1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non​

129 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non
Tác giả Lý Thị Anh Thư
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Minh Huế
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Giáo dục học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2015
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do ch ọn đề tài (13)
  • 2. M ục đích nghiên cứ u (14)
  • 3. Khách th ể và đối tƣợ ng nghiên c ứ u (14)
  • 4. Gi ả thuy ế t khoa h ọ c (14)
  • 5. Nhi ệ m v ụ nghiên c ứ u (14)
  • 6. Phạm vi nghiên cứu (14)
  • 7. Phương pháp nghiên cứ u (15)
  • 8. C ấ u trúc lu ận văn (15)
  • Chương 1. CƠ SỞ LÝ LU Ậ N V Ề GIÁO D Ụ C HÒA NH Ậ P CHO TR Ẻ T Ự (16)
    • 1.1. Sơ lƣợ c v ề l ị ch s ử nghiên c ứ u v ấn đề (16)
      • 1.1.1. Trên th ế gi ớ i (16)
    • 1.2. Khái ni ệ m công c ụ (21)
      • 1.2.1. Tự kỷ và hội chứng tự kỷ (21)
      • 1.2.2. Phát hi ệ n s ớ m tr ẻ t ự k ỷ (23)
      • 1.2.3. Can thi ệ p s ớ m tr ẻ t ự k ỷ (24)
      • 1.2.4. Giáo dục hòa nhập (26)
      • 1.2.5. Giáo d ụ c hòa nh ậ p cho tr ẻ t ự k ỷ l ứ a tu ổ i m ầ m non (26)
      • 1.2.6. Bi ệ n pháp giáo d ụ c hòa nh ậ p cho tr ẻ t ự k ỷ l ứ a tu ổ i m ầ m non (27)
    • 1.3. Một số đặc điểm cơ bản về trẻ mầm non mắc hội chứng tự kỷ (27)
      • 1.3.1. Nh ữ ng bi ể u hi ệ n c ủ a h ộ i ch ứ ng t ự k ỷ và tr ạ ng thái liên quan t ớ i hội chứng tự kỷ ở tuổi mầm non (27)
      • 1.3.2. Phân lo ạ i h ộ i ch ứ ng t ự k ỷ và các h ộ i ch ứ ng khác trong ph ổ t ự k ỷ ở (29)
    • 1.4. Một số vấn đề lý luận cơ bản về giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình k ế t h ợ p gi ữ a trung tâm giáo d ụ c tr ẻ khuy ế t t ật và trườ ng m ầ m non (32)
      • 1.4.1. Vai trò, chức năng của trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường (32)
      • 1.4.2. M ụ c tiêu giáo d ụ c hòa nh ậ p cho tr ẻ t ự k ỷ l ứ a tu ổ i m ầ m non theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non (34)
      • 1.4.3. N ộ i dung giáo d ụ c hòa nh ậ p cho tr ẻ t ự k ỷ l ứ a tu ổ i m ầ m non theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non (34)
      • 1.4.4. Phương pháp giáo dụ c hòa nh ậ p cho tr ẻ t ự k ỷ l ứ a tu ổ i m ầ m non (38)
      • 1.4.5. Quy trình giáo d ụ c hòa nh ậ p cho tr ẻ t ự k ỷ l ứ a tu ổ i m ầ m non theo mô hình k ế t h ợ p gi ữ a trung tâm giáo d ụ c tr ẻ khuy ế t t ật và trườ ng m ầ m non (43)
      • 1.4.6. Giáo viên m ầ m non trong giáo d ụ c hòa nh ậ p cho tr ẻ t ự k ỷ l ứ a tu ổ i (43)
      • 1.4.7. Đánh giá kết quả giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ lứa tuổi mầm non (44)
      • 1.4.8. Điề u ki ệ n giáo d ụ c hòa nh ậ p cho tr ẻ t ự k ỷ l ứ a tu ổ i m ầ m non theo mô hình k ế t h ợ p gi ữ a trung tâm giáo d ụ c tr ẻ khuy ế t t ật và trườ ng m ầ m non (45)
    • 1.5. K ế t lu ận chương 1 (47)
  • Chương 2 TH Ự C TR Ạ NG GIÁO D Ụ C HÒA NH Ậ P CHO TR Ẻ T Ự K Ỉ (48)
    • 2.1. Khái quát v ề kh ả o sát th ự c tr ạ ng (48)
      • 2.1.1. Khái quát v ề Trung tâm giáo d ụ c tr ẻ khuy ế t t ậ t thành ph ố Tuyên (48)
      • 2.1.2. Khái quát v ề công tác giáo d ụ c tr ẻ m ầ m non nói chung t ạ i thành ph ố Tuyên Quang (49)
      • 2.1.3. M ụ c tiêu kh ả o sát (50)
      • 2.1.4. Đối tƣợ ng kh ả o sát (0)
      • 2.1.5. Phương pháp khả o sát và cách x ử lý s ố li ệ u (51)
    • 2.2. Th ự c tr ạ ng nh ậ n th ứ c v ề giáo d ụ c hòa nh ậ p cho tr ẻ t ự k ỷ theo mô hình (52)
      • 2.2.1. Nh ậ n th ứ c v ề các khái ni ệm liên quan đế n giáo d ụ c hòa nh ậ p cho tr ẻ t ự (52)
      • 2.2.2. Nh ậ n th ứ c v ề v ị trí, vai trò c ủa Trườ ng m ầ m non và Trung tâm giáo d ụ c tr ẻ khuy ế t t ậ t trong giáo d ụ c hòa nh ậ p cho tr ẻ t ự k ỷ (56)
      • 2.2.3. Nh ậ n th ứ c v ề n ộ i dung giáo d ụ c hòa nh ậ p tr ẻ t ự k ỷ theo mô hình (58)
      • 2.2.4. Nh ậ n th ứ c v ề phương pháp giáo dụ c hòa nh ậ p tr ẻ t ự k ỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non (60)
    • 2.3. Thực trạng giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa (63)
      • 2.3.1. Thực trạng kết hợp giữa trường mầm non và trung tâm giáo dục (63)
      • 2.3.2. Th ự c tr ạ ng n ộ i dung k ế t h ợ p giáo d ụ c hòa nh ậ p cho tr ẻ t ự k ỷ theo mô hình k ế t h ợ p gi ữ a trung tâm giáo d ụ c tr ẻ khuy ế t t ật và trườ ng m ầ m non (67)
      • 2.3.3. Th ự c tr ạ ng m ức độ và k ế t qu ả s ử d ụng các phương pháp giáo dụ c hòa nh ậ p cho tr ẻ t ự k ỷ theo mô hình k ế t h ợ p gi ữ a trung tâm giáo d ụ c tr ẻ (70)
      • 2.3.4. Th ự c tr ạ ng th ự c hi ệ n quy trình giáo d ụ c hòa nh ậ p cho tr ẻ t ự k ỷ (75)
      • 2.3.5. K ế t qu ả giáo d ụ c hòa nh ậ p cho tr ẻ t ự k ỷ theo mô hình k ế t h ợ p (78)
      • 2.3.6. Th ự c tr ạng trình độ chuyên môn và nhu c ầ u khi tham gia giáo d ụ c hòa nh ậ p tr ẻ t ự k ỷ c ủ a giáo viên (79)
    • 2.4. Đánh giá chung về kh ả o sát th ự c tr ạ ng (81)
      • 2.4.1. Thu ậ n l ợ i (81)
      • 2.4.2. H ạ n ch ế (81)
      • 2.4.3. Nguyên nhân d ẫn đế n h ạ n ch ế (82)
    • 2.5. K ế t lu ận chương 2 (82)
  • Chương 3 M Ộ T S Ố BI Ệ N PHÁP GIÁO D Ụ C HÒA NH Ậ P CHO TR Ẻ (83)
    • 3.1. Nh ữ ng nguyên t ắ c ch ỉ đạo đề xu ấ t bi ệ n pháp (84)
      • 3.1.1. Nguyên t ắc đả m b ả o m ụ c tiêu c ủ a giáo d ụ c m ầ m non (84)
      • 3.1.2. Nguyên t ắc đả m b ả o tính toàn di ệ n (84)
      • 3.1.3. Nguyên t ắc đả m b ả o tính phù h ợ p v ới đặ c điể m và m ức độ t ự k ỷ ở (85)
      • 3.1.4. Nguyên t ắc tương tác giữ a giáo viên m ầ m non và tr ẻ t ự k ỷ (85)
    • 3.2. Một số biện pháp giáo dục hòa nhập trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa (85)
      • 3.2.1. Xây dựng nội dung, chương trình giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ (85)
      • 3.2.2. Xây d ự ng k ế ho ạch chăm sóc giáo dụ c hòa nh ậ p tr ẻ t ự k ỷ theo mô hình k ế t h ợ p gi ữ a trung tâm giáo d ụ c tr ẻ khuy ế t t ật và trườ ng m ầ m non (86)
      • 3.2.3. T ổ ch ức trao đổ i, chia s ẻ ki ế n th ứ c giáo d ụ c hòa nh ậ p tr ẻ t ự k ỷ (88)
      • 3.2.4. K ế t h ợp các phương pháp dạ y h ọc, phương pháp giáo dục và phương pháp giáo d ục đặ c bi ệ t vào giáo d ụ c hòa nh ậ p cho tr ẻ t ự k ỷ theo mô hình (89)
      • 3.2.5. Xây d ự ng quy trình giáo d ụ c hòa nh ậ p tr ẻ t ự k ỷ t ại trườ ng m ầ m (91)
      • 3.2.6. Tăng cườ ng ki ể m tra - đánh giá giáo dụ c hòa nh ập và đánh giá trẻ (93)
    • 3.3. Khảo nghiệm (94)
      • 3.3.1. M ục đích khả o nghi ệ m (94)
      • 3.3.2. N ộ i dung kh ả o nghi ệ m (95)
      • 3.3.3. Đối tƣợng tiến hành khảo nghiệm (0)
      • 3.3.4. Phương pháp khả o nghi ệ m (95)
      • 3.3.5. K ế t qu ả kh ả o nghi ệ m (95)
    • 3.4. Kết luận chương 3 (100)

