1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) một số biện pháp kích thích hứng thú học tập môn đại số giải tích lớp 11 cho học sinh miền núi tỉnh lạng sơn​

132 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá của HS về mức độ sử dụng và mức độ hiệu quả của các biện pháp kích thích hứng thú học tập môn Toán .... Đánh giá của GV về mức độ sử dụng và mức độ hiệu quả của các biện pháp kí

Trang 1

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUY ỄN NHƯ AN

Chuyên ngành: LL&PP d ạy học bộ môn Toán

Mã s ố: 60.14.01.11

N gười hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ THỊ THÁI

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,

kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung thực chƣa từng đƣợc công bố trong một công trình khoa học nào khác

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2015

Tác gi ả luận văn

Nguy ễn Nhƣ An

Trang 4

L ỜI CẢM ƠN

Bằng tình cảm trân trọng và lòng biết ơn sâu sắc, cho phép tôi được gửi lời cảm ơn tới:

Phòng Đào tạo (bộ phận Sau đại học), Khoa Toán trường Đại học Sư

phạm Thái Nguyên, các thầy cô giáo đã tham gia quản lý, giảng dạy và hướng dẫn tôi trong quá trình học tập tại nhà trường

Cô giáo, PGS.TS Vũ Thị Thái - Giảng viên khoa Toán, trường Đại học

Sư phạm Thái Nguyên đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo và các em học sinh lớp 11 trường THPT Tràng Định (huyện Tràng Định), trường THPT Văn Lãng (huyện Văn Lãng), trường THPT Bình Độ (huyện Tràng Định), đã tận tình cung cấp thông tin, số liệu và tham gia vào quá trình nghiên cứu

Bạn bè đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã động viên, khích lệ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được tham gia học tập, nghiên cứu

Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự đóng góp

ý kiến của các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp để được hoàn thiện hơn

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015

TÁC GI Ả

Nguy ễn Như An

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích của đề tài 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Đối tượng nghiên cứu 3

5 Giả thuyết khoa học 3

6 Phạm vi nghiên cứu 3

8 Những đóng góp mới của đề tài 4

9 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 5

1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 5

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 6

1.2 Hứng thú 7

1.2.1 Định nghĩa hứng thú 7

1.2.2 Biểu hiện của hứng thú 8

1.2.3 Vai trò của hứng thú trong hoạt động của cá nhân 8

1.3 Hứng thú học tập 9

1.3.1 Định nghĩa hứng thú học tập 9

1.3.2 Các loại hứng thú học tập 9

1.3.3 Một số đặc điểm của hứng thú học tập 10

1.3.4 Sự hình thành và phát triển hứng thú học tập 11

Trang 6

1.4 Hứng thú học tập môn Toán của HS THPT 13

1.4.1 Một số đặc điểm tâm lý của HS THPT trong học tập 13

1.4.2 Hứng thú học tập môn Toán của HS THPT 14

1.5 Thực trạng hứng thú học tập môn Toán của HS lớp 11 tỉnh Lạng Sơn 16

1.5.1 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu thực trạng hứng thú học tập môn Toán lớp 11 của HS tỉnh Lạng Sơn 16

1.5.2 Hứng thú học tập môn Toán của HS lớp 11 THPT tỉnh Lạng Sơn 17

1.5.3 Biểu hiện hứng thú học tập môn Toán lớp 11 của HS Tỉnh Lạng Sơn 18

1.5.4 Năng lực học tập môn Toán lớp 11 của HS tỉnh Lạng Sơn 19

1.5.5 Thực trạng thực hiện các biện pháp kích thích hứng thú học tập môn Toán cho HS lớp 11 THPT tỉnh Lạng Sơn 21

1.5.6 Nguyên nhân ảnh hưởng đến hứng thú học tập môn Toán của HS lớp 11 THPT tỉnh Lạng Sơn 24

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 27

Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP KÍCH THÍCH HỨNG THÚ HỌC T ẬP MÔN TOÁN CHO HS TRONG DẠY HỌC ĐẠI SỐ - GIẢI TÍCH 28

2.1 Một số định hướng sư phạm trong việc đề xuất các biện pháp 28

2.2 Một số biện pháp kích thích hứng thú học tập môn Toán cho HS trong dạy học Đại Số - Giải tích 11 29

2.2.1 Biện pháp 1: Tổ chức học hợp tác để kích thích học sinh hướng dẫn lẫn nhau, chia sẻ suy nghĩ trong học tập 29

2.2.2 Biện pháp 2: Căn cứ vào nội dung chương trình xây dựng những dự án học tập để học sinh tham gia thực hiện dự án giúp kích thích hứng thú học tập cho HS 33

2.2.3 Biện pháp 3: Sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan để tạo hứng thú học tập cho HS thông qua việc lựa chọn và phân tích các phương án lựa chọn 41

2.2.4 Biện pháp 4: Kiến tạo ra những tình huống mở để giúp học sinh có ý thức và dần có thói quen, thích thú, đề xuất được nhiều dạng toán cũng như các cách giải, để từ đó tạo hứng thú học tập cho học sinh 53

Trang 7

2.2.5 Biện pháp 5: Khi dạy đến một số vấn đề cụ thể trong chương trình có thể giới thiệu cho học sinh về lịch sử toán, chân dung một số các nhà toán học cùng những công trình nghiên cứu của họ nhằm khơi

dậy trong học sinh niềm yêu thích học tập môn Toán 56

2.3 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và mức độ khả thi của một số biện pháp đã đề xuất giúp kích thích hứng thú học tập môn Đại số - Giải tích 11cho HS 58

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 60

C hương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 61

3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 61

3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 61

3.3 Nội dung thực nghiệm và kế hoạch thực nghiệm 62

3.3.1 Nội dung thực nghiệm sư phạm 62

3.3.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 62

3.3.3 Quy trình tổ chức thực nghiệm 63

3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 65

3.4.1 Phân tích, đánh giá mức độ hứng thú học tập của học sinh lớp 11 65

3.4.2 Phân tích, đánh giá kết quả học tập môn Đại số - Giải tích lớp 11 của học sinh 74

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 82

K ẾT LUẬN 83

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 85

PH Ụ LỤC 1

Trang 9

Bảng1.3 Đánh giá của GV và HS về biểu hiện hứng thú đối với việc

học môn Toán của HS lớp 11 tỉnh Lạng Sơn 18 Bảng 1.4 Năng lực học tập môn Toán của HS lớp 11 tỉnh Lạng Sơn 20 Bảng 1.5 Đánh giá của HS về mức độ sử dụng và mức độ hiệu quả

của các biện pháp kích thích hứng thú học tập môn Toán 21

Bảng 1.6 Đánh giá của GV về mức độ sử dụng và mức độ hiệu quả

của các biện pháp kích thích hứng thú học tập môn Toán 23 Bảng 1.7 Đánh giá của GV và HS về những nguyên nhân ảnh hướng

đến mức độ hứng thú học tập môn Toán của HS lớp 11 THPT Tỉnh Lạng Sơn 25

Bảng 2.1 Đánh giá mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện

pháp đề xuất nhằm kích thích hứng thú học tập môn Toán của HS lớp 11 59

Bảng 3.1 Phân bố các đối tượng thực nghiệm 63

Bảng 3.2 Đánh giá mức độ hứng thú học tập môn Đại số - Giải tích

11 trước và sau thực nghiệm sư phạm(40 HS trường THPT Văn Lãng) 68

Bảng 3.3 Đánh giá mức độ hứng thú học tập môn Giải tích lớp 11

trước và sau thực nghiệm sư phạm (40 HS trường THPT Bình Độ, Tràng Định) 72 Bảng 3.4 Phân bố tần suất kết quả của bài kiểm tra trước và sau tác

