Mối liên hệ giữa Hộ kinh doanh doanh nghiệp tư nhân công ty hợp danh. So sanh Hộ kinh doanh doanh nghiệp tư nhân công ty hợp danh
Trang 1MỤC LỤC
HỘ KINH DOANH – DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN – CTY HỢP DANH
2 _ ĐÁNH GIÁ PHÂN TÍCH VỀ MÔ HÌNH HỘ KINH DOANH: 5
1 _ KHÁI NIỆM CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 10
2 _ ĐÁNH GIÁ PHÂN TÍCH VỀ MÔ HÌNH CTY HỢP DANH: 37
HỘ KINH DOANH – DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN –
CTY HỢP DANH
Trang 2Đối với hộ kinh doanh buôn chuyến, kinh doanh lưu động thì phải chọn một địa điểm cốđịnh để đăng ký hộ kinh doanh Địa điểm này có thể là nơi đăng ký hộ khẩu thường trú,nơi đăng ký tạm trú hoặc địa điểm thường xuyên kinh doanh nhất, nơi đặt địa điểm thumua giao dịch Hộ kinh doanh buôn chuyến, kinh doanh lưu động được phép kinh doanhngoài địa điểm đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh nhưng phải thông báo cho cơquan thuế, cơ quan quản lý thị trường nơi đăng ký trụ sở và nơi tiến hành hoạt động kinhdoanh.
Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong,quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phảiđăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện Ủy ban nhân dân tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địaphương
Hộ kinh doanh chỉ được sử dụng thường xuyên dưới 10 lao lao động, nếu có sử dụngthường xuyên hơn mười lao động phải chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức doanhnghiệp
Mỗi người góp vốn trong hộ kinh doanh đều có mã số thuế thu nhập cá nhân, mã số củangười đại diện Hộ kinh doanh được sử dụng khai, nộp thuế GTGT, Tiêu thụ đặc biệt,
Trang 3thuế môn bài,… chung cho hộ kinh doanh và khai thuế thu nhập cá nhân cho bản thânngười đại diện.
1.2 Đăng ký hộ kinh doanh :
(Theo Thông tư số 03/2006/TT-BKH ngày 19/10/2006 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Cá nhân hoặc người đại diện hộ gia đình nộp đơn đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh cá thể đến Phòng đăng ký kinh doanh thuộc UBND cấp huyện nơi đặt địa điểm kinh doanh, Đối với hộ kinh doanh buôn chuyến, kinh doanh lưu động trong địa bàn cấp huyện thì phải chọn một địa điểm cố định để đăng ký kinh doanh như nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, nơi đăng ký tạm trú, nơi đặt địa điểm thu mua giao dịch
Cá nhân hoặc người đại diện hộ gia đình khi nộp đơn đăng ký kinh doanh phải xuất trình bản chính sổ hộ khẩu hoặc chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của người đứng tên đăng
ký kinh doanh
Trường hợp kinh doanh các ngành, nghề đòi hỏi phải có chứng chỉ hành nghề, thì kèm theo đơn phải có thêm bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề của cá nhân hoặc người đại diện hộ gia đình
1.3 Tên cơ sở kinh doanh
Hộ kinh doanh có tên gọi riêng Tên hộ kinh doanh bao gồm hai thành tố sau đây:
a) Thành tố thứ nhất: loại hình “Hộ kinh doanh”;
b) Thành tố thứ hai: tên riêng của hộ kinh doanh
Tên riêng phải viết được bằng tiếng Việt, có thể kèm theo chữ số và ký hiệu, phát âm được
Không được sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc để đặt tên riêng cho hộ kinh doanh
Tên riêng hộ kinh doanh không được trùng với tên riêng của hộ kinh doanh đã đăng ký trong phạm vi huyện
1.4 Sổ sách và thuế
Trang 4Hộ kinh doanh không phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp nhưng phải chịu thuế thu nhập cá nhân.
Hộ kinh doanh có quyền tự khai thuế và cơ quan thuế có quyền xem xét, ấn định mức thuế thu nhập cá nhân đối với từng hộ kinh doanh
Ngoài thuế môn bài, thuế thu nhập cá nhân thì hộ kinh doanh phải tham gia đóng góp công quỹ và một số lệ phí khác tùy theo sự vận động của địa phương
1.5 Qui mô và sự lựa chọn mô hình
Hộ kinh doanh có chi phí đăng ký ban đầu thấp do không cần công bố thành lập, không cần con dấu, chế độ khai báo thuế đơn giản
Tuy nhiên khó mở rộng mô hình kinh doanh khi tình hình kinh doanh phát triển
Không thể ủy quyền cho người khác và hộ kinh doanh khó hoạt động hiệu quả khi vắng mặt người đứng tên đăng ký kinh doanh
Khoản thuế phải nộp phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhân viên ngành thuế
1.6 Cho thuê, bán cơ sở kinh doanh
Có thể cho thuê hoặc bán lại cơ sở kinh doanh của mình tuy nhiên người chủ kinh doanhvẫn là người đứng tên trên GPKD khi cho thuê cơ sở kinh doanh, do đó vẫn phải chịu mọi trách nhiệm pháp lý đối với cơ sở mình đã cho thuê
Đối với ngành nghề yêu cầu người chủ phải có những chứng chỉ nhất định thì việc cho thuê cơ sở kinh doanh có thể dẫn đến phạm pháp nếu người thuê không có được những chứng chỉ này
Nếu bán cơ sở kinh doanh thì người chủ mới phải làm thủ tục đăng ký và tiếp nhận lại mọi trách nhiệm liên quan đến cơ sở kinh doanh kể từ ngày đừng trên trên GPKD mới