Nội dung

Lý do ch ọn đề tài

Xã hội hiện đại, mặc dù đạt được nhiều tiến bộ khoa học và nâng cao chất lượng cuộc sống, vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức sức khỏe, trong đó tự kỷ là một hội chứng ngày càng phổ biến Nguyên nhân cụ thể của tự kỷ vẫn chưa được xác định và phương pháp điều trị còn hạn chế, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của cá nhân và cộng đồng.

Trẻ tự kỷ cần được đảm bảo các quyền trẻ em, bao gồm quyền chăm sóc sức khỏe và giáo dục Việc can thiệp sớm để giúp trẻ hòa nhập xã hội là rất quan trọng và có ý nghĩa nhân đạo Tuy nhiên, giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ vẫn chưa được chú trọng đúng mức, nhiều trường học vẫn từ chối nhận trẻ tự kỷ hoặc không cung cấp sự chăm sóc và giáo dục phù hợp, hiệu quả.

Tuyên Quang, một tỉnh miền núi phía Bắc, vẫn đối mặt với nhiều thách thức về tài chính, cơ sở vật chất và nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục, đặc biệt là trong mô hình giáo dục hòa nhập Tuy nhiên, địa phương đã chú trọng đầu tư cho giáo dục trẻ khuyết tật và đạt được những thành công đáng kể.

Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật hiện chỉ tập trung vào việc chăm sóc và can thiệp cho trẻ khuyết tật thể chất thông qua các phương pháp y học, dẫn đến những hạn chế trong can thiệp tâm lý giáo dục Để khắc phục những vấn đề này, cần thiết phải có sự hợp tác giữa các trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và các trường mầm non trên địa bàn, nhằm giúp trẻ tự kỷ phát triển đồng đều và hòa nhập tốt hơn với cộng đồng.

Chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài "Giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non" tại thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang, nhằm tìm ra phương pháp giáo dục hiệu quả cho trẻ tự kỷ.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN 2 http://www.lrc.tnu.edu.vn

M ục đích nghiên cứ u

Nghiên cứu này tập trung vào thực trạng giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ tại thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang Bài viết đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập thông qua mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non Mục tiêu là tạo ra một môi trường học tập tích cực và hỗ trợ cho trẻ tự kỷ, giúp các em phát triển toàn diện và hòa nhập tốt hơn với cộng đồng.

Khách th ể và đối tƣợ ng nghiên c ứ u

3.1 Khách th ể nghiên c ứ u: Công tác giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ tuổi mầm non tại thành phố Tuyên Quang

Nghiên cứu này tập trung vào thực trạng và các biện pháp giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ tại thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang Mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non được áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục cho trẻ tự kỷ Các biện pháp cụ thể sẽ được đề xuất để cải thiện điều kiện học tập và phát triển toàn diện cho trẻ.

Gi ả thuy ế t khoa h ọ c

Đánh giá thực trạng và đề xuất biện pháp giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ là cần thiết, với mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non Việc này sẽ giúp nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ tại thành phố Tuyên Quang, phù hợp với điều kiện và chức năng của các cơ sở giáo dục.

Nhi ệ m v ụ nghiên c ứ u

Xây dựng cơ sở lý luận về giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ là một yếu tố quan trọng, đặc biệt khi áp dụng mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non Mô hình này không chỉ giúp trẻ tự kỷ tiếp cận với môi trường học tập đa dạng mà còn tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện cả về kỹ năng xã hội và nhận thức Việc phối hợp giữa hai loại hình giáo dục này sẽ mang lại lợi ích tối ưu cho trẻ, thúc đẩy khả năng hòa nhập và giảm thiểu định kiến xã hội.

Nghiên cứu thực trạng giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ tại thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang, tập trung vào mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non Mô hình này nhằm tạo ra môi trường học tập thân thiện, giúp trẻ tự kỷ phát triển toàn diện cả về mặt nhận thức và xã hội Qua đó, nghiên cứu đánh giá hiệu quả của phương pháp giáo dục hòa nhập trong việc nâng cao chất lượng giáo dục cho trẻ tự kỷ, đồng thời đề xuất các giải pháp cải thiện nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của trẻ.

Để nâng cao hiệu quả giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ, cần triển khai một số biện pháp như: tăng cường sự hợp tác giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non, tổ chức các khóa đào tạo cho giáo viên về phương pháp giảng dạy trẻ tự kỷ, và phát triển chương trình giáo dục linh hoạt phù hợp với nhu cầu của từng trẻ Bên cạnh đó, cần tạo ra môi trường học tập thân thiện, khuyến khích sự giao lưu giữa trẻ tự kỷ và các bạn cùng trang lứa để giúp trẻ phát triển kỹ năng xã hội.

Phương pháp nghiên cứ u

Nghiên cứu này áp dụng phương pháp tổng hợp, hệ thống hóa, phân tích và đánh giá các chuyên đề, bài viết, và công trình của các tác giả trong và ngoài nước, được công bố trên sách báo, tạp chí, và internet Mục tiêu là tìm hiểu tình trạng tự kỷ ở trẻ em và giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ trong độ tuổi mầm non, từ đó xây dựng cơ sở lý luận vững chắc cho đề tài.