động môn Đại số - Giải tích lớp11 (40 HS trường THPT Văn Lãng) 75

Trang 10

Bảng 3.5 Tổng hợp giá trị các công thức đo kết quả bài kiểm tra trước

và sau tác động đối với HS trường THPT Văn Lãng 76

Bảng 3.6 Phân bố tần suất kết quả của bài kiểm tra trước và sau tác

động môn Đại số - Giải tích lớp11 (40 HS trường THPT Bình Độ, huyện Tràng Định) 78 Bảng 3.7 Tổng hợp giá trị các công thức đo kết quả bài kiểm tra trước

và sau tác động đối với HS trường THPT Bình Độ, huyện Tràng Định 80

Trang 11

Biểu đồ 1.1 So sánh điểm trung bình đánh giá của GV và HS về biểu

hiện hứng thú đối với việc học môn Toán của HS lớp 11 tỉnh Lạng Sơn 19

Biểu đồ 1.2 Kết quả học tập môn Toán của HS lớp 11 tỉnh Lạng Sơn 20

Biểu đồ 1.3 So sánh điểm trung bình đánh giá của HS về mức độ sử dụng

và mức độ hiệu quả của các biện pháp kích thích hứng thú học tập môn Toán 22 Biểu đồ 1.4 So sánh điểm trung bình đánh giá của GV về mức độ sử

dụng và mức độ hiệu quả của các biện pháp kích thích hứng thú học tập môn Toán 23

Biểu đồ 1.5 So sánh đánh giá của GV và HS về những nguyên nhân

ảnh hưởng đến mức độ hứng thú học tập môn Toán của

HS lớp 11 THPT Tỉnh Lạng Sơn 26 Biểu đồ 2.1 So sánh đánh giá về mức độ cần thiết và mức độ khả thi

của các biện pháp kích thích hứng thú học tập môn Toán 60

Biểu đồ 3.1 Đánh giá mức độ hứng thú học tập môn Đại số - Giải tích

lớp11 trước và sau thực nghiệm sư phạm (40 HS trường THPT Văn Lãng) 68 Biểu đồ 3.2 Đánh giá mức độ hứng thú học tập môn Giải tích lớp11

trước và sau thực nghiệm sư phạm (40 HS trường THPT Bình Độ, Tràng Định) 72

Biểu đồ 3.3 Phân bố tần suất kết quả của bài kiểm tra trước và sau tác

động môn Đại số - Giải tích lớp 11 (40 HS trường THPT Văn Lãng, huyện Văn Lãng) 75 Biểu đồ 3.4 Phân bố tần suất kết quả của bài kiểm tra trước và sau tác

động môn Đại số - Giải tích lớp 11 (40 HS trường THPT

Bình Độ, huyện Tràng Định) 79

Trang 12

M Ở ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài

Hứng thú không phải là cái trừu tượng vốn có trong mỗi cá nhân mà là kết quả của sự hình thành và phát triển nhân cách cá nhân, nó phản ánh một cách khách quan thái độ đang tồn tại ở con người Khái niệm hứng thú được xét dưới nhiều góc độ khác nhau Không chỉ chiêm ngưỡng đối tượng gây nên

hứng thú, mà còn lao vào hoạt động với mục đích chiếm lĩnh được đối tượng

Nó là một trong những nguồn kích thích sự phát triển nhân cách, hình thành kỹ

năng kỹ xảo, nguồn gốc của sự sáng tạo Trong hoạt động nhận thức thì Hứng

thú là thái độ đặc biệt của người học đối với hoạt động nhận thức, nhờ hứng thú

mà HS có thể giảm sự mệt mỏi, căng thẳng, tăng sự chú ý, thúc đẩy quá trình tìm tòi, sáng tạo trong quá trình học tập và đạt hiệu quả cao Chính vì những lẽ

đó bên cạnh việc tổ chức, điều khiển HS lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng,

kỹ xảo và phương pháp học tập thì người giáo viên cần phải hình thành nhu cầu

và kích thích hứng thú học tập cho HS

Định hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay đã xác định “phương pháp dạy học Toán trong nhà trường các cấp phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học, trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập sáng tạo của tư duy”[2] Bắt nguồn từ định hướng đó người giáo viên cần phải học hỏi nghiên cứu, tìm tòi và áp dụng

những phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp với từng vùng miền, từng đối tượng học sinh, từng kiểu bài làm cho hiệu quả giờ học đạt cao nhất

Theo Luật Giáo dục Việt Nam sửa đổi năm 2009 [11]: “Phương pháp giáo dục cần phải bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng

kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học

tập cho HS” Mục tiêu dạy học môn Toán là trang bị cho HS những tri thức, kĩ năng, phương pháp toán học phổ thông, cơ bản, thiết thực; Phát triển năng lực trí tuệ, bồi dưỡng phẩm chất trí tuệ cho HS; Góp phần hình thành và phát triển

Trang 13

các phẩm chất, phong cách lao động khoa học, biết hợp tác lao động, có ý chí

và thói quen tự học thường xuyên; Tạo cơ sở để HS tiếp tục học cao đẳng, đại

học, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động

Vấn đề kích thích hứng thú học tập môn Toán cho HS đã được nhiều nhà giáo dục tâm huyết nghiên cứu Nhưng trên thực tế chưa có đề tài nào đề cập một cách hệ thống và cụ thể về vấn đề làm thế nào để tạo hứng thú học tập môn Toán cho HS THPT thông qua dạy học Đại Số - Giải tích lớp 11

Hưởng ứng Chương trình hành động thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và quán triệt định hướng xây dựng chương trình và sách giáo khoa phổ thông sau 2015 là đổi mới về cách tiếp cận: xây dựng chương trình phát triển năng lực người học

Cùng với những lí do đã nêu trên, chúng tôi đã chọn đề tài:“Một số biện

mi ền núi tỉnh Lạng Sơn”

2 Mục đích của đề tài

Tìm hiểu hứng thú học tập và những yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập của học sinh đặc biệt là hứng thú với bộ môn Toán Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp kích thích hứng thú học tập môn Đại số - Giải tích lớp 11 cho học sinh tỉnh Lạng Sơn Góp phần nâng cao chất lượng học tập môn Toán của

HS THPT tỉnh Lạng Sơn

3 Nhi ệm vụ nghiên cứu

3.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về hứng thú học tập môn Toán của HS THPT 3.2 Tìm hiểu thực trạng hứng thú học tập môn Toán nói chung và môn Đại Số - Giải tích lớp 11 của HS tỉnh Lạng Sơn và những nguyên nhân ảnh hưởng đến thực trạng này

3.3 Đề xuất một số biện pháp tạo hứng thú học tập môn Đại Số - Giải tích lớp 11 cho HS miền núi tỉnh Lạng Sơn

3.4 Thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính khả thi và tính hiệu quả của những biện pháp đề xuất

Trang 14

4 Đối tượng nghiên cứu

Những biện pháp tạo hứng thú học tập môn Đại Số - Giải tích lớp 11 cho

HS miền núi tỉnh Lạng Sơn

5 Gi ả thuyết khoa học

Thực trạng hứng thú học tập môn Toán nói chung và môn Đại số - Giải tích nói riêng của HS lớp 11 tỉnh Lạng Sơn chưa cao Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến thực trạng này trong đó chủ yếu phụ thuộc vào việc lựa chọn, vận dụng và phối hợp các phương pháp và phương tiện dạy học Từ những lí do

đã nêu bản thân tôi nhận thấy nếu có biện pháp phù hợp để khai thác triệt để tính thiết thực, khơi gợi niềm yêu thích môn học với những phương pháp, phương tiện, mối quan hệ và môi trường thân thiện giữa thầy và trò thì có thể tạo ra niềm yêu thích học tập môn Toán cho HS, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Đại Số - Giải tích lớp 11

6 Ph ạm vi nghiên cứu

Việc nghiên cứu được tiến hành ở 3 trường đó là: THPT Văn Lãng (huyện Văn Lãng), THPT Tràng Định (huyện Tràng Định), THPT Bình Độ (huyện Tràng Định) Thực nghiệm sư phạm được tiến hành ở 2 trường đó là: trường THPT Văn Lãng (huyện Văn Lãng) và THPT Bình Độ (huyện Tràng Định) trong năm học 2014 - 2015

7 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

7.1 P hương pháp nghiên cứu lí thuyết

Bao gồm các công việc đó là nghiên cứu các tài liệu về giáo dục học môn toán, tâm lý học, lý luận dạy học môn toán; các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài nhằm hoàn thành cơ sở lí luận cho đề tài

- Phương pháp điều tra, quan sát, phỏng vấn để tiến hành tìm hiểu, điều tra về thực trạng hứng thú học tập môn Đại Số - Giải tích lớp 11 của HS, nguyên nhân của thực trạng và đề xuất các biện pháp tạo hứng thú học tập cho HS

