Như vậy, có thể nói khái niệm “tài phán” rộng hơn khái niệm “xét xử” ở nhiều khía cạnh. Hoạt động tài phán có thể thực hiện bởi nhiều loại cơ quan khác nhau. Không chỉ tòa án mà các cơ quan hành chính hay các cơ quan khác cũng có quyền tài phán. Quyền tài phán có thể do một cơ quan độc lập, chuyên trách thực hiện hoặc có thể do một cơ quan thực hiện nhiều chức năng, trong đó có chức năng tài phán. Điều đó phụ thuộc vào cơ cấu, phương thức tổ chức quyền lực trong bộ máy nhà nước, vào thẩm quyền mỗi cơ quan theo quy định của pháp luật.
Trang 1MỤC LỤC
I TỔNG QUAN VỀ TÀI PHÁN 2
1.1 ĐỊNH NGHĨA VỀ TÀI PHÁN 2
1.2 PHÂN LOẠI 4
1.3.1.1 Lịch sử hình thành chế định trọng tài trên thế giới 5
1.5 Cơ sở lý luận của việc thiết lập mối quan hệ giữa tòa án và trọng tài trong quá trình tố tụng trọng tài 38
II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA TRỌNG TÀI VÀ TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ 41
2.1 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA HOẠT ĐỘNG TRỌNG TÀI VIỆT NAM 41
2.2 CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN VÀ TRỌNG TÀI TẠI VIỆT NAM 43
2.2.1 Về vấn đề thẩm quyền của Trọng tài thương mại tại Việt Nam 43
2.2.2 Xem xét thẩm quyền của tòa án đối với hoạt động trọng tài 44
2.2.2.1 Xem xét thẩm quyền của Hội đồng trọng tài 44
2.2.2.2 Đối với các vấn đề khác của tố tụng trọng tài 45
2.2.2.3 Đối với phán quyết trọng tài 45
2.2.2.4 Giá trị của phán quyết Trọng tài nước ngoài 46
2.2.3 Vai trò hỗ trợ của tòa án đối với trọng tài thương mại 47
2.3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ QUA TRỌNG TÀI VÀ TÒA ÁN 50
2.3.1 Thực trạng giải quyết tranh chấp qua tòa án kinh tế và trọng tại thương mại thời gian qua 50
2.3.2 Một số vấn đề thường gặp của trọng tài thương mại qua trong thời gian qua 53
2.4 NHỮNG NGUYÊN NHÂN CHỦ YẾU CỦA THỰC TRẠNG TRÊN 57
III KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 63
1
Trang 2có các biện pháp bảo đảm cho các quy phạm pháp luật ấy được thực hiện bởi mọi chủ thể Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, khi tham gia vào các quan hệ xã hội, các chủ thể vẫn thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm lợi ích nhà nước, xã hội, tập thể và quyền tự do, lợi ích hợp pháp của công dân
Những tranh chấp và xung đột pháp lý, những vi phạm pháp luật không loại trừ xảy ra ngay cả trong nhà nước xã hội chủ nghĩa khi pháp luật thể hiện ý chí tuyệt đại đa số nhân dân lao động Để phản ứng lại những hành vi vi phạm pháp luật, nhà nước áp dụng các biện pháp cưỡng chế khác nhau đã được pháp luật dự kiến trước trong các chế tài của các quy phạm pháp luật
Trang 3Song, những biện pháp cưỡng chế nhà nước chưa thể áp dụng ngay được nếu như chưa có sự phán xét, đánh giá những hành vi được coi là vi phạm pháp luật hay những tranh chấp pháp lý cụ thể
Vì vậy, nhà nước cần có một hay nhiều các tổ chức, cơ quan thay mặt nhà nước đứng ra thực hiện chức năng xem xét khía cạnh pháp lý của sự việc, giải quyết những tranh chấp và áp dụng chế tài theo luật định Hoạt động mà các cơ quan đó thực hiện chính là “hoạt động tài phán”
và bản thân cơ quan đó là “cơ quan thực hiện chức năng tài phán”
Thuật ngữ “tài phán” có gốc từ tiếng La Tinh là “jurisdictio” có nghĩa là tổng thể những quyền hạn của Tòa án hoặc cơ quan hành chính về việc đánh giá khía cạnh pháp lý của những sự kiện cụ thể, trong đó có việc giải quyết tranh chấp và áp dụng những chế tài theo luật định
Như vậy, có thể nói khái niệm “tài phán” rộng hơn khái niệm “xét xử” ở nhiều khía cạnh Hoạt động tài phán có thể thực hiện bởi nhiều loại cơ quan khác nhau Không chỉ tòa án mà các cơ quan hành chính hay các cơ quan khác cũng có quyền tài phán Quyền tài phán có thể do một cơ quan độc lập, chuyên trách thực hiện hoặc có thể do một cơ quan thực hiện nhiều chức năng, trong
đó có chức năng tài phán Điều đó phụ thuộc vào cơ cấu, phương thức tổ chức quyền lực trong bộ máy nhà nước, vào thẩm quyền mỗi cơ quan theo quy định của pháp luật
Tài phán được hiểu là toàn bộ các hoạt động, hành vi của tổ chức, cơ quan hay cá nhân có
thẩm quyền theo luật định trong việc giải quyết các vụ việc tranh chấp pháp lý Quyền tài phán là quyền năng theo pháp luật, phù hợp với pháp luật và được pháp luật bảo hộ
Quyền tài phán theo pháp luật là dạng quyền tài phán do pháp luật đặt ra Cũng có thể đó
là quyền tài phán không phải được pháp luật trực tiếp lập ra nhưng được quy phạm pháp luật cho phép các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền lập ra
Hành vi tài phán là hành vi của cá nhân hoặc tổ chức, hoặc cơ quan có quyền tài phán
Hành vi tài phán được đặt trong phạm vi, bối cảnh nhất định, tức là có giới hạn
Thể chế tài phán là các quy tắc pháp lý, bao gồm các quy tắc nền tảng và các quy tắc nội
dung về tài phán, ở cả diện rộng hoặc hẹp (bao trùm hoặc trong phạm vi một lĩnh vực)
3
Trang 4Thiết chế tài phán là cơ cấu vật chất của tài phán Nó chỉ rõ ai là "chủ thể" của tài phán,
mang quyền tài phán
1.2 PHÂN LOẠI
Theo tính chất, tài phán có hai dạng chính: tài phán tư pháp và tài phán hành chính
* Tài phán tư pháp: hoạt động xét xử đối với các vụ án hình sự, dân sự, lao động, thương
mại của tòa án để đưa ra những phán quyết cuối cùng (phân xử ai đúng ai sai)
* Tài phán hành chính: là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phán xét
những khiếu kiện của cá nhân, tổ chức đối với cơ quan hành chính (hoặc những cơ quan nhà nước khác) đưa ra những quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính mà cá nhân tổ chức cho là trái pháp luật hoặc là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ
1.3 TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH
Ở đâu có hoạt động kinh doanh thương mại thì ở đó có khả năng phát sinh tranh chấp Tranh chấp là hệ quả tất yếu xảy ra trong hoạt động kinh doanh, vì vậy giải quyết các tranh chấp phát sinh được coi là tự thân của các quan hệ kinh tế Ở góc độ khái quát chung, giải quyết tranh chấp trong kinh doanh chính là việc lựa chọn các hình thức, biện pháp thích hợp để giải toả các mâu thuẫn, bất đồng, xung đột lợi ích giữa các bên, tạo lập lại sự cân bằng về mặt lợi ích mà các bên có thể chấp nhận được
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường phải đáp ứng các yêu cầu sau :
- Nhanh chóng, thuận lợi, không làm hạn chế, cản trở các hoạt động kinh doanh
- Khôi phục và duy trì các quan hệ hợp tác, tín nhiệm giữa các bên trong kinh doanh
- Giữ bí mật kinh doanh, uy tín của các bên trên thương trường
- Ít tốn kém nhất
Trang 5“Dù đó là tranh chấp gì đi chăng nữa thì vì sự công bằng và hiệu quả kinh tế mà cần thiết phải có một cơ chế để giải quyết tranh chấp” Có nhiều cách thức khác nhau để giải quyết tranh chấp Tùy thuộc vào phong tục tập quán, truyền thống, trình độ phát triển kinh tế – xã hội mà mỗi quốc gia trên thế giới có các cơ chế giải quyết tranh chấp trong kinh doanh rất khác nhau Nhìn chung cho đến thời điểm hiện tại, các hình thức giải quyết tranh chấp chủ yếu được áp dụng rộng rãi trên thế giới bao gồm : thương lượng, hoà giải, trọng tài (phi chính phủ) và giải quyết thông qua tòa án Để phục vụ cho nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đã đặt ra, trong phần này chỉ đề cập đến trình tự, thủ tục của hai hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh đang được áp dụng rất phổ biến đó là : trọng tài và tòa án.