Nghiên cứu thực trạng giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ lứa tuổi mầm non tại thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang được thực hiện thông qua nhiều phương pháp, bao gồm điều tra bằng phiếu hỏi, quan sát, trò chuyện, ý kiến chuyên gia, nghiên cứu trường hợp, trắc nghiệm tâm lý, thực nghiệm và tổng kết kinh nghiệm Mô hình nghiên cứu kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non nhằm đánh giá hiệu quả và thực trạng của giáo dục hòa nhập.

Phương pháp thống kê toán học được áp dụng để tính toán các số liệu nghiên cứu thực trạng, từ đó xác định các thông số định lượng và định tính liên quan đến kết quả nghiên cứu.

C ấ u trúc lu ận văn

Chương 1 trình bày cơ sở lý luận về giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ, nhấn mạnh mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non Mô hình này nhằm tạo ra môi trường học tập thân thiện, hỗ trợ sự phát triển toàn diện cho trẻ tự kỷ thông qua việc kết hợp các phương pháp giáo dục đặc biệt và giáo dục hòa nhập Sự phối hợp giữa các chuyên gia giáo dục và giáo viên mầm non là yếu tố then chốt để đảm bảo hiệu quả trong quá trình giáo dục và phát triển kỹ năng xã hội cho trẻ.

Chương 2: Tình hình giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ tại thành phố Tuyên Quang được triển khai thông qua mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non Mô hình này nhằm tạo ra môi trường học tập tích cực, giúp trẻ tự kỷ phát triển kỹ năng xã hội và học tập hiệu quả hơn Việc áp dụng phương pháp giáo dục hòa nhập không chỉ mang lại lợi ích cho trẻ mà còn nâng cao nhận thức của cộng đồng về sự đa dạng và khả năng của trẻ khuyết tật.

Chương 3 trình bày các biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ thông qua mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non tại thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang Mô hình này nhằm tạo ra môi trường học tập thân thiện, hỗ trợ sự phát triển toàn diện cho trẻ tự kỷ, đồng thời nâng cao nhận thức của cộng đồng về giáo dục hòa nhập Các biện pháp cụ thể bao gồm đào tạo giáo viên, phát triển chương trình giáo dục phù hợp và tăng cường sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN 4 http://www.lrc.tnu.edu.vn

CƠ SỞ LÝ LU Ậ N V Ề GIÁO D Ụ C HÒA NH Ậ P CHO TR Ẻ T Ự

Sơ lƣợ c v ề l ị ch s ử nghiên c ứ u v ấn đề

Từ đầu thế kỷ 19, nhiều báo cáo đã ghi nhận trường hợp trẻ nhỏ mắc các rối loạn tâm trí nặng, liên quan đến biến dạng rõ rệt trong quá trình phát triển Mausdley (1876) là nhà tâm bệnh học đầu tiên chú trọng nghiên cứu các trạng thái này.

Mãi đến sau này, các rối loạn tự kỷ mới được khoa học công nhận, ban đầu chúng được phân loại như một dạng tâm thần phân liệt Năm 1911, nhà tâm thần học Bleuler lần đầu tiên giới thiệu khái niệm “tự kỷ”, coi đây là một trong những triệu chứng cơ bản của tâm thần phân liệt ở người lớn Ông cho rằng tính tự kỷ thể hiện sự tập trung hoàn toàn vào thế giới nội tâm, dẫn đến mất khả năng tiếp xúc và cắt đứt với thế giới bên ngoài.

Năm 1943, bác sĩ Leo Kanner đã công bố nghiên cứu về trẻ tự kỷ, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong việc nhận thức về dạng tật này Sau phát hiện này, sự quan tâm của giới khoa học đối với hội chứng tự kỷ ngày càng gia tăng, dẫn đến nhiều nghiên cứu về nguyên nhân và hành vi của trẻ tự kỷ Các phương pháp trị liệu và giáo dục như D.I.R của tiến sĩ Greenspan và tiến sĩ Wieder, phương pháp ABA, và phương pháp Teach đã được phát triển, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống cho trẻ tự kỷ.

Số hóa tại Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên chủ yếu phục vụ cho môi trường chuyên biệt và giáo dục tại gia đình Tuy nhiên, việc áp dụng những phương pháp này trong các lớp học hòa nhập gặp nhiều khó khăn.

Trong công trình nghiên cứu của mình, nhà tâm lý học Bruno Bettelheim đã đưa ra một quan điểm gây tranh cãi về nguyên nhân dẫn đến tự kỷ ở trẻ em Theo ông, trẻ tự kỷ thường là kết quả của việc người mẹ thiếu sự quan tâm và chăm sóc, đặc biệt là khi người mẹ có học vấn cao và thiên về lối sống lý trí hơn là tình cảm Điều này có thể khiến trẻ cảm thấy bị bỏ rơi và phản ứng lại bằng cách cách ly với mẹ và người khác, thể hiện qua việc không muốn gần, ôm, hôn hoặc nhìn vào mắt mẹ, cũng như hạn chế giao tiếp với những người xung quanh.

Nghiên cứu của Lorna Wing cho thấy trẻ tự kỷ có thể câm lặng suốt đời hoặc chỉ bắt chước âm thanh của động vật và lặp lại câu, từ Ngữ điệu và cách sử dụng lời nói của trẻ thường kì dị, đơn điệu và máy móc, với sự thay đổi giọng điệu không phù hợp Họ dường như không nghe, không hiểu và không phản hồi khi giao tiếp với người khác.

Trẻ chỉ nghe, hiểu trong tình huống trẻ muốn hoặc liên quan đến nhu cầu của trẻ

M Mahler cho rằng tự kỷ là biểu hiện sựkhông bình thường xuất phát từ mối quan hệ mẹ con Đứa trẻ mới sinh ra có mối quan hệ cộng sinh hòa mình với người mẹ, đây là giai đoạn tự kỷ bình thường, sau đó đến giai đoạn chia cách cá nhân hóa (nảy sinh tâm lý cá nhân) Có một số rối loạn trong quá trình này, một điều gì đó không ổn trong giai đoạn tách mẹvà cá nhân hóa Cơ chế tự kỷ gắn với sự mất khía cạnh hoạt hóa, mất sự phân biệt với cơ thể người mẹ, nên đứa trẻ không có sức sống, mất ham muốn về xã hội Chức năng của trẻ tự kỷmang ý nghĩa thái độ phòng vệcơ bản của đứa trẻ, không thể xây dựng được cực định hướng đối với người mẹ Đứa trẻ dính chặt vào người lớn và dùng họ như một bộ phận để kéo dài cơ thể nó Đây là cách đứa trẻ gạt ra quyền năng của người mẹtrong giai đoạn đầu tiên.[36]

Tác giả Robert Rosine Le Eost cho rằng trẻ tự kỷ mang đến cho chúng ta những bài học quý giá; thế giới của trẻ tự kỷ thường tự hủy hoại, chối bỏ xung quanh và mọi người, khiến thực tại trở thành một đồ vật Khi nhìn vào gương, trẻ cảm nhận một nỗi sợ hãi lớn lao; mặc dù trẻ sống trong môi trường ngôn ngữ, nhưng không thể phát biểu ý kiến riêng, mà chỉ kết nối bằng những lời nói máy móc.

