1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tái cấu trúc doanh nghiệp M&A

44 870 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tái Cấu Trúc Doanh Nghiệp M&A
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tái cấu trúc là quá trình tổ chức, sắp xếp lại doanh nghiệp nhằm tạo ra “trạng thái” tốt hơn cho doanh nghiệp để thực hiện những mục tiêu đề ra. Mục tiêu chung của tái cấu trúc là đạt được một “thể trạng tốt hơn” cho doanh nghiệp. Tái cấu trúc được hiểu là toàn bộ các hoạt động liên quan đến mua bán doanh nghiệp, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp.

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU SƠ ĐỒ

1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÁI CẤU TRÚC

Trang 2

1.1Khái Niệm Tái Cấu Trúc

Tái cấu trúc là quá trình tổ chức, sắp xếp lại doanh nghiệp nhằm tạo ra “trạng thái”tốt hơn cho doanh nghiệp để thực hiện những mục tiêu đề ra Mục tiêu chung của tái cấutrúc là đạt được một “thể trạng tốt hơn” cho doanh nghiệp Tái cấu trúc được hiểu là toàn

bộ các hoạt động liên quan đến mua bán doanh nghiệp, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách,chuyển đổi loại hình doanh nghiệp

M&A, được viết tắt bởi hai từ tiếng Anh: Mergers and Acquisitions được dịch là

“sáp nhập và mua lại” hoặc “sáp nhập và thâu tóm” Đây là thuật ngữ để chỉ sự mua bán,sáp nhập, hợp nhất, mua cổ phần, mua tài sản giữa hai hay nhiều công ty với nhau

Trong khuôn khổ bài báo cáo tiểu luận của nhóm hình thức mua bán, hợp nhất và sápnhập doanh nghiệp sẽ được nghiên cứu sâu hơn cả Do vậy với giới hạn nghiên cứu này thìviệc dùng thuật ngữ M&A hay tái cấu trúc đều được hiểu nghĩa tương đương nhau

Tái cấu trúc được phân loại như sau:

Mua bán doanh nghiệp

Mua bán doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sảncủa doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanhnghiệp bị mua lại bao gồm hai hình thức:

Góp vốn trực tiếp vào doanh nghiệp thông qua việc góp vốn điều lệ công ty TNHHhoặc mua cổ phần phát hành để tăng vốn điều lệ của công ty cổ phần

Mua lại phần vốn góp hoặc cổ phần đã phát hành của thành viên hoặc cổ đông củacông ty Không giống như hình thức góp vốn trực tiếp vào doanh nghiệp, đây là hình thứcđầu tư không làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp nhưng có thể làm thay đổi cơ cấu sởhữu vốn góp/cổ phần của doanh nghiệp

Mua, bán doanh nghiệp chỉ được áp dụng đối với doanh nghiệp tư nhân theo quy địnhcủa Luật Doanh nghiệp và một số doanh nghiệp nhà nước, bộ phận doanh nghiệp nhà nướctheo quy định của pháp luật về giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê công ty nhà nước

Trang 3

nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tạicủa công ty bị sáp nhập.

Chia doanh nghiệp

1 Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần có thể được chia thành một số công

ty cùng loại

2 Công ty bị chia chấm dứt tồn tại sau khi các công ty mới được đăng ký kinh doanh.Các công ty mới phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợpđồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị chia hoặc thoả thuận với chủ nợ,khách hàng và người lao động để một trong số các công ty đó thực hiện các nghĩa vụ này

Tách doanh nghiệp

1 Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần có thể tách bằng cách chuyển mộtphần tài sản của công ty hiện có (gọi là công ty bị tách) để thành lập một hoặc một số công

ty mới cùng loại (gọi là công ty được tách); chuyển một phần quyền và nghĩa vụ của công

ty bị tách sang công ty được tách mà không chấm dứt tồn tại của công ty bị tách

2 Sau khi đăng ký kinh doanh, công ty bị tách và công ty được tách phải cùng liênđới chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tàisản khác của công ty bị tách, trừ trường hợp công ty bị tách, công ty mới thành lập, chủ nợ,khách hàng và người lao động của công ty bị tách có thoả thuận khác

Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp

Chuyển đổi doanh nghiệp là hình thức cơ cấu lại doanh nghiệp cho phù hợp với sựphát triển của Doanh nghiệp Sau khi được cấp đăng ký kinh doanh mới, Công ty đượcchuyển đổi chấm dứt tồn tại, Công ty chuyển đổi được hưởng các quyền và lợi ích hợppháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, Hợp đồng lao động và nghĩa vụtài sản khác của công ty được chuyển đổi

Công ty trách nhiệm hữu hạn có thể được chuyển đổi thành công ty cổ phần hoặcngược lại Thủ tục chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần (gọi là công

ty được chuyển đổi) thành công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn (gọi là công tychuyển đổi) được quy định trong điều 154, 155 của luật doanh nghiệp năm 2005

1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam và các cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến hoạt động M&A.

1.2.1 Quy định của pháp luật Việt Nam về M&A

1.2.1.1 Nhận định chung

Đến nay, Việt Nam chưa có một Luật riêng quy định về trình tự và nguyên tắc về hoạt

Trang 4

động M&A Các quy định về M&A ở Việt Nam được quy định rải rác trong các văn bảnquy phạm pháp luật như quy định về hợp nhất pháp nhân và sáp nhập pháp nhân tại Điều

94 và 6 Điều 95 Bộ luật Dân sự, các quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, LuậtCạnh tranh và các văn bản pháp luật chuyên ngành tài chính, ngân hàng

1.2.1.2 Quy định về M&A trong một số ngành luật cụ thể

M&A theo quy định của Luật Doanh nghiệp

Như đã trình bày ở trên, Luật doanh nghiệp đưa ra khái niệm và trình tự thủ tục sápnhập, hợp nhất, doanh nghiệp Luật Doanh nghiệp năm 2005 xem xét sáp nhập, hợp nhấtdoanh nghiệp như hình thức tổ chức lại doanh nghiệp xuất phát từ nhu cầu tự thân củadoanh nghiệp Luật Doanh nghiệp không đưa ra định nghĩa về mua, bán doanh nghiệp Tuynhiên, Luật Doanh nghiệp có một Điều riêng quy định về việc bán doanh nghiệp tư nhân Giao dịch M&A được Luật Doanh Nghiệp 2005 quy định trong điều 145, điều 152,điều 153, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ hơn, cho phép các chủ doanh nghiệp được quyền địnhđoạt doanh nghiệp trong việc mua bán, sát nhập hợp nhất

Luật Doanh nghiệp 2005 đã quy định về phân loại khái niệm và thủ tục, hồ sơ đăng

ký chia, tách, sát nhập, hợp nhất doanh nghiệp trong các điều 150-153 Về tỷ lệ biểu quyếttrong cuộc họp đại hội đồng cổ đóng để thông qua quyết định đầu tư hoặc bán tài sản cógiá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản của công ty đã được Luật Doanh Nghiệp

2005 nâng lên 75% (điều lệ công ty có thể quy định thấp hơn)

Điều 84, khoản 5 quy định

“Trong thời hạn ba năm kể từ ngày công ty đựơc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho

cổ đông sáng lập khác, nhưng chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của đại hội đồng cổ đông.”

