (2007). Nghiên cứu ảnh hưởng của bệnh vẩy nến đến chất lượng cuộc sống người bệnh, Luận văn thạc sĩ y học, Học viện quân Y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của bệnh vẩy nến đến chất lượng cuộc sống người bệnh
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Oanh
Nhà XB: Học viện quân Y
Năm: 2007
17. Trần Văn Tiến (2004). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và miễn dịch tại chỗ của bệnh vảy nến thông thường, Luận án tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và miễn dịch tại chỗ của bệnh vảy nến thông thường
Tác giả: Trần Văn Tiến
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2004
21. Bùi Thị Vân (2011). Nghiên cứu một số thành phần hóa học của thạch lô hội và hiệu quả điều trị hỗ trợ bệnh vảy nến thông thường bằng kem lô hội AL- 04, Luận án tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số thành phần hóa học của thạch lô hội và hiệu quả điều trị hỗ trợ bệnh vảy nến thông thường bằng kem lô hội AL- 04
Tác giả: Bùi Thị Vân
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2011
22. Gudjonsson JE, Elder JT (2012), Psoriasis. Fitzpatrick’s Dermatology in General Medicine, 8 th edition, Mc Graw Hill Sách, tạp chí
Tiêu đề: Psoriasis
Tác giả: Gudjonsson JE, Elder JT
Nhà XB: Mc Graw Hill
Năm: 2012
23. Reich A, Bran BA (2010). New insights into the Pathogenesis of Psoriasis.European Dermatology Sách, tạp chí
Tiêu đề: New insights into the Pathogenesis of Psoriasis
Tác giả: Reich A, Bran BA
Nhà XB: European Dermatology
Năm: 2010
24. Zhang L., Yang H. và Wang Y. et al (2014). Self-Medication of Psoriasis in Southwestern China, Dermatology Sách, tạp chí
Tiêu đề: Self-Medication of Psoriasis in Southwestern China
Tác giả: Zhang L., Yang H., Wang Y
Nhà XB: Dermatology
Năm: 2014
2. Bộ môn Da liễu - Học viện Quân y (2001). Bệnh vảy nến, Giáo trình dùng cho Đào tạo sau Đại học, Nhà xuất bản quân đội nhân dân Khác
3. Bộ môn Da liễu Học viện quân y (2008). Bệnh da và hoa liễu, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội Khác
4. Bộ Y Tế (2015). Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh da liễu (Ban hành kèm theo quyết định số 75/QĐ-BYT ngày 13/1/2015) Khác
5. Lê Kinh Duệ (1997). Một số kiến thức mới về căn sinh học bệnh vảy nến, Nội sản Da liễu Khác
6. Đặng Văn Em (2000). Nghiên cứu một số yếu tố khởi động, cơ địa và thay đổi miễn dịch trong vẩy nến thông thường, Luận án tiến sĩ Y học, Trường đại học Y Hà Nội Khác
8. Nguyễn Quế Hằng (2015). Mối liên quan giữa chỉ số PASI và điểm đánh giá chất lượng cuộc sống ở người bệnh vảy nến thông thường, Tốt nghiệp bác sĩ đa khoa, Trường Đại học Y Hà Nội Khác
9. Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2009). Nghiên cứu tình hình, đặc điểm lâm sàng và tác dụng điều trị bệnh vẩy nến bằng đường uống Methoretxat trong 36 giờ/tuần, Luận văn thạc sỹ y học, Học viện Quân Y Khác
12. Hoàng Thị Ngọc Lý (2012). Đánh giá kết quả điều trị bệnh vảy nến thể thông thường bằng Cyclosporin A, Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội Khác
16. Hoàng Văn Tâm (2015). Điều trị bệnh vẩy nến thông thường bằng UVB giải hẹp, Luận văn Bác sỹ nội trú, Trường Đại học Y Hà Nội Khác
18. Phạm Thị Thảo (2015). Nghiên cứu nồng độ IL-17 trong máu người bệnh vẩy nến thể đặc biệt và mối liên quan với mức độ bệnh, Luận văn bác sĩ nội trú, Trường Đại học Y Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w