1.3.1.Trọng tài:
1.3.1.1 Lịch sử hình thành chế định trọng tài trên thế giới
Khoa học pháp lý chưa khẳng định được chính xác phương thức trọng tài bắt đầu xuất hiện
từ khi nào, nhưng có thể khẳng định đây chính là hình thức tiền thân của việc hình thành các tòa án sau này Tòa Trọng tài là một trong những phương thức cổ xưa nhất để giải quyết bất hòa giữa người với người, giữa quốc gia với quốc gia Người Hy Lạp và La Mã cổ đại đã biết sử dụng phương thức này để giải quyết tranh chấp Quy định sơ khai về trọng tài trong luật mua bán hàng hóa cho phép các lái buôn được tự phân xử bất hòa của mình không cần có sự can thiệp của Nhà nước Về sau Luật La Mã cho phép mở rộng phạm vi tranh chấp, không chỉ trong biên giới lãnh thổ, mà còn ở những nước La Mã có trao đổi hàng hóa, có nghĩa là trải rộng trên hầu khắp lục địa Châu Âu
Trong hệ thống luật của Anh, văn bản pháp luật đầu tiên về trọng tài phải kể đến Luật Trọng tài 1697, nhưng vào thời điểm luật được thông qua, đây đã là một phương thức rất phổ biến (phán quyết đầu tiên của trọng tài ở Anh được đưa ra vào năm 1610) Tuy nhiên các quy định sơ khai về trọng tài trong hệ thống luật "common law" thể hiện một hạn chế cơ bản là bất cứ bên tham gia tranh chấp nào cũng có thể khước từ việc thực hiện phán quyết của trọng tài nếu thấy phán quyết đó bất lợi cho mình Hạn chế này đã được khắc phục trong Luật năm 1697 Trong Hiệp ước Jay năm 1794, Anh và Mỹ đã thống nhất đưa các vấn đề còn đang tranh chấp liên quan đến các khoản nợ và biên giới ra giải quyết ở trọng tài Việc giải quyết tranh chấp này kéo dài 7 năm,
5
Trang 6và được coi là kết thúc thành công Từ đầu thế kỷ XX, các nước (trong đó có Pháp và Mỹ) bắt đầu thông qua các đạo luật quy định và khuyến khích việc phân xử ở cấp trọng tài thay cho kiện tụng ở tòa án vốn được cho là kém hiệu quả hơn.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của thương mại thế giới, phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài cũng phát triển, dẫn tới việc hình thành những tổ chức trọng tài quốc tế để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong các hợp đồng thương mại quốc tế Tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ngày càng được thừa nhận rộng rãi, đặc biệt là trong các thập
kỷ gần đây Các quốc gia sửa đổi luật pháp về trọng tài cho phù hợp với tình hình thực tế; các điều ước quốc tế về trọng tài đang có thêm những thành viên mới; trọng tài trở thành một môn học trong chương trình đào tạo ngành luật; các doanh nghiệp ngày càng tin tưởng vào một phương thức giải quyết tranh chấp linh hoạt, công bằng, với phán quyết được công nhận rộng rãi trên phạm
vi thế giới hậm chí, trọng tài hiện nay còn giải quyết tranh chấp “trực tuyến” (thường được biết đến với thuật ngữ ODR – "online dispute resolution" nghĩa là giải quyết tranh chấp trực tuyến) Trọng tài trực tuyến tiến hành khi có khiếu nại trực tuyến, thủ tục tố tụng diễn ra trên internet, trọng tài phân xử và ra phán quyết dựa vào hồ sơ do các bên xuất trình
Ở tất cả các nước trên thế giới, các tranh chấp dân sự dù có hay không có yếu tố nước ngoài đều được giải quyết không chỉ bằng toà án mà bằng cả trọng tài Trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp độc lập và ngày càng được sử dụng rộng rãi trong thực tiễn xét xử quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực quan hệ kinh tế quốc tế Cuối thế kỷ 19, người ta đã cố gắng hợp thức hoá tính cách pháp lý cho hình thức trọng tài qua hai Hội nghị Quốc tế Đó là hội nghị Hoà bình tổ chức tại La – Hay Hà Lan vào năm 1899 và 1907 Hai hội nghị này đã đi đến việc soạn thảo quy chế và thủ tục và nỗ lực hướng dẫn các quốc gia áp dụng triệt để các hiệp ước trọng tài Cũng như các thuật ngữ khoa học pháp lý khác, khái niệm “Trọng tài” được đề cập nhiều trong luật quốc tế Định nghĩa sớm nhất về trọng tài được nêu trong Công ước La-Hay năm 1988, theo đó: “Trọng tài
là nhằm để giải quyết những bất đồng giữa các bên thông qua một người thứ ba do chính các bên lựa chọn trên cơ sở tôn trọng luật pháp” Hiệp định La-Hay 1907 qui định: “Trọng tài quốc tế có đối tượng giải quyết là những tranh chấp giữa các quốc gia qua sự can thiệp của những trọng tài viên do các quốc gia tranh chấp tự chọn và đặt trên cơ sở của sự tôn trọng luật pháp” Theo giáo sư Ph.Farrchar thuộc trường đại học Pans II thì: “Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp,
Trang 7theo đó các bên giao cho một cá nhân (trọng tài viên) thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh giữa họ với nhau” Luật sư toà thượng thẩm Paris Didier Skonicki định nghĩa ngắn gọn: “Trọng tài
là toà án tư, do ý chí của đôi bên tranh chấp Nó cũng xét xử như toà án nhà nước”