Luật Doanh Nghiệp 2005 cho phép chuyển nhượng cổ phần trong 3 năm đầu doanhnghiệp mới hình thành Quy định này còn cho phép cổ đông vẫn có thể bán lại 80% cổphần cho bên mua nếu muốn chuyển nhượng quyền kiểm soát công ty của mình Việcquyết định mua bán chỉ phụ thuộc vào ý chí của những người sở hữu doanh nghiệp đó.Việc bắt buộc cổ đông sáng lập phải cùng nắm giữ tối thiểu 20% cổ phần trong 3 năm có ýnghĩa tăng cường trách nhiệm của cổ đông sáng lập mà thực chất không ảnh hưởng đếnM&A trong quãng thời gian này

Các quy định của Việt Nam trong lĩnh vực mua bán sáp nhập chuyển nhượng doanhnghiệp: chuyển nhượng doanh nghiệp phải được nhìn nhận trên tổng thể chung và nhiềuhình thái khác nhau Một doanh nghiệp chuyển nhượng có thể bằng hình thức chuyểnnhượng cổ phần hoặc chuyển nhượng tài sản Có thể là chuyển nhượng một phần hoặc toàn

bộ doanh nghiệp

Trang 5

Ngoài ra, trong Điều 52, khoản 2 và điều 104, khoản 3 của Luật Doanh Nghiệp đã gâykhó khăn cho các nhà đầu tư nước ngoài khi trong lộ trình mở cửa của Việt Nam theo camkết gia nhập WTO, ở một số lĩnh vực, các nhà đầu tư chỉ được góp vốn đến tỷ lệ cao nhất

là 49%, có nghĩa là đang bảo vệ các doanh nghiệp trong nước trước nguy cơ bị thôn tính Các quy định của Việt Nam trong lĩnh vực mua bán sáp nhập chuyển nhượng doanhnghiệp: chuyển nhượng doanh nghiệp phải được nhìn nhận trên tổng thể chung và nhiềuhình thái khác nhau Một doanh nghiệp chuyển nhượng có thể bằng hình thức chuyểnnhượng cổ phần hoặc chuyển nhượng tài sản Có thể là chuyển nhượng một phần hoặc toàn

M&A theo quy định của Luật Đầu tư

Luật Đầu tư 2005 ghi nhận M&A là một hình thức đầu tư quan trọng, cụ thể: “ đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp như một trong những hình thức đầu tư trực tiếp, dưới các hình thức: (i) đóng góp vốn để thành lập doanh nghiệp mới hoặc để tham gia quản lý hoạt động đầu tư, (ii) mua toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp đang họat động, (iii) mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sáp nhập doanh nghiệp”

Hoạt động sáp nhập và mua lại doanh nghiệp được coi là một trong những hình thứcquan trọng trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp Việc mua lại doanh nghiệp có thể được thựchiện dưới hình thức mua lại một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp hoặc chi nhánh

Tại điều 21 chương IV, quy định hình thức đầu tư

Điều 21 Các hình thức đầu tư trực tiếp

o Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài

o Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.

o Đầu tư theo hình thức hợp đồng bcc, hợp đồng bott, hợp đồng bto, hợp đồng bt.

Trang 6

o Đầu tư phát triển kinh doanh.

o Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư.

o Đầu tư thực hiện việc sát nhập và mua bán lại doanh nghiệp.

o Các hình thức đầu tư trực tiếp khác.

M&A theo quy định của Luật Cạnh tranh

Về khái niệm, luật đã tách hai trường hợp trong thâu tóm công ty thành sáp nhập vàmua lại doanh nghiệp

Luật Cạnh tranh năm 2004 quy định:

“Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại”

Luật Cạnh tranh cũng đề cập đến hợp nhất doanh nghiệp - là việc “hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất”.

Theo quy định của Luật Cạnh tranh, việc sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanhnghiệp và mua lại doanh nghiệp là hành vi tập trung kinh tế Tuy nhiên lại không quy địnhthế nào là tập trung kinh tế mà chỉ liệt kê những hành vi tập trung kinh tế Theo đó, khoản

3 Điều 3 khẳng định tập trung kinh tế là hành vi hạn chế cạnh tranh; Điều 16 quy định tậptrung kinh tế là hành vi của doanh nghiệp bao gồm: (i) Sáp nhập doanh nghiệp; (ii) Hợpnhất doanh nghiệp; (iii) Mua lại doanh nghiệp; iv) Liên doanh giữa các doanh nghiệp (v)Các hành vi tập trung khác theo quy định của pháp

Do đó, việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại doanh nghiệp bị cấm trong trường hợp việc sápnhập, hợp nhất, mua lại doanh nghiệp tạo ra thị phần kết hợp của các doanh nghiệp thamgia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan (trong Điều 18)

Điều 16 Tập trung kinh tế

Tập trung kinh tế là hành vi của doanh nghiệp bao gồm:

o Sáp nhập doanh nghiệp.

o Mua lại doanhnghiệp

o Liên doanhgiữa các doanh nghiệp.

Trang 7

o Các hành vi tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật.

