Các ý kiến liên quan đến công tác giám sát ảnh hưởng tới kỹ năng tư vấn sức khỏe của Nhân viên y tế thôn bản ..... Để có cơ sở xây dựng giải pháp cải thiện năng lực cho YTTB ở 20 xã đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC
HOÀNG TƯ NGHĨA
K Ỹ NĂNG TƯ VẤN SỨC KHỎE
C ỦA NHÂN VIÊN Y TẾ THÔN BẢN
T ẠI HUYỆN ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ M ỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
ơ
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC
HOÀNG TƯ NGHĨA
K Ỹ NĂNG TƯ VẤN SỨC KHỎE
C ỦA NHÂN VIÊN Y TẾ THÔN BẢN
T ẠI HUYỆN ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ M ỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất
kỳ luận văn nào khác
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2017
Trang 4Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn tới Đảng uỷ, Ban Giám hiệu, lãnh đạo các phòng chức năng, bộ môn và toàn thể giảng viên Trường Đại học Y- Dược, Đại học Thái Nguyên đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập khóa học Cao học, chuyên ngành Y học dự phòng tại trường
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm sâu sắc của Ban Giám hiệu trường Cao đẳng y tế Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, động viên khích lệ kịp thời để tôi hoàn thành khóa học
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Trung tâm y tế huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên - nơi đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu cho
nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn tới Tiến sĩ Nguyễn Quang Mạnh -
người thầy - nhà khoa học đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các Thầy, Cô trong Hội đồng khoa học đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho luận văn
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
đã động viên, giúp đỡ và khuyến khích tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2017
Trang 5CBYT Cán bộ y tế
NVYTTB Nhân viên y tế thôn bản
CSBVSKND Chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Thực trạng mạng lưới y tế thôn bản hiện nay 3
1.1.1 Tầm quan trọng của mạng lưới y tế thôn bản 3
1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của nhân viên y tế thôn, bản 7
1.2 Vấn đề xã hội hoá y tế trong xây dựng Y tế thôn bản hiện nay 8
1.2.1 Khái niệm xã hội hoá 8
1.2.2 Thực hiện các hoạt động xã hội hóa của Nhân viên y tế thôn bản 9
1.3 Hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe của Y tế thôn bản 12
1.4 Kiến thức, thái độ, kỹ năng của Nhân viên y tế thôn bản 15
1.4.1 Kiến thức 15
1.4.2 Thái độ 18
1.4.3 Kỹ năng 19
1.5 Một số yếu tố liên quan đến kỹ năng tư vấn của Nhân viên Y tế thôn bản 21
1.5.1 Các yếu tố thuộc Y tế thôn bản 21
1.5.2 Các yếu tố thuộc đối tượng được tư vấn 28
1.5.3 Các yếu tố khác 28
Chương 2.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng nghiên cứu 31
2.2 Đi ̣a điểm và thời gian nghiên cứu 31
2.3 Phương pháp nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu 31
2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 31
2.4.1 Cỡ mẫu 31
2.4.2 Phương pháp chọn mẫu 33
2.5 Định nghĩa biến số 33
2.6 Công cụ thu thập số liệu và đo lường đánh giá 34
2.6.1 Công cụ 34
2.6.2 Đo lường, đánh giá 35
Trang 72.9 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 37
2.9.1 Xử lý số liệu 37
2.9.2 Phân tích số liệu 37
2.10 Khía cạnh đa ̣o đức trong nghiên cứu 37
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
3.1 Đặc điểm chung của Nhân viên y tế thôn bản tại huyê ̣n Định Hóa tỉnh Thái Nguyên năm 2016 38
3.2 Kỹ năng tư vấn sức khỏe của Nhân viên y tế thôn bản bản tại huyê ̣n Định Hóa tỉnh Thái Nguyên năm 2016 40
3.3 Một số yếu tố liên quan đến kỹ năng tư vấn sức khỏe của Nhân viên Y tế thôn bản 50
Chương 4 BÀN LUẬN 61
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 61
4.2 Kiến thức, thái độ và kỹ năng tư vấn sức khỏe của Nhân viên y tế thôn bản bản 63
4.2.1 Kiến thức 63
4.2.2 Thái độ 64
4.2.3 Kỹ năng 65
4.3 Một số yếu tố liên quan đến kỹ năng tư vấn sức khỏe của Nhân viên Y tế thôn bản 67
4.4 Điểm mạnh và những hạn chế của nghiên cứu 71
KẾT LUẬN 72
KHUYẾN NGHỊ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH SÁCH NHÂN VIÊN Y TẾ THÔN BẢN
Trang 8Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n=330) 38
Bảng 3.2 Đặc điểm chung của đối tượng (n=330) 39
Bảng 3.3 Kiến thức của Nhân viên y tế thôn bản về trình tự các bước tư vấn sức khỏe (n=330) 40
Bảng 3.4 Kiến thức của Nhân viên y tế thôn bản về mục đích của các bước tư vấn sức khỏe (n=330) 41
Bảng 3.5 Thái độ của Nhân viên y tế thôn bản hướng tới chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em 44
Bảng 3.6 Thái độ của Nhân viên y tế thôn bản hướng tới vệ sinh môi trường và sử dụng nước 45
Bảng 3.7 Thái độ của Nhân viên y tế thôn bản hướng tới tư vấn sử dụng thuốc nam, phòng chống HIV/AIDS và kế hoạch hóa gia đình 46
Bảng 3.8 Kỹ năng của Nhân viên y tế thôn bản để đạt được mối quan hệ 47
Bảng 3.9 Kỹ năng của Nhân viên y tế thôn bản để thu thập được thông tin 48
Bảng 3.10 Kỹ năng của Nhân viên y tế thôn bản để đạt được thỏa thuận 49
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa tuổi, giới và trình độ học vấn với kỹ năng tư vấn sức khỏe của Nhân viên y tế thôn bản 50
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa thâm niên công tác, thời gian đào tạo và công tác kiêm nhiệm với kỹ năng tư vấn sức khỏe của Nhân viên y tế thôn bản 52
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa kiến thức và thái độ với kỹ năng tư vấn sức khỏe của Nhân viên y tế thôn bản 54
Trang 9Biều đồ
Biểu đồ 3.1: Kiến thức của Nhân viên y tế thôn bản 43
Biểu đồ 3 2: Thái độ của Nhân viên y tế thôn bản 45
Bi ểu đồ 3.3: Kỹ năng tư vấn sức khỏe của Nhân viên y tế thôn bản 49
Hộp
Hộp 3.1 Các ý kiến liên quan đến tuổi, giới tính, trình độ học vấn ảnh
hưởng tới kỹ năng tư vấn sức khỏe của Nhân viên y tế thôn bản 51
Hộp 3.2 Các ý kiến liên quan đến thâm niên công tác, thời gian đào tạo và
công tác kiêm nhiệm ảnh hưởng tới kỹ năng tư vấn của Nhân viên y tế thôn bản 53
Hộp 3.3 Các ý kiến liên quan đến kiến thức và thái độ ảnh hưởng tới kỹ
năng tư vấn sức khỏe của Nhân viên y tế thôn bản 55
Hộp 3.4 Các ý kiến liên quan đến ngôn ngữ, giao tiếp ảnh hưởng tới kỹ
năng tư vấn sức khỏe của Nhân viên y tế thôn bản 56
Hộp 3.5 Các ý kiến liên quan đến phong tục tập quán ảnh hưởng tới kỹ
năng tư vấn sức khỏe của Nhân viên y tế thôn bản 57
Hộp 3.6 Các ý kiến liên quan đến phụ cấp ảnh hưởng tới kỹ năng tư vấn
sức khỏe của Nhân viên y tế thôn bản 58
Hộp 3.7 Các ý kiến liên quan đến phương tiện hỗ trợ ảnh hưởng tới kỹ
năng tư vấn sức khỏe của Nhân viên y tế thôn bản 59
Hộp 3.8 Các ý kiến liên quan đến công tác giám sát ảnh hưởng tới kỹ
năng tư vấn sức khỏe của Nhân viên y tế thôn bản 60
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Y tế thôn bản (YTTB) nằm trong hệ thống y tế cơ sở, đóng vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu (CSSKBĐ) Nhân viên y tế thôn bản là những người gần dân nhất Họ sống ngay tại thôn, nắm chắc được tình hình đời sống và bệnh tật ở mỗi gia đình YTTB là tai mắt, là cánh tay, là đôi chân của Trạm y tế (TYT) xã trong các hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân Vì vậy YTTB có ý nghĩa quan trọng và rất cần thiết trong việc chăm sóc sức khoẻ (CSSK) tại cộng đồng, nhất là khu vực nông thôn