2 ĐÁNH GIÁ PHÂN TÍCH VỀ MÔ HÌNH HỘ KINH DOANH:
2.1 Bản chất pháp lý của hộ kinh doanh
Thứ nhất, “hộ gia đình” không phải là cá nhân và cũng không phải là pháp nhân,
mà là một chủ thể đặc biệt của pháp luật Việt Nam Do đó hộ kinh doanh cá thể hay
Trang 5hộ kinh doanh không hoàn toàn là thương nhân thể nhân Nhưng trước đây, hộ cá thể và hộ tiểu công nghiệp (hình thức đầu tiên của hộ kinh doanh cá thể hay hộ kinh doanh), theo Nghị định số 27- HĐBT ngày 9/3/1988, là thương nhân thể nhân.Thứ hai, tập hợp các cá nhân hay các thành viên của “hộ gia đình” không dễ xác định Dấu hiệu của một “gia đình” được thể hiện qua quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hay quan hệ nuôi dưỡng Song “hộ gia đình” không bao gồm tất cả các thành viên có các mối quan hệ đó với nhau Tuy nhiên số lượng các thành viên thuộc hộ gia đình có thể biến động, vì vậy gây khó khăn không ít cho việc giải quyết tranh chấp có liên quan Trong thực tiễn tư pháp và trong thực tiễn thi hành pháp luật ở các cơ quan hành pháp, người ta thường xác định tập hợp thành viên hộ gia đình thông qua sổ hộ khẩu Đây có lẽ không phải là một việc làm hợp lý bởi sự tồn tại của sổ hộ khẩu không có
cơ sở để đứng vững trong giai đoạn hiện nay Hơn nữa sổ hộ khẩu không nói lên vấn
đề rằng các thành viên có cùng trú ngụ hay cùng kiếm sống hay không Có lẽ cần đưa vào nội dung đăng ký kinh doanh việc xác định các thành viên của hộ gia đình khi đăng ký kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh, bởi vấn đề xác định các thành viên như vậy có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của các chủ nợ của hộ kinh doanh
2.2 Đặc điểm pháp lý của hộ kinh doanh :
Hộ kinh doanh có các đặc điểm pháp lý sau:
Hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân
Hộ kinh doanh không phải là một thực thể tách biệt với cá nhân thành lập nên nó Mọi tài sản trong của hộ kinh doanh đều là tài sản của cá nhân tạo lập nó Cá nhân tạo lập hộ kinh doanh hưởng toàn bộ lợi nhuận (sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ tài chính vàthanh toán theo qui định của pháp luật) và gánh chịu mọi nghĩa vụ Cá nhân tạo lập hộ kinh doanh có thể là nguyên đơn hoặc bị đơn trong các vụ án liên quan tới hoạt động của hộ kinh doanh
Trang 6Hộ kinh doanh là hình thức kinh doanh qui mô rất nhỏ
Đặc điểm này không xuất phát từ bản chất bên trong của hình thức kinh doanh này
mà xuất phát từ các qui định của pháp luật Việt Nam căn cứ vào số lượng lao động được sử dụng trong hộ kinh doanh Hộ kinh doanh theo Nghị định số 88/2006 NĐ-
CP chỉ được tiến hành kinh doanh tại “một địa điểm”
Chủ hộ kinh doanh chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của hộ kinh doanh
Hộ kinh doanh không phải là một thực thể độc lập, tách biệt với chủ nhân của nó Nên
về nguyên tắc chủ nhân của hộ kinh doanh phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với khoản nợ của hộ kinh doanh, có nghĩa là chủ nhân của hộ kinh doanh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình kể cả tài sản không đưa vào kinh doanh
Nếu hộ kinh doanh do một hộ gia đình làm chủ, thì ngoài việc đưa tài sản kinh doanh ra
để trả nợ, việc xác định trách nhiệm của các và từng thành viên hộ gia đình cần tới các qui định của Bộ luật Dân sự 2005 Theo Bộ luật này, hộ gia đình chịu trách nhiệm bằng tài sản chung của hộ; nếu tài sản chung không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng của mình (Điều
110, khoản 2) Như vậy hộ kinh doanh trong trường hợp này rất gần với công ti hợp danh
Nếu hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ thì vấn đề có lẽ trở nên phức tạp hơn nhiều, bởi chế độ trách nhiệm của thành viên trong nhóm không được pháp luật qui định cụ thể mà phụ thuộc vào sự giải thích Nếu xem hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ là một công ti hợp danh không có tư cách pháp nhân như trên đã nói thì các thành viên trong nhóm phải chịu trách nhiệm liên đới và vô hạn định đối với các khoản nợ của hộ kinh doanh
2.3 Quản trị và vận hành:
2.3.1 Quản trị hộ kinh doanh :
Trang 7Có lẽ nhiều người sẽ cảm thấy kỳ lạ khi pháp luật điều tiết vấn đề quản trị hộ kinh doanh Cảm giác đó không tránh khỏi một khi cứ tâm niệm hộ kinh doanh là cá nhân kinh doanh Như trên đã phân tích hộ kinh doanh ở Việt Nam hiện nay không chỉ là cá nhân kinh doanh, mà còn là hộ gia đình kinh doanh hoặc một nhóm người cùng nhau kinh doanh Hộ gia đình kinh doanh đã được Bộ luật Dân sự 1995 và Bộ luật Dân sự 2005 qui định rõ ràng về chế độ quản trị Còn theo lẽ thường, một nhóm người cùng nhau góp vốn kinh doanh luôn luôn đòi hỏi một chế độ quản trị Thế nhưng pháp luật Việt Nam hiện nay bỏ ngỏ câu chuyện này Bộ luật Dân sự 2005 có những qui định rất không hợp lý về chế độ quản trị hộ gia đình.