Mục 3 chương II là các quy định dành cho tập trung kinh tế và thủ tục tạo hồ sơ trực

tiếp liên quan đến M&A

Về thủ tục, luật quy định các doanh nghiệp có thị phần kết hợp từ 30-50%, trước khitiến hành M&A phải gửi thông báo tới cơ quan quản lý cạnh tranh Thực chất đây là mộtloại giấy phép vì Điều 24 lại quy định các doanh nghiệp chỉ được phép tiến hành thay đổiđăng ký kinh doanh hoặc lập công ty mới (trong trường hợp hợp nhất) sau khi có văn bảntrả lời của cơ quan quản lý cạnh tranh Hai công ty có thị phần kết hợp trên 50%chỉ có thểthực hiện M&A bằng cách nộp hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ cho cục quản lý cạnh tranh

để đề xuất cấp có thẩm quyền quyết định là Bộ Thương Mại (đối với khoản 1, điều 19) vàThủ tướng Chính Phủ (đối với miễn trừ theo khoản 2, điều 19)

Về hồ sơ, ngoài các nội dung phổ biến, các doanh nghiệp phải nộp danh sách các đơn

vị phụ thuộc của mỗi công ty, các loại hàng hóa dịch vụ đang được kinh doanh, và thị phầntrong hai năm liên tiếp của mỗi bên trong thị trường liên quan; Về thời hạn ra quyết địnhcủa cơ quan quản lý nhà nước là tối đa 105 đối với trả lời thông báo, có thể gia hạn lên 180ngày

Ngoài ra, Luật còn thiết lập các định chế và chế tài cần thiết để thực hiện quản lýcạnh tranh như thành lập cơ quan quản lý cạnh tranh (cục cạnh tranh)

Chương V quy định khá chi tiết nguyên tắc, trình tự thủ tục và các vấn đề liên quanđến tố cụng cạnh tranh, tạo khuôn khổ pháp lý cho các cá nhân và tổ chức có liên quan (kể

cả bên thứ ba) và cơ quan nhà nước có thể tham gia tiến hành pháp lý nhằm bảo vệ quyềnlợi của mình hoặc bảo vệ tính cạnh tranh của thị trường trong các vụ M&A

M&A theo quy định của Luật Chứng khoán

Luật Chứng khoán quy định việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất công ty chứng khoán,công ty quản lý quỹ phải được chấp thuận của Ủy ban chứng khoán nhà nước trước khithực hiện

Để kiểm soát M&A, tránh tình trạng các doanh nghiệp trong nước bị thâu tóm trên thịtrường chứng khoán, Ủy ban Chứng khoán đã có những điều khoản quy định trong LuậtChứng khoán trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm các nứơc và các đơn vị tư vấn nước ngoài.Theo Điều 29, báo cáo về sở hữu của cổ đông lớn:

“Khi có sự thay đổi quan trọng về thông tin nêu trong báo cáo quy định tại khoản 2điều này hoặc có thay đổi về số lượng cổ phiếu sở hữu vượt quá một phần trăm số lượng

cổ phiếu cùng loại đang lưu hành, thì trong thời hạn bày ngày kể từ ngày có sự thay đổitrên, cổ đông lớn phải nộp báo cáo sửa đổi, bổ sung cho công ty đại chúng, ủy ban chứngkhoán nhà nước và sở giao địch chứng khoán hoặc trung tâm giao dịch chứng khoán nơi cổphiếu được niêm yết.”

Trang 8

Thông tư 18 cũng có quy định chặt chẽ về giao dịch cổ phiếu của các cổ đông lớnmua bán cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán

Để đảm bảo thị trường hoạt động hiệu quả, bảo vệ nhà đầu tư, Luật Chứng khoáncũng đưa ra các quy định để hạn chế hành vi tập trung kinh tế như: quy định về cổ đônglớn, gia dịch cổ phiếu của cổ đông lớn, giao dịch cổ phiếu quỹ…Tất cả đều nhằm góp phầngiúp Nhà Nước quản lý được tình hình thâu tóm

M&A theo quy định của luật Các tổ chức tín dụng

Việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập của tổ chức tín dụng phải được sự chấp thuận củaNgân hàng Nhà nước Ngân hàng Nhà nước cũng ban hành Thông tư số 04/2010/TT-NHNN quy định về việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại TCTD

M&A theo quy định của luật Thuế

Khi công ty A mua lại công ty B (tỷ lệ đủ để kiểm soát B hoặc mua lại 100% cổ phần của B,từ các cổ đông của B) thì trong trường hợp này có thể sẽ phải đóng thuế chuyểnnhượngvốn Hoặc nếu A đang được miễn giảm thuế, nếu B sáp nhập với A, thì công ty cót

hể sẽ được miễn giảm thuế

M&A theo quy định của luật Kế toán

Luật này quy định việc hợp nhất báo cáo tài chính, khi công tyA mua lại công ty B vớ

i điều kiện là tỷ lệ nắm giữ của A tại B là lớn hơn hoặc bằng 51%, hoặc trong trường hợpv

ới tỷ lệ nhỏ hơn kèm thêm một vài điều kiện khác thì A và B cũng phải hợp nhất báo cáo tà

i chính Việc hợp nhất được quy định cụ thể trong Điều 45 Luật kế toán và chuẩn mực kế toán số 11 – Hợp nhất kinh doanh, Chuẩn mực Kế toán số 25 – Báo cáo tài chính hợp nhất

và kế toán khoản đầu tư vào công ty con và Thông tư số 21/2006/TT- BTC, Thông tư

số 161/2007/TT-BTC

M&A theo quy định của luật Đất đai

Liên quan đến luật đất đai, khi công ty A nào đó bán toàn bộ cổ phẩn cho công ty B, c

hủ yếu là vấn đế xác định quyền sử dụng đất là đất thuê của nhà nước thu tiền một lần hayl

à thu tiền từng năm, đất được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hay là không thu ti

ền sử dụng đất hay là đất thuộc sở hữu của công ty (do công ty mua) Ngoài ra, trong hoạt độngM&A cần phải xác định giá trị của quyền sử dụng đất để tiến hành định giá giá trị của công ty

Đối với hoạt động M&A, sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự chủ yếu là hợp đồng mua bán cổ phần Ngoài ra, hợp đồng mua bán cổ phần giữa các công ty phải đảm bảo tuânthủ các quy định của Luật chuyên ngành

Các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan đến M&A

Quyết định số 88/2009/QĐ-TTg ngày 18/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hànhquy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt

Trang 9

1.2.2 Các cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến M&A

Đến nay Việt Nam đã ký kết và tham gia rất nhiều cam kết quốc tế về đầu tư hoặcliên quan đến đầu tư, bao gồm: các Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư ký kết với 55nước; các Hiệp định/Chương Đầu tư trong khuôn khổ FTA; và các cam kết khác liên quanđến đầu tư như Hiệp định về Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs) củaWTO, các hiệp định về dịch vụ trong WTO và các FTA, hiệp định thành lập tổ chức bảođảm đầu tư đa phương (MIGA), Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành phánquyết của trọng tài nước ngoài, v v…

Nhìn chung, các Hiệp định, cam kết của Việt Nam liên quan đến hoạt động M&A đềuthể hiện dưới hình thức tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại các doanhnghiệp Việt Nam hoặc được thể hiện dưới dạng cam kết cho phép các nhà đầu tư nướcngoài hiện diện thương mại, thâm nhập trong các ngành, lĩnh vực đầu tư tại Việt Nam