Thấy vai trò quan trọng của YTTB trong công tác CSSKBĐ tại cộng đồng, Đảng, Chính phủ, Bộ Y tế đã ra nhiều Nghị quyết, Chỉ thị và Quyết định về tăng cường và củng cố mạng lưới Y tế cơ sở trong đó có YTTB Một trong những văn bản có ý nghĩa quan trọng đối với YTTB là Thông tư
số 39/ 2010/ TT- BYT ngày 10/ 9/ 2010 của Bộ trưởng Bộ y tế qui định rõ nhiệm vụ của Y tế thôn bản [34] Thông tư đó đã giúp cho YTTB hiểu rõ chức năng nhiệm vụ của họ trong công tác chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, là tiêu chí phấn đấu để họ hoạt động ngày một hiệu quả hơn
Tư vấn sức khỏe là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng của YTTB [8] Tuy nhiên, kỹ năng tư vấn sức khỏe của YTTB, đặc biệt là YTTB ở vùng sâu vùng xa còn yếu kém Kết quả nghiên cứu của La Đăng Tái (2011) tại huyện Na Hang, Tuyên Quang cho thấy có trên 80% YTTB thực hiện kỹ năng tư vấn sức khỏe chưa đạt [31] Một nghiên cứu khác của tác giả Giang Lộc Vinh (2011) tại huyện Yên Minh, Hà Giang cho thấy tất
cả (100%) YTTB hiểu biết về các vấn sức khỏe ở mức yếu kém [40] Bên cạnh đó, vấn đề khó khăn trong việc di chuyển, bất đồng ngôn ngữ, phong tục tập quán lạc hậu, nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế Đây là
Trang 11những yếu tố chính ảnh hưởng đến kỹ năng tư vấn của YTTB ở vùng sâu vùng xa
Định Hóa tỉnh Thái Nguyên là huyện miền núi vùng sâu vùng xa, nơi
có 20 xã được Chính phủ phê duyệt xã đặc biệt khó khăn [28] Nơi đây, người dân chủ yếu là dân tộc thiểu số, trình độ văn hóa thấp, giao thông đi lại khó khăn, điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội còn nhiều bất cập Những hạn chế này đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác TT-GDSK cho người dân nơi đây Trong đó, có hoạt động tư vấn sức khỏe của YTTB
Để có cơ sở xây dựng giải pháp cải thiện năng lực cho YTTB ở 20
xã đặc biệt khó khăn nơi đây, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Kỹ
năng tư vấn sức khỏe của Nhân viên y tế thôn bản tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên và một số yếu tố liên quan”
Với 2 mục tiêu sau:
1 Đánh giá kỹ năng tư vấn sức khỏe của Nhân viên y tế thôn bản tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên năm 2016
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến kỹ năng tư vấn sức khỏe của
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.1 Tầm quan trọng của mạng lưới y tế thôn bản
Hệ thống tổ chức y tế ở nước ta được chia thành 4 tuyến: Tuyến Trung ương, tuyến tỉnh, tuyến huyện và tuyến xã Mạng lưới y tế cơ sở được xác định bao gồm y tế tuyến huyện (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) và y tế tuyến xã (phường, thị trấn) trong đó có y tế thôn, bản [20]
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Mạng lưới y tế cơ sở đã được khôi phục và bước đầu hoạt động có hiệu quả Mục tiêu chăm sóc sức khỏe nhân dân trong giai đoạn mới đã được thể hiện rõ trong nghị quyết số 35/2001/QĐ-TTg ngày 19/3/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược chăm sóc và bảo vệ
sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001 - 2010 “Phấn đấu để mọi người dân được
hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng Mọi người đều được sống trong cộng đồng an toàn, phát triển tốt về thể chất và tinh thần Giảm tỷ lệ mắc, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ và phát triển giống nòi” Chỉ thị số 06-CT/TW ngày
22/01/2002 của Ban bí thư Trung ương Đảng về “Củng cố và hoàn thiện
mạng lưới y tế cơ sở” trong đó yếu tố nhân lực y tế có vai trò rất quan trọng
trong việc cung cấp các dịch vụ y tế có chất lượng phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân [13]
Từ chỗ xác định sức khỏe là vốn quí của mỗi con người, mỗi dân tộc và Quốc gia ở tất cả các nước trên thế giới có hệ thống chính trị khác nhau Ở nước ta từ khi Cách mạng tháng 8 thành công năm 1945, Đảng và Nhà nước
ta luôn quan tâm đến sức khỏe của nhân dân, chất lượng cuộc sống và sự phát
Trang 13triển của giống nòi Không những Việt Nam mà các nước trên thế giới vấn đề sức khỏe, chất lượng cuộc sống luôn được chú ý và quan tâm Tuyên ngôn Alma Ata 1978 của Tổ chức y tế thế giới [56] về Chăm sóc sức khỏe ban đầu
có nêu 8 nội dung chủ yếu được thông qua đó là: Giáo dục sức khỏe; Dinh dưỡng và vệ sinh thực phẩm; Cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường; Bảo
vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em kế hoạch hoá gia đình; Tiêm chủng phòng bệnh cho trẻ em; Phòng chống các bệnh lưu hành ở địa phương; Chữa bệnh tại nhà và
xử trí các vết thương thông thường và Đảm bảo thuốc thiết yếu đặc biệt để phù hợp với đặc thù của Việt Nam Nước ta bổ sung thêm 2 nội dung là: Quản
lý sức khỏe và củng cố mạng lưới y tế cơ sở [20], [6]
Mười nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu nêu trên đều thực hiện qua mạng lưới y tế cơ sở mà Nhân viên y tế thôn bản đóng vai trò rất quan trọng Trải qua hơn nửa thế kỷ qua trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, Đảng ta luôn lấy phòng bệnh là chủ động là trọng tâm chính phòng bệnh hơn chữa bệnh nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu Chúng ta xây dựng một mạng lưới y tế rộng khắp đi kèm một loạt chính sách lớn nhằm thực hiện tốt công tác bảo vệ sức khỏe cho nhân dân như: Quyết định 15/CP ngày 14/1/1975 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng chính phủ) và các văn bản tiếp theo đã xác định, y tế cơ sở có một vị trí chiến lược trong chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân vì y tế cơ sở là đơn vị gần dân nhất, giải quyết gần 80% khối lượng công việc phục vụ y tế tại chỗ Quyết định 58/TTg ngày 3/2/1994 và quyết định 131/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 4/5/1995 quy định một số vấn đề về tổ chức y tế cơ sở Quyết định 122/QĐ - TTg ngày 10/01/2013 phê duyệt chiến lược quốc gia về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến 2030 Quyết định 147/2000/QĐ - TTg và Chương trình hành động Quốc gia trẻ em Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 (QĐ 23/2001/ QĐ - TTg) đều là nội dung Chăm sóc sức khỏe ban đầu Xây dựng mạng lưới y tế cơ sở thực hiện các dịch vụ
Trang 14chăm sóc sức khỏe ban đầu có chất lượng và thực hiện sức khỏe cho mọi người, tiến tới thực hiện công bằng trong khám chữa bệnh [6],[12], [7]
Xây dựng mạng lưới y tế cơ sở cùng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu tại cộng đồng có chất lượng hiệu quả, là hướng đi đúng đắn của Đảng
và Nhà nước ta trong chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, làm cho mọi người dân đều có điều kiện thuận lợi tiếp cận các dịch vụ y tế, nhất là vùng sâu vùng xa
Ngày nay trong điều kiện kinh tế thị trường, khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ngày càng xa, khoảng cách giữa nông thôn và thành thị cũng còn nhiều khác nhau Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách đối với vùng sâu, vùng xa, trong ngành y tế có thuốc ở các xã có chương trình
135 đã giải quyết một phần khó khăn về thuốc chữa bệnh cho nhân dân tại địa phương Đất nước đang chuyển tiếp theo công nghiệp hoá và hiện đại hoá, phương tiện giao thông hiện đại giao lưu quốc tế thuận lợi, tạo điều kiện thuận lợi cho một số bệnh nguy hiểm dễ lây lan thành dịch bệnh lớn Do vậy công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, phát hiện sớm dịch bệnh ở y tế cơ sở là rất cần thiết, cho cả khu vực thành thị và nông thôn, tại thành thị nơi tập trung đông người đi lại thuận tiện, việc phát hiện dịch bệnh sớm, dập tắt dịch bệnh kịp thời là rất cần thiết, vì chi phí cho khám chữa bệnh thấp, mà người đầu