1.3.1.2 Khái niệm của tố tụng trọng tài.
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh bằng trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của trọng tài viên, với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm chấm dứt xung đột bằng việc đưa ra một phán quyết buộc các bên tranh chấp phải thực hiện Cũng như thủ tục tố tụng tòa án, trong quá trình giải quyết các tranh chấp kinh doanh trọng tài cũng phải tuân theo các trình
tự, thủ tục nhất định mà pháp luật quy định, từ việc khởi kiện, xét xử, thi hành phán quyết trọng tài, quyền và nghĩa vụ của những người tham gia,… Đây chính là thủ tục tố trọng tài Nói cách khác, tố tụng trọng tài được hiểu là trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định để giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng trọng tài
1.3.1.3 Hoạt động tố tụng trọng tài có các đặc điểm và các nguyên tắc cơ bản
- Trọng tài thương mại là một loại hình tổ chức phi chính phủ, một tổ chức mang tính chất xã hội – nghề nghiệp, hoạt động theo pháp luật và quy chế trọng tài
- Tố tụng trọng tài là sự kết hợp giữa hai yếu tố thỏa thuận và tài phán Cụ thể, thỏa thuận làm tiền đề cho phán quyết và không thể có phán quyết thoát ly những yếu tố
đã được thỏa thuận
- Tố tụng trọng tài đảm bảo cho đương sự quyền tự định đoạt của mình một cách cao nhất, các đương sự có quyền lựa chọn trọng tài viên, quyền lựa chọn địa điểm giải quyết tranh chấp, lựa chọn quy tắc tố tụng…
7
Trang 8- Phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm và không thể kháng cáo trước bất cứ
cơ quan, tổ chức nào Về nguyên tắc, trọng tài không xét xử công khai, do đó ngoài nguyên đơn và bị đơn, trọng tài chỉ triệu tập các đương sự khác khi cần thiết
- Quy tắc tố tụng trọng tài của các quốc gia rất khác nhau, nhưng nhìn chung quy tắc lựa chọn trọng tài viên và thủ tục của hầu hết các trung tâm trọng tài trên thế giới đều theo khuôn mẫu của Quy tắc trọng tài mẫu UNCITRAL
Nguyên tắc của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
Quy tắc tố tụng là khung pháp lý mà Uỷ ban trọng tài và các bên đương sự phải tuân theo
Do trọng tài là tổ chức xã hội nghề nghiệp được hình thành trên cơ sở tự nguyện của các trọng tài viên, theo quy định của Pháp luật; hoặc trên cơ sở lựa chọn của các đương sự (trọng tài AD - HOC), nên không tồn tại một tố tụng thống nhất Tuy vậy, thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài của tất cả các tổ chức, hình thức trọng tài phải đảm bảo các nguyên tắc sau mà nếu vi phạm các nguyên tắc này sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý rất phức tạp
+Nguyên tắc tự nguyện: Là nguyên tắc cốt lõi trong vấn đề trọng tài vì trọng tài được hình thành là do ý chí tự nguyện của các bên đương sự và trong quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài đều nhân danh ý chí tối cao của các bên đương sự Họ có thể thoả thuận chọn hình thức trọng tài, tổ chức trọng tài, trọng tài viên, địa điểm mà họ thấy thuận tiện và thậm chí là cả quy tắc tố tụng áp dụng trong vụ kiện Trong quá trình tranh tụng, nếu các bên đạt được sự thống nhất trên cơ
sở thương lượng hoặc hoà giải thì trọng tài phải tôn trọng sự thoả thuận đó và chấm dứt việc giải quyết vụ việc
+Nguyên tắc bình đẳng giữa các bên tranh chấp: Trong mọi việc: từ lựa chọn hay bãi miễn trọng tài viên, lựa chọn địa điểm tố tụng, trong việc đưa đơn yêu cầu hay đơn biện minh trong việc nhận thông tin từ trọng tài và phía bên kia Mọi tài liệu thông tin cho trọng tài đều phải thông báo cho bên kia, mọi biện pháp, quyết định của trọng tài đều phải đảm bảo sự bình đẳng giữa các bên tranh chấp
+ Nguyên tắc độc lập của các trọng tài viên trong khi giải quyết tranh chấp trong quá trình giải quyết tranh chấp, không ai có quyền can thiệp vào hoạt động của trọng tài viên Các trọng tài
Trang 9viên bình đẳng với nhau và xét xử độc lập căn cứ vào những Điều khoản của hợp đồng và pháp luật hiện hành Tuy nhiên, với tư cách là những người hoàn toàn độc lập trong xét xử tranh chấp, trọng tài phải đảm bảo thái độ khách quan, vô tư nếu không muốn bị các bên khước từ hoặc phải
tự khước từ
+ Nguyên tắc giữ bí mật trong giải quyết tranh chấp: đây là nguyên tắc xuất phát từ mong muốn và lợi ích của các doanh nghiệp Theo đó, các buổi họp xét xử của trọng tài trên cơ sở sự thoả thuận của các trọng tài viên sẽ được tiến hành tại nơi mà ngoài trọng tài viên và các đương sự thì những người không có trách nhiệm hoặc không liên quan thì không được có mặt Trọng tài viên
có trách nhiệm phải đảm bảo bí mật mọi vấn đề mà mình biết khi tiến hành giải quyết vụ việc, kể
cả phán quyết cuối cùng trừ khi được sự đồng ý của các đương sự
+ Quyết định của trọng tài có giá trị bắt buộc với các bên và không thể bị kháng cáo
Thẩm quyền của trọng tài kinh tế
• Giải quyết các tranh chấp
o Phát sinh ở hợp đồng kinh tế giữa :
Pháp nhân với pháp nhân
Pháp nhân với Doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân với Doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân với cá nhân kinh doanh
o Phát sinh giữa công ty với các thành viên của công ty và giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty
o Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu
• Thẩm quyền của trọng tài kinh tế không được xác lập theo vùng lãnh thổ cho nên về nguyên tắc các bên có quyền lựa chọn bất kỳ trung tâm nào để giải quyết tranh chấp không phụ thuộc vào nơi đặt trụ sở hoặc nơi cư trú của các bên
9
Trang 10Tố tụng trọng tài kinh tế
• Trọng tài chỉ " Xét xử" 1 lần
• Tố tụng trọng tài kinh tế không quy định nguyên tắc xét xử công khai như toà án mà xét xử
bí mật chỉ những người được mời mới được tham dự phiên họp
• Tố tụng trọng tài không theo nguyên tắc xét xử tập thể mà bằng 1 trọng tài viên do đương
sự lựa chọn
• Việc giải quyết tranh chấp kinh tế theo tố tụng bao gồm các giai đoạn sau:
o Nguyên đơn gửi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đến một trung tâm trọng tài kinh
tế kèm theo văn bản thoả thuận của các bên về việc đưa vụ tranh chấp ra giải quyết
ở trung tâm trọng tài kinh tế đó
o Trong một thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, thư ký trung tâm trọng tài kinh tế phải gửi bản sao đơn yêu cầu của nguyên đơn và danh sách trọng tài viên cho bị đơn đồng thời ấn định thời hạn bị đơn phải gửi văn bản trả lời cho trung tâm trọng tài kinh tế
Trong trường hợp vụ tranh chấp do một hội đồng trọng tài giải quyết thì mỗi bên chọn một trọng tài viên và 2 trọng tài viên sẽ chọn một trọng tài viên thứ 3 làm chủ tịch Hội đồng trọng tài nếu các trọng tài viên do các bên chỉ định không chọn được trọng tài viên thứ 3 thì chủ tịch trung tâm sẽ chỉ định
Trong trường hợp các bên thoả thuận vụ tranh chấp do một trọng tài viên giải quyết thì hai bên thông báo thuận chọn một trọng tài viên nếu không thoả thuận được sẽ
do chủ tịch trung tâm chỉ định
o Trọng tài viên tiến hành các công việc cần thiết cho việc giải quyết tranh chấp như nghiên cứu hồ sơ, nghe các bên trình bày, trưng cầu giám định
o Tổ chức phiên họp giải quyết tranh chấp
o Việc giải quyết vụ tranh chấp được kết thúc bằng quyết định
Trang 11Hiệu lực của phán quyết
Quyết định giải quyết của hội đồng trọng tài hoặc của trọng tài viên có hiệu lực thi hành không bị kháng cáo, kháng nghị nhưng trong trường hợp quyết định trọng tài không được một bên chấp hành thì bên kia có quyền yêu cầu toà án nhân dân có thẩm quyền xét xử theo thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
Trọng tài kinh tế quốc tế
• Là một bộ phận đặt bên cạnh phòng công nghiệp thương mại Việt Nam (VCCI) được thành lập trên cơ sở sát nhập giữa hội đồng trọng tài ngoại thương và hội đồng trọng tài hàng hải
• Quy chế hoạt động của trọng tài Quốc tế do VCCI phê chuẩn về cơ bản phù hợp với thông
lệ quốc tế
• Trung tâm trọng tài quốc tế là 1 tổ chức phi lợi nhuận Trọng tài viên bao gồm những người (kể cả người nước ngoài) có kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp luật, ngoại thương, đầu tư tài chính, ngân hàng, vận tải, bảo hiểm và những lĩnh vực khác do VCCI chọn với nhiệm kỳ 4 năm
• Hiện nay ở Việt Nam mới có 1 trung tâm duy nhất tại Hà Nội
Thẩm quyền
Trung tâm trọng tài quốc tế có thẩm quyền
Giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ kinh tế quốc tế như tranh chấp phát sinh
từ các hợp đồng mua bán ngoại thương, các hợp đồng đầu tư, du lịch, vận tải và bảo hiểm quốc tế, chuyển giao công nghệ, tín dụng và thanh toán quốc tệ khi mà một hay các bên đương sự là thể nhân hay pháp nhân nước ngoài
Giải quyết các tranh chấp phát sinh từ những quan hệ trong nước nếu các bên đương sự thoả thuận đưa ra trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam để giải quyết
Nguyên tắc tố tụng
11
Trang 12• Nguyên tắc tự do định đoạt : Nguyên tắc này thể hiện các bên đương sự có quyền tự do
lựa chọn
o Trọng tài viên: Mỗi bên đương sự được quyền chọn một hoặc đề nghị chủ tịch Trung tâm trọng tài chọn hộ một trọng tài viên trong danh sách trọng tài viên của trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam 2 trọng tài viên do 2 bên đương sự thống nhất chọn trọng tài viên thứ 3 Ba trọng tài viên được chọn hợp thành uỷ ban trọng tài trong đó trọng tài viên thứ 3 làm chủ tịch Trong trường hợp 2 trọng tài viên được lựa chọn không thống nhất được với nhau về việc chọn trọng tài viên thứ 3 thì chủ tịch trung tâm trọng tài quốc tế sẽ chỉ định Các bên đương sự cũng có thể thống nhất chọn một trọng tài viên hoặc đề nghị chủ tịch trung tâm trọng tài quốc tế chỉ định một trọng tài viên đứng ra giải quyết vụ tranh chấp Trong trường hợp này trọng tài viên duy nhất được chọn thực hiện nhiệm vụ như 1 uỷ ban trọng tài
o Lựa chọn ngôn ngữ, địa điểm
Nguyên tắc đảm bảo sự độc lập của trọng tài viên trong hoạt động xét xử
Việc thực hiện nguyên tắc này nhằm đảm bảo tính khách quan trong toàn bộ quá trình giải
quyết tranh chấp Nội dung của nguyên tắc này thể hiện trên 2 khía cạnh:
o Không có bất cứ ai có quyền can thiệp vào hoạt động của trọng tài viên
o Các trọng tài viên hoàn toàn bình đẳng với nhau trong hoạt động xét xử
Hiệu lực của phán quyết
Kết quả giải quyết tranh chấp có thể là một thoả thuận hoà giải hoặc 1 phán quyết trọng tài Phán quyết của trọng tài quốc tế là chung thẩm không thể kháng cáo trước bất cứ Toà án hay tổ chức nào khác Các bên phải tự nguyện thi hành trong thời hạn được quy định trong phán quyết Nếu phán quyết không được tự nguyện thi hành trong thời hạn được quy định thì sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế
Trang 131.3.1.4 Các điểm cơ bản khi giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng hình thức trọng tài
Thoả thuận trọng tài.