1.2.2.1.Cam kết trong GATS/ WTO

Việt Nam đã gia nhập WTO được hơn 5 năm với cam kết mở cửa thị trường cho cácnhà đầu tư nước ngoài theo lộ trình Kể từ năm 2009, nhiều lĩnh vực dịch vụ đã cho phépnhà đầu tư nước ngoài được tham gia cung cấp như kiến trúc, nghiên cứu thị trường, giáodục, phân phối hàng hóa và quảng cáo Sự mở rộng này là cơ hội cho hoạt động đầu tưthông qua hình thức sáp nhập và mua lại mặc dù hiện nay nhiều quy định của WTO cầnđược hướng dẫn cụ thể khi áp dụng

Cho đến nay, các hạn chế đối với tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong doanhnghiệp Việt Nam đã bị xóa bỏ, trừ một số lĩnh vực đặc thù như ngân hàng và chứng khoán.Ngoài ra, một số hạn chế về tỷ lệ sở hữu cổ phần hạn chế không có thời hạn dỡ bỏ:

- Dịch vụ liên quan đến lâm nghiệp, săn bắn và nông nghiệp: Chỉ cho phép thành lậpliên doanh hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh Phần vốn góp của phía nước ngoài khôngvượt quá 51% vốn pháp định của liên doanh

- Dịch vụ viễn thông không có hạ tầng mạng: Phần vốn góp của phía nước ngoàitrong liên doanh không vượt quá 65% vốn pháp định của liên doanh

1.2.2.2 Cam kết trong khu vực ASEAN

Các các kết quốc tế của Việt Nam trong khu vực ASEAN về M&A chủ yếu được thểhiện ở Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN Một trong những mục tiêu của Hiệp

Trang 10

định là xây dựng một Khu vực Đầu tư ASEAN (AIA) có môi trường đầu tư thông thoáng

và rõ ràng hơn giữa các quốc gia thành viên, nhằm đẩy mạnh đầu tư vào ASEAN từ cácnguồn cả trong và ngoài ASEAN

Theo Hiệp định khung về đầu tư ASEAN, các quốc gia thành viên cam kết thực hiệncác biện pháp thích hợp để bảo đảm tính rõ ràng và nhất quán trong việc áp dụng và giảithích các luật, quy định và thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư của nước mình nhằmtạo ra và duy trì một chế độ đầu tư có thể dự đoán trước được trong ASEAN Đồng thời,các bên phải mở ngay lập tức tất cả các ngành nghề của nước mình cho đầu tư của các nhàđầu tư ASEAN và dành ngay lập tức cho các nhà đầu tư ASEAN và đầu tư của họ, đối vớitất cả các ngành nghề và các biện pháp có tác động tới các đầu tư đó, bao gồm, nhưngkhông chỉ giới hạn ởviệc tiếp nhận, thành lập, nắm giữ, mở rộng, quản lý, vận hành vàđịnh đoạt đầu tư, sự đối xửkhông kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho các nhà đầu tư vàđầu tư tương tự của nước mình ("đối xử quốc gia") (khoản 1 Điều 7)

1.2.2.3 Các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư

Các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư mà Việt Nam đã ký kết (với 54/55 quốcgia) có nội dung tương đối thống nhất theo mô hình các hiệp định khuyến khích và bảo hộđầu tư truyền thống trên thế giới

1.2.2.4 Các cam kết quốc tế về đầu tư song phương có yếu tố tự do hoá liên quan đến M&A

Các cam kết này bao gồm Hiệp định khuyến khích, bảo hộ và tự do hoá đầu tư ViệtNam - Nhật Bản và trong Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA).Bên cạnh cam kết về bảo hộ đầu tư, Việt Nam còn cam kết về quyền thành lập đối với nhàđầu tư nước ngoài Hai hiệp định này đều sử dụng phương pháp chọn bỏ (negative listapproach), tức là đưa ra các cam kết chung và các Bên ký kết có quyền duy trì hoặc banhành các biện pháp không phù hợp với các nghĩa vụ chung này và phải liệt kê các biệnpháp đó trong một hoặc một số phụ lục

Tại Phụ lục H của Hiệp định BTA, Việt Nam cam kết với Hoa Kỳ hóa bỏ mọi hạn chế

về việc chuyển nhượng vốn đầu tư Theo đó, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoàikhông bắt buộc phải ưu tiên chuyển nhượng cho doanh nghiệp Việt Nam Ngoài ra, Phụ lục

H cũng cam kết về việc cho phép nhà đầu tư Hoa Kỳ thành lập công ty cổ phần có vốnĐTNN và nới lỏng các hạn chế về sở hữu vốn của nhà đầu tư Hoa Kỳ Theo quy định củaBTA, trong vòng 3 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, nhà đầu tư Hoa Kỳ được phépthành lập công ty cổ phần có vốn ĐTNN tại Việt Nam

Ngoài ra, tại Hiệp định Tự do hóa, khuyến khích và bảo hộ đầu tư Việt Nam – NhậtBản Việt Nam không cho phép nhà đầu tư nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực khai tháchải sản ở vùng lãnh hải, nội thủy, đặc quyền kinh tế Vì vậy, Nhật Bản không được thamgia vào các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực trên tại Việt Nam

Trang 11

1.2.2.5 Hiệp định thương mại tự do có cam kết về đầu tư

Các Hiệp định thương mại tư do có cam kết về Đầu tư mà Việt Nam không liên quannhiều đến việc mua bán, sáp nhập doanh nghiệp Việc tham gia góp vốn, mua cổ phần củanhà đầu tư nước ngoài vào doanh nghiệp Việt Nam theo Hiệp định này được thực hiện phùhợp với quy định của pháp luật Việt Nam

1.3 Pháp luật các nước về tài cấu trúc

1.3.1 Quy định M&A của một số nước trên thế giới

1.3.1.1 Hoa kỳ

Hoa Kỳ là quốc gia Liên bang nên tồn tại hai hệ thống pháp luật là pháp luật liên bang

và pháp luật của từng bang Do đó, hoạt động mua bán, sáp nhập (M&A) chịu sự điềuchỉnh của hai hệ thống pháp luật là pháp luật liên bang và pháp luật của từng bang