tiên phát hiện là y tế cơ sở, đặc biệt là y tế thôn bản
Quá trình hình thành tổ chức và hoạt động của Y tế thôn bản cho ta
thấy: Trong thời kỳ bao cấp, đội ngũ "Vệ sinh viên thôn, đội" gắn liền với hợp
tác xã và đội sản xuất nông nghiệp Chế độ đãi ngộ của người CBYT được đảm bảo, cán bộ trạm y tế được hưởng sinh hoạt phí tính bằng thóc tương đương với cán bộ chủ chốt của xã, hợp tác xã Cán bộ y tế đội sản xuất cũng được hưởng sinh hoạt phí tương đương với đội trưởng sản xuất Giai đoạn này hoạt động YTTB có nề nếp, góp phần CSSKND Từ sau khoán 10, nhất là chuyển đổi cơ chế quản lý trong nông nghiệp, ruộng đất khoán tới hộ gia đình và người nông
Trang 15dân, ai cũng lo canh tác trên mảnh đất của mình, không còn ai chăm lo cho đội ngũ YTTB Vì thế, mạng lưới y tế cơ sở không đảm bảo về chế độ đãi ngộ đã lần lượt tan rã Trước tiên là đội ngũ y tế đội sản xuất, sau là đội ngũ cán bộ trạm y tế, nhiều trạm chỉ còn làm cầm chừng Việc xuống cấp của mạng lưới y
tế cơ sở làm cho sức khỏe của nhân dân bị đe doạ Các chương trình y tế phải triển khai tới tận người dân nhưng thường đến xã là bị dừng lại, chỉ có một số chương trình có kinh phí thì mới được triển khai như tiêm chủng mở rộng sinh
đẻ kế hoạch
Trong khi đó, số thôn bản ở nước ta rất lớn, hiện tại nước ta có gần
100.000 thôn, bản thuộc 10.365 xã, phường, thị trấn Trong đó:
- Có 17.853 bản thuộc 1.870 xã vùng cao
- Có 19.061 thôn bản thuộc 2.032 xã miền núi
- Có 4.446 ấp thuộc 692 xã vùng sâu
- Có 5.232 thôn bản thuộc 575 xã vùng trung du
- Có 3.112 thôn bản thuộc 342 xã biên giới
- Có 170 thôn bản thuộc 31 xã hải đảo
Đặc biệt cả nước có 1.715 xã và 1.072 bản thuộc khu vực III là khu vực đặc biệt khó khăn – khu vực rất cần có YTTB hoạt động
Bình quân ở tuyến y tế xã số nhân viên trung bình là 5 người /trạm y tế
Y tế của ta có diện bao phủ rộng, nhưng sự phân bố còn chưa đồng đều, nhiều trạm y tế xã hoạt động còn yếu, chưa đi sâu, bám chắc được ở tuyến thôn bản
để đáp ứng kịp thời được các nhu cầu chăm sóc và BVSKND ở cộng đồng
Theo Bộ y tế cần phải nâng cao 100% cán bộ truyền thông GDSK của Trạm Y tế xã và 95% nhân viên y tế thôn/bản được tập huấn, bồi dưỡng về kiến thức và kỹ năng truyền thông GDSK [35]
Cơ cấu và chất lượng của YTTB rất đa dạng trong đó phần lớn là cán
bộ quân dân y về nghỉ chế độ, đa số tuổi đã cao và chưa được bồi dưỡng về kiến thức y tế cộng đồng, hoạt động của họ là KCB thông thường tại nhà Số
Trang 16YTTB đang hoạt động phân bố không đồng đều giữa các vùng, tập trung chủ yếu ở đồng bằng, còn vùng cao, miền núi, trung du, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng căn cứ cách mạng, vùng dân tộc thiểu số là những vùng khó khăn có rất ít và còn nhiều nơi chưa có [14]
1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của nhân viên y tế thôn, bản
Nhân viên y tế thôn, bản, buôn, ấp (gọi chung là y tế thôn bản) là nhân viên y tế tại thôn bản, có chức năng chăm sóc sức khỏe nhân dân trong thôn bản Nhiệm vụ của YTTB được quy định theo thông tư số 07/2013/TTBYT ngày 08/03/2013 của bộ trưởng Bộ Y tế [8], bao gồm:
1 Nhiệm vụ của nhân viên y tế thôn, bản làm công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu [34]:
a) Tuyên truyền, giáo dục sức khỏe tại cộng đồng:
- Thực hiện tuyên truyền, phổ biến kiến thức bảo vệ sức khỏe, vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm;
- Hướng dẫn một số biện pháp chăm sóc sức khỏe ban đầu; phòng, chống dịch bệnh tại cộng đồng
- Tuyên truyền, giáo dục người dân về phòng, chống HIV/AIDS
- Vận động, cung cấp thông tin, tư vấn về công tác dân số - KHHGĐ b) Tham gia thực hiện các hoạt động chuyên môn về y tế tại cộng đồng:
- Phát hiện, tham gia giám sát và báo cáo tình hình dịch, bệnh truyền nhiễm, bệnh không lây nhiễm, bệnh xã hội, bệnh truyền qua thực phẩm tại thôn, bản
- Tham gia giám sát chất lượng nước dùng cho ăn uống, sinh hoạt; công trình vệ sinh hộ gia đình, nơi công cộng tại thôn, bản
- Tham gia triển khai thực hiện các phong trào vệ sinh phòng bệnh, an toàn thực phẩm, nâng cao sức khỏe cộng đồng, xây dựng làng văn hóa sức khỏe
c) Chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và kế hoạch hoá gia đình:
Trang 17- Tuyên truyền, vận động phụ nữ mang thai đến trạm y tế xã đăng ký
quản lý thai, khám thai và đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để sinh đẻ; xử trí đẻ rơi cho phụ nữ có thai không kịp đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để sinh đẻ
- Hướng dẫn, theo dõi chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh tại nhà
trong 06 tuần đầu sau khi sinh đẻ
- Hướng dẫn một số biện pháp đơn giản về theo dõi, chăm sóc sức khỏe trẻ em và phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 05 tuổi
- Hướng dẫn thực hiện kế hoạch hoá gia đình, cung cấp và hướng dẫn
sử dụng bao cao su, viên thuốc uống tránh thai theo quy định của Bộ Y tế
d) Sơ cứu ban đầu và chăm sóc bệnh thông thường:
- Thực hiện sơ cứu ban đầu các cấp cứu và tai nạn
- Chăm sóc một số bệnh thông thường tại cộng đồng
- Tham gia hướng dẫn chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, người khuyết tật, người mắc bệnh xã hội, bệnh không lây nhiễm tại gia đình
đ) Tham gia thực hiện các chương trình y tế tại thôn, bản
e) Vận động, hướng dẫn nhân dân nuôi trồng và sử dụng thuốc nam tại gia đình để phòng và chữa một số chứng, bệnh thông thường
g) Tham gia giao ban định kỳ với trạm y tế xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là trạm y tế xã); tham gia các khoá đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về chuyên môn do cơ quan y tế cấp trên tổ chức để nâng cao trình độ
h) Quản lý và sử dụng hiệu quả túi y tế thôn, bản
i) Thực hiện ghi chép, báo cáo kịp thời, đầy đủ theo hướng dẫn của TYT xã
1.2 Vấn đề xã hội hoá y tế trong xây dựng Y tế thôn bản hiện nay
1.2.1 Khái niệm xã hội hoá
Cần được hiểu là sự phối hợp hành động một cách có kế hoạch của mọi lực lượng xã hội theo một định hướng, một chiến lược quốc gia để giải quyết
Trang 18một vấn đề của xã hội Bản chất của quá trình xã hội hoá công tác CSSKND
Xã hội hoá CSSKND có nghĩa là sự phối hợp hành động của toàn xã hội vì sức khỏe nhân dân trong đó trách nhiệm trước hết thuộc về các nhà lãnh đạo cộng đồng, còn sự tham gia tích cực, chủ động của cộng đồng, của mỗi người dân là yếu tố quyết định bảo đảm tính bền vững và sự thành công của quá trình này
1.2.2 Thực hiện các hoạt động xã hội hóa của Nhân viên y tế thôn bản
Để thực hiện xã hội hoá công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, chúng ta phải giải quyết được 3 nội dung chính sau [27]:
- Phải làm cho cộng đồng hiểu để cộng đồng tham gia CSSK
- Cộng đồng phải được hưởng các quyền lợi về CSSK
- Phải huy động được sự đóng góp của cộng đồng cho các hoạt động CSSK
Trong tuyên ngôn Alma Ata của Tổ chức Y tế Thế giới có ghi rõ "Sức
khỏe được định nghĩa là một trạng thái thoải mái toàn diện của con người về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không đơn thuần chỉ là một trạng thái không
có bệnh tật" Sức khỏe là một sản phẩm được tạo ra trên một cơ thể không
bệnh tật, sống hài hoà với môi trường tự nhiên và xã hội quanh mình Do vậy, vấn đề sức khỏe của con người là một vấn đề xã hội nên cần phải được giải