Pháp luật cho phép hộ kinh doanh được tạo lập bởi một nhóm người cùng nhau góp vốn, trong khi pháp luật chỉ quan tâm tới người đại diện cho nhóm và không cần biết tới từng người, và thỏa thuận giữa họ với nhau là không thỏa đáng cả về vấn đề trách nhiệm của từng người đối với các khoản nợ của hộ kinh doanh, lẫn vấn đề quản trị
2.3.2 Vận hành hộ kinh doanh :
Hộ kinh doanh được tiến hành kinh doanh ngay sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và tại địa điểm kinh doanh xác định khi đăng ký kinh doanh Tuy nhiên hộ buôn chuyến, kinh doanh lưu động phải thông báo với nhà chức trách thuế và quản lý thị trường Trong quá trình kinh doanh, hộ kinh doanh có thể thay đổi nội dung kinh doanh hoặc ngừng kinh doanh quá ba mươi ngày nhưng phải thông báo cho nhà chức trách có thẩm quyền biết Tuy nhiên hộ kinh doanh không được ngừng kinh doanh quá một năm
Trong hoạt động quản trị và vận hành có một điều rất quan trọng cần phải ghi nhớ là nếu luôn luôn muốn kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh thì phải vận hành hộ kinh doanh làm sao để không sử dụng mười lao động thường xuyên trở lên, bởi việc sử dụng mười lao động thường xuyên khiến hộ kinh doanh phải đăng ký dưới hình thức doanh nghiệp theo qui định của Điều 36, khoản 3, Nghị định số
88/2006/NĐ-CP
Trang 82.4 Chấm dứt hộ kinh doanh :
Việc chấm dứt hộ kinh doanh cũng phải được xem xét từ bản chất pháp lý của hộ kinh doanh Nếu hộ kinh doanh là cá nhân kinh doanh, thì khi cá nhân thành lập hộ kinh doanh chết, hộ kinh doanh đương nhiên chấm dứt sự tồn tại Nhưng nếu hộ kinh doanh không phải do một cá nhân làm chủ thì chắc hẳn nguyên lý trên khó có thể được áp dụng, bởi hộ kinh doanh không hoàn toàn thuộc sản nghiệp của
một cá nhân
Hộ kinh doanh có thể chấm dứt bởi ý chí của các chủ nhân của nó, có nghĩa là cá nhân, hộ gia đình hoặc một nhóm người có thể chấm dứt hộ kinh doanh theo ý muốn của mình Tuy nhiên vấn đề mà pháp luật còn bỏ ngỏ là đối với hộ kinh doanh được tạo lập nên bởi một nhóm người thì việc chấm dứt phải theo nguyên tắc nhất trí hay nguyên tắc đa số, hay theo nguyên tắc phụ thuộc vào ý chí của người đại diện nhómđứng tên đăng ký kinh doanh Cần phải hiểu việc cùng nhau đóng góp vốn tạo lập
ra một tổ chức kinh doanh về nguyên tắc những người cùng nhau góp vốn bình đẳng với nhau, nhất là tổ chức kinh doanh đó không có tư cách pháp nhân Đối với hộ kinh doanh được thành lập bởi một hộ gia đình thì vấn đề có thể được giải quyết thông qua các qui định của Bộ luật Dân sự 2005 rằng “Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý” (Điều 109, khoản 2)
Hộ kinh doanh cũng có thể bị chấm dứt bởi pháp luật hay nói cách khác bởi hiệu lực của luật Hiện nay pháp luật Việt Nam dự liệu một số trường hợp có thể dẫn tới việc chấm dứt hộ kinh doanh thông qua con đường thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (Điều 47, Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006) Các trường hợp dẫn tới việc thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh bao gồm: (1) Không
Trang 9tiến hành hoạt động kinh doanh trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; (2) ngừng hoạt động kinh doanh hơn sáu tháng liên tục mà khong thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền; (3) chuyển địa điểm kinh doanh sang quận, huyện khác; và (3) kinh doanh các ngành, nghề bị cấm Nghị định này cũng không cho phép hộ kinh doanh ngừng kinh doanh quá một năm (Điều 41, khoản 2) Như vậy có thể hiểu hộ kinh doanh chỉ còn cách chấm dứt và thành lập lại nếu muốn ngừng kinh doanh quá một năm Việc ép uổng kinh doanh như vậy gây khó khăn cho những người dân vốn ít, trình độ kinh doanh thấp với những toan tính sinh hoạt hàng ngày, tuy nhiên tạo sự dễ dàng cho việc quản lý nhà nước
II DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN.
1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN.
