1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) thiết kế chủ đề dạy học địa lý 12 THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở tỉnh điện biên

117 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM –––––––––––––––––––––––––

NGUY ỄN THỊ BÍCH THUẬN

THI ẾT KẾ CHỦ ĐỀ DẠY HỌC ĐỊA LÝ 12 THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRI ỂN NĂNG LỰC HỌC SINH

Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM –––––––––––––––––––––––––

NGUY ỄN THỊ BÍCH THUẬN

THI ẾT KẾ CHỦ ĐỀ DẠY HỌC ĐỊA LÝ 12 THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRI ỂN NĂNG LỰC HỌC SINH

Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN

Ngành: LL&PP dạy học địa lý

M ã số: 8.14.01.11

Người hướng dẫn khoa học: PGSTS.NGUYỄN PHƯƠNG LIÊN

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu trong luận văn là trung thực, luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào

Tác gi ả luận văn

Nguy ễn Thị Bích Thuận

Trang 4

L ỜI CẢM ƠN

Luận văn có tên: “Thiết kế chủ đề dạy học Địa Lí 12 THPT theo

định hướng phát triển năng lực học sinh ở tỉnh Điện Biên” được hoàn thành tại

khoa Địa lí, trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn khoa học nghiêm túc, sự chỉ bảo tận tình của PGSTS Nguy ễn Phương Liên Tác giả xin bày

tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất đến cô Nguyễn Phương Liên Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã nhận được sự chỉ đạo, động viên, đóng góp ý kiến của các

thầy cô, các nhà khoa học trong khoa Địa lí - trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên

Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, lãnh đạo khoa Địa lí, phòng sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này

Xin gửi lời cảm ơn đến các đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ

và động viên tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn

Tác gi ả của luận văn

Nguy ễn Thị Bích Thuận

Trang 5

M ỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Giới hạn nghiên cứu 4

6 Quan điểm nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 6

8 Cấu trúc đề tài 7

PH ẦN NỘI DUNG 8

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ CHỦ ĐỀ DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12 THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 8

1.1 Cơ sở lí luận về dạy học theo định hướng phát triển năng lực 8

1.1.1 Khái niệm năng lực 8

1.1.2 Chương trình giáo dục định hướng năng lực 9

1.1.3 Năng lực chung và năng lực đặc thù 11

1.1.4 Đổi mới quá trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực 15

1.2 Cơ sở lý luận về dạy học theo chủ đề 19

1.3 Thực trạng dạy học Địa lí nói chung và dạy học theo chủ đề ở các trường THPT tỉnh Điện Biên 21

1.4 Đặc điểm tâm, sinh lý học sinh lớp 12 - THPT 22

1.5 Đặc điểm chương trình, sách giáo khoa Địa lí lớp 12 (hiện hành) ở trường THPT 26

Trang 6

Tiểu kết chương 1 28

Chương 2: THI ẾT KẾ CHỦ ĐỀ DẠY HỌC ĐỊA LÝ LỚP 12 THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH 29

2.1 Yêu cầu thiết kế 29

2.2 Quy trình thiết kế 29

2.3 Sử dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực trong dạy học theo chủ đề 31

2.3.1 Các phương pháp dạy học 31

2.3.2 Các kỹ thuật dạy học 35

2.4 Hình thức tổ chức dạy học theo chủ đề 41

2.5 Đánh giá kết quả dạy học theo chủ đề 45

2.6 Thiết kế một số chủ đề dạy học Địa lí lớp 12 46

2.6.1 Chủ đề 1: VỊ TRÍ ĐỊA LÍ VÀ PHẠM VI LÃNH THỔ 46

2.6.2 Chủ đề 2: ĐỊA LÝ DÂN CƯ 55

2.6.3 Chủ đề 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN BỐ NÔNG NGHIỆP 68

Tiểu kết chương 2 86

Chương 3: TH ỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 87

3.1 Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm 87

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 87

3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 87

3.2 Nguyên tắc thực nghiệm 87

3.3 Phương pháp thực nghiệm 88

3.4 Tổ chức thực nghiệm 89

3.4.1 Trường thực nghiệm 89

3.4.2 Bài thực nghiệm 89

3.4.3 Dạy thực nghiệm 89

3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 90

3.5.1 Kết quả bài kiểm tra của học sinh trước khi thực nghiệm 91

3.5.2 Kết quả đánh giá kết quả của học sinh sau thực nghiệm 92

Tiểu kết chương 3 96

KẾT LUẬN 97

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 99

Trang 7

DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT STT Vi ết tắt Viêt đầy đủ

2 CNTT&TT Công nghệ thông tin và truyền thông

Trang 8

DANH M ỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Tổng hợp kết quả học tập của học sinh trước thực nghiệm 91

Bảng 3.2: Tổng hợp kết quả học tập của học sinh qua bài dạy số 1 92

Bảng 3.3: Tổng hợp kết quả học tập của học sinh qua bài dạy số 2 93

Bảng 3.4: Tổng hợp kết quả học tập của học sinh qua bài dạy số 3 94

Trang 9

DANH M ỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Biểu đồ thể hiện lượng điểm trung bình của học sinh các trường

trước thực nghiệm 91 Hình 3.2: Biểu đồ thể hiện lượng điểm trung bình của học sinhcác trường qua

bài dạy số 1 92 Hình 3.3: Biểu đồ thể hiện lượng điểm trung bình của học sinhcác trường qua

bài dạy số 2 93 Hình 3.4: Biểu đồ thể hiện lượng điểm trung bình của học sinhcác trường qua

bài dạy số 3 94

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế với những ảnh hưởng của xã hội tri thức và toàn cầu hóa đang tạo ra những cơ hội nhưng đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với giáo dục trong việc đào tạo đội ngũ lao động Giáo dục đứng trước một thử thách là tri thức của loài người tăng ngày càng nhanh nhưng cũng lạc hậu ngày càng nhanh, trong khi thị trường lao động luôn đòi hỏi ngày càng cao ở đội ngũ lao động về năng lực hành động, khả năng sáng tạo, linh hoạt, tính trách nhiệm, năng lực cộng tác làm việc, khả năng giải quyết các vấn

đề phức hợp trong những tình huống thay đổi, khả năng học tập suốt đời

Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học - từ chỗ quan tâm tới việc học sinh học được gì đến chỗ quan tâm tới việc học sinh làm được cái gì qua việc học Để thực hiện được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất, đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, coi trọng kiểm tra đánh giá kết quả học tập với kiểm tra, đánh giá trong quá trình học tập để có tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động dạy học và giáo dục

Qua các kì thi THPT Quốc gia của nhiều năm nay cho thấy, môn Địa lí là môn học được nhiều học sinh lựa chọn Học môn Địa lí đòi hỏi học sinh phải học lý thuyết và phải biết cách vận dụng kiến thức đã học giải thích cho các hiện tượng trong thực tiễn của cuộc sống… Để có thể vận dụng kiến thức vào việc giải quyết vấn đề khi làm bài thi và phải có kĩ năng biểu đồ, nhận xét, giải thích, phân tích bảng số liệu thống kê, sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam trong quá trình học tập cũng như trong các kì thi

Do vậy, thiết kế một số chủ đề dạy học Địa lí nói chung và dạy học Địa lí lớp

12 như thế nào để đạt được hiệu quả cao, phù hợp với tình hình thực tế hiện nay, việc sử dụng phương pháp này trong môn Địa lí sẽ tăng hứng thú học tập bộ môn, tăng cường sự

Trang 11

Từ những lý do trên tôi lựa chọn đề tài “Thiết kế chủ đề dạy học địa lý lớp 12

THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở tỉnh Điện Biên”

2 Lịch sử nghiên cứu

2.1 Trên thế giới

Đổi mới PPDH và dạy học theo chủ đề là một trong những xu thế dạy học hiện đại hiện nay ở nhiều nước trên thế giới Dạy học theo chủ đề là một trong những quan điểm giáo dục nhằm nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo những người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại Nhiều nước trong khu vực Châu Á và trên thế giới đã thực hiện PPDH mới này và bước đầu