Trang 19quyết bằng các giải pháp xã hội, nói một cách khác cần phải xã hội hoá công
tác CSSKND
- Nghị quyết số 90/CP của Chính phủ ngày 21/8/1997 [27] về phương hướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục - y tế - văn hoá cũng nêu rõ: "Xã hội hoá các hoạt động giáo dục - y tế - văn hoá là cuộc vận động
và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội nhằm từng bước nâng cao hưởng thụ về giáo dục, y tế, văn hoá và sự phát triển về thể
chất và tinh thần của nhân dân"
- Trong điều 3 chương I của Nghị định số 73/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/9/1999 về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt
động trong lĩnh vực giáo dục, văn hoá, y tế, thể thao, đã ghi:"Nhà nước
khuyến khích các tổ chức và cá nhân huy động các nguồn lực trong nhân dân vào trong các tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế để phát triển các hoạt
động giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao theo đúng quy định của pháp luật"
Việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe là nhu cầu thiết yếu của mỗi người dân và của cả cộng đồng Đây không chỉ là nhiệm vụ của ngành y tế mà còn
là trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng và Chính quyền của các đoàn thể quần chúng và tổ chức xã hội Vì vậy thực hiện xã hội công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân là cần thiết và phù hợp với xu thế thời đại Nội dung xã hội hoá công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người là động viên và tổ chức tốt sự tham gia tích cực, chủ động của mọi người với tư cách cộng đồng và tư cách cá nhân, trên cả 2 mặt hoạt động và đóng góp
Các Đại hội Đảng lần thứ VIII, IX, X khẳng định, các vấn đề chính sách xã hội đều phải giải quyết theo tinh thần xã hội hoá Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn đề xã hội
Trang 20Cùng với sự phối hợp liên ngành, công tác CSBVSKND phải được hỗ trợ bằng sự huy động các lực lượng của cộng đồng cùng tham gia
Xã hội hoá công tác CSSKND cần phải được coi là một tư tưởng chiến lược có tính lâu dài, toàn diện, là một giải pháp xã hội có tính liên ngành cao nhằm huy động các lực lượng xã hội Tham gia một cách tích cực để giải
quyết một vấn đề hết sức quan trọng trong chiến lược con người
Trong Điều 1 của luật BVSKND đã chỉ ra "Bảo vệ sức khỏe là sự
nghiệp của toàn dân, tất cả công dân có nghĩa vụ thực hiện nghiêm chỉnh những quy định của Pháp luật về BVSKND để giữ gìn SKND, để giữ gìn sức khỏe cho mình và cho mọi người"
Việc chăm sóc sức khỏe ban đầu phải được xã hội hoá, tức là làm cho toàn xã hội thông hiểu và tham gia thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu
Từng người dân, từng gia đình, từng đoàn thể, từng cộng đồng có trách nhiệm đóng góp nhân, tài, vật lực cùng với nhà nước chăm lo sức khỏe cho mỗi người và cho cả cộng đồng Cần huy động xã hội để đa dạng hoá công tác CSSK, phát huy tự lực trên cơ sở phát triển năng lực nội sinh
Xã hội hoá công tác CSSKND là một yêu cầu bức thiết để thực hiện
chiến lược "Sức khỏe cho mọi người đến năm 2020" Cuộc vận động xã hội
rộng lớn nay đòi hỏi sự nổ lực cộng tác và hợp tác của tất cả thành viên xã hội, ở tất cả các cấp
Thực hiện xã hội hoá sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân
là cần thiết không những đối với nước ta mà còn phù hợp với xu thế thời đại Chúng ta hiểu rằng, xã hội hoá không phải là ỷ lại, trông chờ vào sự bao cấp của Nhà nước, song cũng cần nhận rõ trong quá trình xã hội hoá công tác CSSKND thì trách nhiệm của Nhà nước, của ngành y tế không phải là giảm
nhẹ mà trái lại càng to lớn hơn, nặng nề hơn rất nhiều
Trang 21Vì thế, chúng ta phải giải quyết tốt cả hai mặt: Trách nhiệm của ngành
y tế đối với toàn xã hội và trách nhiệm của xã hội, của từng cộng đồng, của từng gia đình và của từng người dân đối với sự nghiệp chăm sóc sức khỏe
1.3 Hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe của Y tế thôn bản
Giáo dục sức khỏe là một nội dung vô cùng quan trọng trong tuyên ngôn Alma Ata [56] Việc tăng cường kiến thức và hiểu biết của người dân về
tự bảo vệ và tăng cường sức khỏe vẫn là nhiệm vụ hết sức quan trọng nhằm tạo cơ sở cho người dân tự bảo vệ và nâng cao sức khỏe Giáo dục loại bỏ dần những lối sống, thói quen và phong tục tập quán có hại cho sức khỏe, làm cho mọi người thực hành các hành vi có lợi cho sức khỏe, thấy rõ trách nhiệm của
họ trong việc tự bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng Bộ y tế đã quy định một trong những nhiệm vụ quan trọng của Y tế thôn bản khi làm CSSKBĐ đó chính là tuyên truyền giáo dục sức khỏe tại cộng đồng [8] Theo nghiên cứu của tác giả Hoàng Viết Ngọc tại Võ Nhai [21] hầu hết (98,9%) YTTB thực hiện TT-GDSK, 50% thực hiện TT-GDSK 1lần/3tháng, 35,3% thực hiện TT-GDSK 1 lần/ tháng; 84,7% người dân quan tâm chú ý lắng nghe khi YTTB tiến hành TT-GDSK; mới có 34,9% YTTB hoàn thành nhiệm vụ TT-GDSK; việc thực hiện nhiệm vụ CSSK BM&TE của YTTB: 100% bà mẹ được YTTB vận động tiêm phòng uốn ván; 99,1% bà mẹ được hướng dẫn nuôi con bằng sữa mẹ; Các tỷ lệ tiêm phòng và uống Vitamin
A đều đạt trên 99% 91,7% YTTB hoàn thành tốt nhiệm vụ CSSK BM&TE; trong 5 nhiệm vụ, YTTB thực hiện tốt nhất là theo dõi biểu đồ tăng trưởng (82,6%), tiếp theo là hướng dẫn bà mẹ về chế độ dinh dưỡng là 81,7%, Truyền thông CSSKBMTE/KHHGĐ (77,7%)
Đối với bà con vùng dân tộc thiểu số, nhất là ở các xóm, bản có điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, đội ngũ YTTB đóng vai trò như những thầy thuốc thực sự, luôn hết lòng vì sức khỏe nhân dân Tuy không làm trong các bệnh viện, trạm y tế nhưng họ là người tuyên truyền, giáo dục sức
Trang 22khoẻ, tham gia thực hiện các hoạt động chuyên môn về y tế, sơ cứu ban đầu, tham gia thực hiện các chương trình y tế quốc gia tại thôn, xóm, bản Hiện nay, nhiệm vụ của trạm y tế xã, phường, thị trấn là vừa thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân, vừa thực hiện công tác dự phòng, đẩy mạnh truyền thông giáo dục sức khỏe, nâng cao nhận thức về phòng bệnh Hiện, mỗi trạm y tế được giao thực hiện hơn 20 chương trình y tế quốc gia, trong đó có nhiều chương trình quan trọng bắt buộc phải thực hiện đầy đủ như: tiêm chủng mở rộng, phòng chống dịch bệnh, phòng chống suy dinh dưỡng, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em Với khối lượng công việc nhiều như vậy, các trạm y tế luôn cần có đội ngũ nhân viên YTTB tích cực, yêu nghề và gắn bó với địa bàn Đây là lực lượng trực tiếp và gần dân nhất làm nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến đến người dân kiến thức về bảo vệ sức khoẻ, vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm, phòng, chống HIV/AIDS; vận động phụ nữ mang thai đến trạm y tế xã đăng ký khám thai, chăm sóc thai kỳ; hướng dẫn một số biện pháp chăm sóc sức khoẻ ban đầu, phòng, chống dịch bệnh tại cộng đồng; vận động, cung cấp thông tin, tư vấn về công tác dân
số - kế hoạch hóa gia đình; phát hiện, tham gia giám sát và báo cáo tình hình dịch, bệnh truyền nhiễm, bệnh không lây nhiễm, bệnh xã hội, bệnh truyền qua thực phẩm tại thôn, bản; tham gia giám sát chất lượng nước dùng cho ăn uống, sinh hoạt; tham gia triển khai thực hiện các phong trào vệ sinh phòng bệnh, an toàn thực phẩm, nâng cao sức khỏe cộng đồng Không chỉ nhiệt tình, tích cực, yếu tố cần phải có của một nhân viên YTTB là sự am tường địa bàn, sự gắn bó với người dân trong xóm, bản, có kỹ năng truyền thông và giao tiếp tốt với người dân Trên thực tế, việc hạn chế lây lan dịch bệnh, thay đổi hành vi của người dân trong phòng ngừa bệnh tật không đơn thuần chỉ do tác động của các can thiệp chuyên môn y tế, mà cần có tác động can thiệp vào các yếu tố khác: tâm lý, tình cảm, phong tục tập quán, thói quen lối sống, điều kiện kinh tế Những điều này, những nhân viên YTTB lại là người đóng vai