Trang 101.1. Khái niệm:
Theo khoản 1 điếu 141 Luật Doanh nghiệp “ Doanh nghiệp tư nhân là một doanhnghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình vềmọi hoạt động của doanh nghiệp” Theo định nghĩa này, doanh nghiệp tư nhân là đơn vịkinh doanh do một cá nhân làm chủ, cá nhân đó chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản củamình về mọi hoạt động của doanh nghiệp
Đặc biệt đối với nền kinh tế đang phát triển là Việt Nam thì số lượng loại hình doanhnghiệp này chiếm một vị trí khá lớn
1.2 Quy chế pháp lý về doanh nghiệp tư nhân Việt Nam
1.2.1 Đăng ký kinh doanh:
Sau khi đăng kí tại phòng ĐKKD thuộc các sở KH&ĐT cấp tỉnh (Nhiều đô thị lớnđược phép thành lập nhiều phòng ĐKKD), DNTN chính thức được thành lập và bắt đầucuộc sống của nó với tư cách là một doanh nghiệp Thủ tục đăng kí DNTN hiện nay đãđơn giãn, người chủ cơ sở kinh doanh phải kê khai thông tin cá nhân, địa điểm dự kiếnkinh doanh, tổng số và chi tiết các loại vốn đưa vào kinh doanh cũng như xuất trình cácchứng chỉ và GPKD đối với những ngành nghề kinh doanh cần tới những điều kiện này.Quy định về vốn tối thiểu (hay vốn pháp định) cần có cho một DNTN về cơ bản đã đượcxóa bỏ, ngoại trừ những ngành nghề đặc biệt như kinh doanh ngân hàng, bảo hiểm và một
số nghề kinh doanh chứng khoán, điều 141-145 LDN
1.2.2 Tên kinh doanh và con dấu :
Sau khi đăng kí, tên doanh nghiệp trở thành một loại tài sản được bảo hộ, chí íttrong địa bàn tỉnh nơi đã đăng kí (thậm chí trong phạm vi toàn quốc, và ở nước ngoài nếutên đó được bảo hộ như nhãn hiệu hàng hóa hay các đối tượng sở hửu công nghiệp nổitiếng khác) Tên DN phải có hai thành tố, bao gồm loại hình DN và tên riêng, ví dụ:DNTN Sông Hồng, trong đó Sông Hồng là tên riêng Chức năng của tên riêng chủ yếu đểphân biệt, bởi vậy tên DN không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với những tên riêng củacác DN khác đã được đăng kí trước đó trong phạm vi toàn quốc, điều 31-34 LDN, điều14.1 nghị định số 43/2010/NĐ-CP
Trang 11Tên riêng phải viết được bằng tiếng Việt, chứ không nhất thiết phải là tiếng Việt, vídụ: Tony không phải chuyển thành Tôny Mặc dù đã có những hướng dẫn chi tiết giúpnhận dạng các tên có thể gây nhầm lẫn, điều 34 LDN, song việc phát hiện các đối thủcạnh tranh có tên gây nhầm lẫn và chứng minh các yếu tố gây nhầm lẫn đó đôi khi không
dễ dàng, ví dụ: Tôny & Bạn, Tôny A được xem là gây nhầm lẫn với tên riêng Tôny, DNTN được quyền mua và đăng kí con dấu tròn theo mẫu và thể thức do Chính Phủquy định tại điều 36 LDN Các văn bản phát hành nội bộ và phát hành ra bên ngoàithường phải có chữ kí của người có thẩm quyền và con dấu của doanh nghiệp đóng trùmlên một phần của chữ kí ấy Thói quen này không theo quốc tế nên có thể phát sinhnhững tranh chấp về hiệu lực các văn bản của DN, khi chúng đã được kí mà chưa đượcđóng dấu hoặc ngược lại
1.3 Sản nghiệp thương mại
Có tên riêng, có mã số thuế riêng, có con dấu riêng, phải tuân thủ các quy chế sổsách tài chính như các công ty khác Thực tế này làm cho DNTN có phần khác đáng kể
so với hộ kinh doanh, bởi hộ kinh doanh không thể xuất hiện trong các giao dịch dưới tênriêng của cơ sở kinh doanh Ví dụ trong khi ông chủ chẳng may qua đời, song DN vẫntiếp tục duy trì tồn tại riêng của nó Chính vì thế, không hiếm khi người ta có cảm giácDNTN dường như đã trở thành một thực thể riêng, có thể giao dịch dưới tên riêng của nó,tức là đã gần như một pháp nhân đang tách dần khỏi người chủ, có các quyền và nghĩa vụriêng của nó theo điều 8-9 LDN Tích lũy dựa trên khối tài sản được đưa vào kinh doanh,
từ tên tuổi và sự tin tưởng của khách hàng, trên sổ sách DNTN đã có một khối tài sảnriêng tách ra khỏi tài sản tư nhân khác của người chủ, khối tài sản này được gọi là sảnnghiệp thương mại của thương nhân đơn lẻ Tuy chưa có quan hệ mạch lạc về vấn đề này,song LDN đã quan tâm tới sản nghiệp riêng của DNTN tại điều 142 LDN
1.4 Trách nhiệm của chủ DNTN
Chủ DNTN chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi khoản nợ củadoanh nghiệp, điều 141.1 LDN Trách nhiệm trả nợ vô hạn này của người chủ DNTNgiống trách nhiệm của chủ cơ sở kinh doanh theo mô hình hộ kinh doanh Tuy sản nghiệpthương mại được tạo ra nhưng người chủ DNTN được quy định là nguyên đơn, bị đơn,
Trang 12người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong kiện tụng, điều 143.3 LDN Quy định có thểdẫn đến phiền toái, ví dụ khi chủ doanh nghiệp chết nếu có người thừa kế theo di chúc thì
DN muốn tồn tại thì cá nhân này phải đăng kí lại để trở thành chủ mới của DN hay ngườichủ chết đột ngột không có di chúc nếu cộng đồng thừa kế không thỏa thuận được gây ratranh chấp sẽ làm tổn thương đến danh tiếng, hình ảnh DN
1.5. Cho thuê và bán sản nghiệp thương mại
Khối sản nghiệp được tạo dựng thông qua một DNTN có thể được cho thuê mộtphần hoặc toàn bộ tùy theo hợp đồng giữa người chủ DNTN và bên nhận thuê Hợp đồngcho thuê phải công chứng Chủ DNTN phải báo cáo với cơ quan ĐKKD và cơ quan thuế
về việc cho thuê sản nghiệp và vẫn phải chịu trách nhiệm vô hạn về tất cả các khoản nợcủa DNTN, điều 144 LDN
Người chủ bán toàn bộ sản nghiệp được tạo dựng qua DNTN Người mua phải đăng
kí kinh doanh với tư cách là chủ mới tiếp nhận DNTN, điều 145.4 LDN Người chủ củphải thông báo tình hình thanh toán công nợ với cơ quan ĐKKD, vẫn phải chịu tráchnhiệm về các khoản nợ đó sau khi DN đã được bán trừ trường hợp chuyển nghĩa vụ đượccác chủ nợ và người tiếp nhận nghĩa vụ chấp nhận, điều 145.2 LDN
1.6 Điều hành – sổ sách và thuế :
Người chủ có thể trực tiếp hoặc ủy quyền cho người khác điều hành DNTN Vănbản thuê hoặc chỉ định người điều hành phải được đăng kí với cơ quan ĐKKD Với tưcách là người ủy quyền, người chủ vẫn phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản
nợ của DNTN, điều 143.2 LDN
Khác với hộ kinh doanh, DNTN được xem là doanh nghiệp, chế độ ghi chép báo cáo
sổ sách kế toán và chế độ thuế được áp dụng tương tự như các công ty, điều 2.a Luật thuếTNDN 2008, điều 2.1.a NĐ 124/2008/NĐ-CP Đối với DNTN thì người chủ doanhnghiệp phải chịu hai lần thuế với tiền lãi kiếm được: lần thứ nhất phải chịu thuế thu nhậpdoanh nghiệp, lần thứ hai lợi tức thu được của người chủ phải đóng thuế thu nhập cá nhântheo điều 3.1.a luật thuế TNCN 2008 và NĐ 100/2008/NĐ-CP Tuy nhiên, trên thực tếdường như Bộ tài chính hướng dẫn chỉ thu thuế TNDN mà không thu thuế TNCN đối với
Trang 13chủ DNTN, mặc dù cơ sở pháp lý của quan điểm này chưa thật chắc chắn, điều 1.3.1 vàđiều 11.3.3 TT 84/2008/TT-BTC.