Theo pháp luật liên bang, sáp nhập có nghĩa là sự kết hợp giữa hai công ty mà mộtbên hoàn toàn bị thâu tóm bởi công ty kia Công ty kém quan trọng hơn sẽ mất đi đặc điểmnhận diện của mình và trở thành một phần của công ty quan trọng hơn nơi vẫn giữ đượcđặc điểm nhận diện của mình Hoạt động sáp nhập làm lu mờ công ty bị sáp nhập và công

ty được sáp nhập sẽ nắm giữ các quyền, lợi ích và trách nhiệm của công ty bị sáp nhập.Một hoạt động sáp nhập không giống với hoạt động hợp nhất mà hai công ty cùng bị mất đinhững đặc điểm nhận dạng của mình và tạo nên một hình thức công ty hoàn toàn mới Hoa Kỳ có lẽ là một trong những nước đi đầu trong kinh nghiệm thực hiện quản lýnhà nước đối với hoạt động M&A Luật chống độc quyền Sherman được ban hành từ năm

1890 Về định chế quản lý M&A, đạo luật ủy ban Thương mại liên bang (FTC) năm 1975

đã quy định “ngăn cấm mọi hành vi không lành mạnh đe dọa tính cạnh tranh của thịtrường” và trao cho cơ quan hành pháp này chức năng độc lập thực thi các luật chống độcquyền của liên bang Tiếp theo, năm 1976 Luật chống độc quyền Hart-Scott-Rodino (HSR)bắt buộc các bên liên quan phải thông báo và nộp hồ sơ thẩm tra lên FTC và Bộ Tư pháptrước khi hoàn tất vụ sáp nhập Quy định này được áp dụng đối với tất cả những vụ sápnhập mà một trong hai bên có doanh thu trên 100 triệu USD và bên còn lại trên 10 triệuUSD, với giá trị chuyển nhượng vượt quá 15 triệu USD Nếu các công ty thuộc đối tượngnhư trên thực hiện sáp nhập mà không qua thẩm tra của FTC và Bộ Tư pháp sẽ bị hủy thỏathuận chuyển nhượng và có thể bị phạt lên đến 10000 USD/ngày

1.3.1.2 Cộng đồng chung Châu Âu

Cộng đồng Châu Âu đã có một định nghĩa cụ thể về sáp nhập và mua lại tại Quy định

về Sáp nhập của Cộng đồng Châu Âu số 139/2004 ngày 20/01/2004 (EC MergerRegulation) như sau:

(i) sự sáp nhập giữa hai pháp nhân độc lập hoặc hai bộ phận của hai pháp nhân; hoặc (ii) thâu tóm quyền kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc mua lại chứngkhoán

Trang 12

hoặc tài sản của một công ty khác;

(iii) hoặc tạo ra một liên doanh mới

Quy định về Sáp nhập của Cộng đồng Châu Âu đã đưa ra cách tính về doanh số, thủtục cần thiết để tiến hành việc sáp nhập và mua lại một cách cụ thể

Mặc dù hệ thống pháp luật của từng quốc gia thuộc thành viên của Cộng đồng chungChâu Âu là khác nhau, nhưng Quy chế về Sáp nhập của EU được áp dụng chung và là vănbản có hiệu lực điều chỉnh cao hơn pháp luật của từng quốc gia phê chuẩn

1.3.1.3 Thái Lan

Mua lại và sáp nhập hai hoặc nhiều công ty có thể dưới các hình thức sau:

i, Sáp nhập (hợp nhất)

ii, Mua lại cổ phần

iii, Mua lại tài sản

Trong ba hình thức trên thì hình thức hợp nhất là ít phổ biến tại Thái Lan do Thái Lankhông khuyến khích hình thức hợp nhất các công ty

Trong một số lĩnh vực nhất định (Ngân hàng, tài chính tín dụng, bảo hiểm nhân thọ,đại lý du lịch, hàng hải, hàng không…) Thái Lan đều có những giới hạn về vốn và sốlượng người nước ngoài tham gia vào hoạt động quản lý

Về thuế, Thái Lan dành nhiều ưu đãi về thuế cho các nhà đầu tư nước ngoài Thuếdoanh lợi là 30% đối với sáp nhập và mua lại bằng hình thức tài sản Còn đối với mua lại

cổ phiếu, Thái Lan áp dụng thuế lũy tiến từ 5% - 37% đối với công dân Thái và 30% chocác công ty nội địa và 15% khấu trừ trước cho công dân và công ty nước ngoài

Thuế trước bạ là 0,5 % trên số bất động sản ( được miễn nếu như các điều kiện đặt rađược đáp ứng ) đối với hình thức đầu tư mua lại bằng tài sản và sáp nhập Và 0,1% giá bán

ra hoặc giá trị cổ phiếu đã trả ( tùy theo giá trị nào lớn hơn )

Hình thức đầu tư bằng cách mua lại cổ phiếu và sáp nhập được miễn thuế VAT, cònmua lại tài sản chỉ bị đánh 7% trên bất động sản và được miễn nếu chuyển nhượng toàn bộcông ty

Về vấn đề người lao động, Thái Lan quy định tất cả người lao động phải đồng ý vớibản kế hoạch nhân sự do bên mua đưa ra Bản kế hoạch đó phải đảm bảo được quyền lợicủa người lao động Đối với những người xin thôi việc, công ty phải đền bù cho họ theoquy định của luật lao động tùy theo thời gian làm việc cho công ty

1.3.1.4 Malaysia

Mặc dù, luôn chào đón các nhà đầu tư nước ngoài nhưng chính phủ Malaysia vẫn cốgắng tăng tỷ lệ sở hữu của công dân Malaysia và Bumiputra (người Malaysia bản địa ) ởcác công ty bị M&A Với mục đích đó, Malaysia luôn đảm bảo rằng tỷ lệ sở hữu trong nền

Trang 13

kinh tế Malaysia theo tỷ lệ tối thiểu là 30% sở hữu thuộc về Bumiputra, 40% thuộc vềngười Malaysia khác và tối đa 30% thuộc về người nước ngoài.