Trang 15

- Thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của đề tài ở 2 trường đó là: trường THPT Văn Lãng (huyện Văn Lãng) và THPT Bình Độ (huyện Tràng Định) trong năm học 2014 - 2015

7.3 P hương pháp xử lý số liệu

Sử dụng phương pháp xử lý số liệu (phương pháp thống kê Toán học

trong nghiên cứu khoa học giáo dục- NXB Khoa học xã hội) để đánh giá các

kết quả thu được bằng phương pháp nghiên cứu thực tiễn

8 Nh ững đóng góp mới của đề tài

- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về vấn đề hình thành hứng thú học

tập môn Toán và làm phong phú thêm tài liệu về đặc điểm tâm lý lứa tuổi HS

9 C ấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận chung và kiến nghị, nội dung chính của

luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2 Một số biện pháp kích thích hứng thú học tập môn Đại Số -

Gi ải tích lớp 11 cho HS miền núi tỉnh Lạng Sơn

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 T ổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Nghiên c ứu ở nước ngoài

Những công trình nghiên cứu về hứng thú trên thế giới xuất hiện khá sớm và ngay càng phát triển

- Herbart (1776- 1841) nhà tâm lý học nhà triết học, nhà giáo dục học người Đức người sáng lập ra trường phái giáo dục hiện đại ở Đức thế kỉ XXI Đã đưa ra

4 mức độ của dạy học Tính sáng rõ, tính liên tưởng, tính hệ thống, tính phong phú.Đặc biệt là hứng thú yếu tố quyết định kết quả học tập của người học

- Năm 1938 Ch Buher trong công trình “Phát triển hứng thú ở trẻ em”

Đã tìm hiểu khái niệm hứng thú

- Năm 1971, Sukina với công trình nghiên cứu về “Vấn đề hứng thú nhận

thức trong khoa học giáo dục” Tác giả đã đưa ra khái niệm về hứng thú nhận thức cùng với những biểu hiện của nó, đồng thời bà còn nêu ra nguồn gốc cơ bản của hứng thú nhận thức là nội dung tài liệu và hoạt động học tập.[21]

- Năm 1976, N.G.Marôzôva đã nghiên cứu về vai trò của dạy học nêu

vấn đề với hứng thú học tập của học sinh Dạy học nêu vấn đề là một trong những biện pháp quan trọng góp phần nâng cao hứng thú học tập của học sinh trong quá trình học tập.[18]

- Các nhà nghiên cứu như K.Đ.Usinxky, A.I.Ghecxen, V.G.Bêlinxky,

N.G.Secnưsepxky, N.A.Đapraliulôp luôn thấy được ảnh hưởng lớn lao của hứng

thú tới chất lượng học tập, mà việc lĩnh hội tri thức tồi lại có quan hệ trực tiếp

với tình trạng không có hứng thú học tập và người GV không khơi dậy được hứng thú đó

- Năm 2004, Linnell, Charles C đã nghiên cứu: “Nâng cao hứng thú của

trẻ em trong việc học môn Toán với công nghệ hiện đại theo phương pháp tích

cực” Theo họ, những đứa trẻ cần được chỉ cho thấy ích lợi của việc học môn

Trang 17

Toán Để lĩnh hội việc học môn Toán theo phương pháp mới thì những khái

niệm trong kỹ năng học môn Toán của HS có thể được truyền sang cho nhau

Điểm qua một số công trình nghiên cứu trên, chứng tỏ các nhà Tâm lý học ở các nước đã rất quan tâm nghiên cứu những vấn đề lý luận của hứng thú cũng như việc áp dụng chúng vào thực tiễn hoạt động giảng dạy và học tập trong nhà trường để phát triển hứng thú nhận thức của HS

Ở trong nước, trong nhiều năm qua cũng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về hứng thú, theo một số hướng sau:

- Từ những năm 1960, các tác giả Đức Minh, Phạm Cốc, Đỗ Thị Xuân

trong cuốn Tâm lý học giảng dạy ở Đại học Sư phạm Hà Nội đã đề cập đến những vấn đề lý luận chung về hứng thú.[14]

- Sau đó, các tác giả Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang

Uẩn cũng nghiên cứu về vấn đề này.[6]

- Năm 1993, Nguyễn Công Vinh với đề tài “Tìm hiểu hứng thú học tập và nguyên nhân hứng thú đối với môn Tâm lý của sinh viên ba trường Đại học Sư

phạm, Trung học Sư phạm, Trung học Sư phạm mầm non thành phố Hồ Chí Minh”.[20]

- Năm 1970 Phạm Huy Thông với luận án “Hiện trạng hứng thú học tập

các môn c ủa học sinh cấp II một số trường tiên tiến” Hứng thú học tập của

học sinh từ đó tác giả đề xuất biện pháp giáo dục nhằm nâng cao hứng thú học tập cho học sinh”.[19]

- Năm 1974, Tổ Tâm lý học thuộc khoa Tâm lý - Giáo dục trường Đại học Sư phạm Hà Nội I đã nghiên cứu: “Hứng thú học tập của HS cấp III đối

v ới các môn học cụ thể”.[22]

- Năm 1980, Nguyễn Thanh Bình đã nghiên cứu đề tài “Bước đầu tìm

hiểu nguyên nhân gây hứng thú học môn Tâm lý học của sinh viên khoa Tự nhiên, trường Đại học Sư phạm Hà Nội I”.[1]

Trang 18

- Năm 2000, tác giả Trần Công Khanh đã đi sâu vào nghiên cứu vấn đề

thực trạng hứng thú học môn Toán của HS THCS, kết quả cho thấy đa số HS trong diện điều tra chưa có hứng thú học môn Toán, từ đó tác giả đề xuất một

số biện pháp nhằm nâng cao hứng thú học toán của HS THCS.[7]

- Năm 2007, tác giả Nguyễn Thị Hồng Điệp với đề tài “Tạo hứng thú học

tập môn Toán cho HS THCS miền núi Tỉnh Lào Cai thông qua dạy học hình

học lớp 7”.[3]

- Năm 2011, tác giả Nguyễn Văn Lương với đề tài “Tăng cường hứng thú

học tập của HS trong dạy học Đại số lớp 10 THPT” đã đề xuất các biện pháp: thiết kế và áp dụng những tình huống gợi vấn đề, gợi động cơ trong dạy học, liên hệ toán học với thực tiễn, sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học Đại

việc ở mỗi người

- Theo cuốn Tâm lý học đại cương: “Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động”[6] Khái niệm này vừa nêu được bản chất của hứng thú, vừa gắn hứng thú với hoạt động của

cá nhân

Qua các tài liệu nghiên cứu, chúng tôi đưa ra khái niệm hứng thú như sau:

H ứng thú là thái độ của cá nhân đối với một đối tượng hay quá trình nào đó đã đem lại những khoái cảm, thích thú và kích thích mạnh mẽ đến tính tích cực cá nhân đòi hỏi họ có thể huy động sinh lực một cách trọn vẹn để thực hiện

Trang 19

1.2.2 Bi ểu hiện của hứng thú

Hứng thú trong hoạt động được biểu hiện trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống tâm lý con người Có thể rút ra những biểu hiện của hứng thú như sau:

- Luôn say mê, tích cực sáng tạo trong tìm hiểu nhận thức sự việc

- Có đầu óc tò mò khoa học, ham hiểu biết; sẵn sàng học hỏi và thường xuyên đặt câu hỏi để hiểu sâu vấn đề hơn

- Có nhu cầu vận dụng vào thực tiễn cuộc sống và thích làm những công

- Phát triển mạnh mẽ và thể hiện rõ nét những năng lực thuộc lĩnh vực

nhận thức như năng lực quan sát, năng lực tư duy, năng lực so sánh, năng lực tổng hợp, năng lực phân tích, năng lực khái quát hóa - trừu tượng hóa,…

- Hứng thú, phấn khởi trong quá trình tìm hiểu, biết phát huy sáng kiến hay cải tiến trong hoạt động

- Chủ động dành nhiều thời gian cho việc tìm hiểu, nhận thức

- Không nản chí khi gặp thất bại, biết rút ra bài học kinh nghiệm từ

những thất bại đó để đi đến thành công

- Thường xuyên thành công trong công việc

1.2.3 Vai trò c ủa hứng thú trong hoạt động của cá nhân

Hứng thú có vai trò quan trọng đối với mọi hoạt động của con người Cùng

với nhu cầu, hứng thú kích thích hoạt động, làm cho con người hoạt động tích cực, say mê và đem lại kết quả cao trong học tập và trong lao động

