Mục đích nghiên cứu: Đề tài làm rõ một số tư tưởng cơ bản về phân chia quyền lực nhà nước của John Locke trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền”, từ đó làm rõ ý nghĩa của những tư tưởng đó đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA TRIẾT HỌC -
TRẦN THỊ THU HƯƠNG
TƯ TƯỞNG CỦA JOHN LOCKE VỀ PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC TRONG TÁC PHẨM “KHẢO LUẬN THỨ HAI VỀ CHÍNH QUYỀN” VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ
NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận “Tư tưởng của John Locke về phân chia quyền lực nhà nước trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền”và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay”
là công trình nghiên cứu của tôi và được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của Giảng viên – PGS TS Nguyễn Thúy Vân
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Sinh viên
Trần Thị Thu Hương
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS TS Nguyễn Thúy Vân, người trực tiếp tận tình hướng dẫn và động viên tinh thần trong suốt quá trình giúp em hoàn thành khóa luận Em cũng xin cảm ơn các thầy, cô giáo giảng dạy trong Khoa Triết học cũng như các thầy cô trong chuyên ban Logic học và các thầy cô trong trường đã truyền đạt cho em nhiều kiến thức bổ ích để thực hiện khóa luận và trang bị cho mình hành trang vững chắc cho sự nghiệp sau này
Mặc dù đã nỗ lực hết sức để hoàn thành khóa luận này, tuy nhiên với khả năng có hạn nên khóa luận tốt nghiệp của em còn nhiều thiếu sót, em mong nhận được sự góp ý từ phía thầy cô và các bạn để em tiến bộ hơn nữa trong học tập và nghiên cứu
Bên cạnh đó, dù đã cố gắng tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu cũng như sự giúp
đỡ nhiệt tình từ các thầy cô và anh chị, nhưng do giới hạn kiến thức và khả năng
lý luận của bản thân còn nhiều hạn chế, kính mong nhận được sự góp ý và chỉ dẫn của các thầy cô để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 23 tháng 06 năm 2020
Sinh viên
Trần Thị Thu Hương
Trang 41
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1.Lý do chọn đề tài 3
2.Tình hình nghiên cứu 4
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 9
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
6 Ý nghĩa của đề tài 10
7 Kết cấu của đề tài 10
CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA JOHN LOCKE VỀ PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC TRONG TÁC PHẨM “KHẢO LUẬN THỨ HAI VỀ CHÍNH QUYỀN” 12
1.1.Những điều kiện kinh tế - xã hội cho sự hình thành tư tưởng của John Locke về phân chia quyền lực nhà nước 12
1.2 Tiền đề lí luận cho sự hình thành tư tưởng về phân chia quyền lực nhà nước của John Locke 18
1.2.1 Tiền đề tư tưởng 18
1.1.2.Quan niệm của John Locke về bản tính con người và quyền con người25 1.3 Khát quát về cuộc đời, sự nghiệp của John Locke và tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền” 31
1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp của John Locke 31
1.3.2.Tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền” 33
Kết luận chương 1 36
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CƠ BẢN TƯ TƯỞNG CỦA JOHN LOCKE VỀ PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC TRONG TÁC PHẨM “KHẢO LUẬN THỨ HAI VỀ CHÍNH QUYỀN” 38
Trang 52
2.1 Quan niệm của John Locke về nguồn gốc và đặc điểm của quyền lực nhà
nước 38
2.1.1 Về nguồn gốc hình thành quyền lực nhà nước 38
2.1.2 Về đặc điểm của quyền lực nhà nước 42
2.2 Tư tưởng về phân chia quyền lực nhà nước của John Locke 46
2.2.1 Nguyên tắc phân chia quyền lực nhà nước 47
2.2.2 Quan niệm của John Locke về vai trò cụ thể của các bộ phận quyền lực nhà nước 51
2.2.3 Mối quan hệ giữa các bộ phận quyền lực trong bộ máy nhà nước 60
Kết luận chương 2 69
CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG CỦA JOHN LOCKE VỀ PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC TRONG TÁC PHẨM “KHẢO LUẬN THỨ HAI VỀ CHÍNH QUYỀN” ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 72
3.1 Giá trị và hạn chế trong tư tưởng của John Locke về phân chia quyền nhà nước 72
3.1.1 Những giá trị cơ bản trong tư tưởng của John Locke về phân chia quyền lực nhà nước 72
3.1.2.Một số hạn chế chủ yếu trong tư tưởng của John Locke về phân chia quyền lực nhà nước 76
3.2.Ý nghĩa tư tưởng của John Locke về phân chia quyền lực nhà nước đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay 77
3.2.1 Quá trình nhận thức và xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay 77
3.2.2 Ý nghĩa tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước của John Locke đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay 83
Kết luận chương 3 93
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 63
MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài
“Mọi quyền lực đều hướng tới tha hóa Quyền lực tuyệt đối thì tha hóa tuyệt đối” Câu nói trên của sử gia người Anh – Baron Acton đã trở thành một kết luận đanh thép về bản chất quyền lực Quyền lực luôn có xu hướng mở rộng
và tự tăng cường vai trò của mình Bất cứ ở đâu có quyền lực thì ở đó xuất hiện
xu hướng lạm quyền, chuyên quyền, dù quyền lực ấy thuộc về bất cứ ai Nhà nước là một tổ chức quyền lực chính trị đặc biệt của xã hội, từ khi ra đời đến nay
có rất nhiều nhà tư tưởng đã luôn suy tư, trăn trở tìm hiểu bản chất, quy luật vận động của nhà nước trong lịch sử phát triển của nhân loại để nhằm mục đích tìm cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước sao cho có hiệu quả nhất và ngăn ngừa những mặt hạn chế của nó, hướng đến một mô hình nhà nước lí tưởng, đảm bảo cho sự ổn định và phát triển của xã hội Chính bởi lẽ ấy mà ngay
từ thời cổ đại, các triết gia đã không ngừng trăn trở và suy tư về cách thức xây dựng một mô hình nhà nước lý tưởng, đem lại hạnh phúc cho con người
Trong dòng chảy lịch sử tư tưởng ấy, John Locke (1632 - 1704) là một trong những tên tuổi nổi bật nhất trong lịch sử tư tưởng phương Tây cận đại thế
kỷ XVII Locke để lại rất nhiều tác phẩm cho hậu thế sau này, trong đó “Khảo luận thứ hai về chính quyền” được coi là một trong những danh tác chính trị thế giới, có giá trị lí luận về khoa học chính trị cũng như triết học và nhiều ngành khoa học xã hội khác, đưa tên tuổi của ông trở thành một nhà tư tưởng chính trị sắc xuất thời kì cận đại ở Tây Âu nói riêng và nhân loại nói chung Trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền”, Locke đã đưa ra kiến giải sâu sắc về nhà nước, trong đó quan niệm của ông về quyền lực nhà nước và sự phân chia quyền lực nhà nước Mặc dù, chưa đưa ra được khái niệm nhà nước pháp quyền nhưng ở trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền” Locke đã trình bày những tư tưởng tiến bộ và cách mạng về phân chia quyền lực nhà nước là cơ sở
Trang 74
nền tảng của nhà nước pháp quyền Cho tới nay, gần 4 thế kỉ trôi qua, nhưng sức hấp dẫn và lôi cuốn của tác phẩm không bị phai mờ Những quan niệm của John Locke về sự phân chia quyền lực nhà nước không chỉ có giá trị về mặt lý luận
mà còn ở giá trị hiện thời sâu sắc đối với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