Đối với hình thức đầu tư mua lại cổ phiếu, nhà đầu tư nước ngoài phải xin phép Cụcđầu tư nước ngoài nếu như mua mua lại hơn 15% cổ phiếu của công ty nội địa hoặc mua cổphiếu với tổng giá trị hơn 10 triệu ringgit Malaysia ( RM 10.000.000) Đối với hình thứcđầu tư mua lại tài sản, nhà đầu tư nước ngoài cũng phải xin phép cục đầu tư nước ngoài vàchỉ được phép mua tài sản có giá trị lớn hơn 150.000 Ringgít Malaysia, đồng thời không bịgiới hạn số tài sản được mua

Về vấn đề người lao động, trước khi tiến hành M&A thì nhà đầu tư nước ngoài khôngcần phải lấy ý kiến người lao động Công ty mới chỉ cần đảm bảo sao cho người lao độngvẫn giữ được các điều kiện làm việc như trước đây Các công ty phải cố gắng tuyển dụng

và đào tạo người Malaysia sao cho họ có thể tham gia vào các vị trí trong công ty

Nói chung, Malaysia không có luật chống độc quyền áp dụng với tất cả các ngành.Tuy nhiên, trong lĩnh vực truyền thông và viễn thông thì có luật về chống độc quyền theođónhà đầu tư nước ngoài không được phép đầu tư vào những dự án làm giảm tính cạnhtranh trên thị trường viễn thông

Về thuế, Malaysia chỉ đánh thuế thu nhập 20% đối với 500.000 Ringgit đầu tiên và25% đối với số thu nhập còn lại

1.3.1.5 Singapore

Trước khi Luật công ty của Singapore có hiệu lực (ngày 15/6/2005), các giao dịchthường được gọi là “sáp nhập” thực chất là công ty B mua lại tài sản của công ty A nhờ đócông ty B phát hành cổ phiếu của công ty mình cho công ty A Hay công ty A và công ty B

có thể cùng góp tài sản để lập thành công ty C và công ty C sẽ phát hành cổ phiếu cho haicông ty trên Mặc dù về tài sản là chung trong một công ty nhưng về tư cách pháp nhân thìcông ty A, công ty B và công ty C (nếu phù hợp) vẫn là ba công ty riêng biệt Sau khi luậtcông ty ra đời, Singapore đặt ra những quy định chặt chẽ hơn đối với hình thức hợp nhất(sáp nhập) công ty Sau khi hợp nhất hai hay nhiều công ty thì có thể hình thành một công

ty hợp nhất hoặc là hình thành một công ty mới

Mua lại các công ty ở Singapore cũng giống như các nước khác có thể thông qua hìnhthức mua lại cổ phiếu hoặc mua lại tài sản

Về luật chống độc quyền, Singapore không có luật chống độc quyền Nhưng trongmột số ngành như viễn thông, bưu chính, ngành dịch vụ công có những quy định về chốngđộc quyền

1.3.2 So sánh M&A giữa Việt Nam và các nước

1.3.2.1 So sánh M&A giữa Việt Nam và Trung Quốc

Trung Quốc là một trong những nước thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài dưới hình

Trang 14

thức mualại và sáp nhập (M&A) nhất ở Châu Á những năm gần đây Nhà đầu tư nướcngoài có thể tham gia M&A với các doanh nghiệp nội địa theo nhiều cách thứckhác nhau Trước khi tiến hành M&A các nhà đầu tư phải đệ trình một bản kế hoạch tái tổ chứclại doanh nghiệp nhà nước trong đó nêu rõ những thông tin về nhà đầu tư nước ngoài, tìnhhình tài chính, quy mô kinh doanh, cơ cấu cổ phần, kế hoạch ổn định nhân sự và đặc biệt làcách thức quản lý công ty mới Trung Quốc yêu cầu các nhà đầu tư nước ngoài cung cấp kếhoạch để cải tiến cơ cấu quản lý và thúc đẩy tăng trưởng bền vững của doanh nghiệp nhànước.

Về vấn đề giá cả mua lại doanh nghiệp: Trung Quốc quyết định giá mua lại doanhnghiệp phải dựa trên giá trị tài sản hoặc giá trị cổ phần do một công ty đánh giá tài sản ởTrung Quốc đưa ra Phương pháp đánh giá tài sản hoặc cổ phần phải là phương pháp đượcquốc tế công nhận Nếu như giá mua lại doanh nghiệp thấp hơn giá trị đó thì cuộc chuyểnnhượng này không được phép thực hiện

Về thuế áp dụng cho các giao dịch M&A, Trung Quốc căn cứ vào từng hình thứcM&A để áp dụng mức thuế suất khác nhau đối với từng giao dịch

So sánh luật của Trung Quốc và Việt Nam về M&A

Văn bản quy

phạm pháp

luật

Bộ luật M&A Việt Nam không có một đạo luật

riêng về M&A Luật Doanhnghiệp chỉ quy định về M&Adừng lại ở mức độ hướng dẫn vềrình tự, thủ tục Các quy định vềM&A ở Việt Nam được quy địnhrải rác trong các văn bản quyphạm pháp luật

Chủ thể Hai hoặc nhiều công ty khác loại Hai hoặc nhiều công ty cùng loạiĐịnh giá Giá mua lại doanh nghiệp phải dựa

trên giá trị tài sản hoặc giá trị cổ phần

do một công ty đánh giá tài sản ởTrung Quốc đưa ra

Không có bất kỳ văn bản quyphạm pháp luật nào quy định vềviệc định giá doanh nghiệp

2.THỰC TRẠNG TÁI CẤU TRÚC Ở VIỆT NAM

2.1 Tổng quan

Trong 3 năm vừa qua, giá trị giao dịch M&A tại Việt Nam có xu hướng tăng mạnh.Năm 2009 ghi nhận 295 vụ với tổng giá trị 1,14 tỷ USD, năm 2010 có 245 vụ với tổng giátrị 1,75 tỷ USD và năm 2011 ghi nhận có 266 vụ với tổng giá trị giao dịch đạt kỷ lục là6,25 tỷ USD Chỉ trong Q1/2012 đã có trên 60 vụ (giá trị gần 2 tỷ USD) Trong 5 năm gầnđây, tăng trưởng hoạt động M&A tại Việt Nam đạt mức bình quân trên 30%

Trong số này, trên 2,6 tỷ USD (khoảng 65%) là các giao dịch liên quan đến nhà đầu

Trang 15

tư nước ngoài Như vậy, có thể nhìn nhận rằng M&A nói chung và M&A có yếu tố nướcngoài đã và đang đóng vai trò quan trọng trong hoạt động đầu tư tại Việt Nam.