Như trên đã đề cập, để giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng trọng tài thì điều kiện cần là phải có tranh chấp phát sinh và điều kiện đủ là phải có một thoả thuận giữa các bên thống nhất đưa ra tranh chấp ra giải quyết ở trọng tài
Thoả thuận trọng tài là thoả thuận của các bên có liên quan đưa ra tranh chấp đã xảy ra hoặc có thể xảy ra để giải quyết thông qua thủ tục trọng tài
Thoả thuận trọng tài có giữa các bên đồng nghĩa với việc các bên đã gián tiếp thoả thuận khước từ thẩm quyền xét xử của Toà án quốc gia Nếu không có thoả thuận sẽ không có trọng tài, hoặc nếu trọng tài không được tiến hành dựa trên cơ sở thoả thuận thì trọng tài này bị pháp luật coi
là vô hiệu khi đã thoả thuận, các bên phải thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ thoả thuận này Nếu một bên vi phạm thoả thuận trọng tài, bên kia có quyền yêu cầu Toà án can thiệp buộc bên vi phạm phải thực hiện nghĩa vụ thoả thuận trọng tài không dẫn đến các chế tài phạt như trong chế tài phạt hợp đồng Thay cho chế tài buộc thực hiện hợp đồng phạt hoặc bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, thông thường là quy định của pháp luật đảm bảo cho thoả thuận trọng tài được thực hiện mà không phụ thuộc vào ý chí của các bên liên quan
Thoả thuận trọng tài có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Đó chính là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt toàn bộ hoạt động của trong tài: từ lúc đưa tranh chấp ra trọng tài nào, chọn trọng tài viên ra sao cho đến cách thức thủ tục giải quyết tranh chấp
Thoả thuận trọng tài tồn tại dưới hai dạng đó là Điều khoản trọng tài trong hợp đồng và thoả thuận trong tài riêng biệt Điều khoản trọng tài trong hợp đồng là thoả thuận giữa cá bên hợp đồng chon trọng tài để giải quyết tranh chấp có thể xảy ra trong tương lai Điều khoản này nằm ở phần cuối hợp đồng, không phải là do nó không quan trọng bằng các điều khoản khác mà là do trình tự đàm phán Sau khi các bên đã thoả thuận xong phần lớn điều khoản chủ yếu khác rồi mới thoả thuận điều khoản này Nó còn được gọi một cách hình ảnh là "Điều khoản nửa đêm" (midnight clause) Do tranh chấp hợp đồng chưa xảy ra và có thể không bao giờ xảy ra nên Điều
13
Trang 14khoản trọng tài thường rất ngắn gọn, đôi khi quá đơn giản, ví dụ "trọng tài: theo quy tắc của ICC; Luật áp dụng; Luật Việt Nam; nơi xét xử Singapore" Tuy vậy, việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài vẫn có thể tiến hành được Thoả thuận trọng tài riêng biệt được lập khi giữa các bên đã có tranh chấp xảy ra Do các bên đã biết rõ về loại tranh chấp nên thoả thuận trọng tài trong trường hợp này thường được các bên soạn thảo một cách chi tiết, cụ thể và do vậy thường hiệu quả hơn Tuy vậy, đàm phán cho thoả thuận trọng tài riêng biệt thường khó khăn và phức tạp hơn rất nhiều
so với điều khoản trọng tài vì không phải lúc nào bên vi phạm cũng có thiện ý giải quyết tranh chấp, họ thường lảng tránh hoặc cố tình kéo dài thời gian đàm phán để chiếm dụng vốn hoặc làm mất thời hiệu khởi kiện
Theo pháp luật trọng tài của phần lớn các nước trên thế giới thì thoả thuận trọng tài phải được lập bằng văn bản Văn bản có thể là điều khoản trọng tài trong hợp đồng thoả thuận trọng tài riêng biệt hoặc thoả thuận trọng tài được lập thông qua các hình thức trao đổi thư từ, công văn, qua các phương tiện thông tin điện tử như Telex, Fax
Trong thoả thuận trọng tài, một trong những nội dung cơ bản là các bên phải thoả thuận đưa tranh chấp ra trọng tài giải quyết Tên cơ quan trọng tài có thẩm quyền giải quyết, luật áp dụng cho hợp đồng, luật áp dụng cho thủ thục tố tụng, giá trị của phán quyết, chi phí trọng tài, địa điểm trọng tài, ngôn ngữ xét xử, thời hiệu khởi kiện, nội dung tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài
Chủ thể ký kết thoả thuận trọng tài cũng là một vấn đề quan trọng Những người có quyền
ký kết hợp đồng thì cũng có nghĩa là họ có quyền ký thoả thuận trọng tài Năng lực chủ thể ký kết hợp đồng được pháp luật các quốc gia quy định khác nhau Nếu là cá nhân thì phụ thuộc vào quốc tịch hoặc nơi cá nhân này thường trú Nếu là doanh nghiệp thì phụ thuộc vào nơi tiến hành hợp đồng kinh doanh hoặc là nơi thành lập Vì không đủ năng lực chủ thể ký kết thoả thuận trọng tài, phán quyết trọng tài có thể bị từ chối công nhận và thi hành theo quy định tại Mục a, Khoản 1 Điều V Công ước NewYork 1958
Thoả thuận trọng tài hoàn chỉnh sẽ giúp các bên hạn chế tổn thất khi xảy ra tranh chấp Sự chặt chẽ, cụ thể của thoả thuận trọng tài sẽ phần nào hạn chế vi phạm thoả thuận trọng tài của các bên
Trang 15Luật áp dụng trong hợp đồng - cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp.