Việt Nam đang đi trên con đường thực hiện mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền với nhiều thách thức lớn trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế tri thức, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, làn sóng cuộc cách mạng công nghệ 4.0,… có nhiều những vấn đề thực tiễn đặt ra cần phải giải quyết Trong những năm qua, Đảng ta lãnh đạo xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân cho dân và vì dân, quyền lực nhà nước tập trung thống nhất không phân chia, mà chỉ có sự phân công, phối hợp hoạt động giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, với mục đích đảm bảo hiệu quả hoạt động nhà nước và ngăn ngừa sự lạm quyền Vì vậy, việc trở lại nghiên cứu những tư tưởng của phương Tây thời kì cận đại với những quan điểm về nhà nước, quyền lực, xã hội công dân, về con người,
…trong đó có tư tưởng của John Locke có ý nghĩa lý luận quan trọng trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Do vậy, với tất cả những lý do trên, tôi chọn “Tư tưởng của John Locke
về phân chia quyền lực nhà nước trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền”và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2.Tình hình nghiên cứu
Tư tưởng về phân chia quyền lực nhà nước là nội dung thu hút nhiều sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực khác nhau Liên quan đến đề tài khóa luận có thể khái quát công trình nghiên cứu thành hai hướng chính như sau:
Trang 85
Hướng nghiên cứu thứ nhất là nhóm các công trình nghiên cứu đề cập đến
tư tưởng triết học của John Locke nói chung và tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền” nói riêng
Đối với hướng nghiên cứu tập trung vào tư tưởng triết học của John Locke nói chung gồm có nhiều công trình như:
+ Cuốn Lịch sử triết học do Nguyễn Hữu Vui chủ biên Trong cuốn sách,
tác giả đã trình bày các quan niệm triết học của John Locke nhưng chủ yếu tập trung vào phương diện nhận thức luận, chưa đề cập đến triết học chính trị của Locke
+ Giáo trình Lịch sử các học thuyết chính trị do Nguyễn Đăng Dung chủ
biên đã trình bày một cách khái quát triết học chính trị của John Locke với những nội dung chủ yếu được khảo sát từ tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền” Các quan niệm của John Locke về pháp quyền tự nhiên, và nhà nước đã được trình bày còn sơ lược và chưa mang tính hệ thống
+ Cuốn Đại cương lịch sử triết học phương Tây của TS Đỗ Minh Hợp,
TS Nguyễn Thanh, TS Nguyễn Anh Tuấn phân tích khá toàn diện về các quan niệm triết học của John Locke Tuy nhiên, những quan niệm chính trị - xã hội của J Locke cũng được các tác giả trình bày và phân tích mang tính hệ thống
Ngoài ra, tư tưởng triết học của Locke nói chung và tư tưởng về nhà nước
nói riêng còn được đề cập đến trong các giáo trình như: cuốn Lịch sử triết học phương Tây từ triết học Hy Lạp cổ đại đến triết học cổ điển Đức của Nguyễn Tấn Hùng, Đại cương các tư tưởng và học thuyết chính trị trên thế giới do Nguyễn Thế Nghĩa chủ biên, cuốn Lịch sử triết học phương Tây của Nguyễn Tiến Dũng, cuốn Lịch sử các học thuyết chính trị của Lưu Kiểm Thanh và Phạm Hồng Thái, cuốn Lịch sử tư tưởng chính trị của Học viện hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh, cuốn Lịch sử triết học phương Tây của Trần Văn Phòng và
Trang 96
Dương Minh Đức Nhìn chung các công trình trên chủ yếu bàn về quan điểm chính trị, xã hội của John Locke như một phần không thể thiếu trong tư tưởng chính trị cận đại ở phương Tây
Bên cạnh đó, còn rất nhiều công trình nước ngoài viết về John Locke đã
được dịch và xuất bản Trước hết phải kể đến cuốn sách 106 nhà thông thái của
P.S.Taranop biên soạn, do TS Đỗ Minh Hợp dịch, hiệu đính và cho xuất bản
năm 2000 Tiếp đến, tác phẩm 100 cuốn sách ảnh hưởng khắp thế giới do Đặng
Thục Sinh (chủ biên) xuất bản năm 2002 Trong đó, tác giả đã trình bày khái
quát những nội dung chủ yếu trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền” của John Locke và cũng đã khẳng định giá trị to lớn của những tư tưởng
về quyền con người và nhà nước trong tiến trình phát triển của nhân loại Tác
phẩm Các triết thuyết lớn, của tác giả Folscheid Dominique do Huyền Giang
dịch và được xuất bản năm 2003 Trong cuốn sách này, tác giả đã giới thiệu cho bạn đọc sơ lược về tiểu sử cùng học thuyết chính trị của John Locke với hai nội
dung chính là trạng thái tự nhiên và khế ước xã hội Hay như công trình Lịch sử triết học và các luận đề của Samuel Enoch Stumpf, Đỗ Văn Thuấn và Lưu Văn
Huy biên dịch xuất bản năm 2004, đã giới thiệu khái quát về cuộc đời, các tác phẩm tiêu biểu và các quan niệm triết học cơ bản là học thuyết về nhận thức và
lý thuyết về đạo đức và chính trị của John Locke nhưng mới chỉ dừng ở mức giới thiệu sơ lược, các vấn đề đưa ra còn thiếu sự phân tích
Đối với hướng nghiên cứu tập trung về tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền” và tư tưởng của John Locke được thể hiện trong tác phẩm Ở
hướng nghiên cứu này tập trung ở các luận văn, tạp chí, bài báo nghiên cứu gồm có:
+ Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Thị Dịu (2009) với đề tài “Quan niệm chính trị xã hội của John Locke” với hai nội dung chính quan niệm chính trị và
xã hội Tác giả nghiên cứu làm rõ quan niệm của ông về con người và quyền con
Trang 107
người, cũng như về quyền lực nhà nước và quan niệm của ông về sự giải thể của chính quyền Tuy nhiên, tác giả chưa đưa ra những kiến giải cụ thể về nguồn gốc, bản chất, chức năng của nhà nước, cũng chưa chỉ ra được cơ sở hình thành quan niệm về nhà nước
+ Luận văn Thạc sỹ của Đinh Thị Hồng Vững (2013) với đề tài, “Quan niệm của John Locke về nhà nước trong tác phẩm Khảo luận thứ hai về chính quyền” Trong tác phẩm tác giả đã trình bày chi tiết cụ thể quan niệm về nhà
nước từ nguồn gốc hình thành, mục đích, giới hạn, cũng như sự phân chia quyền lực và giải thể chính quyền
+ Luận văn Thạc sỹ của Đặng Thị Loan (2017) với đề tài “Quan niệm của John Locke về sở hữu trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền”” và
giá trị hiện thời của nó” Trong luận văn, tác giả đưa ra kiến giải về quan niệm nguồn gốc, bản chất của sở hữu và phương thức bảo đảm quyền tư hữu
Khi nghiên cứu về John Locke chúng ta không thể không nhắc đến nỗ lực
của dịch giả Lê Tuấn Huy, đã dịch một cách thành công tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền” và được xuất bản vào năm 2007 và tái bản năm 2013
Trong suốt quyển sách này, tác giả đã giới thiệu một cách chi tiết về John Locke, khái quát nội dung tác phẩm và dịch toàn bộ tác phẩm này sang tiếng Việt
Bên cạnh đó, cũng có nhiều tạp chí, bài báo khoa học có liên quan như:
Quan niệm của John Locke về quyền sở hữu trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai
về chính quyền” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền (2012), Một số tư tưởng triết học chính trị của John Locke: Thực chất và ý nghĩa lịch sử của Đinh Ngọc Thạch (2007), John Locke -Nhà tư tưởng lớn của phong trào khai sáng của Phạm Văn Đức (2008), Quan niệm của John Locke về sự hình thành và bản chất quyền lực nhà nước trên Tạp chí Thông tin chính trị và Locke và Triết lí về con người của Lê Công Sự trên tạp chí con người…
Trang 11+ Cuốn Nhà nước pháp quyền của tác giả Đào Trí Úc được Nxb Đại học
quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2015 Cuốn giáo trình này có đi sâu nghiên cứu
hệ thống về Nhà nước pháp quyền, phân tích, lý giải khoa học về tính phổ quát