Trang 23trò quan trọng nhất Anh Triệu Thanh T - nhân viên YTTB xóm Keo En (xã
Thanh Định – huyện Định Hóa – tỉnh Thái Nguyên) cho biết: “ Tôi làm
nhiệm vụ của một YTTB từ năm 2001 đến nay Hiện cả xóm có 40 hộ với 153 nhân khẩu Do đặc thù là xóm thuần nông, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu
số nên việc truyền thông về công tác phòng chống dịch, giữ gìn vệ sinh môi trường, sử dụng nước sạch, vệ sinh an toàn thực phẩm, tiêm chủng mở rộng, phòng chống HIV/AIDS, phòng chống tai nạn thương tích, kế hoạch hóa gia đình cũng phải có những cách thức, nội dung phù hợp thì mới đem lại kết quả Để truyền thông những nội dung theo kế hoạch từng tháng, hầu hết tôi
và các YTTB khác đều phải tranh thủ thời gian buổi tối đến tận các hộ vì các
hộ đều lên rừng, ra đồng làm việc từ sáng sớm Cũng có khi lại tận dụng thực hiện hiện nhiệm vụ truyền thông tại các buổi họp xóm, thời điểm có đông đủ
bà con trong xóm nhất” [1]
Để hoạt động TT-GDSK của YTTB thực hiện được hiệu quả thì tần suất, phương pháp thực hiện và việc lựa chọn nội dung để truyền thông là rất quan trọng Nghiên cứu của tác giả Lê Ngọc Phát [25] đã chỉ ra rằng 100% YTTB tham gia TT-GDSK với tần suất hàng tháng, phương pháp tư vấn cá nhân và tư vấn hộ gia đình là chủ yếu, tờ rơi và loa truyền thanh là phương tiện chủ yếu để truyền thông
Một nghiên cứu khác của tác giả La Đăng Tái [31] cho thấy tần suất thực hiện truyền thông hàng tháng là chủ yếu (47,3%); nội dung truyền thông giáo dục sức khỏe chủ yếu là vận động phụ nữ có thai đi khám thai, tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ có thai, nuôi con bằng sữa mẹ, phòng chống SDD trẻ em, tiêm chủng mở rộng, KHHGĐ, vệ sinh môi trường Bên cạnh đó các nội dung truyền thông như phòng chống lao, HIV/AIDS, tăng huyết áp, tiểu đường cũng được YTTB tư vấn
Trang 24Một nghiên cứu của tác giả Đỗ Hữu Thủy [33] cho thấy hoạt động quản
lý địa bàn của YTTB được thực hiện khá tốt (79,3%), hầu hết YTTB đều thực hiện nhiệm vụ TT-GDSK (98%)
Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quang Phi [26] cho thấy hoạt động của YTTB chủ yếu tập trung vào nhiệm vụ TT-GDSK và thực hiện nhiệm vụ của các chương trình y tế
Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Liên [18] cho thấy tất cả các cán bộ làm y tế thôn bản đều hoạt động công tác truyền thông GDSK, chiếm tỷ lệ 100%, trung bình số lần truyền thông của YTTB là 23.8 lần/năm
1.4 Kiến thức, thái độ, kỹ năng của Nhân viên y tế thôn bản
Kiến thức, thái đô ̣ và kỹ năng về TT-GDSK cho đối tượng đích chính
là năng lực TT-GDSK của nhân viên y tế thôn bản Sự thay đổi hành vi của
các đối tượng đích trong thực hiê ̣n các hành vi có lợi cho sức khỏe là một trong những chỉ số đánh giá hiê ̣u quả về năng lực TT GDSK của YTTB Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thu Hiền năm 2007 về Công
tác truyền thông giáo du ̣c sức khỏe tỉnh Lai Châu Chuyên đề tốt nghiê ̣p chuyên khoa cấp I Y tế công cô ̣ng, Trường Đa ̣i ho ̣c Y - Dược Thái Nguyên cho thấy “…có 50% YTTB có kiến thức, thái đô ̣ và kỹ năng ở mức đô ̣ trung
bình, có 40% ở mức độ yếu và có 10% YTTB có kiến thức, thái độ và kỹ năng ở mức đô ̣ tốt” [17]
Trang 25ta ̣o nhân viên y tế thôn bản Sau một năm sử dụng, thu thâ ̣p ý kiến của các cơ
sở đào ta ̣o trong nước, các cơ quan chức năng của Bộ y tế và các tổ chức tài
trợ Quốc tế, Bô ̣ y tế đã triển khai viê ̣c điều chỉnh, sửa chữa chương trình và
tài liê ̣u đào ta ̣o nhân viên y tế thôn bản Ngày 03 tháng 08 năm 2000 Bộ y tế đã Ban hành Kế hoa ̣ch đào ta ̣o số 5710/YT - KHĐT về viê ̣c điều chỉnh chương trình đào ta ̣o và tài liê ̣u đào ta ̣o nhân viên y tế thôn, bản [5] Tài liệu đào tạo đã dạy YTTB các kỹ năng liên quan đến tư vấn sức khỏe như: Kỹ năng nói, kỹ năng nghe, kỹ năng hỏi, kỹ năng thuyết phục… Kể từ đó cả nước áp dụng thống nhất chương trình đào ta ̣o nhân viên y tế thôn, bản do Bộ y tế đã ban hành Tuy nhiên, theo nghiên cứu của La Đăng Tái chỉ ra rằng có tới 73,6% YTTB có kiến thức kém về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sức khỏe đặc biệt là các vấn đề về yếu tố môi trường [31] Nội dung truyền thông giáo dục sức khỏe chủ yếu là vận động phụ nữ có thai đi khám thai, tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ có thai, nuôi con bằng sữa mẹ, phòng chống SDD trẻ em, tiêm chủng mở rộng, KHHGĐ, vệ sinh môi trường Bên cạnh đó các nội dung truyền thông như phòng chống lao, HIV/AIDS, tăng huyết áp, tiểu đường cũng được YTTB tư vấn
Một nghiên cứu khác về YTTB của tác giả Giang Lộc Vinh nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành TT-GDSK của YTTB người H’Mong huyện Yên Minh, Hà Giang [40] cho thấy phần lớn YTTB có kiến thức kém liên quan đến TT-GDSK Hầu hết YTTB hiểu biết rất kém về các nội dung cần tư vấn cụ thể có tới 75,6% YTTB không biết khám thai lần thứ 2 vào tháng thứ mấy, có tới 99,2% YTTB không biết được tư vấn sau đẻ chỉ trong tuần đầu tiên, 82,4% YTTB không biết để tư vấn cho PNCT uống bổ sung viên sắt, hầu hết YTTB không biết nguồn nước ô nhiễm là nguy cơ gây bệnh về da, mắt Ngược lại tỷ lệ YTTB biết về thời gian cai sữa và ăn
bổ sung chiếm tỷ lệ cao (95,2%, 96,8% theo thứ tự) Nội dung truyền thông chủ yếu là tiêm chủng, KHHGĐ, các nội dung khác như phòng chống SDD
Trang 26trẻ em, vận động bà mẹ đi khám thai, tiêm phòng uốn ván, nuôi con bằng sữa mẹ là không được triển khai
Một nghiên cứu của tác giả Đỗ Hữu Thủy [33] cho thấy phần lớn YTTB có hiểu biết đúng và đầy đủ về HIV/AIDS (79,3%) Nghiên cứu của tác giả Đoàn Hạnh Nhân và cộng sự [22] cho thấy YTTB thiếu sự hiểu biết
vì vậy ảnh hưởng đến kết quả điều trị, truyền thông, tư vấn về phòng chống sốt rét
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thế Phương [29] cho thấy phần lớn YTTB nhận định không đúng về mục đích tư vấn sức khỏe (89,8%) và hành
vi sức khỏe (83,5%); khoảng một nửa (50,4%) YTTB lựa chọn sai hình thức
học của nữ YTTB; phần lớn nữ YTTB đồng ý rằng hút thuốc lá (69,8%), rượu (77,8%), hoạt động thể chất thấp (42,4%), ăn nhiều muối (65,4%), ăn nhiều
chất béo (78,7%), và di truyền học (53,9%) là các yếu tố có nguy cơ cao gây cao huyết áp
Một nghiên cứu của tác giả Amano S và cộng sự [50] cho thấy trong
205 nữ YTTB tham gia vào nghiên cứu, 70% nữ YTTB hiểu họ nên làm gì khi họ xác định trẻ nhẹ cân và trẻ nhẹ cân
Nghiên cứu của tác giả Rashid SF và cộng sự [52] cho thấy 22/23 YTTB có thể xác định đúng tỷ lệ hô hấp và liên quan đến viêm phổi; tất cả đều có kiến thức về nhiễm trùng hô hấp cấp (ARI) và có thể liệt kê nhiều dấu
hiệu và triệu chứng
Trang 271.4.2 Thái độ
Thái độ là sự quan tâm về những vấn đề mà nhân viên y tế thôn bản hướng tới viê ̣c thực hiê ̣n các công viê ̣c của mình, để TT-GDSK cho đối tượng đích Thái độ của nhân viên y tế thôn bản hướng tới các hoa ̣t động TT-GDSK cho đối tượng đích là cần thiết, chỉ khi YTTB có thái độ đúng thì họ sẽ tích