Theo một khảo sát của Thomson Reuter và Pickering Pacific Analysis, trong số 6nước trong khu vực ASEAN (gồm Singapore, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam, Indonesia vàPhilippines), năm 2010 trong số 2337 thương vụ M&A được ghi nhận với tổng trị giá 60,7

tỷ USD thì Việt Nam chiếm khoảng 15% số vụ nhưng chỉ chiếm giá trị khoảng 3% Điềunày cho thấy quy mô trung bình của các vụ M&A tại Việt Nam là tương đối nhỏ (khoảng 7triệu USD/vụ) so với mức trung bình trong các nước ASEAN (trung bình khoảng 45.5 triệuUSD/vụ)

Trang 16

Biểu đồ 1 : Số lươ ̣ng và giá tri ̣ M&A ta ̣i Viê ̣t Nam (2003-Quý I/2012)

Biểu đồ 2: So sánh tăng trưởng hoa ̣t đô ̣ng M&A Viê ̣t Nam và Châu Á Thái Bình Dương

Xét về chủ thể tham gia M&A, trong tổng số 4 tỷ USD giá trị các thương vụ trongnăm 2011 tại Việt Nam thì các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm tỷ trọng tới 66% vềgiá trị và 77% về số lượng giao dịch

Trang 17

Nhật Bản là quốc gia dẫn đầu trong việc tham gia vào các thương vụ M&A tại ViệtNam xét theo số lượng Điển hình là thương vụ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoạithương Việt Nam (Vietcombank) bán cho Tập đoàn tài chính Mizuho của Nhật Bản 15%vốn tính trên số cổ phiếu đã phát hành và đang lưu hành Khoản đầu tư này tương đương567,3 triệu USD, bằng 11.800 tỷ đồng Với 14 thương vụ M&A trong năm 2011, Nhật Bản

là nhà đầu tư nước ngoài quan trọng trong các giao dịch M&A tại Việt Nam

Theo các đánh giá của một số tổ chức nghiên cứu về M&A tại Việt Nam (StoxPlus,M&A Forum), dòng vốn dành cho M&A đến từ các doanh nghiệp Nhật nằm trong xu thếđầu tư ra ngoài chung của nước này, được hỗ trợ bởi đồng Yên tăng giá mạnh, thị trườngnội địa đã bão hòa và ít dư địa tăng trưởng và nhiều công ty Nhật Bản có lượng tiền mặtlớn cần tìm địa chỉ đầu tư hiệu quả và đa dạng danh mục

Năm 2011, hãng Kirin Holdings của Nhật một mặt mua 57% cổ phần của TradeOcean Holdings tại Interfoods, công ty sở hữu thương hiệu Wonderfarm vốn quen thuộc tạiViệt Nam và có kênh phân phối thức uống hơn 110.000 đại lý Mặt khác Kirin mua toàn bộphần vốn góp trong liên doanh với Acecook và sở hữu nhà máy sản xuất nước uống có vốnđầu tư 60 triệu USD Thị trường sản phẩm nước uống (không cồn) tại Việt Nam được đánhgiá là rất tiềm năng, với mức tăng trưởng chỉ trong năm năm 2006 - 2010 từ 630 triệu lên1,5 tỉ lít và dự kiến vượt 2,5 tỉ vào năm 20152

Công ty chuyên về bánh kẹo và thực phẩm tại Nhật, Ezaki Glico, vào đầu năm 2012

đã mua lại cổ phần của KDC để thông qua kênh phân phối của KDC bước vào thị trườngViệt Nam

Đặc điểm chung của các thương vụ M&A do các công ty Nhật Bản thực hiện thì phầnlớn có liên quan đến thị trường tiêu dùng lớn là thực phẩm và đồ uống Các công ty mụctiêu có đặc điểm là các thương hiệu phổ biến, dẫn đầu thị phần, hoặc có kênh phân phốirộng trên cả nước

Singapore với 16 giao dịch trong năm 2011 cùng chiếm một tỷ lệ lớn về giá trị cácgiao dịch M&A, hầu hết là thông qua các công ty đầu tư vốn cổ phần Trung Quốc có 1 vụ(nhưng về bản chất là tái cấu trúc trong nội bộ tập đoàn), và các thương vụ của Mỹ chủ yếu

là đầu tư vốn cổ phần Các giao dịch của nhà đầu tư Nhật Bản quan trọng ở đặc điểm là cáctập đoàn trong cùng ngành mua lại một phần hoặc chi phối hoạt động của doanh nghiệpViệt Nam như một hình thức thâm nhập thị trường

Nhiều chuyên gia kinh tế - tài chính nhận định, các doanh nghiệp Việt Nam còn mấtnhiều thời gian nữa mới trở thành những bên mua dẫn đầu về mặt giá trị giao dịch trongcác thương vụ mua bán sáp nhập

Trang 18

Biểu đồ 3: Tỷ tro ̣ng M&A liên quan đến DN Viê ̣t Nam và DN Nước Ngoài

2.2 Một số ngành có hoạt động M&A sôi động

Trong số đó ngành dịch vụ tài chính và hàng tiêu dùng được ghi nhận là có sự sôiđộng nhất cả về số lượng và giá trị giao dịch Theo thống kê của Nexus Group, tính tớitháng 9/2011, tổng giá trị giao dịch M&A trong hai ngành này chiếm khoảng 55% tổng giátrị các thương vụ trong năm 2011

Trang 19

Bảng 1: Hoạt động M&A của một số ngành

Ngành Tổng giá tri ̣

(triê ̣u USD) Số vu ̣

Trong đó Trong đó Cổ phần

thiểu số

Cổ phần

đa số

Thâu tóm nhâ ̣p Sáp

Hàng hoá cá nhân và hộ gia đình 226 14 12 214 226 0

Bảng 2: Các thương vụ điển hình ngành tài chính - ngân hàng (2009-2011)

STT Năm Công ty hạn mục Công ty M&A Quốc gia Hình thức % sở

hữu

Giá trị (triệu USD)

Trang 20

3 2011 Petrovietnam Insurance

Holdings

Gerling Industrie

SCB

Việt Nam Tín Nghĩa

Đệ Nhất (Ficombank)

16 2011 CTCP quản lý quỹ An Phú Chứng khoán

Chứng khoán Kim Eng

20 2010 Ngân hàng phát triển

Mekong (MDB)

Fullerton Financial

Thăng Long Securities Co.Ltd

Saigon-Hanoi Securities JSC

Securities Co.Ltd Việt Nam Domestic

13.3

Trong ngành tài chính, ngoại trừ các thương vụ M&A của công ty chứng khoán thìthực sự Việt Nam chưa chứng kiến một thương vụ M&A đích thực nào trong ngành ngânhàng cho các tập đoàn nước ngoài Do những rào cản pháp lý về sở hữu đối với nước ngoàinên chưa có một ngân hàng trong nước nào được sở hữu thông qua nghiệp vụ M&A Các

Trang 21

hoạt động chuyển nhượng sở hữu chủ yếu được thực hiện qua các đại gia trong nước.Các giao dịch M&A trong năm nay trong ngành ngân hàng chủ yếu vẫn là phát hànhriêng lẻ và kể cả hơn 20 thương vụ phát hành riêng lẻ cho các đối tác nước ngoài trong 5năm vừa qua cũng chỉ là các giao dịch lớn mang tính “chiến lược” và chưa có sự chuyểngiao “kiểm soát”.