và tính quốc gia, dân tộc đặc thù của Nhà nước pháp quyền, khẳng định Nhà nước pháp quyền là phương thức tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước phù hợp với điều kiện và đòi hỏi của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ta dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt nam, khái quát những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền, coi đó là yếu tố hợp thành Nhà nước pháp quyền với tính cách là những yêu cầu, đòi hỏi, là hệ thống các nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước; phân tích và khái quát quá trình phát triển của các yếu tố cần và đủ cho việc xác lập và củng cố Nhà nước pháp quyền, từ đó chỉ ra nhu cầu bổ sung, hoàn thiện trong việc đổi mới tổ chức, cơ chế, phương thức hoạt động, cơ sở pháp lý,… cho các thiết chế quyền lực Nhà nước và các thiết chế xã hội nhằm đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước
ta trong giai đoạn hiện nay Trong cuốn sách tác giả cũng phân tích hệ thống quá hình thành và phát triển của tư tưởng Nhà nước pháp quyền từ cổ đại đến hiện đại cơ bản và hệ thống, trong đó phân tích hệ thống tư tưởng phân quyền của John Locke
Trang 129
Các tài liệu đã đưa ra những luận giải rất logic và rõ ràng khái quát về toàn bộ tư tưởng của John Locke nói chung, cũng như quan điểm chính trị nói riêng, trong đó có quan niệm sự hình thành xã hội công dân, về quyền lực nhà nước, tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước Tuy vậy, có thể nói, việc đi sâu nghiên cứu quan niệm của John Locke về sự phân chia quyền quyền lực nhà nước trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền” vẫn cần phải nghiên cứu sâu hơn để làm rõ những nội dung tư tưởng căn bản cũng như ý nghĩa của tư tưởng đó đối với xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Đề tài làm rõ một số tư tưởng cơ bản về phân chia
quyền lực nhà nước của John Locke trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền”, từ đó làm rõ ý nghĩa của những tư tưởng đó đối với việc xây dựng
nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện được mục đích trên, khóa luận tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
+ Phân tích những điều kiện, tiền đề tư tưởng cho sự hình thành tư tưởng
về phân chia quyền lực nhà nước của John Locke và giới thiệu khái quát về tác
phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền”
+ Phân tích một số quan điểm cơ bản của John Locke về phân chia quyền
lực nhà nước trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền”
+ Đánh giá những giá trị và hạn chế trong quan niệm của ông về phân
chia quyền lực nhà nước trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền” và
chỉ ra ý nghĩa của nó trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 1310
- Cơ sở lý luận: Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và dựa vào phương pháp luận chủ nghĩa Mác – Lênin trong nghiên cứu lịch sử triết học; đồng thời kế thừa, tham khảo có chọn lọc các công trình của các nhà nghiên cứu có liên quan đến đề tài
- Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng các phương pháp của phép biện chứng duy vật trong việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng Cụ thể là, phương pháp lôgíc kết hợp với phương pháp lịch sử, phân tích và tổng hợp, khái quát hoá và
so sánh…
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quan niệm của J Locke về phân chia quyền lực nhà nước và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu: Với những mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu trên, nên khóa luận tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản của quan niệm về sự
phân quyền nhà nước của John Locke trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền” và những nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam từ đổi
mới đến nay
6 Ý nghĩa của đề tài
Đề tài góp phần vào việc làm sáng tỏ quan niệm về sự phân quyền nhà
nước của John Locke trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền”, trên
cơ sở đó giúp người nghiên cứu và học tập có những đánh giá khách quan hơn
về công lao của John Locke đối với lịch sử tư tưởng chính trị nhân loại và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam
7 Kết cấu của đề tài
Trang 1411 Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3 chương, 7 tiết
Trang 1512
CHƯƠNG I: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA JOHN LOCKE VỀ PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC
TRONG TÁC PHẨM “KHẢO LUẬN THỨ HAI VỀ CHÍNH QUYỀN”
1.1.Những điều kiện kinh tế - xã hội cho sự hình thành tư tưởng của John Locke về phân chia quyền lực nhà nước
Tây Âu từ thế kỉ XV – XVII có những chuyển biến phức tạp và sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Sự xuất hiện một loạt các công trường thủ công, các thành thị và trung tâm thương mại lớn ở khắp các nước ven Địa Trung Hải, nhất là Ý, sau đó là Anh, Pháp Bằng việc một loạt các phát minh kỹ thuật mới như máy kéo sợi, máy in, công nghiệp dệt, luyện kim, thuốc súng,… đã thay thế nền kinh tế tự nhiên kém phát triển bằng một nền sản xuất công trường thủ công đem lại năng suất lao động cao hơn gắn với việc nhiều công cụ lao động được cải tiến và hoàn thiện
Các cuộc phát kiến địa lý như tìm ra châu Mỹ và các con đường đến vùng đất mới cùng với sự phát triển của sản xuất và thương nghiệp đã tạo nên những tiền đề trực tiếp cho một thời kỳ mới… tạo điều kiện phát triển cho nền sản xuất theo hướng tư bản chủ nghĩa Nhờ đó thị trường trao đổi hàng hóa giữa các nước ngày càng mở rộng, các cuộc giao lưu Đông – Tây được tăng cường Những mầm mống tư bản chủ nghĩa đầu tiên đã xuất hiện và phát triển trong lòng xã hội phong kiến Đồng thời, sự phân hóa giai cấp ở Tây Âu thời kì này càng rõ rệt, đó sự nảy sinh hai giai cấp mới: tư sản và vô sản Tầng lớp tư sản xuất hiện gồm chủ xưởng công trường, xưởng thợ, chủ thuyền buôn…có vai trò
và vị trí trong nền kinh tế và xã hội ngày càng lớn Hàng loạt nông dân di cư từ nông thôn ra thành phố, trở thành người làm thuê cho các công xưởng, họ là giai cấp vô sản phải bán sức lao động cho nhà tư bản Các tầng lớp xã hội trên đại diện cho nền sản xuất mới, cùng với nông dân đấu tranh chống chế độ phong kiến
Trang 1613
Nền kinh tế tư bản thay thế cho sản xuất phong kiến, nhưng kiến trúc thượng tầng của xã hội châu Âu lúc này vẫn là chế độ phong kiến lạc hậu kìm hãm sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa Mặc dù nắm trong tay tiềm lực kinh tế nhưng giai cấp tư sản không có chút địa vị chính trị nào, không có điều kiện tự do phát triển sản xuất, vẫn phải phụ thuộc vào chế độ phong kiến, vào giai cấp quý tộc, địa chủ lúc này đã trở nên lạc hậu Do đó, để có thể tự do phát triển sản xuất, tự do buôn bán giai cấp tư sản cần phải lật đổ chế độ phong kiến, giành quyền lực chính trị Chính vì thế, Tây Âu thời kì này đánh dấu hàng loạt những cuộc cách mạng tư sản nổ ra, tiêu biểu như cách mạng tư sản năm 1566 ở
Hà Lan, cách mạng tư sản Anh năm 1642, cách mạng tư sản Pháp năm 1789… Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trở thành phương thức sản xuất thống trị trở thành một xu thế của lịch sử mà không gì có thể ngăn cản nổi
Đồng thời, giai đoạn này là giai đoạn phong trào văn hoá Phục hưng và cận đại phát triển lên đến đỉnh cao vào thế kỷ XVI và lan mạnh ra khắp các nước tạo thành một cao trào rộng lớn làm biến đổi sâu sắc xã hội, tư tưởng khôi phục lại những giá trị văn hóa tinh hoa của thời kỳ cổ đại ở Tây Âu, vừa đã thổi bùng lên những khát vọng giải phóng con người và quyền con người, cụ thể là thoát khỏi sự kìm kẹp của nhà thờ với những điều luật khắt khe
Những biến đổi sâu sắc và phức tạp ở Tây Âu trên tất cả các lĩnh vực của toàn bộ đời sống xã hội thời kì này đã tác động mạnh mẽ đến điều kiện kinh tế,