1.7 Giải thể doanh nghiệp tư nhân – phá sản :
DNTN có thể được giải thể tự nguyện tùy theo ý muốn của người chủ hoặc có thể bịbắt buộc phải giải thể trong các trường hợp pháp luật quy định, ví dụ bị thu hồi giấychứng nhận ĐKKD do giả mạo kê khai hồ sơ, do người chủ bị cấm kinh doanh, haykhông đăng kí mã số thuế, điều 157.1 và điều 165.2 LDN Người chủ phải công khaiquyết định giải thể cho các chủ nợ, thông báo các khoản nợ và thời hạn, phương thứcthanh toán Sau khi thanh toán hết các khoản nợ cơ quan ĐKKD xem xét xóa tên DNtrong sổ ĐKKD, điều 158 LDN Người chủ DNTN phải chịu trách nhiệm cá nhân chomọi khoản nợ dù cơ sở kinh doanh có được giải thể hợp pháp, song điều ấy dường nhưkhông xóa được trách nhiệm trả nợ của người chủ DNTN đối với các khoản nợ của DN.Khác với cá nhân KD khi vỡ nợ, người chủ DNTN có thể tránh được sự xâu xé củacác chủ nợ bằng cách nộp đơn yêu cầu được tuyên bố phá sản ra tòa án, điều 15.1 LPS.Tuy nhiên người chủ DN không được tuyên bố miễn trách, trái lại vẫn phải chịu tráchnhiệm vô hạn về các khoản nợ, điều 90.1 LPS Ngoài ra còn có thể bị cấm đăng kí thànhlập mới hay giữ các chức vụ quản lí trong DN trong một thời gian từ 1-3 năm kể từ ngàyDNTN bị tòa tuyên phá sản, điều 94.2 LPS
2 ĐÁNH GIÁ PHÂN TÍCH VỀ MÔ HÌNH DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN:
2.1. Ưu điểm:
Do là chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp nên doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn chủ động trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến tổ chức, điều hành mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Chủ doanh nghiệp có quyền hưởng toàn bộ lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mang lại
Chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân tạo sự tin tưởng cho đối tác, khách hàng Doanh nghiệp có thể dễ dàng vay các khoản tín dụng lớn từ ngân hàng Khi cung cấp tín dụng, ngân hàng có thể căn cứ vào tài sản của chủ doanh nghiệp chứ không chỉ căn cứ vào tài sản của doanh nghiệp, toàn bộ tài sản của chủ doanh nghiệp là một bảo
Trang 14đảm cho việc thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp Bên cạnh đó, việc không có tư cách pháp nhân giúp cho doanh nghiệp ít chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi pháp luật như các loại hình doanh nghiệp khác.