đã đem lại hiệu quả nhất định

Ngay từ thời cổ đại tư tưởng PPDH đã được nhà triết học phương Tây - Xocorats đề xuất áp dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học sau đó là Khổng tử (551- 479 trước công nguyên) - nhà triết học - nhà giáo dục học phương Đông đã coi trọng tính tích cực của HS trong dạy học Các tư tưởng về phương pháp dạy học này ngày nay vẫn tồn tại và thậm chí có giá trị rất lớn đối với nhiệm vụ giáo dục hiện nay

là đổi mới PPDH mà chúng ta đang quan tâm

Komensky (1592- 1670) Ông là nhà sư phạm lỗi lạc của Tiệp Khắc vào thế kỉ

16 đã đặt nền móng cho lý luận dạy học với 2 tác phẩm: Lý luận dạy học vĩ đại (Great Didactic) và dạy học bằng tranh ảnh (Orbis Pictus), xuất bản tại Nurmberg năm 1675 Ông cho rằng quá trình dạy học phải qua các giai đoạn: Cảm giác, trí nhớ,

tư duy và phản ánh sáng tạo Quá trình dạy học phải phù hợp với năng lực của người học.[23]

Jhann Heinrich Pestalozzi (1746-1827) Ông là người Thụy Sỹ, quan điểm của ông: Dạy học là nghệ thuật nâng cao khát vọng của con người, nền tảng của sự hiểu biết là trực giác và ngôn ngữ, giáo dục kỹ thuật là yếu tố cần thiết, mang lại giá trị thực tiễn và rèn luyện trí tuệ cho người học.[22]

Về chương trình giảng dạy theo John Deway (1859- 1925), nhà sư phạm người

Mỹ nổi tiếng đầu thế kỉ XX đã đưa ra phương hướng cách tân giáo dục Ông cho rằng phải đưa vào vốn tri thức của HS những tri thức ngoài SGK và lời giảng của GV, đề cao hoạt động đa dạng của HS, đặc biệt là hoạt động thực tiễn Theo bảng xếp hạng

Trang 12

của Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA), do Hiệp hội các nước phát triển (OECD) đánh giá thì trong nhiều năm qua, Phần Lan là một trong những quốc gia có nền giáo dục chất lượng nhất thế giới Để đạt được những thành công đáng kể trong nền giáo dục, Phần Lan luôn đi đầu trong các chương trình cải cách Phương pháp dạy học truyền thống được Phần Lan thay thế bằng cách dạy theo chủ đề Thay vì học từng môn truyền thống như toán, lý, lịch sử riêng lẻ, các em sẽ học tất cả những môn này theo “chủ đề hiện tượng” thay bằng việc học sinh ngồi thụ động trước mặt giáo viên, nghe giảng và ghi chép theo những gì thầy cô nói mà là giáo viên sẽ chia nhỏ lớp học thành các nhóm để các em thảo luận, giải quyết vấn đề…

Thực tiễn ở nhiều nước đã chứng tỏ rằng, việc dạy và học theo chủ đề sẽ giúp phát triển năng lực ở học sinh, phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo trong học tập, giải quyết những vấn đề khó khăn phức tạp và làm cho việc học tập trở nên thú vị, ý nghĩa hơn Từ đó đào tạo ra những người có đủ phẩm chất năng lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước

lí theo hướng tích cực” trong cuốn sách này tác giả đã nêu các phương pháp dạy học

nhằm phát huy tính chủ động, tích cực, tự giác ở người học [14]

PGSTS Đặng Thành Hưng (2012): “Năng lực và giáo dục tiếp cận năng lực” hay tác giả Trần Bích Liễu: “giáo dục phát triển năng lực sáng tạo” [15]

PGS.TS Nguyễn Phúc Chỉnh (2012), “Hình thành năng lực dạy học tích hợp cho giáo viên trung học phổ thông” Qua các công trình nghiên cứu trên, tác giả đã kế thừa được phương pháp nghiên cứu, nắm bắt được các chủ đề dạy học trong môn Địa

lí, thấy được sự cần thiết phải dạy học theo chủ đề đồng thời cũng thấy được rằng cần

Trang 13

phải có các tiêu chuẩn riêng để đánh giá một tiết dạy chủ đề trong môn Địa lí; Hiện nay chủ đề dạy học Địa lí theo định hướng phát triển năng lực được đề cập rất nhiều trong các hội thảo nghiên cứu khoa học và các đợt tập huấn xây dựng chủ đề dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh Vì vậy hướng nghiên cứu tiếp theo của tác giả là thiết kế một số chủ đề dạy học địa lí lớp 12 THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh.[12]

3 M ục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về dạy học theo chủ đề,

đề tài tập trung xây dựng quy trình, thiết kế một số chủ đề và đề xuất phương pháp thực hiện các chủ đề dạy học địa lí lớp 12 theo định hướng phát triển năng lực nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học

4 Nhi ệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về đổi mới phương pháp dạy học, về dạy học theo chủ đề, đề xuất qui trình xây dựng chủ đề dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh

- Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa Địa lí lớp 12 hiện hành

- Thiết kế một số chủ đề dạy học Địa lí 12 theo định hướng phát triển năng lực học sinh

- Đề xuất việc áp dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong môn Địa lí

- Thu thập số liệu, điều tra khảo sát thực trạng dạy học Địa lí lớp 12 ở trường Phổ Thông

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng kết quả nghiên cứu

5 Gi ới hạn nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu việc vận dụng phương pháp thiết kế một số chủ đề dạy học trong chương trình Địa lí 12 ban cơ bản

6 Quan điểm nghiên cứu

Hệ thống là tập hợp các thành tố tạo nên một chỉnh thể toàn vẹn, tương đối ổn định và vận động theo quy luật tổng hợp Mỗi hệ thống bao giờ cũng có một cấu trúc nhỏ hơn Như vậy hệ thống nhỏ bao giờ cũng nằm trong hệ thống lớn Mỗi thành tố

Trang 14

của hệ thống là một bộ phận độc lập, có chức năng riêng và luôn vận động theo quy luật của toàn hệ thống Các thành tố của hệ thống có mối quan hệ biện chứng với nhau bằng quan hệ vật chất và quan hệ chức năng

Vận dụng quan điểm hệ thống để làm nổi bật mối quan hệ giữa: Phương pháp dạy học - CNTT - phương tiện qua đó; tìm ra quy trình hợp lý trong việc sử dụng CNTT &TT và dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và phát triển năng lực của học sinh trong học tập ĐLĐP

Trong nghiên cứu địa lí, việc vận dụng quan điểm tổng hợp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng điều đó bắt nguồn từ chính đối tượng nghiên cứu của ngành khoa học này Các hiện tượng địa lí tự nhiên và kinh tế - xã hội rất phong phú và đa dạng chúng có quá trình hình thành, phát triển trong mối quan hệ nhiều chiều giữa bản thân các hiện tượng đó với nhau và giữa chúng với các hiện tượng khác

Nội dung ĐLĐP khá phong phú, để có thể đưa ra một quy trình chung khi thiết

kế bài giảng học này, người nghiên cứu cần quán triệt quan điểm tổng hợp để đảm bảo bài dạy học được thiết kế phục vụ tốt nhất cho mục đích nghiên cứu của mình, thể hiện tính hệ thống mà vẫn đảm bảo các nguyên tắc cơ bản của một bài dạy học địa

lí đó là: tính khoa học và tính vừa sức, tính sư phạm, tính tự lực và phát triển tư duy của học sinh

Quan điểm thực tiễn là một luận điểm quan trọng trong phương pháp luận, thực tiễn là toàn bộ các hoạt động vật chất có tính lịch sử - xã hội của con người

Lí luận cần được vận dụng và kiểm nghiệm qua thực tiễn Đặc biệt là lí luận về phương pháp dạy học Trong quá trình thực hiện luận văn để có được những đề xuất

và kết quả có tính khả thi, tác giả đặc biệt coi trọng quan điểm thực tiễn

Hiện nay công nghệ dạy học đang là một hướng tiếp cận quan trọng để đổi mới phương pháp dạy học Địa lí trong trường phổ thông Công nghệ dạy học đồng nhất với việc sử dụng vào dạy học các phát minh, các sản phẩm công nghệ hiện đại, các phương tiện thiết bị dạy học để từ đó nâng cao chất lượng giáo dục

Trang 15

7 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu là công cụ hỗ trợ quá trình nghiên cứu giúp thu thập số liệu, dữ liệu, thông tin, kiến thức để phục vụ tìm ra những điều mới mẻ Các phương pháp nghiên cứu chính của đề tài:

* Phương pháp thu thập tài liệu, xử lí tài liệu

Tác giả kế thừa có chọn lọc và phân tích các nguồn tài liệu, tư liệu có liên quan, đánh giá chúng theo yêu cầu và mục đích nghiên cứu Sau khi tiến hành thực nghiệm tác giả thống kê các số liệu thu được theo bảng biểu và trình bày bằng biểu đồ Phương pháp này giúp tác giả rút ngắn thời gian, đa dạng nguồn tài liệu tham khảo,

so sánh kết quả thực nghiệm rõ ràng

* Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp

Là phương pháp cần thiết cho việc hoàn thành một luận văn Với đề tài này, tác giả đã tiến hành thu thập, phân tích và lựa chọn tài liệu từ các nguồn khác nhau như: sách giáo khoa, sách tham khảo, các luận văn, công trình nghiên cứu khoa học, phần mềm tin học… Sau đó tổng hợp phân tích so sánh các tài liệu để làm tư liệu cho bài viết của mình

* Phương pháp chuyên gia

Được tác giả sử dụng trong quá trình soạn bài giảng, dạy thực nghiệm, đối chứng với sự có mặt dự giờ và trao đổi rút kinh nghiệm sau bài giảng của các đồng nghiệp với vai trò là các chuyên gia

Là phương pháp cơ bản trong nghiên cứu giáo dục Với đề tài này, tác giả đã tiến hành thực hiện các giờ dạy ở các trường phổ thông Sử dụng phiếu thăm dò để

kiểm tra kết quả từ phía học sinh và lấy ý kiến của giáo viên nhằm đánh giá mức độ khả thi của đề tài

* Phương pháp thống kê toán học

Đề tài sử dụng phương pháp thống kê toán học trong việc xử lí kết quả thông qua quá trình tìm hiểu thực tế, qua thực nghiệm các biện pháp phát triển năng lực cho

HS thông qua việc thiết kế các chủ đề dạy học Từ đó, có thể đánh giá tính khả thi của

đề tài nghiên cứu

Trang 16

8 C ấu trúc đề tài: Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung đề tài gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thiết kế chủ đề dạy học Địa lí 12 THPT theo định hướng phát triển năng lực

Chương 2 Thiết kế một số chủ đề dạy học Địa lí 12 THPT

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 17

PH ẦN NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ CHỦ ĐỀ DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12 THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 1.1 Cơ sở lí luận về dạy học theo định hướng phát triển năng lực

1.1.1 Khái niệm năng lực

Ngày nay, khái niệm năng lực được hiểu theo nhiều cách khác nhau và mỗi cách hiểu có những thuật ngữ tương ứng, theo từ điển tiếng việt do Hoàng Phê chủ biên có giải thích năng lực là: “khả năng điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để

thực hiện một hoạt động nào đó, phẩm chất, tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”

Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực của học sinh do bộ giáo dục và đào tạo phát hành năm 2004 thì

“năng lực được hiểu là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, động cơ cá nhân, nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định”

Năng lực hiểu theo nghĩa chung nhất là khả năng mà cá nhân thể hiện khi tham gia một hoạt động nào ở một thời điểm nhất định Chẳng hạn khả năng giải toán, khả năng nói tiếng anh

Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong các tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm, cũng như sẵn sàng hành động

Người học có năng lực hành động về một lĩnh vực hoạt động nào đó cần hội tụ đầy đủ các dấu hiệu cơ bản sau:

- Có kiến thức về hệ thống, chuyên sâu về lĩnh vực hoạt động đó

- Biết cách tiến hành hoạt động hiệu quả và đạt kết quả phù hợp với mục đích

- Hành động có kết quả, ứng phó linh hoạt, hiệu quả trong những điều kiện mới

Từ đó, có thể đưa ra định nghĩa về năng lực hành động đó là: Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lý cá nhân khác

Trang 18

như hứng thú, niềm tin, ý chí… (mà bản thân có sẵn hoặc được hình thành qua hoạt động) để thực hiện thành công một công việc trong bối cảnh nhất định

1 1.2 Chương trình giáo dục định hướng năng lực

Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực (nay còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra) được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ 20 và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế Giáo dục định hướng phát triển năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học

Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là “sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học Việc quản lý chất lượng dạy học chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là kết quả học tập của HS

Bảng so sánh một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng nội dung

và chương trình định hướng phát triển năng lực sẽ cho chúng ta thấy ưu điểm của chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực:

Nội dung Chương trình định

hướng nội dung

Chương trình định hướng phát triển năng lực

Mục tiêu giáo dục

Mục tiêu dạy học được

mô tả không chi tiết và không nhất thiết phải quan sát, đánh giá được

Kết quả học tập cần đạt được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được; thể hiện được mức độ tiến bộ của HS một cách liên tục

Nội dung giáo dục

Việc lựa chọn nội dung dựa vào các khoa học chuyên môn, không gắn với các tình huống thực tiễn

Nội dung được quy định chi tiết trong chương trình

Lựa chọn những nội dung nhằm đạt được kết quả đầu

ra đã quy định, gắn với các tình huống thực tiễn Chương trình chỉ quy định những nội dung chính, không quy định chi tiết

Trang 19

Nội dung Chương trình định

hướng nội dung

Chương trình định hướng phát triển năng lực

Phương pháp dạy học

Giáo viên là người truyền thụ tri thức, là trung tâm của quá trình dạy học HS tiếp thu thụ động những tri thức được quy định sẵn

- Giáo viên chủ yếu là người tổ chức, hỗ trợ HS tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức Chú trọng sự phát triển khả năng giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp…

- Chú trọng sử dụng các quan điểm, phương pháp và

kỹ thuật dạy học tích cực, các phương pháp dạy học thí nghiệm, thực hành

Hình thức dạy học Chủ yếu dạy học lý thuyết

trên lớp học

Tổ chức hình thức học tập

đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học, trải nghiệm sáng tạo đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học

Trang 20

1.1.3 Năng lực chung và năng lực đặc thù

a C ác năng lực chung

Năng lực: là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có

và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức,

kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí Thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể

Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi… làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp

Môn Địa lí góp phần hình thành và phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung theo các mức độ phù hợp với môn học, cấp học đã được quy định tại Chương trình tổng thể

Dạy học theo định hướng phát triển năng lực nhằm bồi dưỡng và phát huy cho học sinh THPT các năng lực chung sau đây:

* Năng lực tự chủ và tự học:

+ Tự lực: Luôn chủ động, tích cực thực hiện những công việc của bản thân trong học

tập và trong cuộc sống; biết giúp đỡ người sống ỷ lại vươn lên để có lối sống tự lực

+ Tự khẳng định và bảo vệ quyền, nhu cầu chính đáng: biết khẳng định và bảo

vệ quyền, nhu cầu cá nhân phù hợp với đạo đức và pháp luật

+ Tự điều chỉnh tình cảm, thái độ, hành vi của mình: đánh giá được những ưu điểm và hạn chế về tình cảm, cảm xúc của bản thân; tự tin, lạc quan Biết tự điều chỉnh tình cảm, thái độ, hành vi của mình

+ Thích ứng với cuộc sống: điều chỉnh được hiểu biết, kĩ năng, kinh nghiệm của cá nhân cần cho hoạt động mới, môi trường mới

+ Định hướng nghề nghiệp: nhận thức được cá tính và giá trị sống của bản thân +Tự học, tự hoàn thiện: xác định được nhiệm vụ học tập dựa trên kết quả đã đạt được, biết đặt mục tiêu học tập chi tiết, khắc phục những hạn chế

* Năng lực giao tiếp và hợp tác

+ Xác định mục đích, nội dung, phương tiện và thái độ giao tiếp: xác định được mục đích giao tiếp phù hợp với đối tượng và ngữ cảnh giao tiếp, dự kiến được thuận lợi,

Trang 21

+ Thiết lập phát triển các mối quan hệ xã hội, điều chỉnh, hóa giải mâu thuẫn + Xác định mục đích và phương thức hợp tác

+ Xác định trách nhiệm và hoạt động của bản thân

+ Xác định nhu cầu và khả năng của người hợp tác

+ Hình thành và triển khai ý tưởng mới

+ Đề xuất, lựa chọn giải pháp

+ Thiết kế và tổ chức hoạt động

+ Tư duy độc lập

b Các năng lực đặc thù chuyên biệt trong môn Địa lí

- Khái niệm năng lực chuyên biệt: Là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các

loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động như Toán học, Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể thao, Địa lí,…

- Các năng lực chuyên biệt của môn Địa lí gồm năng lực sau:

- Năng lực nhận thức thế giới theo quan điểm không gian: Nhận thức được các

sự vật, hiện tượng, quá trình địa lí gắn với lãnh thổ, đáp ứng các câu hỏi chủ yếu: cái gì? ở đâu? như thế nào?