Trẻ tự kỷ thường tách biệt với người khác và không có nhu cầu giao tiếp, dẫn đến cảm giác bị nuốt chửng trong những ham muốn của mọi người xung quanh Sự lặp lại mà trẻ trải qua không được hiểu và góp phần vào sự cô lập của chúng.

Một số tác giả đã dày công nghiên cứu về vấn đề giáo dục hòa nhập:

M Soder đã nghiên cứu thực hiện hòa nhập cho trẻ chậm phát triển trí tuệ Ông cho rằng: Cần phải tập trung nghiên cứu để giúp trẻ tự tìm ra hoàn cảnh của mình thay thế cho việc đo đạc hiệu quả của công việc hòa nhập

Irene Lospez đã nghiên cứu thành công về "hòa nhập từ viễn cảnh học sinh", nhấn mạnh tầm quan trọng của cộng đồng tinh thần đoàn kết, sự hiểu biết lẫn nhau, tham gia và giao tiếp trong quá trình hòa nhập Trong khi đó, Lindsay J Vander WIELE trong đề tài “Ưu và nhược điểm của giáo dục hòa nhập trẻ em rối loạn phổ tự kỷ” đã phân tích rằng trẻ rối loạn phổ tự kỷ cần được tạo điều kiện để học tập cùng với trẻ bình thường ở mức độ tối đa, phù hợp và cần thiết.

Nghiên cứu về vấn đề đào tạo đội ngũ giáo viên giáo viên

(Teacher for New Era Project - TNE)

) giáo viên giáo viên giáo viên giáo viên ,…

Mặc dù vấn đề trẻ tự kỷ và giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ được nghiên cứu muộn, nhưng đã thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả trên thế giới.

, hội chứng tự kỷ 20 trẻ tự kỷ Trẻ tự kỷ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN 7 http://www.lrc.tnu.edu.vn

Công trình “Cách tiếp cận trẻ có rối loạn phổ tự kỷ dựa trên cộng đồng” tại Bệnh viện Nhi đồng 1, do bác sỹ Phạm Ngọc Thanh thực hiện, đã chỉ ra thực trạng của trẻ tự kỷ và cung cấp hướng dẫn can thiệp trị liệu cho phụ huynh.

Nghiên cứu tại Khoa tâm thần Bệnh viện Nhi trung ương do bác sĩ Quách Thúy Minh và các cộng sự thực hiện đã chỉ ra rằng 55,5% trẻ tự kỷ có sự cải thiện trong giao tiếp bằng mắt, 64,1% giảm triệu chứng tăng động và 77,8% giảm xung động khi được điều trị tâm vận động kết hợp với sự hỗ trợ từ gia đình.

Tại hội thảo "Vấn đề gắn bó mẹ - con và trị liệu tâm lý cho cặp mẹ - con ở Trung tâm N - T Nguyễn Khắc Viện", tác giả Nguyễn Minh Đức, Giám đốc Trung tâm, đã trình bày những khía cạnh quan trọng về mối quan hệ gắn bó giữa mẹ và con, cũng như các phương pháp trị liệu tâm lý hiệu quả dành cho cặp mẹ - con.

Khái ni ệ m công c ụ

Cho đến nay, các nhà khoa học trên thế giới đã đƣa ra khá nhiều quan niệm về tự kỷ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN 10 http://www.lrc.tnu.edu.vn

Thuật ngữ "tự kỷ" được E Bleuler giới thiệu vào năm 1911, nhằm mô tả tình trạng mất kết nối với thực tế, dẫn đến khó khăn trong việc giao tiếp và tương tác với người khác.

Theo Freud, tự kỷ được hiểu là sự đầu tư vào đối tượng, quay trở lại cái tôi, thể hiện sự tự yêu và là nơi ẩn náu của trẻ em trong thế giới huyễn tưởng và ảo ảnh Ông nhấn mạnh rằng trạng thái tự trị ảo tưởng này chỉ có thể duy trì trong một thời gian nhất định, và để phát triển, trẻ cần có sự chăm sóc từ người mẹ.

Theo Kanner (1943) định nghĩa tự kỷ là sự rút lui cực đoan của một số trẻ em từ khi mới sinh, với triệu chứng đặc trưng là rối loạn từ cội rễ Trẻ em mắc chứng tự kỷ không có khả năng thiết lập các mối quan hệ bình thường với người khác và hành động một cách thích hợp trong các tình huống từ những ngày đầu đời.

Theo từ điển bách khoa Columbia (1996), tự kỷ là một khuyết tật phát triển do rối loạn thần kinh ảnh hưởng đến chức năng não bộ Tự kỷ được nhận diện qua sự phát triển không bình thường về kỹ năng giao tiếp, tương tác xã hội và suy luận Đặc biệt, tỷ lệ trẻ nam mắc tự kỷ cao gấp 4 lần so với trẻ nữ.

[33] Trẻ có thể phát triển bình thường cho đến 30 tháng tuổi sau đó gặp phải một số rối nhiễu trong phổ tự kỷ [37]

Năm 1999, tại Hội nghị toàn quốc về tự kỷ ở Mỹ, các chuyên gia đã thống nhất định nghĩa tự kỷ là một dạng rối loạn thuộc nhóm rối loạn phát triển lan tỏa, ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh của sự phát triển, đặc biệt là kỹ năng giao tiếp và quan hệ xã hội.

Năm 2008, Liên hiệp quốc định nghĩa tự kỷ là một khuyết tật phát triển suốt đời, thường biểu hiện trong ba năm đầu đời Tự kỷ là kết quả của rối loạn thần kinh ảnh hưởng đến chức năng não, chủ yếu tác động đến trẻ em và người lớn trên toàn thế giới, không phân biệt giới tính, chủng tộc hay điều kiện kinh tế - xã hội Đặc điểm chính của tự kỷ là sự khó khăn trong giao tiếp và tương tác xã hội.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN 11 http://www.lrc.tnu.edu.vn tương tác xã hội, các vấn đề về giao tiếp bằng lời nói và không bằng lời nói, và có các hành vi, sở thích và hoạt động lặp đi lặp lại và hạn hẹp” [32]

Tự kỷ là một dạng khuyết tật phát triển, được xác định bởi ba khiếm khuyết chính: giao tiếp, tương tác xã hội, và hành vi, sở thích mang tính hạn hẹp lặp đi lặp lại Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về tự kỷ, nhưng chúng đều thống nhất ở các nội dung cốt lõi này.

Hội chứng tự kỷ, có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp "Autos" nghĩa là "tự bản thân", là một rối loạn phát triển lan tỏa do bất thường của não bộ Hội chứng này thường xuất hiện sớm trong những năm đầu đời của trẻ em, với các biểu hiện đặc trưng như kém tương tác xã hội, bất thường về ngôn ngữ, giao tiếp và hành vi.

Hội chứng tự kỷ lần đầu tiên được bác sĩ Leo Kanner, người Mỹ gốc Áo, đề cập vào năm 1943 Ông mô tả đây là một rối loạn tâm thần hiếm gặp ở trẻ em, với các đặc điểm nổi bật mà ông đã xác định.

- Thiếu quan hệ tiếp xúc về mặt tình cảm với người khác

- Thể hiện cách chọn lựa các thói quen hàng ngày rất giống nhau về tính cách tỉ mỉ và kì dị

- Không hề nói hoặc cách nói khác thường rõ rệt

- Rất ham thích xoay vặn các đồ vật và thao tác khéo léo

- Có khảnăng ở mức cao về nhìn nhận không gian hoặc giỏi nhƣ vẹt

- Trái ngƣợc với tình trạng khó khăn trong việc học tập các lĩnh vực khác

- Hình thức bề ngoài có vẻ hấp dẫn, nhanh nhẹn, thông minh

Hội chứng tự kỷthường gặp ở trẻ nam cao gấp 4 lần ở trẻ nữ

Phát hiện sớm tự kỷ là quá trình áp dụng các kỹ thuật sàng lọc để nhận diện dấu hiệu của rối loạn phổ tự kỷ ở trẻ dưới 3 tuổi, với thời gian phát hiện sớm nhất từ 6 đến 18 tháng Những trường hợp được xác định là tự kỷ trước 18 tháng thường là điển hình, trong khi những trẻ bị phát hiện muộn thường gặp khó khăn hơn trong việc can thiệp.