cực thực hiê ̣n các công viê ̣c của mình Tuy nhiên, theo nghiên cứu của tác giả Giang Lộc Vinh nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành TT-GDSK của YTTB người H’Mong huyện Yên Minh, Hà Giang [40] cho thấy hầu hết YTTB không nhận thức được vai trò quan trọng của chính quyền địa phương, của người dân và của YTTB trong TT-GDSK Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng phần lớn YTTB không đồng ý với việc khám thai đầy đủ 3 lần, trẻ
em cần được tiêm chủng đầy đủ, trẻ em được ăn sam từ 6 tháng trở lên và cai sữa khi đủ 18 tháng Theo kết quả đánh giá của tác giả Vi Văn Cương, năm
2004 khi nghiên cứu về hoa ̣t động y tế thôn, bản ở huyê ̣n Sìn Hồ tỉnh Lai Châu, thực tra ̣ng và giải pháp cho thấy có 31,2% YTTB nhâ ̣n thức được TT-GDSK là quan trọng [11]
Một nghiên cứu của tác giả La Đăng Tái [31] cho thấy hầu hết YTTB
có thái độ tích cực hướng đến TT-GDSK Một nghiên cứu của tác giả Đỗ Hữu Thủy [33] cho thấy tất cả các ý kiến của cán bộ y tế xã đều cho rằng YTTB có vai trò quan trọng trong các nhiệm vụ phòng, chống HIV/AIDS, đặc biệt là công tác truyền thông và quản lý đối tượng Tuy nhiên vẫn có hơn một nửa YTTB có thái độ chưa tốt với HIV/AIDS (55,7%) Nghiên cứu của tác giả Chung MH và cộng sự [48] cho thấy 59% YTTB được hỏi đồng ý và hiểu rõ vai trò của mình
Thái độ của YTTB ngày càng được nâng cao, do xuất phát từ nhiều vấn đề về viê ̣c cải thiê ̣n, nâng cao chất lượng cán bộ y tế cơ sở và viê ̣c thay đổi
các chế độ ngày một tốt hơn cho YTTB Thực hiê ̣n Nghi ̣ đi ̣nh số 204/2005/NĐ – CP về viê ̣c nâng mức lương cơ bản từ 730.000 đ/tháng lên
Trang 28830.000 đ/tháng Ngày …tháng …năm 2009 Chính phủ có Quyết đi ̣nh số 75/2009/QĐ – TTg về viê ̣c nâng mức sinh hoa ̣t phí của YTTB từ 80.000 đ/tháng lên hưởng theo hê ̣ số 0,5 mức cơ bản/tháng cho YTTB các xã thuộc
vùng cao, vùng sâu, vùng xa [14] Điều này cũng sẽ nâng cao thái độ của YTTB khi thực hiện nhiệm vụ của mình
1.4.3 Kỹ năng
Kỹ năng TT-GDSK của YTTB là những hành động, việc làm cụ thể, thông qua đó mà truyền thông cách phòng bệnh và chữa bê ̣nh cho đối tượng đích, nhằm thay đổi hành vi có ha ̣i cho sức khỏe sang hành vi có lợi cho sức
khỏe của cộng đồng Hằng năm, YTTB được Trung tâm TT-GDSK tỉnh và
Phòng GDSK thuộc TTYT huyê ̣n tổ chức các đợt đào ta ̣o kỹ năng
TT-GDSK như: Tâ ̣p huấn kỹ năng nói chuyê ̣n sức khỏe, kỹ năng thảo luâ ̣n nhóm,
kỹ năng tư vấn sức khỏe và kỹ năng thăm hộ gia đình Các kỹ năng nói, kỹ
lắng năng nghe, kỹ năng đưa ra vấn đề thảo luâ ̣n, kỹ năng tóm tắt và kỹ năng
tư vấn sức khỏe, khuyến khích đối tượng đích tham gia, đây là những kỹ năng đã được YTTB ở tuyến xã huyện Định Hóa đã được tâ ̣p huấn
Tư vấn là một phương pháp GDSK trực tiếp ngày càng được sử dụng nhiều, đặc biệt có kết quả tốt đối với các cá nhân và gia đình có những vấn đề sức khỏe nhạy cảm Tư vấn trở thành những hoạt động thông thường của nhiều cán bộ y tế, cán bộ truyền thông GDSK và đặc biệt là các nhân viên y tế thôn bản Tư vấn có thể là những hoạt động hàng ngày liên quan đến công tác chuyên môn, cũng có thể là những hoạt động mang tính chuyên sâu với những tình huống phức tạp đòi hỏi phải có các chuyên gia Trong khi tư vấn, người
tư vấn tìm hiểu vấn đề của đối tượng, cung cấp thông tin cho đối tượng, động viên đối tượng suy nghĩ, hiểu vấn đề của họ Từ đó giúp họ hiểu rõ được nguyên nhân của vấn đề và chọn các hành động riêng để giải quyết vấn đề Tư vấn có vai trò quan trọng hỗ trợ tâm lí cho đối tượng khi họ hoang mang lo sợ
về vấn đề sức khỏe nghiệm trọng của mình khi chưa hiểu rõ cách giải quyết
Trang 29Theo kết quả nghiên cứu của Chongsuvivatwong và cộng sự cho thấy tư vấn
của YTTB đã làm giảm tỷ lệ bệnh viêm phổi cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi tại khu vực miền Nam Thái Lan [57]
Điều quan trọng là người tư vấn phải tạo ra được niềm tin cho đối tượng để họ có cơ sở cho sự thay đổi hành vi phù hợp Tùy theo đối tượng, phong tục tập quán, hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương, từng nơi, từng lúc,
mà chọn phương pháp tư vấn cho thích hợp Để tư vấn thu được kết quả tốt người tư vấn cần có kiến thức khoa học và nghệ thuật giao tiếp trong tư vấn
Những nguyên tắc sau đây cần được chú ý trong tư vấn sức khỏe:
- Chọn thời cơ và địa điểm thích hợp cho các cuộc tư vấn
- Người tư vấn phải xây dựng mối quan hệ tốt với đối tượng ngay từ khi tiếp xúc ban đầu và tạo không khí thân mật tin cẩn trong suốt quá trình tư vấn, qua đó thể hiện sự quan tâm và chăm sóc giúp đỡ của người tư vấn đối với đối tượng được tư vấn
- Xác định rõ các nhu cầu của đối tượng Thông qua tìm hiểu những hiểu biết của đối tượng về vấn đề cần được tư vấn và vấn đề có liên quan
- Phát triển sự đồng cảm với hoàn cảnh của đối tượng không phải là sự thương cảm, buồn bã, chán nản
- Để đối tượng trình bày các ý kiến, cảm nghĩ và những điều họ mong đợi Biết chú ý lắng nghe đối tượng qua ánh mắt, cử chỉ của người tư vấn Thường đối tượng chỉ muốn nói hết vấn đề của họ đối với những người họ tin tưởng
- Đưa ra các thông tin cần thiết chủ yếu nhất liên quan, giúp đối tượng
tự hiểu biết rõ vấn đề của họ
- Thảo luận đối với đối tượng về các biện pháp giải quyết vấn đề, trong
đó có các biện pháp thiết thực hỗ trợ đối tượng Các biện pháp này có thể liên quan đến gia đình và cộng đồng nơi đối tượng sinh sống và làm việc
Trang 30- Giữ bí mật, người tư vấn luôn luôn tôn trọng những điều riêng tư cuả đối tượng được tư vấn Nếu phát hiện những điều bí mật của đối tượng cần phải giữ kín
- Thống nhất và cùng cam kết với đối tượng về các bước tiếp theo để tiếp tục hỗ trợ đối tượng thực hiện
- Trong nhiều trường hợp người tư vấn phải liên hệ với gia đình, cộng đồng và một số ban ngành, tổ chức để phối hợp các hoạt động giúp đỡ cho đối tượng
- Cần liên hệ và nắm được các hoạt động của đối tượng sau khi tư vấn
để tiếp tục giúp đỡ hỗ trợ đối tượng
thôn bản
1.5.1 Các yếu tố thuộc Y tế thôn bản
* Kiến thức
Để tư vấn sức khỏe cho người dân thu được kết quả tốt thì YTTB cần
có kiến thức về các vấn đề liên quan Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thế Phương tại Tuyên Quang [29] cho thấy có mối liên quan giữa kiến thức với kỹ năng tư vấn sức khỏe của YTTB
Một nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Uyên và cộng sự [39] tại huyện Lương Tài, Bắc Ninh chỉ ra rằng mối liên quan giữa kiến thức của YTTB và hoạt động TT-GDSK có ý nghĩa thống kê (p<0,05) YTTB có kiến thức đạt về
TT - GDSK thì hoạt động TT- GDSK đạt gấp cao gấp 11,5 (OR = 11,5) so với YTTB có kiến thức không đạt
Một nghiên cứu khác của Kaewpitoon và cộng sự cho thấy kiến thức của YTTB có liên quan chặt chẽ đến kỹ năng tư vấn [53]
Kết quả phỏng vấn sâu của Singh và cộng sự cho thấy YTTB thiếu
kiến thức liên quan đến các vấn đề cần tư vấn làm ảnh hưởng đến kết quả
tư vấn [43]
Trang 31* Thái độ
Thái độ của YTTB hướng đến các hoạt động tư vấn cho đối tượng đích là rất cần thiết, bởi khi YTTB có thái độ đúng thì họ sẽ tích cực thực hiện công việc của mình, qua đó hoạt động TT-GDSK hay chính xác hơn là
tư vấn sức khỏe sẽ đạt hiệu quả cao hơn Tuy nhiên, theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thế Phương tại Na Hang, Tuyên Quang [29] cho thấy có mối liên quan giữa thái độ với kỹ năng tư vấn sức khỏe của YTTB
Một nghiên cứu khác của Kaewpitoon và cộng sự cho thấy thái độ của YTTB có liên quan chặt chẽ đến kỹ năng tư vấn [53]