Luật áp dụng để xét xử tranh chấp là luật mà trọng tài dùng để xem xét việc thực hiện nghĩa vụ của các bên tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng Luật này được gọi là luật áp dụng cho hợp đồng
Đối với các tranh chấp thương mại nội địa, đương nhiên, luật áp dụng trong hợp đồng là luật quốc gia, chẳng hạn như ở Việt Nam thì căn cứ vào luật thương mại, pháp lênh hợp đồng kinh
tế, luật đất đai Vấn đề chọn luật áp dụng trong hợp đồng không đặt ra với các hợp đồng nội
Trong thương mại quốc tế, luật của rất nhiều nước liên quan đến quan hệ của các bên trong hợp đồng và cùng có khả năng điều chỉnh hợp đồng ngang nhau Giữa các nguồn luật đó luôn tồn tài hiện tượng xung đột luật, vì thế khi đưa tranh chấp ra trọng tài, các bên đương sự phải thoả thuận thống nhất về luật áp dụng trong hợp đồng Các nguồn luật áp dụng trong thương mại quốc
tế bao gồm: Các điều ước quốc tế, các tập quán thương mại quốc tế và luật quốc gia
+ Điều ước quốc tế: là những văn bản có chứa những quy phạm pháp luật được các quốc gia và các chủ thể khác xây dựng, ký kết, công nhận và có hiệu lực pháp lý đối với chủ thể của các quốc gia thành viên Nó có thể là: Hiệp ước, Hiệp định, Nghị định thư, công hàm trao đổi khi có tranh chấp phát sinh từ hợp đồng nhưng không được quy định hoặc quy định không đầy đủ thì các bên có thể đưa điều ước quốc tế vào để xử lý vấn đề đó Các điều ước này không có giá trị bắt buộc đối với các quan hệ thương mại quốc tế nếu như nó chưa được quốc gia đó phê chuẩn Khi quốc gia đã phê chuẩn, tất cả những trường hợp mà hợp đồng không dẫn chiếu thì điều ước đó vẫn đương nhiên được áp dụng
Có hai loại điều ước quốc tế trong lĩnh vực mua bán hàng hoá: Thứ nhất, loại điều ước quốc tế đề ra những nguyên tắc pháp lý chung làm cơ sở cho hoạt động thương mại, nó không điều chỉnh trực tiếp các vấn đề quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý của các bên tham gia hợp đồng
mà chỉ đề ra các nguyên tắc pháp lý có tính chất định hướng, chỉ đạo: ví dụ như Hiệp định buôn bán hàng dệt may Việt Nam - EU, Hiệp định thương mại Việt Nam - Mỹ; Hiệp định cắt giảm thuế quan với ASEAN Thứ hai, là loại điều ước quốc tế trực tiếp điều chỉnh đến các vấn đề có liên quan đến quyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên trong ký kết và thực hiện hợp đồng Đây
15
Trang 16chính là nguồn quy phạm pháp luật dùng để giải quyết tranh chấp, thường được các bên và cơ quan tiến hành tố tụng viện dẫn trong quá trình giải quyết tranh chấp Loại điều ước này điển hình
có Công ước Brussel 1964 về chuyên chở hàng hoá, Công ước viên 1980 về mua bán hàng hoá quốc tế
+ Tập quán thương mại: là những quy tắc xử sự có hệ thống, những thói quen thương mại phổ biến được áp dụng một cách thường xuyên, liên tục trong một thời gian dài và phải có nội dung rõ ràng mà qua đó có thể xác định được quyền và nghĩa vụ đối với nhau Các tập quán thương mại quốc tế chỉ có giá trị pháp lý và có hiệu lực bắt buộc đối với các chủ thể ký kết khi nó được quy định hoặc dẫn chiếu vào hợp đồng Điều 135 quy tắc ICC về trọng tài quy định "Các trọng tài không chỉ áp dụng luật áp dụng mà còn phải dùng tới các điều khoản trong hợp đồng và những "Tập quán thương mại" thích hợp để giải quyết vụ việc" Trong những luật trọng tài của các quốc gia cũng quy định như vậy
Một ví dụ về tập quán thương mại quốc tế thông dụng được phòng thương mại quốc tế soạn thảo và ban hành đó là các bản Incoterm: quy định về điều kiện cơ sở giao hàng Hay là quy tắc thống nhất và thực hành tín dụng chứng từ - UCP cũng tỏ ra rất hữu dụng trong việc hướng dẫn đến một chuẩn mực quốc tế duy nhất cho quyền và nghĩa vụ của các bên
Ngoài ra, đối với các quốc gia theo hệ thống "common low" còn có các án lệ là các quy tắc xét xử được hình thành từ thực tiễn xét xử Khi lựa chọn luật của các quốc gia này, các chủ thể cần
để ý đến những án lệ này
+ Luật quốc gia: trong thực tiễn và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tê, bên cạnh các điều ước quốc tế, các tập quán thương mại quốc tế và án lệ, luật quốc gia cũng đóng một vai trò khá quan trọng và trong nhiều trường hợp là nguồn luật điều chỉnh các quan hệ hợp đồng Tuy nhiên luật quốc gia chỉ trở thành luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế trong các trường hợp sau:
- Khi các bên ký kết hợp đồng thoả thuận trong điều khoản luật áp dụng của hợp đồng việc chọn luật của một bên để điều chỉnh hợp đồng
Trang 17- Khi điều khoản về luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế không được quy định trong các điều ước quốc tế liên quan, luật quốc gia đương nhiên trở thành luật áp dụng cho hợp đồng đó.
Nói đến luật quốc gia như một nguồn luật của thương mại quốc tế không có nghĩa là tất cả các luật đều được áp dụng mà chỉ có một số luật, văn bản pháp luật có liên quan đến thương mại quốc tế được áp dụng, bởi vì luật quốc gia không chỉ điều chỉnh các quan hệ thương mại quốc tế
mà nó còn điều chỉnh rất nhiều mối quan hệ khác
Luật quốc gia áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá thông thường là luật của nước nào
có quan hệ gần nhất với hợp đồng, tuy theo cách xác định, nhưng phải là luật đặc trưng, thường là luật của nước bên bán, luật của nước nơi hợp đồng được ký kết, nhưng cũng có thể là luật của bên mua, có thể là luật của nước thứ ba, luật quốc tịch, luật nơi nghĩa vụ của hợp đồng được thực hiện
Trong quá trình đàm phán hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế điều khoản luật áp dụng thường được ghi một cách rõ ràng trong hợp đồng để tránh tình trạng khó xác đinh luật quốc gia điều chỉnh các quan hệ hợp đồng Việc thoả thuận luật quốc gia áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là một vấn đề phức tạp, cho nên các chủ thể ký kết không những phải thông thạo luật của nước mình mà còn phải tìm hiểu kỹ luật của nước khác quan hệ với hợp đồng để đảm bảo quyền lợi của mình, tránh được những thiệt thòi do sự thiếu hiểu biết pháp luật gây ra
Tuy nhiên việc áp dụng luật của quốc gia nào để giải quyết tranh chấp trong hợp đồng đôi khi không chỉ phụ thuộc vào ý chỉ chủ quan của một chủ thể mà thường bị chi phối bởi nhiều yếu
tố khác như: tương quan lực lượng giữa các bên tham gia hợp đồng, do điều kiện đặc thù khi triển khai hợp đồng đó Trường hợp phải áp dụng luật của nước thứ ba, ít nhất phải hiểu được luật của nước đó có tiện cho người mua hay người bán, liên quan đến hợp đồng đã ký kết như thế nào, những điểm gì kiêng kị cần tránh
Đôi khi các bên thoả thuận lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng sau khi hợp đồng đã được
ký kết Trường hợp này thường xảy ra khi ký kết hợp đồng, vì một lý do khách quan nào đó, các
17
Trang 18bên tiến hành rất nhanh chóng (để chớp thời cơ ) nên chưa kịp nêu điều khoản luật áp dụng trong hợp đồng.
Luật tố tụng của trọng tài.