Chủ doanh nghiệp có quyền bán, cho thuê doanh nghiệp nếu muốn Đồng thời chủ doanh nghiệp có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư của mình vào hoạt động của doanh nghiệp, điều này cho thấy doanh nghiệp có quyền định đoạt tài sản của doanh nghiệp theo ý muốn của mình
2.2 Hạn chế:
Chủ sở hữu doanh nghiệp chỉ được làm chủ một doanh nghiệp tư nhân, không được đồng thời là chủ sở hữu của doanh nghiệp tư nhân khác hoặc chủ sở hữu hộ kinh doanh hoặc thành viên hợp danh công ty hợp danh
Nếu chế độ sở hữu và chịu trách nhiệm như phân tích ở bên trên được coi là một ưu điểm của DNTN thì nó cũng là một nhược điểm rất lớn của loại hình doanh nghiệp này Việc không có sự tách bạch về tài sản giữa chủ doanh nghiệp và doanh nghiệp dẫn đến khi có rủi ro xảy ra, chủ doanh nghiệp tư nhân sẽ phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình và của cả DNTN chứ không chỉ giới hạn trong phạm vi số vốn góp vào doanh nghiệp như ở loại hình công ty TNHH hoặc CTCP
Với trách nhiệm vô hạn của mình, hầu hết các chủ doanh nghiệp tư nhân không tham gia vào các hoạt động đầu tư lớn, mang tính rủi ro cao gây mất cân đối cho nền kinh tế
Về cách thức huy động vốn: Nếu như công ty Cổ phần có quyền phát hành cả cổ phiếu vàtrái phiếu, công ty TNHH có quyền phát hành trái phiếu để huy động vốn (đây là lợi thế của hai loại hình này) thì DNTN lại không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào Chính quy định này đã hạn chế đi khả năng tài chính để mở rộng phạm vi kinh doanh củaDNTN khi khả năng đầu tư của chủ doanh nghiệp là có hạn Bởi vậy, đây cũng là một quy định gây bất lợi cho nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vào loại hình này
Trang 15đóng góp quan trọng cho nền kinh tế quốc gia Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã cải tiến nhiều điều khoản không còn phù hợp của luật Doanh nghiệp năm 1990 và 1999 và đã làmgiảm rào cản về mặt thủ tục đối với các doanh nghiệp tư nhân, việc đăng ký kinh doanh
và nộp đơn trở nên dễ dàng hơn rất nhiều so với trước đây Theo số liệu thống kê của Tổ công tác thi hành luật Doanh nghiệp và Đầu tư- Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, tính đến năm 2009 số DN đăng ký kinh doanh đạt 460.000 Dn, tăng 15 lần so với năm 2000 (khoảng 31.000 DN)
2.4 So sánh luật DNTN của Việt Nam với Trung Quốc:
Về cơ bản, pháp luật hai nước đều có sự tương đồng về các đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp tư nhân như là doanh nghiệp do một cá nhân la chủ sở hữu và chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của doanh nghiệp Tuy nhiên, đặc điểm chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với mọi khoản nợ của doanh nghiệp là lại được quy định riêng trong một điều của pháp luật Trung Quốc (Điều 18-Luật doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc)
2 5 Đặc điểm pháp lý của doanh nghiệp tư nhân:
2.5.1 Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ
Đây là đặc điểm chung trong quy định của pháp luật hai nước, tức là doanh nghiệp
tư nhân chỉ do một cá nhân làm chủ sở hữu Từ đặc điểm này có thể thấy nó bao hàmnhiều đặc trưng để phân biệt loại hình doanh nghiệp tư nhân với các loại hình doanhnghiệp khác
Về quan hệ sở hữu trong doanh nghiệp
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, khi thành lập doanh nghiệp tư nhân thì chủdoanh nghiệp tự khai báo với cơ quan đăng ký kinh doanh và được ghi chép đầy đủ vào
sổ kế toán của doanh nghiệp, đây là tài sản của doanh nghiệp tư nhân Nhưng trong quátrình hoạt động chủ doanh nghiệp vẫn có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư mà chỉ phảikhai báo với cơ quan đăng ký kinh doanh khi giảm vốn xuống dưới mức vốn đăng ký.Còn theo quy định của pháp luật Trung Quốc thì khi tiến hành đăng ký kinh doanhthì chủ sở hữu phải xác định giữa tài sản công ty và tài sản gia đình nhằm chịu tráchnhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty Như vậy, quy định của pháp luật hai nước
Trang 16đều quy định về việc chịu trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân đối với cáckhoản nợ của công ty.
Quan hệ sở hữu quyết định quan hệ quản lý
Doanh nghiệp tư nhân chỉ có một chủ đầu tư duy nhất, vì vậy cá nhân có thể quyếtđịnh mọi vấn đề liên quan tới tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp Một trong những
ưu điểm của việc lựa chọn mô hình doanh nghiệp tư nhân để kinh doanh đó là chủ doanhnghiệp tư nhân không phải chia sẻ quyền quản lý doanh nghiệp cho bất kỳ đối tượng nàokhác Tuy nhiên, pháp luật của cả hai nước đều quy định chủ sở hữu doanh nghiệp tưnhân có thể ủy quyền cho người khác quản lý doanh nghiệp Người được uỷ quyền đượcphép hoạt động trong phạm vi ủy quyền
Về phân phối lợi nhuận
Vấn đề phân chia lợi nhuận không được đặt ra đối với doanh nghiệp tư nhân, bởi lẽdoanh nghiệp này chỉ có một chủ sở hữu nên toàn bộ lợi nhuận thu được từ hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp sẽ thuộc về một mình chủ doanh nghiệp Tuy nhiên việcmột cá nhân duy nhất đó sẽ có nghĩa vụ chịu mọi rủi ro trong kinh doanh mà không thểyêu cầu người khác gánh đỡ những rủi ro này Đây là một hạn chế lớn của loại hìnhdoanh nghiệp này
2.5.2 Chủ doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn trước mọi khoản nợ phát
sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp tư nhân
Chủ doanh nghiệp không chỉ chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh trong phạm
vi phần vốn đầu tư đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh mà phải chịu trách nhiệmbằng toàn bộ tài sản của mình
2.5.3 Điều kiện về ngành nghề kinh doanh
Pháp luật hai nước đều quy định về ngành nghề kinh doanh, doanh nghiệp tư nhânđược kinh doanh các ngành nghề mà pháp luật không cấm
2.5.4 Điều kiện về tên doanh nghiệp
Trong khi Luật doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc quy định tại điều 11 “Tên gọi củadoanh nghiệp tư nhân phải phù hợp với ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp” thìquy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này chi tiết hơn Theo quy định tại điều 31
Trang 17Luật doanh nghiệp 2005 quy định: Tên doanh nghiệp phải được viết bằng tiếng Việt và