Để phát hiện sớm trẻ tự kỷ, cần hiểu rõ các dấu hiệu phát triển ngôn ngữ và hành vi bình thường của trẻ Việc thiếu hiểu biết về các mốc phát triển này, đặc biệt là các dấu hiệu nhận biết tự kỷ, có thể dẫn đến sự chậm trễ trong việc nhận diện và can thiệp kịp thời Sàng lọc trẻ tự kỷ dựa trên các dấu hiệu cụ thể là rất quan trọng để đảm bảo trẻ nhận được sự hỗ trợ cần thiết.

Dấu hiệu sàng lọc tự kỷ là những chỉ báo cho thấy trẻ có nguy cơ cao mắc chứng tự kỷ, được nghiên cứu và áp dụng từ năm 1992 bởi Baron-Cohen, Allen và Gilber trên 12,000 trẻ em 18 tháng tuổi Năm 2006, Tiến sĩ Terylynn Tyrel từ Đại học John Hopkins đã tổng hợp 9 dấu hiệu quan trọng từ nhiều nghiên cứu khác nhau Bộ câu hỏi này hiện đang được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu để sàng lọc tự kỷ ở trẻ dưới 18 tháng tuổi.

Các dấu hiệu sàng lọc phát hiện tự kỷ:

Biết cách khoe và thể hiện nét mặt ấm áp, vui sướng là rất quan trọng trong giao tiếp Mắt cần linh hoạt và phù hợp với ngữ cảnh để tạo sự kết nối Khi được gọi tên, việc quay lại thể hiện sự chú ý và quan tâm Chia sẻ sở thích và mối quan tâm giúp xây dựng mối quan hệ Phối hợp các kỹ năng giao tiếp không lời, như cử động và tư thế, cũng đóng vai trò quan trọng Tuy nhiên, cần lưu ý đến các hành vi bất thường và những cử động hoặc tư thế lặp lại của cơ thể để hiểu rõ hơn về tình huống giao tiếp.

Viện Hàn lâm Thần kinh học của Mĩ đã đưa ra các dấu hiệu báo động của tự kỷ là những trẻ:

(1) Không bi bô, không biết dùng cử chỉ vào khoảng 12 tháng

(2) Không biết nói từđơn lúc 16 tháng.

(3) Không biết đáp lại khi đƣợc gọi tên

(4) Không tựnói đƣợc câu có hai từ lúc 24 tháng

(5) Mất kỹnăng ngôn ngữ hoặc xã hội vào bất kì độ tuổi nào [13]

Can thiệp sớm là sự hướng dẫn giáo dục quan trọng cho trẻ và gia đình trong 5 năm đầu đời, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của cả trẻ và gia đình Việc can thiệp sớm không chỉ chuẩn bị cho trẻ vào lớp mẫu giáo mà còn tạo nền tảng cho việc hòa nhập tại các trường phổ thông sau này Đây là những chỉ dẫn và dịch vụ cần thiết dành cho trẻ khuyết tật trước tuổi tiểu học, nhằm kích thích sự phát triển của trẻ.

Một số đặc điểm cơ bản về trẻ mầm non mắc hội chứng tự kỷ

1.3.1 Nh ữ ng bi ể u hi ệ n c ủ a h ộ i ch ứ ng t ự k ỷ và tr ạ ng thái liên quan t ớ i h ộ i ch ứ ng t ự k ỷ ở tu ổ i m ầ m non

Theo nghiên cứu, trẻ tự kỷ có thể xuất hiện biểu hiện sớm hoặc muộn, nhưng thường rõ ràng nhất từ 3 đến 5 tuổi Các biểu hiện của trẻ tự kỷ rất đa dạng, không theo một khuôn mẫu cố định, và mỗi trẻ tự kỷ có những đặc điểm khác nhau về biểu hiện, mức độ và thể trạng.

Mặc dù các dấu hiệu rõ ràng nhất của sự bất thường thường xuất hiện ở giai đoạn 3 - 5 tuổi, nhưng ngay từ khi sinh ra, các chuyên gia đã ghi nhận một số biểu hiện bất thường có thể xảy ra ở trẻ Các triệu chứng này sẽ khác nhau tùy theo từng giai đoạn phát triển Do đó, cha mẹ cần sớm nhận biết các triệu chứng bất thường ở trẻ để có thể đưa trẻ đi khám và can thiệp kịp thời, đặc biệt là trong giai đoạn 0 - 6 tháng tuổi.

Thiếu cử chỉtrao đổi vui mừng với mẹ; Không tỏra thái độthích thú khi đƣợc người khác quan tâm chăm sóc.

Có dấu hiệu né tránh, ngoảnh mặt đi nơi khác khi mẹ ở tƣ thế đối diện với trẻ

Có ánh mắt nhìn bất thường, vô cảm

Im lặng cả ngày, ít cửđộng hoặc luôn luôn hoạt động bứt dứt không yên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN 16 http://www.lrc.tnu.edu.vn

Tư thế bất thường không thích hợp khi được mẹ bế: cứng đờ hoặc người mềm nhũn thể hiện trương lực cơ bất thường

Rối loạn giấc ngủ: quấy khóc nhiều, ngủ ít, ngủ không yên giấc

Rối loạn ăn uống: hay nôn chớ, khó ăn b Các biểu hiện khi trẻ 6 - 12 tháng tuổi

Trẻkhông quan tâm chú ý đến người khác, chơi một mình

Không phát âm hoặc ít phát âm

Cử động lạ thường: đung đưa người, chơi với các ngón tay hoặc bàn tay ở trước mắt

Khi đặt trẻđứng trẻthường kiễng gót chân

Giơ tay định cầm một vật nhƣng lại dừng tay trong khoảng không

Tăng hoạt động hoặc quá ù lì

Cách sử dụng hay chơi với các đồ vật bất thường c Các biểu hiện khi trẻ 12 - 30 tháng tuổi

Không biết dùng ngón trỏ để chỉ vào một đồ vật thể hiện sự quan tâm hoặc muốn xin thứđó khi 1 tuổi

Không nói đƣợc từđơn khi 16 tháng.

Không nói đƣợc từ đôi khi 2 tuổi Đã nói đƣợc nhƣng sau đó mất dần ngôn ngữ

Nói không phù hợp với hoàn cảnh

Nói một mình, nói lảm nhảm

Không chấp nhận giao tiếp, không kết bạn

Không đáp lại khi gọi tên

Không biết chơi giả vờ

Các hành vi bất thường: rập khuôn, tự hủy, khóc la ăn vạ, đánh đập người khác Không giao tiếp bằng mắt: không nhìn vào mắt người đối thoại

Cử động cơ thể không bình thường Ví dụ: lắc lư toàn thân, lắc ngón tay, hay đưa tay trước mắt đểnhìn, đi nhón gót.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN 17 http://www.lrc.tnu.edu.vn

Sợ chỗ lạ, người lạ, vật lạ

Không chịu thay đổi thói quen

Quá nhạy cảm với một số cảm giác: âm thanh, mùi vị

Rối loạn ăn uống, tiêu hóa d Các biểu hiện khi trẻ 30 - 72 tháng tuổi

Trẻ bị chậm nói, nếu có ngôn ngữ phát triển, có thể có chứng nhại lời (lặp lại theo kiểu học vẹt những gì người khác nói).