- Năng lực giải thích các hiện tượng và quá trình địa lí (tự nhiên, kinh tế - xã hội): Nhận thức và phát triển được kĩ năng phân tích các mối liên hệ (tương hỗ, nhân quả) giữa các hiện tượng, quá trình địa lí tự nhiên; giữa các hiện tượng, quá trình địa

lí kinh tế - xã hội cũng như giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống kinh tế - xã hội

- Năng lực sử dụng các công cụ của Địa lí học và tổ chức học tập thực địa: Sử dụng được bản đồ, atlat địa lí, lược đồ, biểu đồ, sơ đồ, lát cắt, mô hình, bảng số liệu,

Trang 22

tranh ảnh, ; tổ chức được các hoạt động học tập thực địa như tìm hiểu, khảo sát, điều tra địa lí địa phương

- Năng lực thu thập, xử lí và truyền đạt thông tin địa lí: Thu thập, chọn lọc, hệ thống hoá được tư liệu, tài liệu; viết báo cáo; truyền đạt thông tin địa lí

- Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực tiễn: Liên hệ được kiến thức địa

lí với thực tiễn, vận dụng được các kiến thức, kĩ năng đã học vào nhận thức hoặc nghiên cứu một chủ đề vừa sức trong thực tiễn, vào việc ứng xử phù hợp với môi trường

Thành ph ần năng lực Bi ểu hiện

NHẬN THỨC KHOA HỌC ĐỊA LÍ

Nhận thức thế giới theo

quan điểm không gian

- Sử dụng được bản đồ địa hình kết hợp với địa bàn để xác định vị trí của một điểm trên thực địa; xác định được vị trí của một sự vật, hiện tượng địa lí trên bản đồ

- Phân tích được ý nghĩa của vị trí địa lí đối với tự nhiên, phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng

- Xác định và lí giải được sự phân bố các đối tượng địa lí

- Sử dụng được lược đồ trí nhớ để mô tả nhận thức về không gian; sử dụng bản đồ hoặc lược đồ để trình bày về mối quan hệ không gian của các đối tượng địa lí; phát hiện, chọn lọc, tổng hợp và trình bày được đặc trưng địa lí của một địa phương; từ đó, hình thành ý niệm về bản sắc của một địa phương, phân biệt các địa phương với nhau

Giải thích các hiện

tượng và quá trình địa

- Giải thích được cơ chế diễn ra một số hiện tượng, quá trình

tự nhiên trên Trái Đất; sự hình thành, phát triển và phân bố của một số yếu tố hoặc thành phần tự nhiên; một số đặc điểm của sự vật, hiện tượng tự nhiên trên Trái Đất và ở lãnh thổ Việt Nam; phát hiện và giải thích được một số hiện tượng, quá trình địa lí tự nhiên trong thực tế địa phương

- Giải thích được các sự vật, hiện tượng; sự phân bố, đặc điểm, quá trình phát triển về kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia, khu vực và ở Việt Nam

Trang 23

Thành ph ần năng lực Bi ểu hiện

- Giải thích được các sự vật, hiện tượng, quá trình kinh tế - xã hội trên cơ sở vận dụng mối liên hệ và tác động của tự nhiên

- Giải thích được những hệ quả (tích cực, tiêu cực) do con người tác động đến môi trường tự nhiên; giải thích được tính cấp thiết của việc sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường

- Đọc được bản đồ để khai thác thông tin, kiến thức cần thiết; khai thác được các kênh thông tin bổ sung (biểu đồ, tranh ảnh ) từ bản đồ, atlat địa lí; đọc được lát cắt địa hình; sử dụng được một số bản đồ thông dụng trong thực tế

- Thực hiện được một số tính toán đơn giản (tính GDP bình quân đầu người, tốc độ tăng trưởng kinh tế, ); nhận xét, phân tích được bảng số liệu thống kê; xây dựng được bảng thống kê có cấu trúc phù hợp với ý tưởng phân tích

số liệu; vẽ được một số loại biểu đồ thể hiện động thái, cơ cấu, quy mô, của đối tượng địa lí từ số liệu đã cho

- Nhận xét được biểu đồ và giải thích; đọc hiểu các sơ đồ,

Trang 24

Thành ph ần năng lực Bi ểu hiện

Khai thác Internet ph ục

vụ môn học

- Tìm kiếm, thu thập, chọn lọc và hệ thống hoá được các thông tin địa lí cần thiết từ các trang web; đánh giá và sử dụng được các thông tin trong học tập và thực tiễn

và trình bày kết quả nghiên cứu theo các hình thức khác nhau

Nguồn: Chương trình GDPT môn Địa lí 2018

1.1.4 Đổi mới quá trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực

a Đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh

Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích

cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn

đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp

Trang 25

Những định hướng chung, tổng quát về đổi mới phương pháp dạy học các môn

học thuộc chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực là:

- Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin, ), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy

- Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”

- Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học

- Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã qui định Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung

học và phù hợp với đối tượng học sinh Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Việc đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên được thể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:

- Dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, từ đó giúp học sinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức được

sắp đặt sẵn Theo tinh thần này, giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành các hoạt động học tập như nhớ lại kiến thức cũ, phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn,

- Chú trọng rèn luyện cho học sinh những tri thức phương pháp để họ biết cách đọc sách giáo khoa và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, biết cách suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới, Các tri thức phương pháp thường là những quy tắc, quy trình, phương thức hành động, tuy nhiên cũng cần coi

Trang 26

trọng cả các phương pháp có tính chất dự đoán, giả định Cần rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen… để dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo của họ

- Tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác theo phương châm

“tạo điều kiện cho học sinh nghĩ nhiều hơn, làm nhiều hơn và thảo luận nhiều hơn” Điều đó có nghĩa, mỗi học sinh vừa cố gắng tự lực một cách độc lập, vừa hợp tác chặt chẽ với nhau trong quá trình tiếp cận, phát hiện và tìm tòi kiến thức mới Lớp học trở thành môi trường giao tiếp thầy - trò và trò - trò nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung

- Chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học) Chú trọng phát triển

kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình thức như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót

b Đổi mới kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực

Xu hướng đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh tập trung vào các hướng sau:

Chuyển từ chủ yếu đánh giá kết quả học tập cuối môn học, khóa học sang đánh giá toàn quá trình học, đánh giá của giáo viên dạy với tự đánh giá của người học

Chuyển từ chủ yếu đánh giá kiến thức, kỹ năng sang đánh giá năng lực của người học Tức là chuyển trọng tâm đánh giá chủ yếu từ ghi nhớ, hiểu kiến thức, … sang đánh giá năng lực vận dụng, giải quyết những vấn đề của thực tiễn, đặc biệt chú trọng đánh giá các năng lực tư duy bậc cao như tư duy sáng tạo;

Chuyển đánh giá từ một hoạt động gần như độc lập với quá trình dạy học sang việc tích hợp đánh giá vào quá trình dạy học, xem đánh giá như là một phương pháp dạy học;

Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá: sử dụng các phần mềm thẩm định các đặc tính đo lường của công cụ (độ tin cậy, độ khó, độ phân biệt, độ giá trị) và sử dụng các mô hình thống kê vào xử lý phân tích, lý giải kết quả đánh giá

Trang 27

Với những xu hướng trên, đánh giá kết quả học tập các môn học, hoạt động giáo dục của học sinh ở mỗi lớp và sau cấp học trong bối cảnh hiện nay cần phải:

- Dựa vào chuẩn kiến thức, kĩ năng (theo định hướng tiếp cận năng lực) từng môn học, hoạt động giáo dục từng môn, từng lớp; yêu cầu cơ bản cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ (theo định hướng tiếp cận năng lực) của học sinh của cấp học