Việc xác định luật áp dụng trong tố tụng trọng tài thương mại quốc tế bị chi phối bởi nguyên tắc tự do thoả thuận của các bên và nguyên tắc nơi toạ lạc của trọng tài
Thứ nhất, tôn trọng nguyên tắc tự do thoả thuận của các bên Nguyên tắc thoả thuận của các bên chủ thể trong hợp đồng thương mại quốc tế không những chi phối việc chọn luật để điều chỉnh nghĩa vụ của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng mà nó còn chi phố cả việc thành lập hoặc chọn trọng tài trong đó bao gồm cả việc đưa ra các nguyên tắc xét xử hoặc chọn luật tố tụng cho quá trình xét xử của trọng tài
Trên thực tế, khi thoả thuận về trọng tài để xét xử tranh chấp, các bên có thể chỉ định một hội đồng trọng tài thường trực (trọng tài thiết chế) hoặc cũng có thể thoả thuận thành lập trọng tài
AD - HOC (trọng tài vụ việc) Trong mỗi trường hợp chọn hình thức trọng tài thì việc chọn luật áp dụng cho tố tụng trọng tài cũng khác nhau đó là: Trong trường hợp các bên thoả thuận chọn trọng tài thường trực cụ thể để xét xử tranh chấp của mình thì đã đồng nghĩa với việc các bên thoả thuận chọn luật tố tụng để áp dụng cho trọng tài đó Bởi vì cơ quan trọng tài sẽ áp dụng thủ tục tố tụng của mình để tiến hành xét xử Theo Bản quy tắc trọng tài UNCITRAL thì các tranh chấp này sẽ được giải quyết bằng bản quy tắc đó Điều 15 của Bản quy tắc này chỉ rõ: "Trọng tài có thể tiến hành thủ tục tố tụng trọng tài theo cách thức mà trọng tài cho là thích hợp nhưng phải đảm bảo sự bình đẳng giữa các bên và đảm bảo cho mỗi bên có đủ cơ hội trình bày vụ việc của mình ở bất cứ giai đoạn nào của quá trình tố tụng" Tương tự như vậy, Điều 8 quy định về hoà giải và trọng tài của Phòng thương mại quốc tế (ICC) đã được sửa đổi, bổ sung và có hiệu lực từ ngày 01/01/1988 ghi nhận: "Khi các bên thoả thuận nhờ đến trọng tài của phòng thương mại quốc tế thì họ qua đó phục tùng quy định này." hoặc Điều 22 quy định này ghi nhận: "Các nguyên tắc áp dụng trong tố tụng trước trong tài viên là các nguyên tắc xuất phát từ quy định này và trong trường hợp quy định này không đề cấp thì áp dụng các nguyên tắc mà các bên đã xác định và trong trường hợp các bên không xác định thì trọng tài viên xác định bằng cách dựa bào hoặc không dựa vào một luật quốc gia về tố tụng áp dụng cho trọng tài" Trong trường hợp các bên thoả thuận thành lập trọng tài AD
Trang 19- HOC thì việc xác định luật áp dụng cho tố tụng trọng tài sẽ do các bên tự quyết định Các bên có thể thoả thuận xây dựng nên các nguyên tắc một cách độc lập và cũng có thể chọn các quy định về
tố tụng của một tổ chức trọngt ài quy định về tố tụng của một tổ chức trọng tài thường trực nào đó
để áp dụng cho trọng tài mà các bên đã lập ra Trong trường hợp các bên lựa chọn các quy định của tổ chức trọng tài thường trực nào đó thì các quy định này có thể được các bên thoả thuận giữ nguyên hoặc sửa đổi, bổ sung trước khi áp dụng cơ chế giám sát thực hiện hoạt động tố tụng của trọng tài AD - HOC không chặt chẽ bằng trọng tài thường trực
Thứ hai, áp dụng nguyên tắc nơi toạ lạc của trọng tài theo học thuyết nơi toạ lạc thì trọng tài tiến hành xét xử ở đâu thì sẽ áp dụng luật tố tụng trọng tài ở nơi đó Thuyết này được áp dụng
để xác định luật tố tụng cho trọng tài trong trường hợp nếu các bên không thoả thuận chọn luật tố tụng việc áp dụng thuyết này để xác định luật áp dụng cho tố tụng trọng tài quốc tế thường xảy ra trong trường hợp các bên thànhlập trọng tài AD - HOC Thuyết "nơi toạ lạc của trọng tài" không những được áp dụng trên thực tế mà nội dung của thuyết này còn được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế quan trọng như: Công ước NewYork năm 1958 về việc công nhận và thi hành các phán quyết trọng tài nước ngoài tại Điều 3 và Điều 6 (1.d) và tại Điều 16 của Bản quy tắc trọng tài UNCITRAL
Cách thức chọn trọng tài viên là khác nhau tại các tổ chức trọng tài khác nhau trên thế giới Chẳng hạn theo quy chế của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam thì trọng tài viên phải có tên trong danh sách Trong khi tại nhiều tổ chức trọng tài (như Toà án trọng tài quốc tế bên cạnh phòng thương mại quốc tế hay Toà án trọng tài LuânĐôn) danh sách các trọng tài viên chỉ mang tính chất khuyến nghị mà không bắt buộc Hoặc quy định người có thẩm quyền chỉ định trọng tài viên trong trường hợp các bên không chỉ định hoặc thống nhất chỉ định ở Toà án trọng tài quốc tế
là Toà án trọng tài, đối Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam là Chủ tịch Trung tâm trọng tài; đối với Toà án trọng tài Luân Đôn là Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch toà trong quy chế chỉ định trọng tài viên của Toà án trọng tài quốc tế bên cạnh phòng thương mại quốc tế còn có các uỷ ban quốc gia
hỗ trợ việc chỉ định trọng tài viên của Toà
Số lượng trọng tài viên thông thường là một số lẻ gồm một hoặc ba trọng tài viên tuỳ theo
sự thoả thuận trước của các bên Trong trường hợp gồm nhiều trọng tài viên, được gọi là Uỷ ban trọng tài, sẽ có một trọng tài viên là Chủ tịch Uỷ ban trọng tài Chủ tịch Uỷ ban trọng tài do hai
19
Trang 20trọng tài viên thống nhất chỉ định, bằng không cũng sẽ do cơ quan người có thẩm quyền chỉ định Theo thông lệ quốc tế, trọng tài viên duy nhất hoặc Chủ tịch Uỷ ban trọng tài không được cùng một quốc tịch của một bên nào, trừ khi các bên có thoả thuận khác.
Các trọng tài viên không nhất thiết phải là luật sư mà có thể là một chuyên gia trong các lĩnh vực khác nhau trong thương mại quốc tế, tinh thông nghề nghiệp chuyên môn Song phẩm chất bắt buộc đối với trọng tài viên là phải vô tư khách quan khi xét xử và không có những quan
hệ nhất định (quan hệ gia đình, quan hệ vật chất ) với các bên trong vụ kiện
Các đương sự có quyền khước từ trọng tài viên do mình chỉ định, Chủ tịch Uỷ ban trọng tài hoặc trọng tài viên duy nhất nếu nghi ngờ về sự vô tư của trọng tài viên nhất là khi họ cho rằng trọng tài viên có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến vụ tranh chấp các trọng tài viên, trong tài viên duy nhất hay Chủ tịch Uỷ ban trọng tài cũng có quyền khước từ vai trò của mình Các yêu cầu bãi miễn, khước từ trọng tài viên phải làm thành văn bản và Toà án hoặc Chủ tịch Trung tâm trọng tài sẽ quyết định chung thẩm về việc chỉ định, xác nhận, bãi miễn hoặc thay thế các trọng tài viên
Quy tắc về chỉ định trọng tài viên được quy định tại Điều 2 quy tắc trọng tài của Toà án trọng tài quốc tế; Điều 8 - Điều 12 quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam; Điều
3 trong quy tắc của Toà án quốc tế Luân Đôn; Điều 6,7 quy tắc trọng tài Uncitral
Ngôn ngữ tố tụng được dùng để giải quyết tranh chấp
Ngôn ngữ được dùng trong tố tụng Tòa án Việt nam
Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng dân sự là tiếng Việt Người tham gia tố tụng dân
sự có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình, trong trường hợp này cần phải có người phiên dịch
Ngôn ngữ được được dùng trong tố tụng Trọng tài Việt Nam
- Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng Trọng tài
là tiếng Việt, trừ trường hợp tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Trường hợp bên tranh chấp không sử dụng được tiếng Việt thì được chọn người phiên dịch
ra tiếng Việt
Trang 21- Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài, ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng Trọng tài do các bên thỏa thuận Trường hợp các bên không có thỏa thuận thì ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng Trọng tài do Hội đồng Trọng tài quyết định