có thể kèm theo chữ số và ký hiệu, phải phát âm được và có ít nhất hai thành tố: Loạihình doanh nghiệp và tên riêng Như vây, tên của tất cả các doanh nghiệp tư nhân đềuphải kèm theo cụm từ “doanh nghiệp tư nhân” Ngoài ra, pháp luật Việt Nam còn quyđịnh một số trường hợp cấm trong khi lựa chọn tên cho doanh nghiệp: không được sửdụng tên cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức chính trị xã hội, không được sử dụng
từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử văn hoá, đạo đức
2.5.5 Thủ tục đăng ký kinh doanh
Pháp luật của cả hai nước đều quy định một số thủ tục và trình tự nhất định khithành lập doanh nghiệp tư nhân Các bước tiến hành đăng ký kinh doanh như sau:
Nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh
Hồ sơ đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam: giấy đề nghị đăng
ký kinh doanh theo mẫu thống nhất, bản sao giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặcchứng thực cá nhân hợp pháp khác, văn bản xác nhận phần vốn pháp định của doanhnghiệp nếu kinh doanh trong những ngành nghề có yêu cầu vốn pháp định, chứng chỉhành nghề của chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc giám đốc doanh nghiệp
Còn theo quy định của pháp luật Trung Quốc, hồ sơ xin thành lập doanh nghiệp tưnhân bao gồm: Đơn xin thành lập, chứng nhận góp vốn, giấy chứng nhận địa điểm kinhdoanh
Thời hạn cấp giấy đăng ký kinh doanh
Pháp luật hai nước đều quy định về thời hạn cấp Giấy đăng ký kinh doanh là 15ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ Trong trường hợp cần bổ sung hồ sơ thì cơ quancấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh phải trả lời bằng văn bản để yêu cầu bổ sung
hồ sơ
2.6. Chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp tư nhân – phá sản :
Đây là một trong những nội dung quan trọng mà pháp luật hai nước đề cập đến kháchi tiết
2.6.1 Thuê doanh nghiệp tư nhân
Trang 18Ngoài ra, Luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 còn quy định về quyền cho thuêdoanh nghiệp của chủ doanh nghiệp tư nhân Đây là việc chủ doanh nghiệp tư nhânchuyển quyền sử dụng doanh nghiệp do mình đăng ký kinh doanh cho người khác sửdụng trong một thời gian nhất định Việc cho thuê doanh nghiệp khác với việc cho thuêmột vài tài sản của doanh nghiệp Trong quan hệ thuê doanh nghiệp, người đi thuê khôngchỉ được sử dụng tài sản hữu hình của doanh nghiệp mà còn được sử dụng tài sản vô hình(uy tín, thương hiệu, ) Việc cho thuê doanh nghiệp không làm hạn chế tư cách pháp lýcủa doanh nghiệp đó, cũng không làm thay đổi chủ sở hữu của doanh nghiệp, nên chủdoanh nghiệp tư nhân đã đăng ký vẫn phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước pháp luật vàcác bên thứ ba Mối quan hệ giữa chủ doanh nghiệp tư nhân và người thuê doanh nghiệp
tư nhân là mối quan hệ thiết lập trên cơ sở hợp đồng cho thuê Trong thời gian cho thuê,trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn tồn tại đối với mọi hoạt động củadoanh nghiệp
Luật doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc không có những quy định về vấn đề này
2.6.2 Bán doanh nghiệp tư nhân
Điều 145 Luật doanh nghiệp Việt Nam 2005 quy định chủ doanh nghiệp tư nhânđược quyền bán doanh nghiệp tư nhân Còn theo quy định của pháp luật Trung Quốckhông có quy định này Việc bán toàn bộ doanh nghiệp tư nhân được hiểu là việc chuyểngiao quyền sở hữu doanh nghiệp tư nhân cho người khác, cũng giống như với việc chothuê doanh nghiệp, bán doanh nghiệp cũng bao gồm việc bán các tài sản và các giá trịkhác của doanh nghiệp tư nhân Tuy nhiên, bán doanh nghiệp tư nhân không có nghĩa làsau khi hoàn tất thủ tục mua bán, bên mua có thể sử dụng tư cách pháp lý của doanhnghiệp tư nhân đã mua để tiến hành các hoạt động kinh doanh Bên mua phải đăng kýkinh doanh lại để hoạt động trên cơ sở doanh nghiệp tư nhân đã mua Điều này cũng cónghĩa là với việc bán doanh nghiệp tư nhân chỉ là chuyển nhượng các tài sản của doanhnghiệp mà không chuyển nhượng tư cách pháp lý Kể từ ngày bán doanh nghiệp tư nhân,thì doanh nghiệp này coi như chấm dứt hoạt động
2.6.3 Tạm ngừng hoạt động kinh doanh
Trang 19Đây cũng là một điểm khác biệt giữa quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luậtTrung Quốc Theo điều 156 Luật doanh nghiệp 2005 thì doanh nghiệp tư nhân có quyềntạm ngừng hoạt động kinh doanh Lý do tạm ngừng phụ thuộc vào chủ doanh nghiệp tưnhân Tuy nhiên, việc tạm ngừng kinh doanh không có nghĩa là chủ doanh nghiệp tư nhânđược hoãn lại các nghĩa vụ phải thực hiện với nhà nước hoặc bên thứ ba
2.6.4 Giải thể doanh nghiệp tư nhân
Với tư cách là một loại hình doanh nghiệp nên doanh nghiệp tư nhân cũng có quátrình giải thể giống với các doanh nghiệp khác, nhưng với những đặc điểm riêng biệt nênviệc giải thể doanh nghiệp tư nhân cũng có một số đặc điểm khác biệt so với các loại hìnhdoanh nghiệp khác
Theo quy định tại điều 157 của Luật doanh nghiệp Việt Nam 2005, thì doanh nghiệp
tư nhân giải thể trong các trường hợp sau:
- Theo quyết định của chủ doanh nghiệp tư nhân
- Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Còn theo quy định tại điều 26 của luật doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc thì doanhnghiệp tư nhận giải thể trong các trường hợp sau:
(1) Chủ doanh nghiệp quyết định giải thể
(2) Chủ doanh nghiệp chết hoặc được tuyên bố chết mà không có người thừa
kế hoặc người thừa kế quyết định từ bỏ thừa kế
(3) Bị thu hồi giấy đăng ký kinh doanh
(4) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật
Về lý do giải thể doanh nghiệp tư nhân, pháp luật Việt Nam và pháp luật TrungQuốc có những trường hợp quy định giống nhau
Thứ nhất, là trường hợp giải thể tự nguyện Đây là quy định của pháp luật hai nước
trao cho chủ doanh nghiệp tư nhân được quyết định việc có giải thể doanh nghiệp haykhông, có nghĩa là lý do giải thể phụ thuộc vào lựa chọn và ý chí của chủ doanh nghiệp tưnhân Điều này đảm bảo được một cách cao hơn quyền tự do kinh doanh và sở hữu doanhnghiệp của các nhà đầu tư
Trang 20Thứ hai, bị thu hồi giấy đăng ký kinh doanh Đây là trường hợp giải thể bắt buộc.