- Phối hợp giữa đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì, giữa đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của học sinh, giữa đánh giá của nhà trường và đánh giá của gia đình, cộng đồng

- Kết hợp giữa hình thức đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan và tự luận nhằm phát huy những ưu điểm của mỗi hình thức đánh giá này

- Có công cụ đánh giá thích hợp nhằm đánh giá toàn diện, công bằng, trung thực,

có khả năng phân loại, giúp giáo viên và học sinh điều chỉnh kịp thời việc dạy và học

Kiểm tra đánh giá nhằm vào các mục tiêu sau:

- Đối với học sinh:

 Cung cấp những thông tin phản hồi về quá trình học tập, từ đó điều chỉnh hoạt

động học tập của bản thân

 Xác nhận kết quả học tập của người học

 Phát triển năng lực tư duy, năng lực hành động của người học

- Đối với giáo viên:

 Biết được trình độ chung của người học, những học sinh có tiến bộ, những học sinh sút kém để có thể động viên và giúp đỡ kịp thời

 Kết quả đánh giá giúp giáo viên xem xét và điều chỉnh lại phương pháp và hình thức tổ chức dạy học hiện hành

- Đối với cán bộ quản lí giáo dục: Giúp nhà quản lí có động thái uốn nắn điều

chỉnh, động viên, khuyến khích kịp thời giáo viên và học sinh

Hiện nay, trong dạy học, các phương pháp đánh giá bao gồm:

 Các phương pháp đánh giá truyền thống

 Bài kiểm tra tự luận

 Bài kiểm tra trắc nghiệm

 Kiểm tra vấn đáp

Trang 28

 Kiểm tra thực hành

Tập trung vào đánh giá nhận thức và kĩ năng ứng của người được đánh giá Đối tượng sử dụng các phương pháp đánh giá này thường là giáo viên, học sinh rất ít có cơ hội được tham gia vào quá trình đánh giá

 Các phương pháp đánh giá hiện đại

Ngoài những phương pháp đánh giá trên, quan điểm đánh giá hiện đại còn sử dụng các phương pháp đánh giá sau:

 Đánh giá qua các tình huống thực tế

->Tập trung vào đánh giá việc vận dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ của người được đánh giá vào những tình huống cụ thể hoặc những tình huống gắn với thực tiễn Đối tượng sử dụng các phương pháp đánh giá này có thể là giáo viên và học sinh, điều đó đồng nghĩa với việc học sinh có thể được tham gia vào quá trình đánh giá Trong những năm gần đây, việc tăng cường sử dụng các câu hỏi theo hướng mở, gắn với thực tế cuộc sống được đặc biệt chú trọng trong các bài kiểm tra và trong các

đề thi nhất là đối với các môn khoa học xã hội trong đó có môn Địa lí Một câu hỏi hoặc bài tập gắn với thực tiễn thường có 3 phần, phần thứ nhất và thứ hai luôn luôn

xuất hiện trong câu hỏi/bài tập loại này, phần thứ ba có thể có hoặc không có tùy theo dạng câu hỏi/bài tập:

1.2 Cơ sở lý luận về dạy học theo chủ đề

Dạy học theo chủ đề là hình thức tìm tòi khái niệm, tư tưởng, đơn vị kiến thức,

nội dung bài học, chủ đề có sự giao thoa, tương đồng lẫn nhau, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc trong các

học phần của môn học đó (tức là con đường tích hợp từ những nội dung từ một số đơn vị, bài học, môn học có liên hệ với nhau) làm thành nội dung bài học trong một chủ đề có ý nghĩa hơn, thực tế hơn, nhờ đó học sinh có thể tự hoạt động nhiều hơn để tìm ra kiến thức và vận dụng vào thực tiễn

Trang 29

Thay cho việc dạy học đang được thực hiện theo từng bài/tiết trong sách giáo khoa như hiện nay, các tổ/nhóm chuyên môn căn cứ vào chương trình và sách giáo khoa hiện hành, lựa chọn nội dung để xây dựng các chủ đề dạy học phù hợp với việc

sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong điều kiện thực tế

Dạy học theo chủ đề là sự kết hợp giữa mô hình dạy học truyền thống và hiện đại, ở đó giáo viên không dạy học chỉ bằng cách truyền thụ kiến thức mà chủ yếu là hướng dẫn học sinh tự lực tìm kiếm thông tin, sử dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ có ý nghĩa thực tiễn

So sánh dạy học theo chủ đề và dạy học theo từng bài, tiết ở SGK

Dạy học theo cách tiếp cận

truyền thống hiện nay Dạy học theo chủ đề

Dạy theo từng bài riêng lẻ với một thời

lượng cố định Dạy theo một chủ đề thống nhất được tổ chức lại theo hướng tích hợp từ một

phần trong chương trình học

Kiến thức thu được rời rạc, hoặc chỉ có

mối liên hệ tuyến tính (một chiều theo

thiết kế chương trình học)

Kiến thức thu được là các khái niệm trong một mối liên hệ mạng lưới với nhau

Trình độ nhận thức sau quá trình học tập

thường theo trình tự và thường dừng lại ở

trình độ biết, hiểu và vận dụng (giải bài tập)

Trình độ nhận thức có thể đạt được ở mức độ cao: Phân tích, tổng hợp, đánh giá

Kết thúc một chương học, học sinh không

có một tổng thể kiến thức mới mà có kiến

thức từng phần riêng biệt hoặc có hệ thống

kiến thức liên hệ tuyến tính theo trật tự các

bài học

Kết thúc một chủ đề học sinh có một tổng thể kiến thức mới, tinh giản, chặt chẽ và khác với nội dung trong sách giáo khoa

Kiến thức còn xa rời thực tiễn mà người

học đang sống do sự chậm cập nhật của

nội dung sách giáo khoa

Kiến thức gần gũi với thức tiễn mà học sinh đang sống hơn do yêu cầu cập nhật thông tin khi thực hiện chủ đề

Kiến thức thu được sau khi học thường là

hạn hẹp trong chương trình, nội dung học Hiểu biết có được sau khi kết thúc chủ đề thường vượt ra ngoài khuôn khổ nội

dung cần học do quá trình tìm kiếm, xử

lý thông tin ngoài nguồn tài liệu chính thức của học sinh

Không thể hướng tới nhiều mục tiêu nhân

văn quan trọng như: rèn luyện các kĩ năng

sống và làm việc: giao tiếp, hợp tác, quản

lý, điều hành, ra quyết định…

Có thề hướng tới, bồi dưỡng các kĩ năng làm việc với thông tin, giao tiếp, ngôn ngữ, hợp tác

Nguồn: dạy học theo chủ đề với chương trình đổi mới giáo dục- internet

Trang 30

1.3 Thực trạng dạy học Địa lí nói chung và dạy học theo chủ đề ở các trường THPT tỉnh Điện Biên

Điện Biên là tỉnh miền núi nằm ở khu vực Tây Bắc, là nơi sinh sống của 21 dân tộc, trong đó: Dân tộc Thái 40.4%, Dân tộc Mông 28.8%, Dân tộc Kinh 19.7%,

còn lại là các dân tộc thiểu số khác Trong những năm qua, giáo dục của tỉnh luôn

được sự quan tâm của nhà nước, Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học ngày càng được đầu tư, nâng cấp, hiện đại Có nhiều chế độ chính sách cho giáo viên, học sinh khi công tác và học tập tại vùng có điều kiện khó khăn

- Đội ngũ giáo viên trẻ, nhiệt tình tâm huyết, tích cực sáng tạo trong giảng dạy, tích cực trau dồi chuyên môn, học hỏi kinh nghiệm Chất lượng đội ngũ giáo viên ngày càng được nâng cao

Tuy nhiên, thực trạng giáo dục của Tỉnh cũng còn bộc lộ nhiều hạn chế:

- Hơn 80% học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số nên khả năng tư duy, nhận thức tham gia các hoạt động của các em còn chậm tác động tới hiệu quả của công tác đổi mới phương pháp giảng dạy

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học nhiều xã còn thiếu thốn, nhiều trường phòng học chủ yếu là nhà cấp 4, nhà tạm Thư viện của nhiều trường nghèo nàn, chỉ

có sách giáo khoa và thiếu sách tham khảo cho giáo viên và học sinh, một số cuốn sách phổ biến kiến thức, nhìn chung các sách này cũng rất lạc hậu và ít tác dụng