xã hội và chính trị nước Anh thế kỉ XVII Chính những biến chuyển mạnh mẽ của nước Anh nói riêng và cả Tây Âu nói chung trong cuộc đấu tranh gay gắt giữa tư bản và phong kiến đã làm xuất hiện những tiền đề trực tiếp cho sự ra đời của quan niệm triết học chính trị của John Locke
Về kinh tế, nước Anh thế kỉ XVII là một trong những cường quốc ở châu
Âu với sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp và thương nghiệp Từ cuối thế kỷ XVI, các ngành công nghiệp ở Anh đã phát triển rất mạnh Những phát minh
Trang 1714
mới về kỹ thuật, nhất là những hình thức mới trong lao động đã tạo ra năng suất lao động ngày một cao, thay đổi căn bản cách thức sản xuất chủ yếu bằng lao động thủ công sang sử dụng máy móc và từng bước hình thành cơ cấu công nghiệp hoàn chỉnh, từ sản xuất quy mô nhỏ lên quy mô lớn với sự xuất hiện các khu công nghiệp Đặc biệt là ngành nghiệp sản xuất len dạ cung cấp một lương hàng xuất khẩu chiếm 80% toàn bộ hàng xuất khẩu ở Anh Đây là thời kỳ các phường hội trung cổ ở Anh đến thế kỷ XVII đã đi đến chỗ tan rã Công trường thủ công với nền sản xuất quy mô lớn xuất hiện thay thế cho các phường hội trung cổ Các chủ thủ công nghiệp ngày càng có vị trí và vai trò quan trọng trong nền kinh tế, họ trở thành giai tầng mới nắm giữ sức mạnh kinh tế - giai cấp tư sản, thợ thủ công trở thành lao động làm thuê trong các công trường thủ công, phải lệ thuộc vào nhà tư sản Thương nghiệp của Anh trong thời kỳ này cũng có bước phát triển vượt bậc trên thị trường thế giới Thương nhân mở rộng buôn bán trên khắp châu Âu, thông qua những con đường hàng hải mới tìm được trong các cuộc phát kiến địa lý mở rộng thị trường buôn bán từ biển Ban Tích sang tận châu Phi, châu Á và cả châu Mỹ Các công ty buôn bán lớn lần lượt xuất hiện như công ty Đông Ấn của Anh thành lập năm 1600…
Đầu thế kỉ XVII, nước Anh mặc dù đạt được một số thành tựu về công thương nghiêp nhưng vẫn là một nước nông nghiệp Để có được lợi nhuận, giai cấp tư sản không từ một thủ đoạn nào để tước đoạt ruộng đất của nông dân Do
sự phát triển của ngành công nghiệp len dạ ngày càng lớn mạnh nên nghề nuôi cừu càng phát triển Địa chủ lúc này không thỏa mãn với thu nhập từ địa tô nông dân nộp cho, muốn chuyển hướng kinh doanh sang trồng cỏ nuôi cừu Do đó, giới địa chủ Anh đã tước đoạt ruộng đất của nông dân đang cày cấy và đất đai công xã thành của mình Biến ruộng đất thành những cánh đồng trồng cỏ hoặc
tự mình kinh doanh nuôi cừu hoặc nuôi cừu thuê Nông dân mất ruộng đất, nhà cửa Họ trở thành những người không có bất cứ cái gì cả, không có một tài sản nào khác ngoài chính thân thể của mình và đem bán chính sức lao động của
Trang 1815
mình để kiếm sống, bạo lực của kẻ cường quyền đã tách người nông dân ra khỏi
tư liệu sản xuất từ đây trong xã hội xuất hiện một giai cấp mới đó là giai cấp vô sản Đó là thảm cảnh cừu ăn thịt người mà Thomas More đã đặc tả trong tác phẩm Utopia Tất cả đó nói lên sự xâm nhập mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản vào nông thôn và làm chuyển biến kinh tế nông nghiệp phong kiến ở Anh thành kinh
tế nông nghiệp tư bản chủ nghĩa
Những chuyển biến về kinh tế tất yếu kéo theo những biến đổi sâu sắc trong lòng xã hội nước Anh Các tầng lớp trong xã hội nước Anh có sự phân hóa
và mâu thuẫn sâu sắc Bên cạnh mâu thuẫn cũ tồn tại lâu đời giữa nông dân với giai cấp phong kiến, trong lòng xã hội nước Anh còn xuất hiện nhiều mâu thuẫn mới
Thứ nhất, đó là mâu thuẫn giữa tầng lớp quý tộc mới với tầng lớp cũ tộc
cũ Tầng lớp quý tộc cũ là tầng lớp có địa vị cao trong xã hội, có nhiều đặc quyền đặc lợi hơn, ra sức bảo vệ và ủng hộ chế độ quân chủ chuyên chế Trong khi đó, tầng lớp quý tộc mới, tức quý tộc đã tư sản hóa, có quyền lợi gắn chặt giai cấp tư sản không chỉ thu địa tô mà phần lớn lợi nhuận là từ sản xuất công thương nghiệp Cùng với sự phát triển nhanh chóng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai cấp tư sản đã vươn lên trở thành một lực lượng có tiềm lực kinh tế mạnh trong xã hội ở Anh, nhưng họ lại không có chút quyền lực và địa
vị chính trị nào Nền quân chủ chuyên chế với những thể chế bảo thủ, can thiệp quan liêu vào toàn bộ đời sống, trở thành xiềng xích kìm hãm sự phát triển của của lực lượng sản xuất mới, đại diện là giai cấp tư sản Chính bởi vậy, một tất yếu là dẫn đến những xung đột về mặt chính trị, giai cấp tư sản luôn không khoan nhượng, luôn muốn đấu tranh để giành lấy địa vị chính trị từ tay giai cấp phong kiến
Thứ hai, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với nhân dân lao động Họ là những người lao động nghèo bị cướp hết ruộng đất, biến họ trở thành người vô
Trang 1916
sản Họ buộc phải bán sức lao động của mình cho nhà tư bản và các nhà quý tộc mới để nhận lấy tiền công rẻ mạt Bị bóc lột nặng nề với 2 tầng xiềng xích nên
họ luôn mang trong mình mâu thuẫn với giai cấp tư sản và phong kiến
Ở thế kỉ XVII, tình hình chính trị nước Anh có nhiều biến động Đến giữa thế kỷ XVII, nước Anh vẫn là một quốc gia phong kiến quân chủ chuyên chế Vua nắm trong tay mọi cơ quan quyền lực của đất nước
Giữa thế kỷ XVII, chuyển biến sâu sắc trong cơ cấu nghị viện, khi các quý tộc mới dần chiếm vị trí của các quý tộc cũ trong Viện thứ dân, dẫn đến xung đột ngày một trầm trọng giữa nhà vua và nghị viện trong việc tranh giành quyền lực
Trong lúc đó, Charles I âm mưu phục hồi chế độ phong kiến và lợi dụng những tranh chấp trong Nghị viện để tiến hành cuộc phản kích, dẫn đến cuộc nội chiến lần thứ hai bùng nổ năm 1648 Cromwell tập hợp quần chúng nhân dân và giai cấp tư sản, quý tộc mới chống lại chế độ phong kiến nhằm thủ tiêu vương quyền, xóa bỏ hình thức cha truyền con nối những năm 50 của thế kỷ XVII Cuộc cách mạng thành công, phe cách mạng thắng lợi và việc xử tử Charles I đánh dấu một bước tiến mới của cách mạng và thiết lập nền bảo hộ của Oliver Cromwell
Sau khi Cromwell mất, chế độ bảo hộ cũng bị sụp đổ theo và được thay thế bằng sự phục hồi của vương triều Charles II với việc quay trở về với nền quân chủ, viện quý tộc và giáo hội Điều này đe dọa số phận của tầng lớp tư sản
và quý tộc mới Nước Anh lúc này lại tiếp tục có những xung đột gay gắt giữa nhà vua và nghị viện, những tranh cãi kéo dài về vấn đề tôn giáo và chính trị, khiến nghị viện cứ được triệu tập lại giải tán rất nhiều lần trong những năm 1660
- 1688
Sau khi Charles II mất, James II lên nắm quyền từ 1685 - 1688 với ý đồ xác lậpvương quyền phong kiến, thi hành nhiều chính sách như cho các quý tộc
Trang 2017
lớn theo Thiên Chúa giáo quay trở lại tham gia chính quyền để củng cố thế lực phong kiến, ra lệnh thu thuế mà không đợi triệu tập nghị viện, bãi bỏ luật “Bảo đảm thân thể”… Do đó giai cấp tư sản và tầng lớp quý tộc mới tìm cách lật đổ bằng việc dựa vào William III là quốc trưởng Hà Lan và là chồng của công nương Marry II Vua James II bị trục xuất khỏi nước Anh và ngôi vị được trao cho William III và vợ, cùng với đó là việc chuyển từ chế độ quân chủ chuyên chế sang chế độ quân chủ lập hiến Quyền lực tối cao được chuyển từ tay nhà vua sang quý tộc mới và tư sản, làm thay đổi căn bản thể chế chính trị nước Anh Lịch sử gọi cuộc chính biến 1688 - 1689 là cuộc “Cách mạng vinh quang”
Bên cạnh những mâu thuẫn về mặt chính trị, những cuộc xung đột tôn giáo giữa người Anh giáo, người Tin lành và người Công giáo đã đẩy nước Anh vào những cuộc nội chiến kéo dài Những điều kiện kinh tế, xã hội nước Anh đã ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng của John Locke và đó là lí do trong tác phẩm Khảo luận thứ hai về chính quyền ông sử dụng nhiều điển tích tôn giáo trong quan niệm của mình