Có vẻ rất nhớ đường đi và địa điểm.

Thích các con số và thích đọc tiếng nước ngoài

Rất tốt khi thao tác các sản phẩm điện tử

Thích nhìn nghiêng hay liếc mắt khi ngắm nghía đồ vật

Không biết chơi tưởng tượng, chơi giả vờ, chơi đóng vai.

Giọng nói kỳ cục (chẳng hạn nhƣ cách nói nhấn giọng hay đơn điệu).

Rất khó chịu khi thay đổi thói quen hàng ngày.

Giao tiếp mắt vẫn còn hạn chế, dù có thể đã có một số cải thiện

Tương tác với người khác gia tăng nhưng vẫn còn hạn chế.

Các cơn giận và sự gây hấn vẫn tồn tại nhƣng có thể dần dần cải thiện.

Tự làm tổn thương mình

Trẻ tự kỷ thường có những bất thường cận lâm sàng, với gần 60% trẻ có nồng độ canxi trong máu giảm hoặc điện não đồ cho thấy sóng bất thường Nghiên cứu cho thấy khoảng 70% trẻ tự kỷ bị chậm phát triển trí tuệ, với sự phát triển nhận thức không đạt yêu cầu so với trẻ cùng độ tuổi Sự tiến triển nhận thức của trẻ cũng không theo logic thông thường, dẫn đến những biểu hiện rối loạn phát triển Do đó, việc giáo dục trẻ tự kỷ trở nên khó khăn và phức tạp.

1.3.2 Phân lo ạ i h ộ i ch ứ ng t ự k ỷ và các h ộ i ch ứ ng khác trong ph ổ t ự k ỷ ở tu ổ i m ầ m non

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN 18 http://www.lrc.tnu.edu.vn a Phân loại hội chứng tự kỷ

- Căn cứ vào các khiếm khuyết trong giao tiếp xã hội, có thể chia thành bốn loại chính:

Nhóm xa lánh mọi người: coi người khác như không tồn tại, không thể hiện một dạng cảm xúc nào, không có vẻ gì đồng cảm.

Nhóm thụ động: không trao đổi qua mắt nhìn nhƣng khi có sự nhắc nhở cũng có thể đáp ứng với ánh mắt của người khác.

Trẻ em thuộc nhóm chủ động nhưng kỳ quặc thường tích cực tiếp cận với người thân mà ít quan tâm đến bạn bè đồng trang lứa Chúng không chú ý đến cảm xúc và nhu cầu của người nghe, thường nhìn chằm chằm hoặc có hành động ôm chặt, ghì lấy người khác.

Nhóm hình thức, khoa trương: trẻ thường bám vào các quy tắc một cách cứng nhắc, không hiểu ý nghĩ và cảm xúc của người khác.

- Theo phân loại quốc tế DSM - IV và ICD 10, tự kỷ đƣợc phân thành hai loại:

Tự kỷ điển hình là loại tự kỷ bẩm sinh, được phát hiện ngay sau khi sinh hoặc trong giai đoạn sớm của cuộc đời Trẻ em mắc tự kỷ điển hình thường chậm phát triển và xuất hiện các triệu chứng từ khi sinh cho đến trước 3 tuổi.

Tự kỷ không điển hình: sự phát triển bất thường hoặc suy giảm, các triệu chứng của tự kỷ chỉ biểu hiện lần đầu tiên sau 3 tuổi.

Trẻ tự kỷ mức độ nhẹ có khả năng giao tiếp bằng mắt tương đối bình thường và hạn chế trong việc giao tiếp với người khác Các em có thể học các hoạt động đơn giản, phát triển kỹ năng chơi, và nói được ở mức độ tương đối bình thường.

Tự kỷ mức độ trung bình: Trẻ có thể giao tiếp bằng mắt, giao tiếp với người ngoài hạn chếvà nói đƣợc nhƣng hạn chế

Tự kỷ mức độ nặng: Trẻ không giao tiếp bằng mắt, không giao tiếp với người ngoài và không nói đƣợc

Trẻ tự kỷ thường gặp khó khăn trong quan hệ xã hội, đặc biệt là trong giao tiếp Mặc dù có nhiều loại hội chứng khác nhau trong phổ tự kỷ, nhưng điểm chung là sự khiếm khuyết trong khả năng tương tác xã hội.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN 19 http://www.lrc.tnu.edu.vn

Hội chứng Asperger thường khiến người bệnh có biểu hiện vụng về, sợ leo trèo, và khi đi lại thường vung vẩy tay và cúi đầu về phía trước Họ có tư duy thực tế, tính cách kỳ quặc, trí nhớ tốt và khả năng ghi nhớ lâu, thường bị ám ảnh bởi các chủ đề cụ thể Tuy nhiên, người mắc hội chứng này vẫn có khả năng làm việc và sống độc lập.

Hội chứng Rett là một rối loạn phát triển thường gặp ở bé gái, với tuổi khởi phát từ 7 đến 24 tháng Triệu chứng điển hình bao gồm mất khả năng thực hiện các hoạt động khéo léo, chậm phát triển ngôn ngữ, và có những động tác đặc trưng như uốn vẹo người Bên cạnh đó, hội chứng này còn gây rối loạn chức năng vận động, dễ dẫn đến tình trạng co cứng, cùng với sự chậm phát triển trí tuệ.

Hội chứng Landau - Klefner là một rối loạn phát triển biểu hiện qua việc trẻ thu mình, rập khuôn và hạn chế ngôn ngữ Trẻ mắc hội chứng này thường có giai đoạn phát triển bình thường trước 6, 7 tuổi, nhưng sau đó khả năng ngôn ngữ giảm dần về vốn từ và cách diễn đạt, dẫn đến việc được xem như trẻ tự kỷ “thoái lùi”.

Hội chứng Williams là một rối loạn phát triển đặc trưng bởi chậm phát triển ngôn ngữ, nhạy cảm với âm thanh, giảm khả năng chú ý và các vấn đề xã hội Khác với những người mắc tự kỷ, nhiều cá nhân có hội chứng Williams lại thích giao tiếp và thường gặp phải các vấn đề về tim mạch.

Hội chứng gãy nhiễm sắc thể X là một dạng chậm phát triển trí tuệ, đặc trưng bởi việc nhiễm sắc thể X có nhánh bị ngắn Những người mắc hội chứng này thường gặp khó khăn trong phát triển ngôn ngữ, có biểu hiện tăng động, thiếu giao tiếp bằng mắt, và thói quen vỗ tay Khi trưởng thành, họ có thể xuất hiện những đặc điểm nổi bật như khuôn mặt dài và tay dài.

Chứng tăng động giảm chú ý (ADHD) là một rối loạn tâm lý thường gặp ở trẻ em, bắt đầu từ sớm và kéo dài, với các biểu hiện như hoạt động quá mức, khó kiểm soát hành vi và kém khả năng tập trung Những triệu chứng này gây ra nhiều khó khăn trong sinh hoạt, học tập và quan hệ xã hội Trẻ em thường được chẩn đoán ADHD trong độ tuổi từ 4 đến 6, với tỷ lệ bé trai mắc bệnh cao gấp 4 đến 10 lần so với bé gái Tuy nhiên, tỷ lệ rối loạn này ở bé gái cũng đang gia tăng đáng kể.