Hứng thú thể hiện thái độ đặc biệt của cá nhân, hành động say mê, tự giác tích cực của cá nhân đối với đối tượng của hoạt động Cho nên, khi có hứng thú đối với một công việc nào đó, con người sẽ thực hiện nó một cách dễ dàng và đạt kết quả cao Lúc đó con người sẽ cảm thấy thích thú khiến cho công việc trở nên nhẹ nhàng, tốn ít sức lực hơn và có sức tập trung cao độ

Trang 20

Như vậy, hứng thú làm tăng sức làm việc, mang lại cho con người niềm vui, niềm say mê trong lao động, làm tăng hiệu quả, chất lượng của hoạt động

Điều đó đã được L.X.Xôlôvâytrich khẳng định: “Bằng cách phát triển hứng thú

đối với các hình thức hoạt động khác nhau, chúng ta sẽ phát huy được một trong những năng lực quý giá nhất, cao quý nhất của con người là năng lực thích thú,

tập trung vào hoạt động, hoàn toàn say mê với công việc cần làm”.[10]

Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động và hành động một cách sáng tạo Khi được phát triển ở mức độ cao, sâu sắc, hứng thú biến thành nhu cầu cấp bách Lúc đó, cá nhân cảm thấy cần phải hành động để thỏa mãn nhu

cầu và tự giác bắt tay vào hành động

Về phương diện tâm lý học, hứng thú được xem như là một cơ chế bên trong, sự biểu hiện của động cơ thúc đẩy quá trình nhận thức của con người Trong đó, hứng thú nhận thức có thể được xem là sự biểu hiện của động cơ chủ đạo trong hoạt động học tập ở HS Kết quả học tập của HS không chỉ tùy thuộc vào những đặc điểm về mặt trí tuệ của cá nhân, mà còn tùy thuộc cả vào thái độ học tập, hứng thú nhận thức của các em Thực tiễn đã cho thấy ở từng HS cụ thể,

kết quả học tập các môn học rất khác nhau, do các em có hứng thú nhận thức đối

với mỗi môn học khác nhau Khi có hứng thú nhận thức đối với môn học nào, các

em sẽ học môn đó một cách thích thú và đạt kết quả cao hơn

1.3 H ứng thú học tập

1.3.1 Định nghĩa hứng thú học tập

Chúng tôi cho rằng:

H ứng thú học tập chính là thái độ lựa chọn đặc biệt của của người học đối

v ới đối tượng của hoạt động học tập, vì sự cuốn hút về mặt tình cảm và ý nghĩa thi ết thực của nó trong quá trình nhận thức và trong đời sống của cá nhân

1.3.2 Các lo ại hứng thú học tập

* H ứng thú gián tiếp trong hoạt động học tập:

H ứng thú gián tiếp trong hoạt động học tập là thái độ lựa chọn đặc biệt

c ủa chủ thể đối với đối tượng của hoạt động học tập do những yếu tố bên ngoài đối tượng của hoạt động này gây nên và gián tiếp liên quan đến đối tượng ấy

Trang 21

* H ứng thú trực tiếp trong hoạt động học tập

Nói đến hứng thú trực tiếp là nói đến sự lựa chọn riêng của chủ thể đối

với đối tượng của hoạt động học tập Tính lựa chọn của hứng thú này có nhiều mức độ khác nhau và mang đậm tính cá nhân Đó là sự lựa chọn đối tượng hoạt động nhận thức có ý nghĩa và hấp dẫn đạt tới mức độ chi phối xu hướng nhận

thức lâu dài của cá nhân

Nhiều nhà tâm lý học như: Th.Ribot, N.P.Dobrynin, X.L.Rubinstein,

G.I.Sukina coi hứng thú trực tiếp là khuynh hướng lựa chọn của chủ thể đối

với thế giới đối tượng

Hứng thú trực tiếp chủ yếu nhằm vào việc nhận thức, tiếp thu tri thức chứa đựng trong các môn học ở trường Ngoài ra, hứng thú trực tiếp không chỉ

nhằm vào nội dung của môn học cụ thể mà còn hướng vào quá trình đạt được

những kiến thức đó, nhằm vào hoạt động nhận thức Và trong quá trình hoạt động đó đã diễn ra việc vận dụng những phương pháp học tập đã tiếp thu được,

việc lĩnh hội được những phương pháp học tập mới và hoàn thiện nó cũng thuộc về đối tượng của hứng thú trực tiếp

Kế thừa những tư tưởng đúng đắn của các tác giả trên, thừa nhận quan

điểm của A.K.Marcôva và V.V.Kepkin về hứng thú trực tiếp trong học tập, có

thể định nghĩa: Hứng thú trực tiếp trong học tập là hứng thú đối với nội dung

tri th ức, quá trình học tập, và những phương pháp tiếp thu, vận dụng những tri

th ức đó.Nói cách khác, hứng thú trực tiếp là sự say mê hướng vào đối tượng và

cách thức chiếm lĩnh đối tượng đó

1.3.3 M ột số đặc điểm của hứng thú học tập

Là một dạng đặc biệt của hứng thú, hứng thú học tập có đầy đủ các đặc điểm

của hứng thú Bên cạnh đó, hứng thú học tập còn có những đặc điểm riêng của nó

Theo Sukina, hứng thú học tập có các đặc điểm sau: “Hứng thú học tập có

liên quan tới nhiều lĩnh vực khác nhau của hoạt động học tập Hứng thú có thể

rất rộng, phân tán nhằm thu lượm thông tin nói chung, hoặc nhận biết các mặt mới của đối tượng, hoặc đi sâu vào một lĩnh vực nhận thức nhất định, vào cơ sở

lý luận của nó, vào những mối liên hệ và qui luật quan trọng của nó” [21]

Trang 22

Hứng thú học tập còn có một đặc điểm quan trọng nữa là nhiệm vụ nhận

thức đòi hỏi chủ thể phải hoạt động tích cực, tìm tòi, sáng tạo mà không đòi hỏi

sự định hướng đơn giản vào cái mới, cái bất ngờ, những cái thường là trung tâm của nhiều hứng thú khác

Ngoài ra, A.K.Marcôva và V.V.Repkin cho rằng hứng thú học tập còn có

vấn đề mới

- Hứng thú học tập là sự biểu hiện của một trong những động lực mạnh nhất, thúc đẩy HS nghiên cứu đối tượng trong phạm vi của nó

- Nó luôn được nhận thức một cách rõ ràng, nhanh chóng, đúng đắn HS

giải thích đúng, có cơ sở những nguyên nhân tạo ra hứng thú của bản thân

- Được xuất hiện trong những xúc cảm trí tuệ lâu dài, có nội dung sâu sắc

xuất hiện dưới dạng rung động định kỳ Ở giai đoạn này trẻ chưa có hứng thú thật sự, do bị cuốn hút bởi nội dung vấn đề được GV trình bày, HS chú ý lắng

Trang 23

* Giai đoạn 2: Ở giai đoạn này những rung động định kỳ được lặp đi lặp

lại nhiều lần và được khái quát trở thành thái độ nhận thức có xúc cảm tích cực

v ới đối tượng tức là hứng thú được duy trì Thái độ nhận thức xúc cảm với đối

tượng sẽ thúc đẩy HS quan tâm tới những vấn đề đặt ra ở cả trong giờ học, lẫn sau khi giờ học đã kết thúc Nói cách khác, ở các em đã có sự nảy sinh nhu cầu

nhận thức, tìm tòi và phát hiện

* Giai đoạn 3: Nếu thái độ tích cực đó được duy trì củng cố, khả năng

tìm tòi độc lập ở các em thường xuyên được khơi dậy thì hứng thú có thể trở

thành xu hướng cá nhân Ở mức độ này, hứng thú học tập khiến cho toàn bộ lối

sống của HS được thay đổi HS dành nhiều thời gian rảnh rỗi của mình vào

việc tìm tòi thêm những kiến thức có liên quan đến vấn đề mình yêu thích, tham gia hoạt động ngoại khóa, đọc thêm sách Hứng thú bền vững là giai đoạn cao nhất của sự phát triển hứng thú học tập