1.3.2 Tòa án:
1.3.2.1 Khái niệm của Tố tụng tòa án.
Giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng tòa án là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của cơ quan tài phán Nhà nước, nhân danh quyền lực Nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ thi hành, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế Trong quá trình giải quyết các tranh chấp kinh doanh, tòa án phải tuân theo một trình tự, thủ tục nhất định mà pháp luật đã quy định, cụ thể đó là những nguyên tắc cơ bản; trình tự, thủ tục khởi kiện; trình tự, thủ tục giải quyết
vụ việc tại tòa án, thi hành bản án, quyết định của tòa án; quyền và nghĩa vụ của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng cũng như của những cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan,
… Đây chính là thủ tục tố tụng tòa án Ở hầu hết các quốc gia, cùng với việc ban hành những đạo luật về nội dung, Nhà nước cũng ban hành những quy định về thủ tục tố tụng để tòa án giải quyết các tranh chấp kinh doanh
Như vậy, tố tụng tòa án chính là trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định để giải quyết các tranh chấp kinh doanh bằng tòa án
Thực tiễn pháp luật tố tụng của các nước cho thấy, tố tụng tòa án đều có chung một số đặc điểm cơ bản sau :
- Ở hầu hết các nước trên thế giới, thủ tục tố tụng tòa án áp dụng cho các tranh chấp trong kinh doanh được dựa trên nền tảng thủ tục tố tụng dân sự cùng với một số quy định đặc thù cho phù hợp với hoạt động kinh doanh, chẳng hạn như : về hội đồng xét xử, về thời gian của các trình
tự tố tụng, … Do vậy, ở các quốc gia này người ta không hình thành luật tố tụng riêng cho các tranh chấp trong kinh doanh mà chỉ có luật về tố tụng dân sự
21
Trang 22Ví dụ : Ở Cộng hoà Liên bang Đức, Luật tố tụng đối với các vụ án dân sự và thương mại
được quy định thống nhất trong Bộ luật tố tụng dân sự; ở Pháp, Anh và Mỹ các tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đều được áp dụng theo thủ tục tố tụng dân sự
- Tố tụng tòa án là thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh của Tòa án – một cơ quan Nhà nước, hoạt động xét xử của nó mang tính quyền lực Nhà nước nhằm thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của Nhà nước và đóng vai trò là cơ quan bảo vệ pháp luật
- Phán quyết của tòa án được đảm bảo thi hành và thủ tục giải quyết của Tòa án rất chặt chẽ, rất phức tạp và không thể thay đổi được Phán quyết của tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị hoặc có thể được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
- Trong tố tụng tòa án, các phiên tòa xét xử thường được tổ chức công khai, bản án được công bố rộng rãi
1.3.2.2 Đặc điểm của hoạt động tố tụng của Tố tụng tòa án.
Cơ cấu tổ chức của toà án
Trang 23Cơ cấu tổ chức của tòa
• Ở trung ương :Trong toà án nhân dân tối cao bên cạnh toà phúc thẩm , toà hình sự, toà
dân sự có toà kinh tế là một trong các toà chuyên trách có nhiệm vụ giải quyết các vụ án kinh tế Trong Toà phúc thẩm của toà án NDTC có các thẩm phán kinh tế chuyên trách để
23
Trang 24giải quyết theo thủ tục phúc thẩm những vụ án kinh tế và giải quyết khiếu nại đối với quyết định của toà án cấp dưới về tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo quy định của pháp luật
• Ở địa phương: Chỉ có toà án nhân dân cấp tỉnh mới có toà kinh tế chuyên trách còn ở toà
án nhân dân cấp huyện không có toà kinh tế chuyên trách mà chỉ có thẩm phán kinh tế chuyên trách giải quyết các vụ án kinh tế
Thẩm quyền của toà án trong việc giải quyết các vụ án kinh tế
Thẩm quyền của toà án trong việc giải quyết các vụ án kinh tế có thể phân thành:
• Thẩm quyền theo cấp
• Thẩm quyền theo lãnh thổ
• Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn
Thẩm quyền của toà án theo cấp được quy định như sau
• Thẩm quyền của toà án nhân dân cấp huyện : Toà án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc Tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các vụ án về tranh chấp hợp đồng kinh tế mà giá trị tranh chấp dưới 50 triệu đồng và không có nhân tố nước ngoài
• Thẩm quyền của toà án nhân dân cấp Tỉnh:
o Toà kinh tế thuộc toà án nhân dân cấp Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xét
xử theo thủ tục
Sơ Thẩm những vụ án kinh tế trừ những vụ án thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân cấp huyện ( trong trường hợp cần thiết thì toà kinh tế toà án nhân dân cấp tỉnh có thể lấy lên để giải quyết vụ án kinh tế thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân cấp huyện)
Trang 25 Phúc thẩm những vụ án kinh tế mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của toà án cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng
o Uỷ ban thẩm phán của toà án cấp tỉnh xem xét giải quyết theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với những bản án hoặc quyết định của toà án nhân dân cấp huyện bị kháng nghị
• Thẩm quyền của toà án nhân dân tối cao
Toà án nhân dân tối cao không xét xử sơ thẩm bất kỳ một vụ án kinh tế nào mà chỉ xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
o Phúc thẩm là việc tòa án nhân dân cấp trên xem xét lại bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của toà án nhân dân cấp dưới khi có kháng cáo hoặc kháng nghị theo quy định của pháp luật
o Giám đốc thẩm: Là giai đoạn đặc biệt của tố tụng kinh tế trong đó toà án cấp trên kiểm tra tính hợp pháp, tính có căn cứ của những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án cấp dưới trên cơ sở kháng nghị của người có thẩm quyền
o Tái thẩm kinh tế là một giai đoạn tố tụng đặc biệt trong đó toà án cấp trên kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án cấp dưới nếu phát hiện những tình tiết mới quan trọng làm thay đổi nội dung của vụ án trên cơ sở kháng nghị của người có thẩm quyền
Thẩm quyền của toà án theo lãnh thổ
Toà có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án kinh tế là toà án nơi bị đơn có trụ sở hoặc cư trú
Trong trường hợp vụ án chỉ liên quan đến bất động sản thì toà án nơi có bất động sản giải quyết
Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn
25
Trang 26Nguyên đơn có quyền lựa chọn toà án để yêu cầu giải quyết vụ án trong một số trường hợp.