Cuộc cách mạng tư sản Anh là một sự kiện lịch sử quan trọng không chỉ trong lịch sử nước Anh mà cả lịch sử thế giới Nó đã đập tan nền quân chủ phong kiến, thiết lập chế độ tư bản chủ nghĩa mở đường cho sức sản xuất phát triển Cuộc Cách mạng vinh quang đã thay đổi chính thể nước Anh một cách hòa bình, đem lại tự do cho giai cấp tư sản, quý tộc và toàn thể nhân dân Anh Tuy nhiên, cuộc cách mạng tư sản Anh là cuộc cách mạng không triệt để, bởi thực chất của cuộc cách mạng này là sự thỏa hiệp giai cấp giữa tư sản, quý tộc mới với giai cấp phong kiến để bảo vệ quyền lợi và địa vị của mình Sau khi cách mạng giành thắng lợi, vấn đề ruộng đất cho nông dân vẫn không được giải quyết Liên minh giữa giai cấp tư sản và quý tộc mới vừa chống lại chế độ phong kiến vừa chống lại quần chúng nhân dân Sở dĩ có sự thỏa hiệp như vậy là
vì giai cấp tư sản trong thời kỳ này chưa đủ lớn mạnh để lấn át hoàn toàn giai
Trang 2118
cấp phong kiến dẫn đến tư tưởng đấu tranh không triệt để Thực tiễn này ảnh hưởng rất nhiều đến tư tưởng của Locke khi đề cao nhà nước dân chủ nhưng ông lại cho rằng nhà nước lý tưởng nhất phải là nhà nước quân chủ lập hiến
Trước bối cảnh nước Anh nói trên, không chỉ là một nhân chứng lịch sử, hơn nữa còn tham dự vào các sự kiện chính trị đó, đặc biệt là cuộc cách mạng vinh quang 1689, lịch sử nước Anh thế kỉ XVII đã ảnh hưởng trực tiếp tới quan niệm chính trị của John Locke Quan niệm đó được phản ánh đậm nét trong tác
phẩm tiêu biểu của ông, đó là tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền”
1.2 Tiền đề lí luận cho sự hình thành tư tưởng về phân chia quyền lực nhà nước của John Locke
Tư tưởng của Locke về phân chia quyền lực nhà nước không chỉ xuất phát trực tiếp từ bối cảnh lịch sử nước Anh thế kỉ XVII, mà còn ra đời dựa trên sự kế thừa tư tưởng phương Tây từ thời cổ đại, tư tưởng về bản tính con người và quyền tự nhiên cơ bản của con người của chính bản thân Locke
về việc phải phân chia quyền lực nhà nước thành các bộ phận để thực thi nhiệm
vụ và hoạt động có hiệu quả
Ở phương Tây cổ đại, tư tưởng phân chia quyền lực lần đầu tiên được
xuất hiện trong tác phẩm “Chính trị luận” của Aristotle (384 – 322 TCN)
Aristotle cho rằng để đảm bảo sự công bằng trong dân chúng, và có được những
Trang 2219
đạo luật công bằng thì nhà nước phải được tổ chức có quy củ, để có sự quy củ
này thì mọi nhà nước đều phải có 3 bộ phận Trong tác phẩm “ Chính trị luận”, ông viết “Phần thứ nhất, chịu trách nhiệm nghiên cứu, thảo luận và quyết nghị
về những vấn đề công cộng Phần thứ hai, là phần tử chịu trách nhiệm về hệ thống viên chức chính quyền - những ai đủ tiêu chuẩn, những giới hạn của thẩm quyền chính trị, và cách thức bổ nhiệm viên chức chính quyền, cuối cùng là bộ phận chịu trách nhiệm về quyền tư pháp” [1, 240]
Về bộ phận thứ nhất, cơ quan nghị quyết hay còn gọi là Hội đồng nhân
dân được ông chỉ rõ các chức năng là: “phần tử hay cơ quan bình nghị có thẩm quyền trên những vấn đề chiến tranh hay hòa bình, liên kết đồng minh, thông qua luật pháp, ấn định tội tử hình hay lưu đày biệt xứ, tịch thu tài sản, bầu cử quan chức, và kiểm soát của quan lại” [1, 247] Nói như ngôn ngữ hiện nay thì
cơ quan nghị quyết nắm quyền lập pháp và quyết định những vấn đề quan trọng của một quốc gia Số lượng, cách thức lựa chọn các thành viên và quyền hạn của Hội nghị công dân có liên quan tới hình thức nhà nước: ở chế độ dân chủ mọi công dân đều được tham gia Hội nghị nhân dân và có quyền quyết định mọi vấn
đề trọng yếu của đất nước; chế độ đầu sỏ chính trị thì chỉ một số công dân đặc biệt mới được tham gia quyết định các vấn đề nhà nước; còn trong chế độ quý tộc thì một bộ phận quyết định vấn đề này, trong khi một bộ phận khác quyết định những vấn đề khác
Về bộ phận thứ hai, ông gọi là cơ quan chính quyền để chỉ những bộ phận thực thi pháp luật trong nhà nước, ngày nay chúng ta gọi đó là cơ quan hành pháp Aristotle cho rằng cần có cơ quan để chăm lo cho từng việc cụ thể trong nhà nước: quản lý kinh tế, lao động, quản lý đường xá, nhà cửa, quản lý đất đai, quân đội Nhưng cần có một cơ quan cao nhất, có quyền chỉ huy toàn bộ nhân dân với tư cách như là người đứng đầu nhà nước Theo ông, trong chế độ dân chủ, các pháp quan được chọn ra từ trong toàn thể nhân dân, trong chế độ đầu sỏ
Trang 2320
chính trị thì được chọn ra từ một đẳng cấp đặc biệt, còn trong chế độ quý tộc thì một số pháp quan được chọn ra từ nhân dân, và một số khác được chọn ra từ những đẳng cấp trên trong xã hội
Về cơ quan tư pháp, Aristotle chia ra rất nhiều loại, có 8 loại tòa án khác nhau, tuỳ theo tính chất và đặc điểm các vụ việc mà toà án đó chuyên giải quyết
Về cách thức lựa chọn các thẩm phán, ông cũng chỉ ra nhiều dạng tuỳ theo hình thức nhà nước Việc mọi công dân đều có thể trở thành thẩm phán là đặc điểm của nhà nước dân chủ Còn nếu chỉ có một số công dân thuộc những đẳng cấp nhất định mới có thể trở thành thẩm phán thì đó là cách thức của chế độ đầu sỏ chính trị Còn nếu tuỳ theo từng vụ việc cụ thể mà chọn thẩm phán trong nhân dân hay trong những người đặc biệt là biểu hiện của chế độ quý tộc Aristotle nhấn mạnh đến tính tối cao của pháp luật trong một nhà nước được tổ chức theo đúng nghĩa của nó Ông cho rằng nhà nước có công bằng hay không đều phải gắn với pháp luật, chỉ có pháp luật mới là tiêu chuẩn để điều chỉnh cho mọi hoạt động trong xã hội
Dù là một trong những nhà tư tưởng đầu tiên đề cập tới vấn đề phân chia quyền lực, nhưng tư tưởng này của Aristotle vẫn chưa chứa đựng quan điểm phân chia quyền lực theo tinh thần của thuyết phân chia quyền lực hiện đại, tuy nhiên ông mới chỉ dừng lại ở mô tả bộ máy nhà nước mà chưa đi sâu, chỉ ra mối liên hệ giữa các cơ quan nhà nước, cũng như chưa chỉ được ra nguyên nhân phải chia quyền lực nhà nước thành các nhánh quyền lực như vậy Tuy nhiên, đây là những tiền đề tư tưởng rất quan trọng để John Locke kế thừa và phát triển cho cho tư tưởng về phân chia quyền lực trong nhà nước của mình sau này
Sau Aristotle, Polybe và Ciceron cũng thể hiện tư tưởng về phân chia quyền lực Theo Polybe (200 -120 TCN), một nhà nước được tổ chức một cách hợp lí là nhà nước hỗn hợp của ba chính quyền – ba thế lực chính trị: chính quyền của nhà vua, chính quyền của quý tộc và chính quyền nhân dân Theo đó,
Trang 2421
tương ứng với ba quyền: quyền hành pháp thuộc về tay nhà vua, quyền lập pháp thuộc về viện nguyên lão của giới quý tộc và quyền tư pháp thuộc về sự phán xét của nhân dân Ông cũng chỉ ra cách thức thực hiện quyền lực, mối quan hệ,
sự tác động giữa các chính quyền với nhau
Còn đối với Cicero (106 – 43TCN), trong tác phẩm “Đối thoại” ông cho rằng một phần quyền lực nhà nước phải được phân chia và trao cho quyền uy của những người chiếm hàng đầu, còn một số công việc khác phải dành cho nhân dân giải quyết và phán xét
Như vậy, tư tưởng phân chia quyền lực của các nhà triết học Hy Lạp và
La Mã cổ đại chủ yếu tập trung thể hiện: Một là mô tả các cơ quan của bộ máy nhà nước mà chưa đi sâu vào mối liên hệ giữa chúng và chưa chỉ được ra nguyên nhân phải chia quyền lực nhà nước thành các cơ quan như vây Hai là sự phân biệt hay kết hợp giữa các phương thức cai trị mà chưa phải là sự phân chia các nhánh quyền lực nhà nước
Tiếp theo thời kì Hy Lạp – Lã Mã cổ đại, thời kì Trung cổ kéo dài hằng trăm năm dưới sự thống trị của vương quyền và thần quyền Trong đó, chế độ thần quyền luôn chiếm ưu thế, tòa án giáo hội là cơ quan xét xử cao nhất và giáo