Việc quy định trường hợp này xuất phát từ việc đảm bảo tính pháp chế tuyệt đối trongviệc áp dụng luật Giấy đăng ký kinh doanh là loại giấy tờ quan trọng nhất của doanhnghiệp, có được loại giấy này thì chứng tỏ được rằng Nhà nước công nhận doanh nghiệp
tư nhân là một chủ thể kinh doanh và có thẩm quyền kinh tế Hay nói cách khác, Giấychứng nhận đăng ký kinh doanh chứng minh tính hợp pháp hay bất hợp pháp của hoạtđộng kinh doanh do doanh nghiệp tư nhân tiến hành Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng kýkinh doanh cũng có nghĩa là Nhà nước rút lại sự công nhận tư cách chủ thể kinh doanhđối với doanh nghiệp tư nhân Lúc này, doanh nghiệp tư nhân không có thẩm quyền kinh
tế, có nghĩa là không còn được tiến hành các hoạt động kinh doanh, mục đích của việcthành lập doanh nghiệp không có cơ hội để thực hiện được nữa Vì vậy, sự tồn tại củadoanh nghiệp không còn ý nghĩa
Bên cạnh hai trường hợp giải thể như trên, luật doanh nghiệp tư nhân Trung Quốccòn quy định hai trường hợp khác là chủ doanh nghiệp tư nhân chết mà không có ngườithừa kế Bởi vì cá nhân là chủ sở hữu của doanh nghiệp tư nhân, nếu chủ sở hữu chết đi
mà không có người thừa kế thì không có người quản lý hoạt động của doanh nghiệp.Đồng thời mục đích thành lập ra doanh nghiệp tư nhân được thành lập ra không đạt được
Và đặc điểm chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ sẽ khó thực hiện thậm chí làkhông thực hiện được Do đó, sự tồn tại của doanh nghiệp tư nhân sẽ ảnh hưởng tới lợiích của người thứ ba khi tham gia các quan hệ kinh tế với doanh nghiệp tư nhân đó
Pháp luật tư nhân Trung Quốc còn quy định một trường hợp dự phòng đó là cáctrường hợp do pháp luật quy định
Các bước giải thể doanh nghiệp
Bước 1: Chủ doanh nghiệp tư nhân quyết định việc giải thể doanh nghiệp
Bước 2: Chủ doanh nghiệp tư nhân trực tiếp tổ chức thanh lý tài sản doanh nghiệp Ngoài
ra, theo quy định tại điều 27 của Luật doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc thì chủ doanhnghiệp còn có thể đề nghị Toà án chỉ định người kiểm kê tài sản
Bước 3: Chủ doanh nghiệp tiến hành các thủ tục thông báo và đăng báo
Trang 21Bước 4: Cơ quan nhà nước làm thủ tục xoá tên doanh nghiệp trong sổ đăng ký kinhdoanh.
Tuy nhiên, có một điểm khác biệt cơ bản về chế định giải thể theo quy định củapháp luật Việt Nam và pháp luật Trung Quốc đó là: theo Luật doanh nghiệp tư nhậnTrung Quốc tại Điều 28 thì Sau khi doanh nghiệp tư nhân giải thể, chủ doanh nghiệp vẫnphải chịu các trách nhiệm bồi hoàn các khoản nợ trong thời gian doanh nghiệp hoạt động.Tuy nhiên, nếu trong vòng 05 năm mà những người có quyền lợi liên quan không yêu cầubồi thường thì trách nhiệm bồi hoàn sẽ vô hiệu Còn đối với pháp luật Việt Nam thìkhông có quy định này Bởi vậy, các chủ doanh nghiệp tư nhân đã giải thể không đượcmiễn trừ nghĩa vụ như quy định trên của pháp luật Trung Quốc
2.6.5 Phá sản doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh thua lỗ kéo dài tới mức không trả đước các khoản
nợ đến hạn Doanh nghiệp sẽ tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật về phá
sản.
III CÔNG TY HỢP DANH :
1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CÔNG TY HỢP DANH.
1.1 Sự hình thành công ty hợp danh:
Công ty Hợp Danh (CTHD) là một trong những hình thức công ty ra đời sớm nhất tronglịch sử hình thành công ty Khái niệm về “hợp danh” bắt đầu xuất hiện và tồn tại từ khicon người bắt đầu hợp tác với nhau Khái niệm hợp danh xuất hiện từ thời Babylone, HyLạp và La Mã cổ đại Đạo Luật Hammurabi năm 2300 (TCN) cũng đã có chế định vềhình thức hợp danh Khái niệm hợp danh theo Đạo Luật Justinian của đế chế La Mã cổđại vào thế kỷ VI, xét về bản chất không có sự khác biệt trong pháp luật hiện nay Sau đó,đến các thời kì Trung đại, đến cuối thế kỉ XVII, rồi ở Thụy Điển, dần dần hình