ADHD thường xuất hiện trong 5 năm đầu đời của trẻ em, với mức độ thay đổi khác nhau tùy theo từng cá nhân Tuy nhiên, triệu chứng của ADHD có xu hướng giảm dần, đặc biệt là về vấn đề vận động, khi trẻ bước vào tuổi thiếu niên.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN 20 http://www.lrc.tnu.edu.vn

Chứng động kinh là một tình trạng y tế gây ra co giật, ảnh hưởng đến nhiều chức năng tinh thần và thể chất Nghiên cứu cho thấy khoảng 20% - 35% người mắc chứng tự kỷ cũng gặp phải cơn động kinh, cho thấy mối liên hệ giữa động kinh và các rối loạn phổ tự kỷ.

Một số vấn đề lý luận cơ bản về giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình k ế t h ợ p gi ữ a trung tâm giáo d ụ c tr ẻ khuy ế t t ật và trườ ng m ầ m non

1.4.1 Vai trò, ch ức năng củ a trung tâm giáo d ụ c tr ẻ khuy ế t t ật và trườ ng m ầ m non trong giáo d ụ c hòa nh ậ p cho tr ẻ t ự k ỷ

Trường mầm non và trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật là những cơ sở giáo dục quan trọng, thực hiện chức năng giáo dục và hỗ trợ phát triển con người thông qua các chương trình tác động chuyên biệt.

Cùng thực hiện các chức năng giáo dục, song trường mầm non và trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật lại có những đặc trƣng riêng.

Trường có nhiệm vụ tiếp nhận và phân loại trẻ tự kỷ vào lớp học phù hợp, đảm bảo rằng trẻ được xếp vào lớp mầm non tương thích với sự phát triển của độ tuổi.

Lớp học nên có tỉ lệ trẻ hợp lý, không quá đông, với mỗi lớp chỉ nên xếp từ 1-2 trẻ tự kỷ học hòa nhập Để đảm bảo giáo viên có thể giảng dạy và chăm sóc trẻ tốt hơn, sĩ số lớp cần được giảm từ 3-5 trẻ khi nhận thêm 1-2 trẻ tự kỷ.

Nhà trường cần thành lập nhóm chuyên môn để hỗ trợ giáo viên trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục cá nhân cho trẻ tự kỷ, nhằm đảm bảo hiệu quả trong công tác dạy lớp hòa nhập.

Hiệu trưởng và ban giám hiệu trường mầm non là người đóng vai trò lãnh đạo tích cực mang tính hỗ trợ cao trong giáo dục hòa nhập

Nhà trường duy trì sổ danh bạ theo dõi học sinh, bao gồm cả học sinh khuyết tật, với đầy đủ thông tin như số thứ tự, tên, ngày tháng năm sinh, dân tộc, tôn giáo, tên cha mẹ, nghề nghiệp và địa chỉ liên lạc khi cần báo tin, cùng với giáo viên phụ trách lớp.

Giáo viên cần xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân hóa cho trẻ khuyết tật, trong đó điều chỉnh các mục tiêu giáo dục dài hạn và ngắn hạn để phù hợp với nhu cầu của từng học sinh.

Kế họach giáo dục và các biện pháp thực hiện phải cụ thể để giúp trẻ đạt đƣợc mục

Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên đã thực hiện số hóa tài liệu, đồng thời tổ chức các cuộc trao đổi và thảo luận với phụ huynh và đội ngũ giáo viên chuyên môn nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.

Giáo viên cần điều chỉnh phương pháp dạy và đánh giá để phù hợp với trẻ tự kỷ Nhà trường nên bố trí thiết bị và đồ dùng học tập thích hợp nhằm hỗ trợ giáo dục cho trẻ tự kỷ, đồng thời đề xuất tăng cường sự hỗ trợ từ gia đình và xã hội về cơ sở vật chất Sự cộng tác chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình, cộng đồng và các ban ngành địa phương là cần thiết để huy động nhiều nguồn lực hỗ trợ cho giáo dục hòa nhập.

Trường mầm non đóng vai trò quan trọng trong việc giúp trẻ tự kỷ hòa nhập xã hội thông qua việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục Đặc biệt, việc chú trọng đến yếu tố tâm lý và tinh thần của trẻ tự kỷ là rất cần thiết để tạo điều kiện cho các em phát triển tốt hơn.

Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật tập trung vào việc thực hiện chương trình giáo dục cá nhân hóa cho trẻ em với các dạng khuyết tật khác nhau, đặc biệt là trẻ tự kỷ Tại đây, trẻ tự kỷ nhận được sự hỗ trợ qua các biện pháp chăm sóc và can thiệp y học, nhằm điều trị vấn đề cá nhân của các em Tuy nhiên, cán bộ giáo viên thường có ít kỳ vọng vào khả năng của trẻ, dẫn đến việc trẻ nhận được giáo dục dưới mức tiềm năng của mình Trung tâm hướng đến phát triển giáo dục cho trẻ tự kỷ theo một xu hướng đã được sắp đặt, nhưng cần cải thiện để nâng cao kỳ vọng và chất lượng giáo dục cho các em.

Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật cần mở rộng quy mô và mô hình trị liệu cho trẻ tự kỷ, bổ sung cán bộ thực hiện trị liệu và tổ chức đào tạo cho đội ngũ nhân viên Mục tiêu là xây dựng mô hình trị liệu và giáo dục trẻ tự kỷ cả ngày, đáp ứng nhu cầu của phụ huynh Đồng thời, tăng cường phối hợp giữa Trung tâm, nhà trường, gia đình và cộng đồng trong việc thực hiện trị liệu cho trẻ.

Lồng ghép các chương trình an sinh xã hội và chăm sóc trẻ tự kỷ là rất quan trọng, nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của gia đình, cộng đồng trong việc phòng ngừa và hỗ trợ trẻ Hoạt động truyền thông cần được đẩy mạnh để giúp trẻ tự kỷ sớm hòa nhập cộng đồng và nhận được sự chăm sóc, phục hồi chức năng cần thiết.

Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật thực hiện các chương trình can thiệp sớm và giáo dục đặc biệt để hỗ trợ trẻ tự kỷ cùng gia đình, giúp trẻ vượt qua khó khăn và phát triển năng lực học tập Mục tiêu là trang bị cho trẻ các kỹ năng tự lập cơ bản, từ đó tạo điều kiện cho trẻ hòa nhập tốt hơn vào cộng đồng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN 22 http://www.lrc.tnu.edu.vn

Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non có trách nhiệm cùng nhau thực hiện các nội dung:

- Lập kế hoạch giáo dục

- Xác định mục tiêu giáo dục hòa nhập theo mô hình kết hợp

- Tổ chức thực hiện nội dung giáo dục hòa nhập theo mô hình kết hợp

- Xác định các phương pháp giáo dục hòa nhập theo mô hình kết hợp

- Xác định phương tiện tổ chức hoạt động giáo dục hòa nhập theo mô hình kết hợp

- Xác định thời gian và quy trình tác động

- Triển khai phương án kết hợp giữa giáo viên trường mầm non và cán bộ của trung tâm

- Xã hội hóa về giáo dục hòa nhập theo mô hình kết hợp

- Kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục hòa nhập theo mô hình kết hợp

1.4.2 M ụ c tiêu giáo d ụ c hòa nh ậ p cho tr ẻ t ự k ỷ l ứ a tu ổ i m ầ m non theo mô hình k ế t h ợ p gi ữ a trung tâm giáo d ụ c tr ẻ khuy ế t t ật và trườ ng m ầ m non

Giúp trẻ gặp khó khăn trong học tập khắc phục những điểm yếu nhƣ:

+ Cách thức giao tiếp, ứng xử;

+ Các kỹ năng sống cơ bản;

+ Tăng khả năng vận động của trẻ;

+ Phát huy tối đa các tố chất thế mạnh của trẻ về khảnăng tƣ duy thiên về kỹ thuật, toán, tin học

+ Có thể tiếp thu được phần kiến thức cơ bản trong chương trình

Giúp trẻ dễ dàng hòa nhập cuộc sống, hòa nhập cộng đồng (nhất là đối với những trường hợp mắc bệnh tự kỷ thể nhẹ hội chứng Asperger)

1.4.3 N ộ i dung giáo d ụ c hòa nh ậ p cho tr ẻ t ự k ỷ l ứ a tu ổ i m ầ m non theo mô hình k ế t h ợ p gi ữ a trung tâm giáo d ụ c tr ẻ khuy ế t t ật và trườ ng m ầ m non a, Hình thành kỹnăng ngôn ngữ - giao tiếp

Nhu cầu giao tiếp là một trong những nhu cầu cơ bản nhất trong cuộc sống con người, đặc biệt quan trọng đối với trẻ khuyết tật và trẻ tự kỷ Khả năng diễn đạt và bày tỏ nhu cầu, ước muốn, cũng như yêu cầu giúp đỡ sẽ mang lại nhiều lợi ích cho trẻ trong việc giao tiếp và tương tác xã hội.

Để giúp trẻ tự kỷ giao tiếp hiệu quả, cần kiên trì dạy trẻ cách nghe và nhìn mặt đối mặt, đồng thời khơi dậy sự thích thú của trẻ trong quá trình học Việc dạy nói nên dựa trên nhu cầu của trẻ, vì khi trẻ có nhu cầu, khả năng nói của trẻ sẽ cao hơn Để trẻ hiểu ngôn ngữ tốt hơn, cần ghi nhận những tình huống mà trẻ phản ứng khi nghe nói và khuyến khích trẻ sử dụng từ ngữ nhiều hơn, ví dụ như khi trẻ nói “bay”, hãy phản hồi bằng “Đúng! Máy bay màu trắng.” Sử dụng công cụ hỗ trợ như hệ thống giao tiếp bằng hình ảnh và chữ viết PECS, từ vựng, câu, thời khóa biểu, và câu chuyện xã hội cũng rất hữu ích Để cải thiện mối quan hệ giữa trẻ tự kỷ và những người xung quanh, cần giúp mọi người hiểu rằng trẻ tự kỷ có những khác biệt nhất định so với trẻ bình thường, như việc trẻ có thể không thích được ôm hay chạm vào, và một số âm thanh có thể gây khó chịu hoặc sợ hãi cho trẻ.

K ế t lu ận chương 1

Trong chương này, chúng tôi đã phân tích các đặc điểm phát triển của trẻ tự kỷ và những thách thức trong giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ ở lứa tuổi mầm non Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đề xuất mô hình giáo dục hòa nhập kết hợp giữa trường mầm non và trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật Qua đó, bài viết cung cấp cái nhìn tổng quát về vai trò của giáo viên và những yếu tố quan trọng cần chú ý trong quá trình giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ.

Giáo dục hòa nhập tạo ra cơ hội cho các lực lượng giáo dục hợp tác vì mục tiêu chung, đồng thời giúp cộng đồng tiếp cận trẻ tự kỷ, nhận diện nhu cầu và tiềm năng của các em Qua đó, mọi người có thể hiểu rõ hơn về những điểm mạnh và khó khăn của trẻ, từ đó xác định các biện pháp hỗ trợ hiệu quả hơn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN 36 http://www.lrc.tnu.edu.vn

TH Ự C TR Ạ NG GIÁO D Ụ C HÒA NH Ậ P CHO TR Ẻ T Ự K Ỉ

M Ộ T S Ố BI Ệ N PHÁP GIÁO D Ụ C HÒA NH Ậ P CHO TR Ẻ

Ngày đăng: 10/06/2021, 11:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguy ễ n Th ị Di ệ u Anh và c ộ ng s ự (2008), Ứ ng d ụ ng vi ệc chăm sóc tạ i nhà cho tr ẻ có r ố i lo ạ n t ự k ỷ , Hội thảo về Rối Loạn Tự Kỷ, bệnh viện Nhi Đồng 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng việc chăm sóc tại nhà cho trẻ có rối loạn tự kỷ
Tác giả: Nguyễn Thị Diệu Anh
Nhà XB: Hội thảo về Rối Loạn Tự Kỷ
Năm: 2008
2. B ộ Giáo d ục và Đào tạ o (2006), Quy đị nh v ề giáo d ụ c hoà nh ập dành cho ngườ i tàn t ậ t, khuy ế t t ậ t, S ố : 23/ 2 006/QĐ -BGDDT, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về giáo dục hòa nhập dành cho người tàn tật, khuyết tật
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
3. B ộ Giáo d ục và Đào tạ o (2009), Chương trình Giáo dụ c m ầ m non, Nxb Giáo d ụ c, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Giáo dụ c m ầ m non
Tác giả: B ộ Giáo d ục và Đào tạ o
Nhà XB: Nxb Giáo d ục
Năm: 2009
4. Catherine Maurice, Trích dịch các bài tập trong cuốn s ự can thi ệ p v ề hành vi cho tr ẻ em T ự k ỷ , Khoa Giáo d ục đặ c bi ệt Trường Đạ i h ọc sƣ phạ m Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự can thiệp về hành vi cho trẻ em Tự kỷ
Tác giả: Catherine Maurice
Nhà XB: Khoa Giáo dục đặc biệt Trường Đại học sư phạm Hà Nội
5. Vũ Th ị Chín (1987), Ch ỉ s ố phát tri ể n sinh lý, tâm lý t ừ 0 - 3 tu ổ i , Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ số phát tri ể n sinh lý, tâm lý t ừ 0 - 3 tu ổ i
Tác giả: Vũ Th ị Chín
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1987
6. Chính ph ủ nướ c C ộ ng hòa xã h ộ i ch ủ nghĩa Việ t Nam (2010), Lu ật ngườ i khuy ế t t ậ t, 51/2010/QH12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật người khuyết tật
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2010
7. Daniel Tammet (2010), Sinh vào ngày xanh, T ự truy ệ n c ủ a m ột ngườ i T ự k ỷ , m ộ t trí tu ệ phi thườ ng, Biên d ị ch Ph ạ m Ng ọ c Di ệ p, Nguy ễ n Dung, Nxb tr ẻ . 8. Tr ịnh Đứ c Duy (2000), D ạ y h ọ c hoà nh ậ p cho tr ẻ khuy ế t t ậ t, Nxb Chính tr ịQuốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh vào ngày xanh, Tự truyện của một người Tự kỷ, một trí tuệ phi thường
Tác giả: Daniel Tammet
Nhà XB: Nxb trẻ
Năm: 2010
9. Ngô Xuân Điệ p (2009), Nghiên c ứ u nh ậ n th ứ c c ủ a tr ẻ t ự k ỷ t ạ i Thành ph ố H ồ Chí Minh, Lu ậ n án ti ến sĩ tâm lý họ c Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhận thức của trẻ tự kỷ tại Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Ngô Xuân Điệp
Năm: 2009
11. Nguy ễn Minh Đứ c (2009) Nh ữ ng kho ả nh kh ắc lóe sáng trong tương tác mẹ - con c ủ a tr ẻ có nét t ự k ỷ, Luận án tiến sĩ tâm lý học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khoảnh khắc lóe sáng trong tương tác mẹ - con của trẻ có nét tự kỷ

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w