lý tôn giáo luôn ngự trị trong đời sống người dân Đây là thời kì nổi bật sự thống trị của nhà thờ và tôn giáo Nhà thờ vừa chiếm hữu tài sản, vừa nắm toàn bộ quyền lực chính trị và pháp luật Nhà nước đồng nhất với nhà thờ, bởi nhà thờ là một tổ chứ tập quyền hùng mạnh, thống trị về tinh thần và chính trị Vì vậy, tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước thời kì này bị hạn chế và không được đề cao
Sang đến thời kì Phục hưng, châu Âu tràn ngập những biến cố lịch sử Trong thời kỳ này, không chỉ phục hồi giá trị văn hóa của thời kỳ cổ đại mà còn gạt bỏ những giáo lý của nhà thờ ra khỏi đời sống của con người, đề cập quyền
cơ bản của con người, quyền tự do, quyền công dân, đòi tách nhà nước ra khỏi
Trang 2522
nhà thờ Tư tưởng chống lại tư tưởng chuyên chế và thần quyền, xã hội xuất hiện nhu cầu cần phải tăng cường quyền lực nhà nước đảm bảo quyền tự nhiên của con người Vì thế, đây là thời kì mà thuyết pháp quyền tự nhiên trở nên rộng rãi Lý thuyết pháp quyền tự nhiên thời kì Phục hưng và cận đại có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng về tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước của John Locke Những người theo thuyết pháp quyền tự nhiên, một mặt cho rằng sự điều hành
xã hội phải dựa trên tự nhiên và pháp luật, phải tôn trọng quyền tự do, bình đẳng của con người Mặt khác, họ đưa ra nguyên tắc tất cả mọi người kể cả vua chúa cho đến thần dân đều phải tuân theo pháp luật Nói chung, đó là tư tưởng về quyền tư nhiên của con người cần được pháp luật bảo vệ Đó là ý tưởng đề cao một nhánh quyền lực quan trọng của nhà nước, và các cơ quan trong nhà nước trong việc đề ra và thực thi pháp luật
Lý thuyết pháp quyền tự nhiên ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của Locke về
tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước Bởi trên cơ sở kế thừa và tiếp thu và phát triển quan điểm những nhà triết học đó quyền tự nhiên của con người là quyền chính đáng, vốn có, không ai có thể xâm phạm đến đã đưa Locke đến với suy tư và trăn trở về mô hình tổ chức nhà nước với luật pháp như thế nào để bảo
vệ cho quyền tự nhiên của con người không bị xâm phạm
Đầu tiên, phải kể đến Hugo Grotius (1583 - 1645), nhà luật học nổi tiếng người Hà Lan có vai trò to lớn trong việc giải thoát lý luận nhà nước và pháp luật khỏi sự bảo hộ của thần học và chủ nghĩa kinh viện trung đại, trong tác phẩm xuất sắc nhất của mình, được viết khi ông đang phải sống lưu vong ở Pháp
- “Bàn về pháp luật của chiến tranh và hoà bình” (1625), đã đưa ra các luận điểm nổi tiếng của pháp luật tự nhiên Theo Grotius, pháp luật cũng như nhà nước, bắt nguồn từ trần gian chứ không phải bắt nguồn từ Thượng Đế, pháp luật
tự nhiên và pháp luật thực định cùng tồn tại song song Pháp luật tự nhiên là thứ pháp luật ra đời trước, có nguồn gốc từ bản chất của con người, là kết tinh trí tuệ
Trang 26tự nhiên đảm bảo cho các quyền tự nhiên của con người
Tiếp đến, lý thuyết pháp quyền tự nhiên của nhà triết học Hà Lan Baruch Spinoza (1632 - 1677) cũng ảnh hưởng tới tư tưởng phân quyền của Locke Spinoza tuy không đi sâu nghiên cứu về pháp luật mà chỉ chú trọng tới vấn đề nhà nước, nhưng những quan điểm về nhà nước của ông lại biểu hiện tính chất pháp quyền tự nhiên một cách sâu sắc Theo ông, một nhà nước hoàn hảo là một nhà nước dân chủ mà pháp luật bảo đảm cho quyền lợi và sự tự do thực sự của con người: con người không những được quyền sống, quyền tồn tại mà còn được hưởng những quyền tất yếu nhằm thoả mãn lợi ích của họ Hơn thế, pháp luật còn phải đảm bảo ngăn ngừa những nhà lãnh đạo không thể xâm phạm đến
sở hữu, an toàn và tự do của những người dân Spinoza đã chỉ ra những quyền
cơ bản và tự nhiên của con người, cũng như mối liên hệ phụ thuộc của pháp luật thực định với các quyền ấy
Một triết gia có tầm quan trọng ảnh hưởng lớn đến Lock mà chúng ta không thể không nhắc đến, đó chính là Thomas Hobbes Ông là nhà triết học duy vật người Anh và là người ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng của John Locke
về trạng thái tự nhiên, trạng thái dân sự kế ước xã hội và các quyền cơ bản của con người
Theo Hobbes thì nhà nước, con người và quyền con người hoàn toàn không phải là sản phẩm của Thượng đế mà nó là kết quả của chính hoạt động
Trang 2724
thực tiễn của con người Hobbes khẳng định rằng tự do, bình đẳng, sở hữu là các quyền tự nhiên cơ bản của con người Hobbes có những phân tích khá sâu sắc xã hội con người thành hai trạng thái, đó là trạng thái tự nhiên và trạng thái xã hội công dân
Hobbes cho rằng trong trạng thái tự nhiên con người có tự do ý chí, có thể làm bất cứ điều gì họ muốn trong khuôn khổ và sức lực của họ cho phép, đồng thời con người có tài sản riêng của mình Trong trạng thái tự nhiên, mọi cái đều
là tuyệt đối như tự do tuyệt đối, ham thích tuyệt đối… song do bản tính con người là độc ác “con người là động vật ranh ma hơn cả chó sói, gấu và rắn”, cùng với bản tính ích kỷ, ai cũng có nhu cầu, mong muốn riêng có lợi cho bản thân mình nên đã dẫn con người đến chỗ xâm phạm tới các quyền của người khác, tranh giành quyền lợi của người khác Trong xã hội, ai có sức mạnh là những người có quyền Trong trạng thái tự nhiên, xã hội không có đạo đức, không có luật lệ chung, chỉ có luật lệ của kẻ mạnh Chính vì điều này đã đẩy loài người vào cuộc chiến tranh của tất cả chống lại tất cả, cuộc đấu tranh ấy không giải quyết được nhu cầu của mỗi bản thân con người mà còn đẩy con người vào nguy cơ huỷ diệt
Hobbes cho rằng, trong trạng thái tự nhiên, con người càng tự do, bình đẳng bao nhiêu thì con người càng bất hạnh bấy nhiêu Vì khi đó, tự do của con người không bị giới hạn, con người có thể làm bất cứ điều gì mình muốn kể cả xâm phạm đến tự do của người khác Bên cạnh bản tính là ích kỷ, con người còn
lo sợ về cái chết của mình nên họ ước mong trạng thái hòa bình và ổn định Họ nhận thấy rằng nếu cứ tiếp tục trạng thái chiến tranh chống lại nhau thì những các quyền cơ bản sẽ mất đi và bị đe dọa đến mạng sống Chính những điều trên
đã giúp cho những con người cùng bắt tay chung nhau, thoả thuận với nhau và lập thành khế ước xã hội, và cũng chính từ khế ước xã hội này mà nhà nước hay công cụ để bảo vệ quyền con ra đời người ra đời Một bản khế ước xã hội được
Trang 28đó không để đi quá xa so với trong trạng thái tự nhiên Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và tất cả mọi người phải phục tùng nhà nước một cách tuyệt đối, thông qua tuân thủ pháp luật, quyền lực của nhà nước là bất biến Các tư tưởng
về quyền tự nhiên và khế ước xã hội của Hobbes ảnh hưởng tới John Lcke về quyền tự nhiên và tư tưởng về tổ chức quyền lực đảm bảo quyền con người
1.1.2.Quan niệm của John Locke về bản tính con người và quyền con người
Quan niệm của Locke về phân chia quyền lực nhà nước không những kế thừa tư tưởng của những người đi trước mà còn xuất phát từ chính quan niệm về bản tính con người và quyền con người của ông
Quan niệm về con người được Locke tập trung trình bày trong tác phẩm
“Kinh nghiệm về nhận thức của con người” được ông viết năm 1689 Các triết
gia trước đưa ra những quan niệm khác nhau về con người Aristotle đưa ra quan
niệm “Bẩm sinh, con người là đông vật chính trị”, Protagore lại cho rằng “con người là thước đo của vạn vật” Thomas Hobbes quan niệm con người sinh ra
vốn tự do nhưng bản tính con người là ích kỷ, ai cũng có nhu cầu, khát vọng
Trang 2926