Một nghiên cứu của Srisuwan và cộng sự chỉ ra rằng thái độ của YTTB hướng đến sàng lọc ung thư cổ tử cung là rất cao, tuy nhiên thái độ không liên quan đến tỷ lệ sàng lọc bệnh ung thư cổ tử cung [49]
Một nghiên cứu của Neupane D và cộng sự [44] cho thấy thái độ liên quan đến cao huyết áp liên quan đến đặc điểm nhân khẩu học của nữ YTTB
* Tu ổi
Giả thuyết rằng tuổi của YTTB có ảnh hưởng tới kỹ năng tư vấn sức khỏe cũng như hiệu quả của hoạt động TT-GDSK do tuổi cao thì sẽ làm lâu năm hơn nên sẽ có kinh nghiệm nhiều hơn Tuy nhiên, theo nghiên cứu của tác giả Bùi Đình Lĩnh [19] cho thấy không tìm thấy sự liên quan giữa tuổi của YTTB với việc thực hiện chức năng nhiệm vụ (p>0,05)
Một nghiên cứu khác của tác giả Lê Ngọc Phát [25] cũng cho thấy không có mối liên quan giữa tuổi với kết quả hoạt động của YTTB (p>0,05)
Nghiên cứu của La Đăng Tái [31] cho thấy phần lớn YTTB là trên 30 tuổi
Tác giả Acharya và cộng sự cũng chỉ ra rằng tuổi có liên quan đến kỹ năng tư vấn của YTTB [42] Một nghiên cứu khác về YTTB của tác giả Giang Lộc Vinh nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành TT-GDSK của YTTB người H’Mong huyện Yên Minh, Hà Giang [40] cho thấy phần lớn YTTB có tuổi dưới 30 tuổi
Trang 32Nghiên cứu của tác giả Vũ Quốc Hải và cộng sự [16] cho thấy không tìm thấy mối liên quan giữa tuổi với việc thực hiện đạt chỉ tiêu đề ra của YTTB Theo nghiên cứu của Nông Minh Dũng [15] về hoạt động của YTTB tại các trạm y tế xã thuộc 3 huyện Ba Bể, Bạch Thông và thị xã Bắc Kạn kết quả cho thấy hơn một nửa số YTTB có tuổi từ 30-39
Một nghiên cứu của tác giả Hoàng Tuấn Ba tại Đà Nẵng [3] cho thấy YTTB ở huyện Hòa Vang có độ tuổi từ 30-49 chiếm tỷ lệ cao nhất (51,5%), thấp nhất là nhóm tuổi <30 (chỉ có 4%)
Kết quả nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Uyên [39] cho thấy tỷ lệ YTTB trên địa bàn huyện Lương Tài dưới 50 tuổi chiếm 68,75% và trên 50 tuổi chiếm 31,25%
* Giới
Giả thuyết rằng giới tính có mối liên quan tới kỹ năng tư vấn sức khỏe, hiệu quả của hoạt động TT-GDSK Theo kết quả các nghiên cứu thì YTTB chủ yếu là nữ, do nữ YTTB sẽ làm việc tỉ mỉ, cẩn thận hơn; một số công việc liên quan đến phụ nữ thì nữ YTTB tiếp cận sẽ dễ dàng hơn Giả thuyết này cũng tương đồng với kết quả nghiên cứu của tác giả Lê Ngọc Phát [25] khi chỉ ra rằng có mối liên quan giữa giới tính với kết quả hoạt động của YTTB
Một nghiên cứu của tác giả Feldhaus và cộng sự [45] cho thấy trong số các YTTB được đào tạo, 97% đã được phỏng vấn (n = 228) có 55% nam và 45%
nữ không có sự khác biệt đáng kể về kiến thức theo giới
Tác giả Acharya và cộng sự đã chỉ ra rằng giới tính của YTTB có liên quan đến kỹ năng tư vấn của họ [42] Nghiên cứu của tác giả Vũ Quốc Hải và cộng sự [16] cho thấy không tìm thấy mối liên quan giữa giới tính với việc thực hiện đạt chỉ tiêu đề ra của YTTB
Theo nghiên cứu của Nông Minh Dũng [15] về hoạt động của YTTB tại các trạm y tế xã thuộc 3 huyện Ba Bể, Bạch Thông và thị xã Bắc Kạn kết quả cho thấy phần lớn YTTB là nữ (73,9%)
Trang 33Kết quả nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Uyên [39] cho thấy YTTB là nữ chiếm tỷ lệ 76,79% và tỷ lệ nam là YTTB chiếm 23,21% Tỷ lệ về giới tính của YTTB trong nghiên cứu này tương đương với tỷ lệ về giới tính của YTTB trên địa bàn tỉnh (nữ chiếm 81%, nam chiếm 19%)
Nghiên cứu của tác giả Võ Bá Tước [37] cho thấy trong 389 YTTB tham gia nghiên cứu, tỷ lệ nữ giới là 49,9%, tỷ lệ nam giới là 50,1%
Một nghiên cứu của tác giả Hoàng Tuấn Ba tại Đà Nẵng [3] cho thấy phần lớn YTTB ở huyện Hòa Vang là nữ giới (chiếm 89,6%), nam giới chỉ bằng 1/9 so với nữ giới (10,4%)
Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác YTTB chủ yếu là nam như nghiên cứu về YTTB của tác giả Giang Lộc Vinh nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành TT-GDSK của YTTB người H’Mong huyện Yên Minh, Hà Giang [40] YTTB là nam giới chiếm chủ yếu (88,8%) Điều này là do người H’Mong có nhiều phong tục tập quán mà YTTB là nam giới sẽ làm việc có hiệu quả tốt hơn
* Trình độ học vấn
Trình độ học vấn quyết định khả năng tiếp thu kiến thức của YTTB Trình độ học vấn cao sẽ làm tăng khả năng tiếp thu của YTTB với các kiến thức liên quan đến các vấn đề đối tượng đích cần tư vấn Qua đó, sẽ làm cho
kỹ năng của YTTB được tốt hơn Kết quả nghiên cứu của tác giả Lê Ngọc Phát [25] đã cho thấy có mối liên quan giữa trình độ học vấn với kết quả hoạt động của YTTB Nghiên cứu của tác giả Vũ Quốc Hải và cộng sự [16] cho thấy không tìm thấy mối liên quan giữa trình độ học vấn với việc thực hiện đạt chỉ tiêu đề ra của YTTB Một nghiên cứu của tác giả Võ Bá Tước [37] cho thấy trong 389 YTTB tham gia nghiên cứu, YTTB có trình độ tiểu học chiếm
tỷ lệ thấp nhất 1%; nhiều nhất là trung học cơ sở chiếm tỷ lệ 50,1%; trung học phổ thông 48,9% YTTB có chuyên môn y tế chiếm tỷ lệ 77,1%, không có chuyên môn y tế chiếm 22,9%
Trang 34Nghiên cứu của tác giả Acharya và cộng sự cũng chỉ ra rằng trình độ
học vấn có liên quan đến kỹ năng tư vấn của YTTB [42] Một nghiên cứu của tác giả Hoàng Tuấn Ba tại Đà Nẵng [3] cho thấy YTTB ở huyện Hòa Vang có trình độ học vấn tập trung nhiều ở cấp II (chiếm tỷ lệ cao nhất, 49,3%) và cấp
III (38,1%) Chỉ có duy nhất 1 YTTB (0,7%) có trình độ cấp I Về trình độ chuyên môn, 100% YTTB đã được đào tạo chuyên môn về y tế, tuy nhiên chỉ
có chưa đến 1/10 YTTB là y tá sơ học (8,2%), còn lại hầu hết là qua lớp đào tạo dành cho YTTB (88,8%) Không có YTTB có trình độ bác sĩ, y sĩ, hộ sinh trung học, y tá trung học và dược sĩ đại học
Nghiên cứu của tác giả Đoàn Hạnh Nhân và cộng sự [22] cho thấy YTTB văn hóa thấp 12,5% học trung học phổ thông, 87,5% học phổ thông cơ sở; chỉ có 25% YTTB được học 3 tháng về chuyên môn Một nghiên cứu của tác giả Rahman MH và cộng sự [47] cho thấy các đại diện y tế có trình độ học
vấn tốt hơn với 98% có bằng cử nhân, trong khi các YTTB có trình độ học
vấn loại 12 hoặc thấp hơn là 84%
* Thâm niên công tác
Thời gian công tác của YTTB càng lâu đồng nghĩa với việc họ có càng nhiều kinh nghiệm Điều đó cũng có nghĩa kỹ năng của họ cũng có điều kiện trau dồi nhiều hơn Điều này cũng tương đồng với kết quả nghiên cứu của tác giả Lê Ngọc Phát [25] khi cho rằng thâm niên công tác có mối liên quan với kết quả hoạt động của YTTB Một nghiên cứu khác về YTTB của tác giả Giang Lộc Vinh nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành TT-GDSK của YTTB người H’Mong huyện Yên Minh, Hà Giang [40] cho thấy thời gian làm YTTB 3-5 năm là chủ yếu (61,6%)
Nghiên cứu của tác giả Khánh Thị Nhi [23] tại Hà Nội cho thấy có mối liên quan giữa thâm niên công tác với kết quả hoạt động của YTTB Một nghiên cứu của tác giả Hoàng Tuấn Ba tại Đà Nẵng [3] cho thấy thâm niên công tác của YTTB ở huyện Hòa Vang chiếm tỷ lệ cao nhất là từ 5 đến 10 năm
Trang 35(38,1%), tiếp đến là từ 10 đến 15 năm (26,1%), trên 15 năm chiếm tỷ lệ thấp nhất (14,9%)
Nghiên cứu của tác giả Gau YM và cộng sự [59]cho thấy đa số những người tham gia là nữ từ 50 đến 59 tuổi, trung bình 4,5 năm kinh nghiệm làm YTTB; các YTTB ở Đài Loan không phải lúc nào cũng có những kỹ năng cần thiết để chăm sóc cho khách hàng của mình do chương trình đào tạo không đầy đủ
chứng minh được điều này khi cho thấy thời gian đào tạo có mối liên quan với kết quả hoạt động của YTTB Một nghiên cứu của tác giả Chevalier C và cộng sự [41] cho thấy đào tạo trước tuổi 20 là một trong những yếu tố chính
giải thích tại sao các nhân viên y tế thôn bản rời khỏi chức vụ