• Không biết rõ trụ sở hoặc nơi cư trú của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu toà án nơi có tài sản, trụ sở hoặc nơi cư trú cuối cùng của bị đơn để giải quyết vụ án
• Nếu vụ án phát sinh do vi phạm hợp đồng kinh tế thì nguyên đơn có thể yêu cầu toà án nơi thực hiện hợp đồng giải quyết vụ án
• Nếu vụ án phát sinh từ hoạt động của chi nhánh doanh nghiệp thì nguyên đơn có thể yêu cầu toà án nơi doanh nghiệp có trụ sở hoặc nơi có chi nhánh đó giải quyết vụ án
• Nếu các bị đơn có trụ sở hoặc nơi cư trú khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu toà án nơi có trụ sở hoặc nơi cư trú của một trong các bị đơn giải quyết vụ án
• Nếu vụ án không chỉ liên quan đến bất động sản thì nguyên đơn có thể yêu cầu toà án nơi
có bất động sản nơi có trụ sở hoặc cư trú của bị đơn giải quyết vụ án
• Nếu vụ án liên quan đến bất động sản ở nhiều nội dung khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu toà án ở một trong các nơi đó giải quyết vụ án
Trong các trường hợp trên nguyên đơn chọn toà án nào thì toà án đó có thẩm quyền giải quyết vụ án
Các nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết các vụ án kinh tế
Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự
Trang 27• Các bên có quyền tự hoà giải trước toà, rút đơn kiện, thay đổi nội dung khởi kiện, quyền đề xuất bổ sung chứng cứ
Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật
Nguyên tắc toà án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh, thu nhập chứng cứ
Khi giải quyết các vụ án kinh tế, toà án chủ yếu căn cứ vào các chứng cứ mà đương sự có nghĩa vụ cung cấp và chứng minh để bảo vệ quyền lợi của mình Trong trường hợp quyền lợi bị vi phạm mà đương sự không yêu cầu toà án giải quyết thì toà không có trách nhiệm giải quyết
Nguyên tắc hoà giải
Khi có tranh chấp các đương sự tự hoà giải với nhau khi không hoà giải được mới yêu cầu toà án can thiệp Ngay cả khi đương sự yêu cầu toà án giải quyết các đương sự cũng vẫn có quyền hoà giải Trong quá trình giải quyết vụ án toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải để các bên thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án Chỉ khi nào toà không thể hoà giải được mới cần đưa ra phán quyết
Nguyên tắc giải quyết vụ án kinh tế nhanh chóng kịp thời
Nguyên tắc xét xử công khai
Xét xử công khai là một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của toà án Việc xét xử các vụ án kinh tế cũng phải tuân theo nguyên tắc này Nhưng trong một số trường hợp nhất định các vụ án kinh tế có thể được xét xử kín
Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
Khởi kiện và thụ lý vụ án kinh tế
Khởi kiện
Pháp luật quy định: quyền khởi kiện một vụ án là quyền của cá nhân hoặc pháp nhân có đủ
tư cách của một chủ thể kinh doanh và có quyền và lợi ích hợp pháp bị tranh chấp hoặc bị xâm phạm
27
Trang 28Để khởi kiện vụ án kinh tế, người khởi kiện phải làm đơn yêu cầu toà án giải quyết vụ án kinh tế trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày phát sinh tranh chấp Nếu quá thời hạn trên đương sự mất quyền khởi kiện.
Kèm theo đơn kiện phải có các tài liệu chứng minh cho các yêu cầu của nguyên đơn
Toà bác đơn kiện trong các trường hợp sau:
• Người khởi kiện không có quyền khởi kiện
• Thời hạn khởi kiện đã hết
• Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lựcpháp luật của toà án hoặc cuả cơ quan có thẩm quyền khác
• Sự việc đã được các bên thoả thuận trước là phải giải quyết theo thủ tục trọng tài
Thụ lý vụ án
Là việc thẩm phán chấp nhận đơn của người khởi kiện và ghi vào sổ thụ lý vụ án của toà
án để giải quyết
Toà án sẽ thụ lý vụ án với những điều kiện sau:
• Người khởi kiện có quyền khởi kiện
• Sự việc thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án
• Đơn kiện được gửi đúng thời hiệu khởi kiện
Trang 29• Sau khi thụ lý vụ án, toà kinh tế phải tiến hành chuẩn bị xét xử.
• Thời hạn chuẩn bị xét xử là 40 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án Đối với các vụ án phức tạp thời hạn này có thể được kéo dài nhưng không quá 60 ngày
• Trong công tác chuẩn bị xét xử toà kinh tế phải tiến hành các công việc chủ yếu sau:
o Thông báo việc kiện: Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, toà án phải thông báo cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết nội dung đơn kiện
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được thông báo bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải gửi cho toà án ý kiến của mình bằng văn bản về đơn kiện
và các tài liệu khác có liên quan đến việc giải quyết vụ án
o Xác minh thu thập chứng cứ: Trong tố tụng kinh tế chứng cứ chủ yếu do đương sự cung cấp khi thực hiện nghĩa vụ chứng minh đồng thời là quyền chứng minh của mình Tuy nhiên để đảm bảo việc xét xử vụ án kinh tế được chính xác toà án có thể tiến hành thu thập chứng cứ để làm sáng tỏ các tình tiết cuả vụ án
o Hoà giải: Trước khi mở phiên toà giải quyết các vụ án kinh tế toà án phải tiến hành hoà giải để các đương sự có thể thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án
Nếu đương sự thoả thuận được với nhau về giải quyết vụ án thì toà án lập biên bản hoà giải thành Trong thời hạn 10 ngày mà các bên không thay đổi thì toà án ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự và quyết định này có hiệu lực pháp luật Trường hợp các đương sự không thể thoả thuận được thì toà án lập biên bản hoà giải không thành và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử
• Kết thúc giai đoạn chuẩn bị xét xử thẩm phán được phân công chủ toạ có quyền ra một trong những quyết định sau:
o Đưa vụ án ra xét xử
o Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án
29
Trang 30o Đình chỉ việc giải quyết vụ án
Toà quyết định tạm đình giải quyết vụ án trong các trường hợp sau
• Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết, pháp nhân đã giải thể mà chưa có cá nhân pháp nhân thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng
• Đã hết thời hạn xét xử mà một trong các đương sự không thể có mặt vì lý do chính đáng
• Chưa tìm được địa chỉ của bị đơn hoặc bị đơn bỏ trốn
• Cần đợi kết quả giải quyết vụ án hình sự, dân sự và vụ án kinh tế khác
• Đã có toà thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp mà doanh nghiệp đó là đương
sự của vụ án
• Trong khi đang giải quyết vụ án có liên quan đến doanh nghiệp phát hiện doanh nghiệp đã lâm vào trình trạng phá sản
Toà quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án trong các trường hợp sau:
• Người khởi kiện rút đơn kiện
• Nguyên đơn dù được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt
• Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết, pháp nhân đã giải thể mà quyền và nghĩa vụ của họ không có cá nhân ,pháp nhân thừa kế
• Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án hoặc của cơ quan có thẩm quyền khác nhau
• Thời hạn khởi kiện đã hết trước ngày thụ lý vụ án
• Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của toà
• Đã có quyết định của toà án mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp
mà doanh nghiệp đó là đương sự của vụ án
Trang 31Phiên toà sơ thẩm
• Theo quyết định của pháp luật, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án
ra xét xử, toà án phải mở phiên toà trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn đó không quá 20 ngày
• Phiên toà sơ thẩm được tiến hành dưới sự điều hành của một Hội đồng xét xử gồm 2 thẩm phán và 1 hội thẩm và với sự có mặt của các đương sự người làm chứng, người phiên dịch, người giám định và kiểm soát viên (nếu Viện kiểm soát có yêu cầu kiểm tra phiên toà)
• Thủ tục tiến hành:
o Bắt đầu phiên toà
o Xét hỏi tại phiên toà
o Tranh luận tại phiên toà
Viện trưởng Viện kiểm soát cùng cấp hoặc trên một cấp có quyền kháng nghị, thời hạn kháng nghị là 10 ngày (đối với Viện kiểm soát cùng cấp) hoặc 20 ngày (đối với Viện kiểm soát cấp trên) kể từ ngày toà tuyên án hoặc ra quyết định
31
Trang 32Thủ tục xem xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật
• Toà kinh tế - Toà án nhân dân tối cao giám đốc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của Toà thuộc toà án nhân dân tối cao bị kháng nghị
• Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao giám đốc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các toà thuộc toà án nhân dân tối cao bị kháng nghị
• Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao giám đôc thẩm những vụ án , quyết định của
uỷ ban thẩm phán toà án nhân dân tối cao bị kháng nghị
Khách thể của quyền kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm: Những bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của toà án cấp dưới trên cơ sở kháng nghị của những người có thẩm quyền
Căn cứ để kháng nghị:
• Có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
• Kết luận trong bản án quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án
• Các sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật
Những người sau đây có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
• Chánh án tòa án tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án các cấp
Trang 33• Phó chánh án tòa án tối cao, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án nhân dân địa phương
• Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng VKS nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án nhân dân cấp huyện
Thời hạn kháng nghị là 9 tháng kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật
Hội đồng xét xử có quyền:
• Bác kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nếu thấy rằng kháng nghị không có căn cứ
• Sửa đổi một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị
• Huỷ bản án, quyết định bị kháng nghị để xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm lại trong trường hợp có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, hoặc việc xác minh thu thập chứng cứ của toà án cấp dưới không đầy đủ mà toà án cấp giám đốc thẩm không thể bổ sung được
• Huỷ bản án, quyết định bị kháng nghị và đình chỉ việc giải quyết vụ án theo những căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án kinh tế