riêng nên đẩy họ vào trạng thái chiến tranh và hỗn loạn Trên cơ sở tiếp thu quan điểm của những nhà triết học trước đó, Locke khẳng định một trong các tính quy định bản tính con người là lý tính Lý tính hay lý trí là bản tính vốn có của con người, là một trong các tính quy định bản tính người Locke lại cho rằng lý tính
là một trong các tính quan trọng quy định bản tính người của con người Trong
tác phẩm “Kinh nghiệm nhận thức của con người” ông viết: “Lý tính đặt con người lên cao hơn mọi thực thể có cảm tính còn lại và đem lại cho con người mọi ưu thế và sự thống trị của nó đối với chúng” [trích theo 39, 31] Như vậy,
chính lý tính là cái phân biệt con người với các thực thể khác
Mặc dù khẳng định lý tính là bản tính của con người song John Locke cho rằng năng lực lý tính của con người không phải ngay từ khi sinh ra đã có, mà đó
là kết quả của một quá trình nhận thức lâu dài Ông phê phán học thuyết “ý niệm bẩm sinh” của Descartes khi thừa nhận sự tồn tại của những tư tưởng bẩm sinh
của con người và nguồn gốc của những tư tưởng đó là do Thượng đế ban tặng Locke cho rằng con người có lý tính và tự do tích cực tự hình thành mình Nếu như Descartes thừa nhận tư tưởng bẩm sinh, lý trí của con người là do thượng đế ban tặng, con người thụ động có được lý trí, thì Locke đưa ra “nguyên lý Tabularasa” – tấm bảng sạch Theo quan niệm của Locke, linh hồn con người lúc mới sinh ra giống như một tờ giấy trắng, một tấm bảng sạch, chưa có tri thức, nhưng nhờ quá trình con người tự do tích cực hoạt động, thông qua những kinh nghiệm thu được từ cuộc sống, con người ghi lại những ký hiệu, ý niệm trên đó và hình thành lý trí, tức là đã hình thành lý tính của bản thân Như vậy,
lý tính của con người có được xuất phát từ kinh nghiệm Kinh nghiệm là cơ sở
của tri thức chúng ta, “ mọi tri thức đều dựa trên kinh nghiệm” [ trích theo 38,
289] Kinh nghiệm từng người là cơ sở hình thành nhân cách của mỗi người, vì quá trình tham gia hoạt động xã hội với vị trí vai trò khác nhau và mỗi người có mức độ tích cực khác nhau trong các hoạt động, trong quá trình đúc rút kinh nghiệm nên lý tính của mỗi người là khác nhau Như vậy, theo Locke chính lý
Trang 30quyền cơ bản đầu tiên của con người “Không có gì hiển nhiên hơn là những sinh vật của cùng một loài và một hạng, được sinh ra một cách ngẫu nhiên với cùng những thuận lợi tự nhiên, sử dụng cùng những năng lực, cũng phải là những sinh vật bình đẳng với nhau mà không có sự lệ thuộc hay khuất phục” [20, 33]
Quyền tự nhiên thứ hai của con người mà Locke khẳng đinh là quyền tự do hoàn
hảo “là sự tự do trước bất kỳ quyền lực cao hơn nào nơi trần thế và không chịu
sự chi phối của ý chí hay thẩm quyền lập pháp, mà chỉ có luật tự nhiên dùng làm quy tắc cho họ” [20, 57] Con người có quyền tự do vô hạn do đó có thể làm bất
cứ điều gì mình muốn trong khuôn khổ giới hạn của luật tự nhiên mà không phải xin phép hay phụ thuộc vào bất kỳ ý chí của một ai khác Quyền tự do của con người, là tự do trước bất kỳ quyền lực cao hơn nào nơi trần thế mà chỉ chịu sự chi phối luật tự nhiên, luật tự nhiên dùng làm quy tắc cho họ
Con người có quyền tự do lựa chọn hành động của mình, nhưng dưới quy tắc của luật tự nhiên và lí trí con người nhận ra rằng họ không có quyền cướp bóc, giết hại hay xâm hại đến tự do của những người khác và chính bản thân anh
ta Chính lý trí đã đặt ra giới hạn cho con người trong việc sử dụng quyền tự do của mình làm sao vẫn thỏa mãn được bản thân nhưng không xâm hại đến quyền
tự do của những người khác Mọi người sinh ra đều bình đẳng do vậy muốn người khác tôn trọng bản thân mình thì ta cũng phải tôn trọng người khác bởi
“Mỗi người, do ràng buộc với sự bảo toàn của chính mình…người ta còn cần phải bảo toàn cho toàn thể phần loài người còn lại, ở mức độ tối đa có thể, và
Trang 31quyền sở hữu “Tất cả cây trái mà nó tạo ra, thú vật mà nó nuôi ăn, một cách tự nhiên là thuộc chung của cả loài người” [20, 62] Quyền sở hữu đó là quyền sở
hữu chung của tất cả mọi người, không ai có quyền lực riêng với nó Tất cả những sản vật đó đều được tạo ra từ bàn tay của tự nhiên, do đó theo Locke con người có quyền sở hữu đối với những sản phẩm mà tự nhiên ban tặng khi con người sinh ra Quyền sở hữu đó là quyền sở hữu chung cho toàn thể mọi người, không một ai có quyền lực riêng đối với nó bởi vì trong trạng thái tự nhiên tất cả mọi người đều bình đẳng, mọi thứ đều là của chung của xã hội, không ai có quyền hạn gì hơn người khác
Ngoài quyền sở hữu chung này, Locke cho rằng mỗi người ngay từ khi sinh ra đã có quyền sở hữu đối với chính thân thể, sức lao động của mình và vì vậy con người có quyền sở hữu đối với những sản phẩm do chính lao động của mình làm ra và không ai có bất kỳ quyền gì đối với sở hữu này ngoài chính anh
ta, “lao động của cơ thể anh ta, sản phẩm của đôi tay anh ta - hoàn toàn có thể nói - đích thị là của anh ta” [20, 63] Bất kể thứ gì trong tự nhiên mà con
người dùng sức lao động của mình làm ra nó thì sẽ trở thành sở hữu riêng của cá nhân, mà bất kì ai cũng không được phép xâm phạm tới Theo Locke, chính lao động đã tách biệt những thứ mà con người lấy từ tự nhiên với cái chung của tự
nhiên, lao động đã thêm vào những thứ đó một “cái gì đó hơn là cái mà tự nhiên – người mẹ chung của tất cả - đã làm, và vì thế, chúng trở thành cái thuộc về tư quyền của anh ta” [20, 64] Như vậy, lao động đã tách quyền sở hữu chung của
mọi người với tự nhiên thành quyền sở hữu riêng của cá nhân như Locke khẳng
Trang 3229
định “…dù mọi vật được trao tặng chung, nhưng con người, bằng việc là chủ nhân của bản thân và chủ sở hữu của cá nhân mình và của hành động hay lao động của nó, trong tự thân mỗi người vẫn có một nền tảng cao cả cho sở hữu”
[20, 82]
Trong quan niệm của Locke, quyền sở hữu chính là quyền tự nhiên của con người, đó là sở hữu mà người ta có đối với cá nhân con người họ và tài sản của họ Quyền sở hữu của con người có được thông qua lao động tuy nhiên không vì thế anh ta có sự sở hữu một cách vô độ mà phải có hạn mức Theo Locke, mọi người đều có quyền sở hữu cho bản thân nhưng quyền sở hữu đó phải nằm trong giới hạn cho phép của luật tự nhiên Con người có quyền chiếm giữ của cải cho riêng mình nhưng những gì anh ta chiếm giữ phải phục vụ cho nhu cầu sử dụng của anh ta, ở mức anh ta có thể sử dụng hết, chứ không phải chiếm giữ vô độ mà không dùng đến để nó bị hư thối Nếu điều này xảy ra tức là anh ta đã xâm phạm đến phần sở hữu của người khác cũng tức là vi phạm vào luật tự nhiên Bởi theo Locke, tự nhiên không tạo ra cho con người bất cứ một
thứ gì có thể dư thừa, bỏ đi một cách vô ích, “tự nhiên đã sắp đặt hợp lý từ phạm vi của hoạt động lao động của con người và tiện nghi của cuộc sống Không có sự lao động của một ai là có thể khai khẩn và chiếm giữ tất cả, mà thụ hưởng của anh ta cũng không thể dùng đến hơn một phần nhỏ” [20, 71], sự dư
thừa của người này sẽ gây ra sự thiếu thốn cho những người khác như vậy sẽ tạo
ra sự bất bình đẳng Từ đó Locke đưa ra giới hạn của sự chiếm hữu: “Hạn mức này đã được hạn chế sự chiếm hữu của mỗi người đến một tỷ lệ vừa phải, là những gì một người có thể chiếm giữ cho riêng mình mà không gây thiệt hại cho người khác” [20, 71 – 72]
Như vậy, theo Locke tự do, bình đẳng, sở hữu là các quyền tự nhiên cơ bản và thiêng liêng của con người, tồn tại sẵn có trong mỗi cá nhân, bất khả xâ,
phạm Trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền” Locke đã chứng
Trang 3330