Việc nắm được các giai đoạn hình thành và phát triển của hứng thú học

tập, sẽ giúp GV đưa ra những biện pháp hợp lý nhằm hình thành và phát triển

hứng thú học tập ở HS từ thấp đến cao

Khi phân tích các mức độ phát triển của hứng thú nhận thức trong hoạt

động học tập, Sukina và N.G.Marôzôva đều thống nhất rằng, hứng học tập có 4

mức độ sau: [21],[18]

- Có thể xem sự tò mò, tính ham hiểu biết, sự xúc cảm với đối tượng, với

hoạt động mà chủ thể lựa chọn (ở mức độ ban đầu còn rất cảm tính) là những

dấu hiệu ban đầu của hứng thú học tập Những biểu hiện này nảy sinh từ tuổi

vườn trẻ và phát triển mạnh ở tuổi mẫu giáo Đây chưa phải là hứng thú nhận thức thực sự, nhưng là những tiền đề quan trọng để hứng thú học tập nảy sinh

và phát triển

Trang 24

- Rung động nhận thức có tình huống, được tạo ra do những điều kiện cụ

thể, trực tiếp của tình huống hoạt động Đây là mức độ đầu của hứng thú học tập Nó thường dễ dàng bị dập tắt nếu không được củng cố, hệ thống hóa, nhờ

việc tổ chức những hoạt động nhận thức phong phú, sinh động

- H ứng thú học tập mang tính xúc cảm - nhận thức: Mức độ này đặc

trưng bởi sự bền vững và khái quát hơn, nhờ những xúc cảm, nhận thức tình

huống đã được củng cố và phát triển, nhưng nó vẫn chưa phải là hứng thú học

tập thực sự Mức độ này thường được biểu hiện rõ rệt và chủ yếu ở HS tiểu học

và đầu trung học cơ sở Ở giai đoạn này chủ yếu chủ thể hoạt động đã biểu lộ rõ

những xúc cảm bắt nguồn từ hoạt động nhận thức, những niềm vui nhận thức

do hoạt động học tập mang lại Hứng thú nhận thức ở lứa tuổi này liên quan chặt chẽ với thành tích học tập

- H ứng thú học tập thực sự được hình thành và trở nên bền vững: Ở giai

đoạn này hứng thú học tập trở nên sâu sắc hơn Ở mức độ này, chủ thể không chỉ có những xúc cảm, niềm vui, sự thỏa mãn do hoạt động nhận thức mang lại,

mà còn có cả ý chí bền vững, được biểu lộ rõ khi chủ thể gặp khó khăn trong quá trình nhận thức, tìm tòi cách thức hoàn thành nhiệm vụ và hiểu sâu sắc đối tượng Đây là mức độ phát triển cao của hứng thú học tập và HS thường đạt tới

nó ở cuối tuổi học phổ thông hoặc đầu tuổi học đại học

1.4 H ứng thú học tập môn Toán của HS THPT

Tâm lý của HS THPT trong học tập có một số đặc điểm sau:

- Hoạt động học tập đòi hỏi tính tích cực, năng động cao, đòi hỏi sự phát triển mạnh của tư duy lý luận

- Thông qua hoạt động học tập hình thành hứng thú học tập liên quan đến

xu hướng nghề nghiệp

- Hứng thú học tập được thúc đẩy bởi động cơ mang ý nghĩa thực tiễn, sau đó mới đến ý nghĩa xã hội của môn học

Trang 25

- Tính tích cực học tập của HS THPT được hình thành, thúc đẩy các em học tập và đạt kết quả cao các môn đã lựa chọn

- Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ của HS THPT như sau:

+ Tri giác có mục đích đã đạt tới mức rất cao

+ Ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời thể hiện rõ vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt

+ Các em đã tạo được tâm thế phân hoá trong ghi nhớ

+ Có sự thay đổi về tư duy: các em có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, chặt chẽ có căn cứ và mang tính nhất quán.[9]

* Khái ni ệm hứng thú học tập môn Toán

H ứng thú học môn Toán là thái độ lựa chọn đặc biệt của HS đối với quá trình, k ết quả lĩnh hội và vận dụng những tri thức Toán học trong quá trình học tập cũng như trong cuộc sống, do thấy được sự hấp dẫn và ý nghĩa thiết thực

c ủa môn Toán đối với bản thân

* Các bi ểu hiện của hứng thú học môn Toán

Hứng thú học môn Toán của HS được biểu hiện thông qua các dấu hiệu, các chỉ số cụ thể trong hoạt động học tập, trong đời của các em Người giáo viên

có thể quan sát và nhận biết được chúng Những biểu hiện này khá phong phú, đa dạng và nhiều khi còn phức tạp, chúng có thể đan xen vào nhau Đó là:

- Biểu hiện về mặt xúc cảm: HS có xúc cảm tích cực (yêu thích, say mê, ) đối với môn Toán HS thực sự yêu thích môn Toán, coi việc học Toán là

niềm vui, động lực để thúc đẩy việc học tập có hiệu quả

- Biểu hiện về mặt nhận thức: HS nhận thức đầy đủ, rõ ràng những nguyên nhân của sự yêu thích trên, những nguyên nhân đó có thể trực tiếp liên quan đến đối tượng của hoạt động học Toán, hoặc gián tiếp liên quan đến đối tượng trên, hoặc giúp HS biết suy nghĩ thông minh hơn

Trang 26

- Biểu hiện về mặt hành động: HS biểu hiện bằng các hành động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo không chỉ trong giờ lên lớp mà còn ở cả ngoài giờ lên lớp

Trong giờ lên lớp:

+ Say mê học tập, chăm chú nghe giảng

+ Ghi chép bài đầy đủ, cẩn thận

+ Tích cực suy nghĩ, hăng hái phát biểu xây dựng bài, hay nêu thắc mắc với GV

+ Tích cực làm việc cùng nhóm để hoàn thành nhiệm vụ

Ở ngoài lớp và ở nhà:

+ Độc lập và tự giác trong việc học tập

+ Học bài, làm bài đầy đủ

+ Tự giác làm thêm nhiều bài tập (ngoài yêu cầu của GV)

+ Tự sưu tầm, đọc thêm tài liệu, sách tham khảo có liên quan đến môn Toán

+ Tự nguyện tham gia các hoạt động ngoại khóa về Toán học

+ Tự tìm ra nhiều cách giải cho một bài toán (nếu có)

+ Tự tổng kết những phần, những chương mục đã học và tìm ra mối liên

hệ bên trong giữa chúng

+ Từng bước tập vận dụng những kiến thức toán học vào thực tiễn

+ Có sổ tay Toán học để ghi chép lại những phần tổng kết, những kiến thức đã học, những phương pháp giải toán hay đã sưu tầm được,

+ Biểu hiện về mặt năng lực và kết quả học tập: Năng lực học tập môn Toán sẽ ảnh hưởng đến kết quả học tập HS đạt được kết quả cao về môn Toán đặc biệt là điểm kiểm tra, thi đạt khá giỏi chiếm tỷ lệ cao Đó là động lực giúp

học sinh ngày càng thích thú học tập và ngày càng đạt kết quả cao.[13]

Trang 27

1.5 Th ực trạng hứng thú học tập môn Toán của HS lớp 11 tỉnh Lạng Sơn

1.5.1.1 Địa bàn và khách thể khảo sát

Để tiến hành nghiên cứu thực trạng hứng thú học tập môn Toán lớp 11của HS tỉnh Lạng Sơn, chúng tôi tiến hành sử dụng chủ yếu là phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến và phương pháp quan sát, đặc biệt là phương pháp điều tra đối với GV dạy môn Toán lớp 11 và HS lớp 11 tỉnh Lạng Sơn được phân bố cụ thể như sau:

B ảng 1.1 Phân bố khách thể khảo sát (điều tra)

1.5.1.2 Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu theo các bước sau:

- Thiết kế phiếu khảo sát điều tra GV và HS để đánh giá về thực trạng

hứng thú học tập của HS cũng như đánh giá mức độ cần thiết và mức độ khả thi

của các biện pháp nhằm kích thích hứng thú học tập môn Toán của HS lớp 11

- Chọn mẫu và khảo sát thử: 05 GV và 40 HS

- Tiến hành điều tra theo mẫu phiếu đã hoàn thiện

- Xử lý số liệu và biện luận kết quả nghiên cứu, đưa ra những kết luận khoa học

Để xử lý số liệu thu được, chúng tôi tiến hành như sau:

Trang 28

+ Đối với những câu hỏi tính tỉ lệ %, được tính như sau:

Số lượng ý kiến (theo mức độ)

Tỉ lệ % = ––––––––––––––––––––––––––––  100%

Số khách thể + Đối với những câu hỏi có 3 mức độ, cách tính điểm trung bình như sau:

Tổng điểm = M1×1 + M2×2+ M3×3

Trong đó: M1, M2, M3 là số lượng lựa chọn ở các mức độ

M1 là mức thấp nhất (Không bao giờ, Ít, Không cần thiết, Không hiệu quả); M2 là mức thứ hai (Đôi khi, Bình thường); M3 là mức cao nhất (Thường xuyên, Nhiều, Cần thiết, Hiệu quả);

Tổng điểm Điểm trung bình = ––––––––––––  100%

Chúng tôi tiến hành tìm hiểu hứng thú học tập của HS lớp 11 đối với môn Toán và thu được kết quả sau:

B ảng 1.2 Thực trạng thái độ đối với môn Toán của HS lớp 11 tỉnh Lạng Sơn

M ức độ H ọc sinh (120) Giáo viên (15)

Trang 29

Số liệu trên cho thấy: theo đánh giá của HS tỉ lệ rất thích và thích học môn Toán của HS ở mức khá cao chiếm 75%; trong khi đó GV đánh giá chỉ ở

mức 66,7% HS rất thích và thích học môn Toán Điều khác biệt này đã đƣợc lý

giải: đánh giá của HS thường nặng về cảm xúc, cảm tính, còn GV quan niệm

m ột HS có hứng thú học môn Toán phải thể hiện rõ các đặc điểm: thái độ tích

c ực, say mê tương đối ổn định và có hành vi tích cực, chủ động trong học Toán, chứ không chỉ ở mức độ “thích” một cách cảm tính, nhất thời Vậy, con

số 66,7% HS hứng thú học môn Toán theo đánh giá của GV là thực tế đáng ghi nhận và sẽ đƣợc kiểm chứng ở những phép đo tiếp theo

Hứng thú học Đại số - Giải tích của HS đƣợc biểu hiện thông qua các

dấu hiệu, các chỉ số cụ thể trong hoạt động học tập Nhà giáo dục có thể quan sát và nhận biết đƣợc chúng Những biểu hiện này khá phong phú, đa dạng và nhiều khi còn phức tạp, chúng có thể đan xen vào nhau

Bảng 1.3 Đánh giá của GV và HS về biểu hiện hứng thú đối với việc học

môn Toán c ủa HS lớp 11 tỉnh Lạng Sơn

Mức độ Tổng

điểm ĐTB

Thứ bậc

6 Làm hết bài tập ngay tại lớp 3 5 7 26 1.7 8 20 45 55 205 1.7 8

7 Trao đổi với bạn bè ngoài giờ học 4 6 5 29 1.9 7 25 57 38 217 1.8 7

8 Hỏi bài thầy cô giáo, đƣa ra những

cách gi ải khác 5 7 3 32 2.1 4.5 30 50 40 230 1.9 6

Trang 30

Bi ểu đồ 1.1 So sánh điểm trung bình đánh giá của GV và HS về biểu hiện

Theo sự đánh giá của GV và HS thì thái độ biểu hiện hứng thú học tập môn Toán ở mức trung bình (GV:X = 2.09; HS: X = 2.24) Điều đó cho thấy, thực chất hứng thú học tập đối với môn Toán của HS chưa cao Điều này rất phù hợp với những kết quả chúng tôi tiến hành, dự giờ thăm lớp trong các giờ Toán ở trường THPT, nơi chúng tôi tiến hành nghiên cứu

Theo đánh giá của GV chứng tỏ thái độ biểu hiện về hứng thú học môn Toán

của đa số HS được nghiên cứu chỉ ở mức thực hiện tốt trách nhiệm, nghĩa vụ trong quá trình học môn Toán, chứ chưa có những xúc cảm đặc biệt tạo chất xúc tác giúp cho môn Toán đạt kết quả cao

So sánh tự đánh giá của HS và đánh giá của GV về các thái độ biểu hiện hành động yêu thích môn Toán, kết quả cho thấy: Đánh giá của GV chặt chẽ hơn

so với tự đánh giá của HS Tuy nhiên, sự chênh lệch trong đánh giá giữa các khách thể khảo sát là không lớn (0.15 điểm), vẫn có sự tương đồng trong sự đánh giá ở mức độ nhất định, đều có ĐTB ở mức độ từ 1.71 - 2.41, điều đó cho thấy sự đánh giá này hoàn toàn phù hợp, ở cùng mức độ trung bình

1.5.4 Năng lực học tập môn Toán lớp 11của HS tỉnh Lạng Sơn

Trong quá trình nghiên cứu hứng thú học tập đối với môn Toán của HS, chúng tôi không chỉ nghiên cứu thái độ, biểu hiện trong quá trình học tập mà chúng tôi còn nghiên cứu kết quả học tập Trong thực tế cho thấy, biểu hiện của

Trang 31

hứng thú học tập môn Toán chính là một trong những nguyên nhân tạo nên năng lực và kết quả học tập Có thể nói, kết quả học tập là thước đo mức độ của hứng thú học tập của HS Khi chúng tôi đánh giá thực trạng kết quả học tập môn Toán HS lớp 11 trường THPT, HS chưa tiến hành thi học kỳ I, chính vì vậy, chỉ có thể đo năng lực học tập của HS

Chúng tôi tiến hành điều tra khả năng tự đánh giá năng lực học tập môn Toán của 120 HS lớp 11 THPT tỉnh Lạng Sơn, thu được kết quả như sau:

B ảng 1.4 Năng lực học tập môn Toán của HS lớp 11 tỉnh Lạng Sơn

Theo số liệu của bảng 1.4, biểu đồ 1.2 đã chỉ rõ: Đa số đạt kết quả loại trung bình (37.5%) và trung bình khá (28.3%) Số xếp loại giỏi và khá ít hơn trong đó loại giỏi (6.7%); khá (20.8%), HS xếp ở loại dưới trung bình vẫn còn chiếm 6.7%

Trang 32

Vậy, qua tìm hiểu kết quả học tập môn Toán của HS được nghiên cứu, chúng tôi có thể rút ra kết luận: kết quả học tập môn Toán tương đồng với biểu

hiện hoạt động hứng thú học môn Toán của HS.Đặc biệt hứng thú học tập môn Toán và năng lực học tập môn Toán tương đồng, hầu hết ở mức độ trung bình

Chúng tôi tiến hành tìm hiểu thực trạng các biện pháp kích thích hứng thú học tập Đại số - Giải tích của HS lớp 11 trường THPT tỉnh Lạng Sơn, kết quả thu được như sau:

B ảng 1.5 Đánh giá của HS về mức độ sử dụng và mức độ hiệu quả của

các bi ện pháp kích thích hứng thú học tập môn Toán

Stt Các biện pháp

M ức độ

s ử dụng (120HS) TĐ ĐTB Th b ậc ứ

M ức độ

hi ệu quả (120HS) T ổng

phương pháp kiểm tra, đánh

giá k ết quả học tập của HS

61 41 18 283 2.35 5 52 41 27 265 2.21 2

Trang 33

Bi ểu đồ 1.3 So sánh điểm trung bình đánh giá của HS về mức độ sử dụng và

m ức độ hiệu quả của các biện pháp kích thích hứng thú học tập môn Toán

Theo đánh giá của 120 HS, thì mức độ sử dụng các biện pháp kích thích

hứng thú học tập môn Toán của HS lớp 11 trường THPT tỉnh Lạng Sơn ở mức

độ cao với ĐTB là 2.44, lớn hơn 2.41 (Mức độ III) Tuy vậy, mức độ hiệu quả

lại được ở mức độ trung bình, ĐTB của các biện pháp là 2.18 nằm trong giới

hạn từ 1.71-2.41 Điều đó cho thấy sự chênh lệch giữa mức độ sử dụng và mức

độ hiệu quả của các biện pháp Điều đặc biệt là mức độ sử dụng một số biện pháp với mức độ cao như lựa chọn, phối hợp và vận dụng các phương pháp dạy

học tích cực, lựa chọn, phối hợp và sử dụng các phương tiện dạy học, lựa chọn nội dung dạy học phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh, gắn với thực

tiễn Điều đó cho thấy GV dạy môn Toán ở trường THPT cần quan tâm đến các biện pháp này hơn nữa để phát huy hiệu quả của nó, giúp kích thích hứng thú

học tập môn Toán của HS

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tiến hành nghiên cứu sự đánh giá của GV

về mức độ sử dụng và hiệu quả của các biện pháp kích thích hứng thú học tập môn Toán cho HS lớp 11 tại một số trường THPT tỉnh Lạng Sơn Kết quả thu được như sau:

2.41 2.43 2.55

2.45

2.35 2.23

Trang 34

B ảng 1.6 Đánh giá của GV về mức độ sử dụng và mức độ hiệu quả của các biện pháp kích thích hứng thú học tập môn Toán

Stt Các biện pháp

Mức độ

s ử dụng (15GV) TĐ ĐTB Thứ

bậc

Mức độ

hi ệu quả (15GV)

Tổng điểm ĐTB

Thứ bậc

Bi ểu đồ 1.4 So sánh điểm trung bình đánh giá của GV về mức độ sử dụng và

Trang 35

Nhìn vào kết quả bảng trên cho thấy, GV đánh mức độ sử dụng các biện pháp kích thích hứng thú học tập môn Toán của HS lớp 11 ở mức độ cao, điểm TBC là 2.62 nằm trong giới hạn từ 2.41-3.00 Tuy vậy, mức độ hiệu quả của các biện pháp kích thích hứng thú mới chỉ ở mức độ trung bình (điểm trung bình chung là 2.39 nằm trong giời hạn từ 1.71-2.40) Ta thấy có sự chênh lệch giữa mức độ sử dụng và mức độ hiệu quả các biện pháp kích thích hứng thú học tập môn Toán của HS Tuy nhiên, GV đánh giá khắt khe về hiệu quả của

việc lựa chọn, phối hợp và vận dụng các phương pháp dạy học tích cực Điều

đó cho thấy, GV cần quan tâm hơn nữa đến việc lựa chọn, vận dụng và phối

hợp các phương pháp dạy học có hiệu quả

Qua đánh giá của GV và HS, chúng ta thấy có sự chênh lệch về điểm

số, nhưng sự đánh giá mức độ sử dụng của các biện pháp kích thích hứng thú

học tập của HS đều được đánh giá ở mức độ cao, và mức độ hiệu quả đều được đánh giá ở mức độ trung bình Điều đó cho thấy, sự đánh giá của GV và

HS về các biện pháp kích thích hứng thú mà GV đã sử dụng là khá tương đồng và chặt chẽ

Để giải thích cho nguyên nhân ảnh hưởng đến mức độ hứng thú học tập môn Toán của HS lớp 11 trường THPT tỉnh Lạng Sơn, chúng tôi tiến hành điều tra, kết quả thu được ở bảng 1.7

Từ kết quả bảng 1.7 ta thấy: nhìn chung HS và GV mà chúng tôi nghiên cứu đều nhận thức khá tốt các nguyên nhân ảnh hưởng đến hứng thú học tập môn Toán của HS với điểm (GV: X = 2.63; HS: X = 2.64), đều có ĐTB chung lớn hơn 2.41

Trang 36

B ảng 1.7 Đánh giá của GV và HS về những nguyên nhân ảnh hướng đến mức độ hứng thú học tập môn Toán của HS lớp 11 THPT Tỉnh Lạng Sơn

7 Năng khiếu, năng lực học

Toán của bản thân HS 13 2 0 43 2.87 1 86 27 7 319 2.65 5

sự đánh giá khá tương đồng về mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân đối

với hứng thú học tập môn Toán của HS Mặt khác, phần lớn các nguyên

Trang 37

nhân ảnh hưởng đến mức độ hứng thú học tập môn Toán của HS có ĐTB lớn hơn 2.41, điều đó cho thấy, cả GV và SV đều đánh giá khá cao về mức độ ảnh hưởng của từng nguyên nhân

Bi ểu đồ 1.5 So sánh đánh giá của GV và HS về những nguyên nhân ảnh hưởng đến mức độ hứng thú học tập môn Toán của HS lớp 11 THPT Tỉnh Lạng Sơn

Thứ bậc và điểm trung bình của các nguyên nhân ảnh hưởng đến hứng thú học tập của HS theo đánh giá của GV và HS có sự khác nhau Tuy có sự đánh giá khác biệt giữa GV và HS về các nguyên nhân ảnh hưởng đến mức độ hứng thú cũng như không hứng thú học tập của HS, nhưng tựu chung lại vẫn đánh giá rất cao các yếu tố thuộc về GV nhất là việc sử dụng các phương pháp, phương tiện, kiểm tra, đánh giá cũng như lựa chọn các nội dung dạy học phù

hợp của GV, vai trò của GV trong việc điều phối và tổ chức hoạt động học tập cho HS đặc biệt là phương pháp dạy học GV không chỉ là nguồn thông tin, nguồn tri thức đáng tin cậy mà còn là người cố vấn, tổ chức, điều khiển hoạt động học tập của HS, khơi gợi nhu cầu, hình thành động cơ và kích thích nguồn

Trang 38

TI ỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trong chương 1, chúng tôi đã nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn phục vụ cho việc tiến hành đề tài Kết quả nghiên cứu cho thấy, hứng thú học

tập của HS có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến năng lực và kết quả học tập

của HS Hứng thú học tập môn Đại số - Giải tích lớp 11 của HS tỉnh Lạng Sơn

ở mức độ trung bình Một số biện pháp kích thích hứng thú học tập Đại số - Giải tích lớp 11 của HS ở trường THPT trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã được thực hiện nhưng hiệu quả chưa cao Đặc biệt là việc lựa chọn, phối hợp và vận

dụng các phương pháp dạy học tích cực còn nhiều hạn chế Đứng trước thực

trạng trên, việc nghiên cứu, lựa chọn một số biện pháp kích thích hứng thú học

tập môn Đại số - Giải tích lớp 11 của HS là phù hợp và cần thiết Đây cũng là một giải pháp hữu hiệu nhằm phát triển hứng thú học tập cho HS THPT ở tỉnh

Lạng Sơn, đồng thời nhằm đạt được mục tiêu dạy học ở nước ta hiện nay:

“PPDH phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng

t ạo của HS, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến

th ức vào thực tế, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú cho HS.”

Trang 39

2.1 M ột số định hướng sư phạm trong việc đề xuất các biện pháp

- Hướng tới việc thực hiện đề án đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào

tạo, quán triệt cách tiếp cận: xây dựng chương trình phát triển năng lực người học trong định hướng xây dựng chương trình và sách giáo khoa phổ thông sau 2015 Bám sát nội dung chương trình theo sách giáo khoa theo chuẩn kiến thức kĩ năng

- Đổi mới phương pháp dạy học hiện nay đã xác định “phương pháp dạy

học Toán trong nhà trường các cấp phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học, trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập sáng tạo của tư duy”

- Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội

- Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học

- Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng

của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc

Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động

xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học

Trang 40

2.2 M ột số biện pháp kích thích hứng thú học tập môn Toán cho HS trong

d ạy học Đại Số - Giải tích 11

l ẫn nhau, chia sẻ suy nghĩ trong học tập

* Cơ sở và vai trò của biện pháp

- Việc chia HS theo cặp hoặc theo nhóm nhỏ sẽ làm gia tăng cơ hội tham gia làm việc của HS Khi được yêu cầu hoàn thành một công việc cùng với một người bạn học, HS sẽ cảm thấy ít bị áp lực hơn là khi phải hoàn thành công việc đó một mình