Một nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hoàng Anh tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình [2] cho thấy có 97,9% YTTB được dự các lớp đào tạo, tập huấn về y tế Trong số các chủ đề, các chương trình y tế tại cộng đồng được tổ chức nhiều nhất (83,4%), sau đó là CSSKSS (57,2%), TT-GDSK (43,1%), Sơ cứu ban đầu và chăm sóc bệnh thông thường 30,4%, thống kê báo cáo 32,5% và thấp nhất là nuôi trồng và sử dụng thuốc nam 14,1%
Nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Nhã Trúc và cộng sự [36] cho thấy có rất ít YTTB không muốn tập huấn hay đào tạo lại (20,6%), phần lớn YTTB đều muốn được đào tạo lại (79,4%) Có 14,4% YTTB có nguyện vọng muốn
Trang 36được đào tào lại tất cả các nội dung đã được học để hiểu và tự tin hơn trong công việc
Một nghiên cứu của tác giả Hoàng Tuấn Ba tại Đà Nẵng [3] cho thấy YTTB ở huyện Hòa Vang có 100% YTTB đã được đào tạo chuyên môn về y
tế, tuy nhiên chỉ có chưa đến 1/10 YTTB là y tá sơ học (8,2%), còn lại hầu hết là qua lớp đào tạo dành cho YTTB (88,8%) Không có YTTB có trình độ bác sĩ, y sĩ, hộ sinh trung học, y tá trung học và dược sĩ đại học
Một nghiên cứu của tác giả Đỗ Công Tuyển và cộng sự [38] cho thấy
trong số 1993 (95,4%) YTTB đã được đào tạo thời gian từ 03 tháng đến 12 tháng thì số được đào tạo 12 tháng chỉ chiếm khoảng 10%, số đào tạo 9 tháng được 29,2% còn lại được đào tạo 6 tháng là 33,7%, số được đào tạo 3 tháng chiếm tỷ lệ không nhỏ 27,1% Một số khác tuy không được đào tạo nhưng họ
là những bác sỹ/y sỹ quân đội về hưu và có tham gia hoạt động của YTTB
Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Phương [30] về hoạt động của YTTB tại huyện Bắc Yên tỉnh Sơn La cho thấy vẫn còn khá nhiều YTTB chưa qua đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ (11,1%), 1/3 số YTTB chưa được đào tạo lại Nội dung đào tạo chủ yếu là về chức năng nhiệm vụ của YTTB, kỹ năng TT-GDSK, vệ sinh phòng bệnh, dinh dưỡng và an toàn thực phẩm, cấp cứu chấn thương Một nghiên cứu khác về YTTB của tác giả Giang Lộc Vinh nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành TT-GDSK của YTTB người H’Mong huyện Yên Minh, Hà Giang [40] cho thấy 20% YTTB chưa được đào tạo
* Công tác kiêm nhiệm
Kiêm nhiệm quá nhiều công tác có thể sẽ ảnh hưởng nhiều đến chức năng và nhiệm vụ chính của YTTB Tuy nhiên, theo nghiên cứu của tác giả
Lê Ngọc Phát [25] cho thấy không có mối liên quan giữa công tác kiêm nhiệm với kết quả hoạt động của YTTB
Trang 37Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Linh Chi [10] cho thấy 99,1% YTTB tham gia kiêm nhiệm công việc khác tại địa phương Trong đó tỷ lệ tham gia kiêm nhiệm nhiều nhất là làm cộng tác viên dân số (86,3%), tiếp theo là công tác viên (CTV) dinh dưỡng (83,3%); tiếp đến là tham gia CTV An toàn vệ sinh thực phẩm (73,5%), ngoài ra tỷ lệ YTTB tham gia hội phụ nữ, trưởng thôn chiếm tỷ lệ thấp (5,4%), chỉ có (0,9%) là không tham gia các hoạt động đoàn thể kiêm nhiệm nào tại địa phương
Nghiên cứu của tác giả Khánh Thị Nhi [23] cho thấy những YTTB có tham gia công tác kiêm nhiệm có tỷ lệ hoàn thành nhiệm vụ ở mức trung bình trở lên cao hơn số không kiêm nhiệm sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0, 05) Một nghiên cứu khác về YTTB của tác giả Giang Lộc Vinh nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành TT-GDSK của YTTB người H’Mong huyện Yên Minh, Hà Giang [40] cho thấy hầu hết YTTB làm nhiệm vụ kiêm nhiệm các công tác khác chủ yếu là công tác dân số (68%)
1.5.2 Các yếu tố thuộc đối tượng được tư vấn
Kỹ năng tư vấn không chỉ phụ thuộc vào người tư vấn mà còn phụ thuộc vào đặc điểm của đối tượng được tư vấn Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng trình độ văn hóa, phong tục tập quán, nhận thức của đối tượng… cũng ảnh hưởng đến kỹ năng của người làm tư vấn sức khỏe
Một nghiên cứu của tác giả Kok MC và cộng sự [46] cho thấy các yếu
tố văn hóa xã hội, an toàn an ninh, giáo dục và kiến thức của đối tượng đích là
yếu tố cộng đồng ảnh hưởng đến hoạt động của các YTTB
1.5.3 Các yếu tố khác
* Phụ cấp
Phụ cấp nghề nghiệp sẽ ảnh hưởng nhiều đến YTTB do họ còn phải
lo lắng mưu sinh kiếm sống hằng ngày Nếu phụ cấp quá thấp sẽ làm YTTB không có hứng thú với công việc của mình, qua đó sẽ khiến kỹ năng của họ không được trau dồi và sẽ không tốt
Trang 38Nghiên cứu của tác giả Vũ Quốc Hải và đồng nghiệp cho thấy 92,93% YTTB không hài lòng với mức phụ cấp hàng tháng và muốn được tăng phụ cấp Có mối liên quan giữa phụ cấp với thực hiện đạt chỉ tiêu đề
ra của YTTB [16]
Nghiên cứu của tác giả Đoàn Hạnh Nhân và cộng sự [22] cho thấy YTTB gặp một số khó khăn là: không có nhiều thời gian cho hoạt động y tế, trợ cấp thấp
Nghiên cứu của tác giả Trương Thị Tuyết Nhung và cộng sự [24] cho thấy các yếu tố phụ cấp nghề, thời gian lãnh phụ cấp, thời gian Trạm Y tế giám sát, số ngày làm việc đều có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với việc thực hiện hoạt động của nhân viên y tế thôn bản
Một nghiên cứu của tác giả Chevalier C và cộng sự [41] cho thấy phụ
cấp không đều là những yếu tố chính giải thích tại sao các nhân viên y tế thôn
Một nghiên cứu của tác giả Kok MC và cộng sự [46] cho thấy các yếu
tố liên quan đến chính sách, kinh tế, môi trường và y tế ảnh hưởng đến hiệu
suất của YTTB
Trang 39Nghiên cứu của tác giả Pongvongsa T và cộng sự [54] cho thấy mặc dù
hầu hết các YTTB đều có xe và được hỗ trợ tài chính cho đi lại, nhưng khó khăn khi đi đến trung tâm chăm sóc sức khoẻ vẫn là nguyên nhân hàng đầu cho việc không báo cáo hàng tháng tại nơi vùng sâu vùng xa của Lào
Nghiên cứu của tác giả Rashid SF và cộng sự [52] cho thấy một số YTTB phàn nàn về những khó khăn trong hoạt động với việc theo dõi và trang thiết bị kỹ thuật
Một nghiên cứu khác của tác giả Sato và cộng sự tiến hành ở 149 YTTB tại huyện Sepon Lào đã cho thấy các yếu tố thuộc về xã hội như cơ
chế chính sách, khoảng cách địa lý, phương tiện TT-GDSK có liên quan đến
hoạt động của YTTB [58]
* Giám sát
Việc theo dõi, kiểm tra giám sát của tuyến trên sẽ khiến việc thực hiện nhiệm vụ của YTTB được tốt hơn Đặc biệt, khi họ làm các kỹ năng như kỹ năng tư vấn sức khỏe sẽ chú ý hơn, đầy đủ hơn Theo nghiên cứu của tác giả Trương Thị Tuyết Nhung và cộng sự [24] tại huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh cho thấy việc giám sát của Trạm y tế có mối liên quan với việc thực
hiện hoạt động của YTTB
Một nghiên cứu của tác giả Bùi Đình Lĩnh tại Thái Bình [19] cho thấy có mối liên quan giữa việc giám sát của Trạm y tế với hiệu quả hoạt động của YTTB
Trang 40Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nhân viên Y tế thôn bản
- Ban giám đốc TTYT huyện
- Trạm trưởng trạm y tế xã
- Phó chủ tịch xã
- Hội phụ nữ
- Trưởng thôn
- Thời gian: Từ tháng 4 năm 2016 đến tháng 10 năm 2017
- Đi ̣a điểm: 20 xã đặc biệt khó khăn huyê ̣n Định Hóa tỉnh Thái Nguyên [28] bao gồm: (Kim Phượng, Phú Tiến, Phúc Chu, Tân Dương, Trung Hội, Bảo Linh, Bình Thành, Bình Yên, Bộc Nhiêu, Điềm Mặc, Định Biên, Kim Sơn, Lam Vỹ, Linh Thông, Phú Đình, Quy Kỳ, Sơn Phú, Tân Thịnh, Thanh Định và Trung Lương)
- Phương pháp nghiên cứu mô tả
- Thiết kế nghiên cứu cắt ngang
- Nghiên cứu định lượng kết hợp định tính
2.4 Mẫu và phương pháp cho ̣n mẫu
2.4.1 C ỡ mẫu
* Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng:
Sử dụng công thức tính cỡ mẫu áp dụng cho ước tính 1 tỷ lệ quần thể [51]
2
2 /2 - 1
)1( Z