- Đội ngũ giáo viên, ngày càng được nâng cao trình độ để đạt chuẩn và trên chuẩn Tuy nhiên vẫn còn một số giáo viên dưới chuẩn, nhiều địa phương khó khăn vẫn còn thiếu giáo viên Trình độ giáo viên còn yếu, kỹ năng tổ chức các hoạt động dạy học của giáo viên còn yếu nên chưa hướng cho học sinh tham gia tích cực và chủ động vào các hoạt động học tập Ngoài ra điều kiện về cơ sở vật chất lớp học không đáp ứng nên chủ yếu vẫn là thầy nói, trò nghe Nhiều giáo viên chưa thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy

- Đa số người dân trong tỉnh đều là người dân tộc, điều kiện sản xuất còn rất khó khăn, thiếu thốn, sản xuất mang tính tự nhiên, lao động chủ yếu là thủ công, người dân chưa thấy rõ được lợi ích của việc đi học nên chưa quan tâm nhiều đến việc học tập của con em Chi phí trực tiếp mà phụ huynh phải trả cho giáo dục vượt

Trang 31

quá khả năng tài chính của những gia đình nghèo và gây cản trở cho việc đi học Hơn

nữa, học sinh đặc biệt là học sinh trung học là lực lượng lao động chính của nhiều gia đình Các em phải bỏ học để đi kiếm sống, giúp đỡ gia đình Bên cạnh đó, do hủ tục lạc hậu, một số bộ phận không nhỏ các em ở độ tuổi 17-18 đã phải lập gia đình gây khó khăn cho công tác duy trì sĩ số, huy động học sinh ra lớp

Trong dạy học địa lí, các phương pháp dạy học truyền thống vẫn được sử dụng

là chủ yếu, việc dạy học thực hiện theo chương trình, sách giáo khoa Vì vậy, việc dạy học theo chủ đề chưa được thực sự chú trọng

1.4 Đặc điểm tâm, sinh lý học sinh lớp 12 - THPT

Học sinh THPT còn gọi là tuổi thanh niên, là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn Tuổi thanh niên được tính từ 15

đến 25 tuổi, được chia làm 2 thời kì:

+ Thời kì từ 15-18 tuổi: gọi là tuổi đầu thanh niên

+ Thời kì từ 18-25 tuổi: giai đoạn hai của tuổi thanh niên (thanh niên sinh viên) Tuổi thanh niên cũng thể hiện tính chất phức tạp và nhiều mặt của hiện tượng,

nó được giới hạn ở hai mặt: sinh lí và tâm lý

Đặc diểm về thể chất: Tuổi học sinh THPT là thời kì đạt được sự trưởng

thành về mặt cơ thể Sự phát triển thể chất đã bước vào thời kì phát triển bình thường, hài hòa, cân đối Cơ thể của các em đã đạt tới mức phát triển của người trưởng thành, nhưng sự phát triển của các em còn kém so với người lớn Các em có thể làm những công việc nặng của người lớn Hoạt động trí tuệ của các em có thể phát triển tới mức cao Khả năng hưng phấn và ức chế ở vỏ não tăng lên rõ rệt có thể hình thành mối liên hệ thần kinh tạm thời phức tạp hơn Tư duy ngôn ngữ và những phẩm chất ý chí

có điều kiện phát triển mạnh Ở tuổi này, các em dễ bị kích thích và sự biểu hiện của

nó cũng giống như ở tuổi thiếu niên Tuy nhiên tính dễ bị kích thích này không phải chỉ do nguyên nhân sinh lý như ở tuổi thiếu niên mà nó còn do cách sống của cá nhân

(như hút thuốc lá, không giữ điều độ trong học tập, lao động, vui chơi…)

Nhìn chung ở tuổi này các em có sức khỏe và sức chịu đựng tốt hơn tuổi thiếu niên Thể chất của các em đang ở độ tuổi phát triển mạnh mẽ rất sung sức, nên người

ta hay nói: “Tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu” Sự phát triển thể chất ở lứa tuổi này sẽ có ảnh

Trang 32

hưởng đến sự phát triển tâm lý và nhân cách đồng thời nó còn ảnh hưởng tới sự lựa chọn nghề nghiệp sau này của các em

Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ: Lứa tuổi học sinh THPT là giai đoạn

quan trọng trong việc phát triển trí tuệ Do cơ thể các em đã được hoàn thiện, đặc biệt

là hệ thần kinh phát triển mạnh tạo điều kiện cho sự phát triển các năng lực trí tuệ

Cảm giác và tri giác của các em đã đạt tới mức độ của người lớn Quá trình quan sát gắn liền với tư duy và ngôn ngữ Khả năng quan sát một phẩm chất cá nhân cũng bắt đầu phát triển ở các em Tuy nhiên, sự quan sát ở các em thường phân tán, chưa tập trung cao vào một nhiệm vụ nhất định, trong khi quan sát một đối tượng vẫn còn mang tính đại khái, phiến diện đưa ra kết luận vội vàng không có cơ sở thực tế

Trí nhớ của học sinh THPT cũng phát triển rõ rệt Trí nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ Các em đã biết sắp xếp lại tài liệu học tập theo một trật tự mới, có biện pháp ghi nhớ một cách khoa học Có nghĩa là khi học bài các

em đã biết rút ra những ý chính, đánh dấu lại những đoạn quan trọng, những ý trọng tâm, lập dàn ý tóm tắt, lập bảng đối chiếu, so sánh Các em cũng hiểu được rất rõ trường hợp nào phải học thuộc trong từng câu, từng chữ, trường hợp nào càn diễn đạt bằng ngôn từ của mình và cái gì chỉ cần hiểu thôi, không cần ghi nhớ Nhưng ở một

số em còn ghi nhớ đại khái chung chung, cũng có những em có thái độ coi thường việc ghi nhớ máy móc và đánh giá thấp việc ôn lại bài

Hoạt động tư duy của học sinh THPT phát triển mạnh Các em đã có khả năng

tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập và sáng tạo hơn Năng lực phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa phát triển cao giúp cho các em có thể lĩnh hội mọi khái niệm phức tạp và trừu tượng Các em thích khái quát, thích tìm hiểu những quy luật và nguyên tắc chung của các hiện tượng hàng ngày, của những tri thức phải tiếp thu… Năng lực tư duy phát triển đã góp phần nảy sinh hiện tượng tâm lý mới đó

là tính hoài nghi khoa học Trước một vấn đề các em thường đặt những câu hỏi nghi vấn hay dùng lối phản đề để nhận thức chân lý một cách sâu sắc hơn Thanh niên cũng thích những vấn đề có tính triết lí vì thế các em rất thích nghe và thích ghi chép những câu triết lý

Trang 33

Nhìn chung tư duy của học sinh THPT phát triển mạnh, hoạt động trí tuệ linh hoạt và nhạy bén hơn Các em có khả năng phán đoán và giải quyết vấn đề một cách rất nhanh Tuy nhiên, ở một số học sinh vẫn còn nhược điểm là chưa phát huy hết

năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tính Vì vậy

tích đánh giá sự việc và tự rút ra kết luận cuối cùng Việc phát triển khả năng nhận thức của học sinh trong dạy học là một trong những nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên

Tóm lại: Ở lứa tuổi học sinh THPT, các em có hình dáng người lớn, có những

nét của người lớn nhưng chưa phải là người lớn, còn phụ thuộc vào người lớn Thái

độ đối xử của người lớn với các em thường thể hiện tính chất hai mặt đó là : Một mặt người lớn luôn nhắc nhở rằng các em đã lớn và đòi hỏi các em phải có tính độc lập, phải có ý thức trách nhiệm và thái độ hợp lý Nhưng mặt khác lại đòi hỏi các em phải thích ứng với những đòi hỏi của người lớn…

Đặc điểm nhân cách chủ yếu HS THPT:

Sự tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của học sinh THPT, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa tuổi này Biểu hiện của sự tự ý thức là nhu cầu tìm hiểu và tự đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo chuẩn mực đạo đức của xã hội, theo quan điểm về mục đích cuộc sống… Điều đó khiến các em quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý, những phẩm chất nhân cách

và năng lực riêng Các em không chỉ nhận thức về cái tôi hiện tại của mình mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội tương lai Các em không chỉ chú ý đến vẻ bên ngoài

mà còn đặc biệt chú trọng tới phẩm chất bên trong Các em có khuynh hướng phân tích

và đánh giá bản thân mình một cách độc lập dù có thể có sai lầm khi đánh giá Ý thức làm người lớn khiến các em có nhu cầu khẳng định mình, muốn thể hiện cá tính của mình một cách độc đáo, muốn người khác quan tâm, chú ý đến mình…

Nhìn chung thanh niên mới lớn có thể tự đánh giá bản thân một cách sâu sắc

nhưng đôi khi vẫn chưa đúng đắn nên các em vẫn cần sự giúp đỡ của người lớn Một mặt, người lớn phải lắng nghe ý kiến của các em, mặt khác phải giúp các em hình thành được biểu tượng khách quan về nhân cách của mình nhằm giúp cho sự tự đánh

Trang 34

giá của các em được đúng đắn hơn, tránh những lệch lạc, phiến diện trong tự đánh giá Cần tổ chức hoạt động của tập thể cho các em có sự giúp đỡ, kiểm tra lẫn nhau

để hoàn thiện nhân cách của bản thân

Đặc điểm hoạt động học tập của HS lớp 12

Hoạt động học tập vẫn là hoạt động chủ đạo đối với học sinh THPT nhưng yêu cầu cao hơn nhiều đối với tính tích cực và độc lập trí tuệ của các em Muốn lĩnh hội được sâu sắc các môn học, các em phải có một trình độ tư duy khái niệm, tư duy khái quát phát triển đủ cao Những khó khăn trở ngại mà các em gặp thường gắn với sự thiếu

kĩ năng học tập trong những điều kiện mới chứ không phải với sự không muốn học như nhiều người nghĩ Hứng thú học tập của các em ở lứa tuổi này gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp nên hứng thú mang tính đa dạng, sâu sắc và bền vững hơn

Thái độ của các em đối với việc học tập cũng có những chuyển biến rõ rệt Học sinh đã lớn, kinh nghiệm của các em đã được khái quát, các em ý thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời tự lập Thái độ có ý thức đối với việc học tập của các em được tăng lên mạnh mẽ Học tập mang ý nghĩa sống còn trực tiếp

vì các em đã ý thức rõ ràng được rằng: cái vốn những tri thức, kĩ năng và kĩ xảo hiện

có, kĩ năng độc lập tiếp thu tri thức được hình thành trong nhà trường phổ thông là điều kiện cần thiết để tham gia có hiệu quả vào cuộc sống lao động của xã hội Điều này đã làm cho học sinh THPT bắt đầu đánh giá hoạt động chủ yếu theo quan điểm tương lai của mình Các em bắt đầu có thái độ lựa chọn đối với từng môn học Rất

hiếm xảy ra trường hợp có thái độ như nhau với các môn học Do vậy, giáo viên phải làm cho các em học sinh hiểu ý nghĩa và chức năng giáo dục phổ thông đối với giáo dục nghề nghiệp và đối với sự phát triển nhân cách toàn diện của học sinh

Mặt khác, ở lứa tuổi này các hứng thú và khuynh hướng học tập của các em đã trở nên xác định và được thể hiện rõ ràng hơn Các em thường bắt đầu có hứng thú ổn định đặc trưng đối với một khoa học, một lĩnh vực tri thức hay một hoạt động nào đó Điều này đã kích thích nguyện vọng muốn mở rộng và đào sâu các tri thúc trong các lĩnh vực tương ứng Đó là những khả năng rất thuận lợi cho sự phát triển năng lực của các em Nhà trường cần có những hình thức tổ chức đặc biệt đối với hoạt động của

học sinh THPT nhất là học sinh cuối cấp để tạo ra sự thay đổi căn bản về hoạt động

Trang 35

1.5 Đặc điểm chương trình, sách giáo khoa Địa lí lớp 12 (hiện hành) ở trường THPT

Chương trình môn Địa lí lớp 12 cung cấp hệ thống kiến thức về địa lí Tổ quốc

Về cơ bản trong chương trình Địa lí lớp 12 không có sự khác biệt giữa chương trình chuẩn và chương trình nâng cao, gồm 5 phần: Địa lí tự nhiên, Địa lí dân cư, Địa lí các ngành kinh tế, Địa lí vùng và Địa lí địa phương Mỗi phần có một vai trò nhất định trong việc trang bị kiến thức cho học sinh để tạo nên chương trình tổng thể, tương đối hoàn chỉnh về địa lí Tổ quốc trên cơ sở kế thừa và phát triển chương trình Địa lí ở THCS Cụ thể như sau:

Ph ần Địa lí tự nhiên

+ Về mặt lý thuyết, phần này gồm có 4 nội dung:

- Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ và ý nghĩa: Trình bày những đặc điểm và giới hạn của vị trí địa lí Việt Nam Từ nội dung đó học sinh cần nắm bắt được ý nghĩa của

vị trí địa lí Việt Nam đối với sự hình thành đặc điểm chung nhất của tự nhiên Việt Nam, lịch sử hình thành lãnh thổ, ý nghĩa về mặt kinh tế, văn hoá - xã hội và Quốc phòng Nhận thức của học sinh về những thuận lợi và khó khăn của vị trí địa lí

- Lịch sử hình thành và phát triển lãnh thổ: Gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển Trái đất (đó là quá trình lâu dài và phức tạp), nằm trong lịch sử kiến tạo chung của khu vực Đông nam Á, chịu ảnh hưởng của các đơn vị kiến tạo xứ nền Hoa nam và xứ Địa máng Đông Dương trong quan hệ với Địa máng Tây Vân Nam Chính

mối quan hệ này tạo nên sự phân hoá đa dạng, phức tạp của cảnh quan thiên nhiên Việt Nam

- Đặc điểm chung của tự nhiên Việt Nam: Khái quát 4 đặc điểm cơ bản đó là:

 Đất nước nhiều đồi núi

 Thiên nhiên có tính chất bán đảo và chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển

 Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa

 Thiên nhiên có sự phân hoá đa dạng theo yếu tố và theo vùng

- Vấn đề sử dụng và bảo vệ tự nhiên: Giúp học sinh nắm được các nội dung:

 Tài nguyên thiên nhiên (tài nguyên đa dạng, sự suy giảm tài nguyên và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên) và bảo vệ môi trường

Trang 36

 Ngoài ra chương trình mới còn bổ sung thêm một số kiến thức về thiên tai

chủ yếu và các biện pháp phòng chống (bão, lũ lụt, sạt lở đất đá, động đất…) Mặt khác giúp học sinh tìm hiểu chính sách về tài nguyên và môi trường của Việt Nam

+ Về mặt thực hành: Chương trình chuẩn gồm 2 bài vẽ lược đồ Việt Nam và đọc bản đồ địa hình Chương trình nâng cao gồm 5 bài mở rộng cả về nội dung và kĩ năng thực hành

+ Về mặt lý thuyết: Nội dung chương trình SGK Địa lí lớp 12 đề cập đến 3 nội dung:

- Đặc điểm dân cư bao gồm nhiều dân tộc, đông dân và gia tăng nhanh Phân

bố dân cư chưa hợp lí

- Lao động và việc làm: nguồn lao động và việc sử dụng lao động,vấn đề việc làm

- Đô thị hoá: đặc điểm và mạng lưới đô thị

Ngoài ra chương trình SGK Địa lí lớp 12 nâng cao còn đề cập đến chất lượng cuộc sống Giúp học sinh nắm được các khái niệm, chỉ tiêu, nhận định về chất lượng cuộc sống không đều giữa các vùng

+ Về mặt thực hành: Chỉ gồm một bài rèn luyện kĩ năng vẽ biểu đồ và phân tích biểu đồ

Ph ần Địa lí kinh tế

+ Về mặt lí thuyết: Bao gồm nhiều nội dung:

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Địa lí các ngành kinh tế bao gồm một số vấn đề nổi bật về phát triển và phân

bố các ngành kinh tế nước ta (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ)

- Địa lí các vùng kinh tế: trình bày các vấn đề nổi cộm của các vùng kinh tế nước ta:

 Khai thác thế mạnh ở Trung du và miền núi Bắc Bộ

 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở đồng bằng sông Hồng

 Vấn đề phát triển kinh tế - xã hội ở Bắc Trung Bộ

 Vấn đề phát triển kinh tế - xã hội ở duyên hải Nam Trung Bộ

 Vấn đề khai thác thế mạnh ở Tây Nguyên

Trang 37

 Vấn đề khai thác lãnh thổ theo chiều sâu ở đông Nam Bộ

 Vấn đề sử dụng hợp lí và cải tạo tự nhiên ở đồng bằng sông Cửu Long

Ngoài ra, nội dung chương trình SGK mới còn đề cập vấn đề phát triển kinh tế, an ninh Quốc phòng ở Biển Đông và các đảo, quần đảo; các vùng kinh tế trọng điểm

+ Về mặt thực hành: Gồm nhiều bài gắn với các nội dung lý thuyết, rèn luyện các kĩ năng: đọc bản đồ, Atlat, phân tích bảng số liệu, phân tích các mối quan hệ kinh

tế - xã hội, biểu đồ…

Tìm hiểu địa lí tỉnh, thành phố, làm quen kĩ năng chuẩn bị và viết báo cáo về tình hình địa phương

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, tác giả luận văn đã làm sáng tỏ một số vấn đề lí luận và thực tiễn về dạy học địa lí theo chủ đề, trong đó các khái niệm về năng lực, chương trình giáo dục theo định hướng phát triển năng lực, dạy học theo chủ đề… đều được làm rõ; Tác giả luận văn cũng đã thực hiện những nghiên cứu, khảo sát để đánh giá được thực trạng dạy học nói chung, dạy học địa lí theo chủ đề nói riêng ở một số trường THPT ở tỉnh Điện Biên; phân tích được đặc điểm chương trình, sách giáo khoa Địa lí lớp 12, trong đó có cập nhật về chương trình môn địa lí 2018 Những kết quả nghiên cứu đó, là cơ sở quan trọng để thực hiện những nghiên cứu cụ thể ở chương 2: Qui trình thiết kế chủ đề dạy học Địa lí 12 theo định hướng phát triển năng lực học sinh

Trang 38

C hương 2 THI ẾT KẾ CHỦ ĐỀ DẠY HỌC ĐỊA LÝ LỚP 12 THPT

THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH

2.1 Yêu c ầu thiết kế

- Đảm bảo các nguyên tắc dạy học: tính khoa học và tính vừa sức đối với học sinh, tính hệ thống, tính giáo dục, tính tự lực và sự phát triển tư duy cho học sinh

- Phù hợp với nội dung chương trình môn Địa lí

- Xây dựng chủ đề cần đơn giản, lôi cuốn tạo sự hấp dẫn cho học sinh về nội dung lẫn hình thức

- Xây dựng chủ đề cần dựa trên các phương pháp dạy học, kỹ thuật, hình thức

tổ chức dạy học tích cực Đảm bảophát triển năng lực cần thiết của học sinh thông qua các hoạt động

- Đảm bảo các mục tiêu của bài học

- Tích cực ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế hoạt động dạy học hấp dẫn, sinh động

2.2 Quy trình thi ết kế

Bước 1 Xác định tên chủ đề, thời lượng thực hiện

- Xác định tên chủ đề: căn cứ vào nội dung chương trình, sách giáo khoa của môn học, giáo viên tổ nhóm chuyên môn rà soát nội dung chương trình, SGK hiện hành để điều chỉnh, sắp xểp hợp lý những nội dung trong SGK của từng môn học, tập

hợp các đơn vị kiến thức gần nhau có mối liên hệ về lí luận, thực tiễn từ đó cấu trúc, sắp xếp lại nội dung dạy học thành chủ đề dạy học (giáo viên chịu trách nhiệm về tính khoa học, tính logic, đảm bảo theo chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ, phù hợp đối tượng học sinh

- Thời lượng: Số lượng tiết cho một chủ đề nên có dung lượng vừa phải (khoảng 2 đến 5 tiết) để việc biên soạn và tổ chức thực hiện khả thi, đảm bảo tổng số tiết của chương trình của từng môn sau khi biên soạn lại có chủ đề không vượt hoặc thiếu so với thời lượng quy định trong chương trình hiện hành

Bước 2: Xác định nội dung chủ đề

- Lựa chọn nội dung từ các bài viết trong sách giáo khoa của một môn học

Trang 39

- Nội dung chủ đề phù hợp trình độ học sinh, đảm bảo mục tiêu, phù hợp với

nội dung của môn học và phù hợp với thực tế

Bước 3: Xác định chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ và năng lực

- Xác định chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ theo chương trình hiện hành

- Xác định năng lực phẩm chất có thể hình thành cho học sinh

Bước 4 Xác định phương pháp, kỹ thuật, hình thức tổ chức và phương tiện, thiết

bị dạy học

- Phương pháp, kỹ thuật dạy học: Tùy từng chủ đề, điều kiện cơ sở vật chất và đối tượng học sinh mà giáo viên chủ động lựa chọn các phương pháp, kỹ thuật dạy học phù hợp: Nêu vấn đề, theo hợp đồng, theo dự án Đặc biệt cần chú ý áp dụng đúng quy trình, các bước thực hiện của các phương pháp dạy học, kỹ thuật dạy học

tích cực theo quy định

- Hình thức tổ chức dạy học: Căn cứ vào các nội dung của chủ đề, đối tượng học

sinh, điều kiện thực tế của nhà trường mà giáo viên lựa chọn hình thức dạy học phù hợp cho từng tiết của chủ đề: dạy học cả lớp, cá nhân, nhóm, ngoài trời, tham quan…

- Thiết bị dạy học: Khai thác và sử dụng tối đa, hiệu quả các phương tiện, thiết bị, đồ dùng dạy học, đặc biệt là phòng học bộ môn và thư viện nhà trường, tránh tình trạng dạy chay, dạy học nặng về lý thuyết hàn lâm, ít kỹ năng thực hành, không gắn với thực tiễn

Bước 5 Xây dựng bảng mô tả, biên soạn câu hỏi /bài tập

Trên cơ sở mục tiêu chung của chủ đề tổ nhóm chuyên môn cụ thể hóa các mục tiêu cho từng nội dung theo cấp độ nhận thức ở bảng sau:

Nội dung/chủ

đề/chuẩn Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Vận dụng cao

Biên soạn câu hỏi /bài tập:

Với mỗi chủ đề đã xây dựng, xác định được mô tả 4 mức độ yêu cầu (nhận biết, thông hiểu, vận dụng, vận dụng cao) của mỗi loại câu hỏi/bài tập có thể sử dụng

để kiểm tra, đánh giá năng lực và phẩm chất của học sinh trong dạy học Trên cơ sở

Trang 40

đó, biên soạn các câu hỏi/bài tập cụ thể theo các mức độ yêu cầu đã mô tả để sử dụng trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học và kiểm tra, đánh giá, luyện tập theo chủ đề đã xây dựng

Bước 6 Thiết kế tiến trình dạy học

Tiến trình dạy học chủ đề được tổ chức thành các hoạt động học của học sinh

để có thể thực hiện ở trên lớp và ở nhà, mỗi tiết học trên lớp có thể chỉ thực hiện một số hoạt động trong tiến trình sư phạm của phương pháp và kĩ thuật dạy học được

sử dụng

Trong một chủ đề có nhiều tiết học thì có thể soạn chung, không phải tách ra theo từng tiết, không phải lặp lại những phần chung (như: mục tiêu chung của chủ đề, yêu cầu chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ những nội dung này chỉ ghi một lần nhưng đã phản ánh đầy đủ cho cả chủ đề)

Chủ đề có nhiều tiết học thì giáo viên chủ động phân phối thời lượng, kiến thức phù hợp theo đối tượng học sinh, việc ghi sổ đầu bài theo thứ tự tiết trong phân phối chương trình

Bước 7 Thử nghiệm

- Tổ chức dạy thử nghiệm chủ đề đã xây dựng

- Sau khi dạy thử nghiệm, giáo viên rút kinh nghiệm

- Chỉnh sửa chủ đề và thực hiện đại trà

2.3 S ử dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực trong dạy học theo chủ đề

Ngày đăng: 10/06/2021, 12:08

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w