- Sự hợp tác trong học tập sẽ tạo ra sự hứng thú học tập của HS bởi lẽ, trong học tập hợp tác HS được cùng nhau suy nghĩ về một chủ đề thú vị nào đó,

hoặc cùng nhau giải quyết vấn đề, HS có cơ hội giúp đỡ lẫn nhau để hoàn thành công việc chung của cả nhóm Các em có nhận thức tốt hơn, có điều kiện để hướng dẫn các bạn có nhận thức kém hơn Các em thấy được vai trò của mình đối với các bạn, được khẳng định mình đối với chúng bạn nên có được niềm vui, sự hứng thú vì sự có ích của mình đối với mọi người Những hoạt động khi làm việc theo nhóm giúp các em nhận ra đâu những cách cư xử đúng đắn và nhóm đang hoạt động hiệu quả ở mức độ nào Việc dành thời gian để dạy HS cách tận dụng tối đa quá trình làm việc nhóm sẽ làm cho việc học tập hợp tác

trở nên hiệu quả và hữu ích Hơn nữa, bằng cách nói ra những điều đang nghĩ,

mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải chỉ là sự tiếp nhận thụ động Theo cách này, các em dễ hiểu, dễ nhớ hơn vì được tham gia trao đổi, trình bày vấn đề nêu ra, cảm thấy hào hứng khi trong sự thành công chung của tập thể có phần đóng góp của mình; các em còn học được ở bạn tri thức, kĩ năng và còn được rèn luyện phong cách sống hòa

nhập (biết lắng nghe, biết phê phán, biết tham gia)

Ngày đăng: 10/06/2021, 11:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thanh Bình (1980), Bước đầu tìm hiểu nguyên nhân gây hứng thú học môn Tâm lý học của sinh viên khoa Tự nhiên, trường Đại học Sư phạm Hà Nội I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu nguyên nhân gây hứng thú học môn Tâm lý học của sinh viên khoa Tự nhiên
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 1980
2. Chương trình Giáo dục phát triển môn Toán của Bộ GD&ĐT(qđ 16/2006) 3. Nguy ễ n Th ị H ồng Điệ p(2007), Tạo hứng thú học tập môn Toán cho HSTHCS mi ề n núi t ỉ nh Lào Cai thông qua d ạ y h ọ c hình h ọ c l ớ p 7, Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo hứng thú học tập môn Toán cho HS "THCS miền núi tỉnh Lào Cai thông qua dạy học hình học lớp 7
Tác giả: Chương trình Giáo dục phát triển môn Toán của Bộ GD&ĐT(qđ 16/2006) 3. Nguy ễ n Th ị H ồng Điệ p
Năm: 2007
4. G. Polya (Ngườ i d ịch: Hà Sĩ Hồ, Hoàng Chúng, Lê Đình Phi, Nguyễ n H ữ u Chương) (1995), Gi ải bài toán như thế nào, NXB Giáo d ụ c Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải bài toán như thế nào
Tác giả: G. Polya (Ngườ i d ịch: Hà Sĩ Hồ, Hoàng Chúng, Lê Đình Phi, Nguyễ n H ữ u Chương)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
5. G. Polya, (Người dịch: Nguyễn Sĩ Tuyển, Phan Tất Đắc, Hồ Thuần, Nguy ễ n Gi ả n) (1997), Sáng t ạ o toán h ọ c, NXB Giáo d ụ c Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tạo toán học
Tác giả: G. Polya, (Người dịch: Nguyễn Sĩ Tuyển, Phan Tất Đắc, Hồ Thuần, Nguy ễ n Gi ả n)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
6. Ph ạ m Minh H ạ c, Ph ạ m Hoàng Gia, Tr ầ n Tr ọ ng Th ủ y, Nguy ễ n Quang U ẩ n (1997), Tâm lý h ọ c, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học
Tác giả: Ph ạ m Minh H ạ c, Ph ạ m Hoàng Gia, Tr ầ n Tr ọ ng Th ủ y, Nguy ễ n Quang U ẩ n
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
8. Nguyễn Bá Kim (2006), Phương pháp dạ y h ọ c môn Toán , NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn Toán
Tác giả: Nguyễn Bá Kim
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2006
9. Nguy ễn Bá Kim, Vương Dương Minh, Tôn Thân (1998 ), Khuyến khích m ộ t s ố ho ạt độ ng trí tu ệ c ủ a HS qua môn Toán ở trườ ng ph ổ thông, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Khuyến khích một số hoạt động trí tuệ của HS qua môn Toán ở trường phổ thông
Nhà XB: NXB Giáo dục
10. L.X.Xô-Lô-Vây- Trích (Lê Khánh Trườ ng d ị ch - 1975), T ừ h ứng thú đế n tài năng , NXB Ph ụ N ữ , Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ hứng thú đến tài năng
Nhà XB: NXB Phụ Nữ
11. Lu ậ t giáo d ụ c Vi ệ t Nam(2009), NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật giáo dục Việt Nam
Tác giả: Lu ậ t giáo d ụ c Vi ệ t Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
12. Nguy ễn Văn Lương (2011), Tăng cườ ng h ứ ng thú h ọ c t ậ p c ủ a HS trong d ạ y h ọc Đạ i s ố l ớ p 10 THPT, Lu ậ n văn thạ c s ỹ, Đạ i h ọc Sƣ phạ m Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường hứng thú học tập của HS trong dạy học Đại số lớp 10 THPT
Tác giả: Nguy ễn Văn Lương
Năm: 2011
13. Vương Dương Minh (2003), T ổ ch ứ c ho ạt độ ng c ủ a HS trong gi ờ h ọ c toán ở trườ ng Ph ổ thông, Tài liệu học chuyên ngành PPGD toán, Khoa Toán - Tin trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động của HS trong giờ học toán ở trường Phổ thông
Tác giả: Vương Dương Minh
Năm: 2003
14. Đức Minh, Phạm Cốc, Đỗ Thị Xuân (1960), Tâm lý h ọ c , Đại học SPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học
Tác giả: Đức Minh, Phạm Cốc, Đỗ Thị Xuân
Năm: 1960
15. Bùi Văn Nghị (2008), Phương pháp dạ y h ọ c nh ữ ng n ộ i dung c ụ th ể môn Toán , NXB Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học những nội dung cụ thể môn Toán
Tác giả: Bùi Văn Nghị
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
Năm: 2008
16. Bùi Văn Nghị (2009), V ậ n d ụ ng lí lu ậ n vào th ự c ti ễ n d ạ y h ọ c môn Toán, NXB Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng lí luận vào thực tiễn dạy học môn Toán
Tác giả: Bùi Văn Nghị
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
Năm: 2009
17. Phan Trọng Ngọ (2005), D ạ y h ọc và phương pháp d ạ y h ọ c trong nhà trườ ng , NXB Đại học Sƣ phạm, Vĩnh Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường
Tác giả: Phan Trọng Ngọ
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
Năm: 2005
18. N.G.Marôzôva (1989), H ứ ng thú nh ậ n th ứ c, Tài li ệ u dành cho giáo viên, Nguyễn Thế Hùng (dịch), NXB Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hứng thú nhận thức
Tác giả: N.G.Marôzôva
Nhà XB: NXB Tri thức
Năm: 1989
21. Su-ki-na (1971) (Nguy ễn Văn Diên dị ch - 1975), V ấn đề h ứ ng thú nh ậ n th ứ c trong khoa h ọ c giáo d ụ c, NXB Giáo d ụ c, Mockva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề hứng thú nhận thức trong khoa học giáo dục
Nhà XB: NXB Giáo dục
22. T ổ tâm lý h ọ c (1974), H ứ ng thú h ọ c t ậ p c ủ a HS c ấp III đố i v ớ i các môn h ọ c c ụ th ể , Khoa tâm lý giáo d ụ c , ĐH SPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hứng thú học tập của HS cấp III đối với các môn học cụ thể, Khoa tâm lý giáo dục
Tác giả: T ổ tâm lý h ọ c
Năm: 1974
23. Hoàng Tr ọ ng, Chu Nguy ễ n M ộ ng Ng ọ c (2005), Phân tích d ữ li ệ u nghiên c ứ u v ớ i SPSS, NXB Th ố ng kê, Hà N ộ i.Tài li ệ u trên internet 24. http://doc.edu.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS", NXB Thống kê, Hà Nội. Tài liệu trên internet 24
Tác giả: Hoàng Tr ọ ng, Chu Nguy ễ n M ộ ng Ng ọ c
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2005
7. Tr ầ n Công Khanh (2000), Th ự c tr ạ ng h ứ ng thú h ọ c t ậ p môn Toán c ủ a HS THCS Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w