Cuối năm 2011, với chủ trương tái cơ cấu ngành ngân hàng, đã có các động thái sápnhập các ngân hàng: 3 ngân hàng Đệ Nhất, Tín Nghĩa, Sài Gòn tự nguyện sáp nhập để trởthành NHTMCP SCB (từ 1/1/2012) dưới sự hỗ trợ của Ngân hàng Đầu tư và Phát triểnViệt Nam (BIDV) và những thông tin trên thị trường chứng khoán về việc Exim-bank đãnắm quyền kiểm soát trên 50% cổ phần có quyền biểu quyết của Ngân hàng Sacombank4.Gần đây nhất, ngân hàng Habubank cũng đã sáp nhập vào ngân hàng SHB theo hình thứcchuyển đổi cổ phiếu

Về phía Nhà nước, Theo Đề án 254 về Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giaiđoạn 2011-2015, Chính phủ chủ trương khuyến khích và tạo điều kiện để các tổ chức tíndụng sáp nhập, hợp nhất, mua bán lại theo nguyên tắc tự nguyện, từ đó tăng quy mô và khảnăng cạnh tranh

Do vậy, có thể nhận thấy, thời gian tới thị trường sẽ tiếp tục được chứng kiến cácthương vụ ngân hàng sáp nhập tự nguyện như đã diễn ra Gần đây, người đứng đầu ngànhngân hàng cũng khẳng định, sẽ tiếp tục đẩy mạnh việc cơ cấu lại khu vực ngân hàng trongnăm 2012 với những mục tiêu chính là tăng cường năng lực tài chính, khả năng tuân thủ vàminh bạch của hệ thống và còn dự kiến sẽ có từ 5 đến 8 ngân hàng được sáp nhập trongnăm nay

2.2.2 Ngành hàng tiêu dùng

Đứng thứ hai sau ngành tài chính là ngành sản xuất kinh doanh hàng tiêu dùng Năm

2011, giá trị các thương vụ mua bán, sáp nhập (M&A) ước đạt gần 4 tỷ USD thì trong đóhơn 1 tỷ USD thuộc lĩnh vực hàng tiêu dùng, và dự kiến trong năm 2012, hoạt động M&Atrong lĩnh vực này còn tăng mạnh, đặc biệt là nhóm ngành tiêu dùng nhanh (FCMG) Theophân tích của các chuyên gia tài chính, có 3 lý do để thị trường M&A lĩnh vực tiêu dùngnăm tới tiếp tục sôi động Thứ nhất, nền tảng thị trường tiêu dùng Việt Nam rất tốt với dân

số trẻ và thu nhập ngày càng tăng Thứ hai, các doanh nghiệp hàng tiêu dùng trong nướcđang gặp khó khăn về vốn do lãi suất cao Thứ ba, khi thị trường phát triển, theo quy luậtđào thải, doanh nghiệp cần xây dựng giá trị cốt lõi và đầu tư con người Thiếu cả vốn lẫnkinh nghiệm phát triển ngành buộc các doanh nghiệp hàng tiêu dùng trong nước phải tìmđến các nhà đầu tư Đặc biệt, các nhà đầu tư Nhật Bản, Ấn Độ… Do những bất lợi về thiêntai, cũng như do nền kinh tế các nước này đã phát triển đến độ chín, nên họ đang có nhucầu đầu tư ra nước ngoài để giữ nguồn tiền và mở rộng thị trường

Các nhà đầu tư nhận định, với thị trường tiêu dùng nội địa có mức tăng trưởng lớn,

Trang 22

ngành hàng này sẽ tiếp tục sôi động, các doanh nghiệp ở tốp đầu ngành, có phân khúc sảnphẩm riêng, nhóm khách hàng tiềm năng hay tỷ trọng xuất khẩu cao… sẽ nằm trong đíchngắm của các đối tác có tham vọng gia nhập hoặc mở rộng thị trường.

Nhiều chuyên gia phân tích rằng, sở dĩ M&A trong ngành hàng tiêu dùng sẽ sôi động

vì thị trường đang tạo ra sự thuận lợi cho cả phía cung lẫn cầu Về thị trường, Việt Namđang có dân số trẻ, thu nhập trung bình ngày càng tăng và tạo ra một thị trường tiêu dùng

có mức tăng trưởng tự nhiên ổn định Mặt khác, sau giai đoạn dài khó khăn về vốn do lãisuất, trong khi họ cần kinh nghiệm làm thương hiệu và ổn định thị trường, việc chọn cáchhợp tác với nhà đầu tư sẽ dễ dàng hơn

Ngành hàng tiêu dùng, đặc biệt ngay cả trong giai đoạn kinh tế suy thoái, là lĩnh vựcchịu tác động thấp nhất bởi liên quan đến nhu cầu thiết yếu của người tiêu dùng hàng ngày.Gần đây các quỹ cũng bắt đầu công bố hướng nguồn vốn đầu tư vào các doanh nghiệptrong ngành hàng tiêu dùng vì sau một giai đoạn giải ngân, đến nay việc đầu tư vào cáccông ty tiêu dùng đều cho kết quả kinh doanh khả quan và an toàn hơn những khu vựckhác

Trước đây các quỹ có xu hướng tập trung vào doanh nghiệp lớn thì gần đây chuyểnhướng đầu tư vào cả những doanh nghiệp nhỏ và vừa nhưng có sản phẩm tiềm năng

Bảng 3: Một số vụ M&A điển hình trong ngành hàng tiêu dùng(2009-2011)

STT Năm Công ty hạn mục Công ty M&A Quốc gia Hình thức %sở hữu Giá trị (triệu

USD)

3 2011 International

12 2010 CTCP Kinh Đô Miền

13 2010 Công ty TNHH

Unilever VN

Cty TNHH Unilever

Ngày đăng: 12/12/2013, 22:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Các thương vụ điển hình ngành tài chính - ngân hàng (2009-2011) - tái cấu trúc doanh nghiệp M&A
Bảng 2 Các thương vụ điển hình ngành tài chính - ngân hàng (2009-2011) (Trang 19)
Bảng 1: Hoạt động M&A của một số ngành - tái cấu trúc doanh nghiệp M&A
Bảng 1 Hoạt động M&A của một số ngành (Trang 19)
Bảng 3: Một số vụ M&A điển hình trong ngành hàng tiêu dùng(2009-2011) - tái cấu trúc doanh nghiệp M&A
Bảng 3 Một số vụ M&A điển hình trong ngành hàng tiêu dùng(2009-2011) (Trang 22)
Bảng 10: Thống kê các vụ việc TTKT được thông báo/tham vấn đến Cục QLCT - tái cấu trúc doanh nghiệp M&A
Bảng 10 Thống kê các vụ việc TTKT được thông báo/tham vấn đến Cục QLCT (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w