minh các quyền đó là các quyền tự nhiên thiêng liêng bất khả xâm phạm của con người, do mẹ tự nhiên ban tặng cho mỗi người Tuy nhiên, Locke cho rằng, dù con người có quyền tự do và bình đẳng hoàn hảo trong trạng thái tự nhiên nhưng những quyền đó đều xuất phát từ quyền bảo toàn sinh mạng của con người Do
đó, dù có tự do muốn làm gì theo ý muốn của bản thân nhưng con người không được phép lấy đi sự sống hay xâm phạm tính mạng, thân thể của chính bản thân
và của người khác Bởi ngay trong trạng thái tự nhiên, con người đã có luật tự nhiên, tức luật của lý trí bảo vệ Và để đảm bảo những quyền đó, con người đã
có luật tự nhiên làm cơ sở để điều chỉnh hành vi, mọi người không vượt quá luật
tự nhiên làm ảnh hưởng và xâm phạm tới quyền của người khác
Trong quan điểm của Locke thì mọi người sinh ra đều có quyền bảo toàn thân thể, quyền bình đẳng, tự do và quyền sở hữu tài sản mà bất kì ai cũng không được xâm phạm Đó là những quyền bất biến tự nhiên của con người từ khi sinh ra đã có chứ không phải là từ sự ban phát của nhà nước hay một thế lực chính trị nào khác
Tóm lại, có thể nói rằng, tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước của các triết gia cổ đại và tư tưởng thuyết pháp quyền tự nhiên thời Phục hưng cận đại
có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng về phân chia quyền lực của John Locke, đặc biệt,
sự kế thừa và tiếp tục phát triển quan điểm pháp quyền tự nhiên, với sự khẳng định giá trị cơ bản của quyền con người: quyền bảo toàn tính mạng, tự do, bình đẳng và sở hữu của John Locke.Chính từ quan niệm về bản tính và quyền tư nhiên của con người là tự nhiên vốn có, không thể bị xâm phạm, Locke đi đến quan niệm về sự phân chia quyền lực nhà nhằm đảm bảo các quyền tự nhiên thiêng liêng và cơ bản của người dân và cuộc sống an toàn và ổn định
Trang 3431
1.3 Khát quát về cuộc đời, sự nghiệp của John Locke và tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền”
1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp của John Locke
John Locke là một trong những nhà triết học vĩ đại thế kỉ thứ XVII Ông sinh ngày 29 tháng 8 năm 1632 trong một gia đình Thanh giáo tại ngôi làng nhỏ Wrington ở Somerset phía tây nam nước Anh Cha ông là John - một luật sư và giữ chức vụ Trung úy trong quân đội nghị viện trong giai đoạn đầu thời kì nội chiến nước Anh, ủng hộ Quốc hội Anh chống lại vua Charles đệ nhất Mẹ ông là
bà Agnes, bà sinh Locke khi bước vào tuổi 35
Năm 1647, Locke đã được gửi đến học tại Westminster ở London, là trường trung học hàng đầu nước Anh lúc bấy giờ, tại đây ông theo học chuyên ngành ngôn ngữ cổ điển, học tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp Ông là một học sinh chăm chỉ và chịu khó Năm 1650, ông nhận được suất học bổng của nhà Vua giúp ông có được hai suất học bổng tại hai trường đại học danh tiếng nước Anh
là Oxford và Cambridge
Năm 1652, John Locke học ở trường đại học Oxford nổi tiếng của Anh quốc và đậu thạc sĩ năm 1658 Tại đây, ông say mê nghiên cứu nhiều lĩnh vực khác nhau như ngôn ngữ, toán học, triết học Năm 1661 tốt nghiệp thạc sĩ và được bổ nhiệm chức danh giảng viên tiếng Hy Lạp, tiếng La Tinh Không chỉ dừng lại ở địa vị hiện tại mà khát vọng tri thức, lòng say mê Không dừng lại ở địa vị hiện tại với khát vọng tri thức, lòng say mê khoa học và sự quan tâm đến sức khỏe, trạng thái tâm sinh lý của con người đã dẫn ông đến nghiên cứu y khoa Locke đã được giới thiệu đến y học và triết lý thực nghiệm đang được theo đuổi tại các trường đại học khác và trong Hội Hoàng gia sau này ông đã trở thành một thành viên trong hiệp hội này Chính quyết định nghiên cứu y học đã tạo cơ hội cho Locke có cơ hội kết bạn với bác sỹ David Thomas và qua đó ông
đã có dịp tiếp xúc với Lord Anthony Ashley Cooper - Huân tước toàn quyền
Trang 3532
Carolinas tức Bá tước Shaftesbury, một trong những người giàu nhất nước Anh
và giữ vị trí quan trọng trong chính quyền Anh Có thể nói, Ashley là người có ảnh hưởng mạnh mẽ đến những ý tưởng chính trị của Locke Huân tước Ashley
là một trong những người ủng hộ quan điểm rằng nước Anh sẽ thịnh vượng thông qua thương mại và thuộc địa có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy thương mại Ashley thuyết phục Charles II thành lập Hội đồng Thương mại và đồn điền để thu thập thông tin về thương mại và thuộc địa, và Locke trở thành thư ký của ban này Trong thời gian sống và làm việc bên cạnh Ashley, Locke đã bị lôi cuốn bởi những vấn đề chính trị của nước Anh lúc bấy giờ và ông đã nhanh chóng hòa nhập vào những tư tưởng cùng những kế hoạch cấp tiến của Ashley Với vai trò là một thư ký của Ashley, Locke đã được tham gia góp ý xây dựng các văn bản của hiến pháp cơ bản của Carolinas Ngoài các vấn đề về thương mại và thuộc địa, Locke đã hỗ trợ đắc lực Ashley trong các cuộc tranh luận về chính sách công cộng khác
Trong giai đoạn từ 1674 – 1688, cuộc đời của John Locke gắn liền với nhiều biến cố thậm chí hiểm nguy đến tính mạng Cụ thể, trong thời gian từ
1675 - 1679 ông sang Pháp nghiên cứu triết học Descartes và thiết lập mối quan
hệ với một số nhà tư tưởng lớn châu Âu lúc bấy giờ Năm 1681, Bá tước Ashley
- người đứng đầu Đảng Quê Hương, lãnh tụ của phe nghị viện chống laị nhà vua Charles II bị kết tội phản quốc Là bạn thân và thư ký trung thành của Ashley nên Locke tất yếu bị liên lụy Sợ bị nghi ngờ dính líu đến âm mưu chống lại nhà vua nên ông trốn sang Hà Lan vào năm 1683 Tại đây ông đã viết 2 tác phẩm
“Lá thư về lòng khoan dung” và “Kinh nghiệm về nhận thức của con người”, nhanh chóng được độc giả đón nhận và xuất bản năm 1689 Ở Hà Lan ông vẫn tiếp tục hoạt động chính trị và trở thành người lưu vong chính trị Locke là người cố vấn trực tiếp cho William III và vạch kế hoạch đưa William III lên làm hoàng đế thành công Sau khi cuộc “Cách mạng vinh quang” năm 1688 giành thắng lợi, Locke đã trở lại Anh trên tàu cùng công nương Mary II và quốc
Trang 3633
trưởng William Năm 1690, John Locke xuất bản cuốn “Hai khảo luận về chính quyền dân sự”.Cuốn sách làm ông nổi tiếng với tư cách là nhà triết học và là một nhà lý thuyết chính trị Mặc dù trước Locke có nhiều nhà triết học viết về lĩnh vực chính trị nhưng tác phẩm của ông vẫn gây được tiếng vang lớn trong đời sống chính trị nước Anh đương thời, vì tác phẩm này được xuất bản đúng lúc diễn ra những sự kiện chính trị quan trọng ở nước Anh
Năm 1696, Uỷ ban thương mại được phục hồi và Locke đóng một vai trò quan trọng trong sự hồi sinh của nó và đã cống hiến những năm tháng cuối cuộc đời mình cho công việc tại đây Sau khi nghỉ hưu từ Ban Thương mại năm 1700, Locke về sống tại Oates cho đến khi ông qua đời vào ngày 28- 10 – 1704 do căn bệnh hen suyễn mãn tính ở tuổi 72
Nghiên cứu nhiều lĩnh vực, nhưng thành công lớn ở lĩnh vực chính trị và pháp luật, Locke được xem là một trong những cội nguồn của tri thức của phong trào Khai sáng châu Âu J Locke đã để lại nhiều tác phẩm, nhiều công trình
nghiên cứu khoa học có giá trị như: Luận về nhận thức con người, (An Essay Concerning Human Understanding, 1689); Thư bàn về sự khoan dung (A Letter Concerning Toleration, 1689); Hai khảo luận về chính quyền (Two Treatises of Government,1689); Một số suy nghĩ về hậu quả của việc hạ thấp tỷ giá và tăng giá trị của tiền tệ (1691); Một số suy nghĩ về giáo dục (Some Thoughts Concerning Education, 1693), Tính hợp lý của Thiên chúa giáo (The Reasonableness of Christianity, 1695); Biện hộ cho tính hợp lý của Kito giáo (1695); Thuyết trình về phép màu của Chúa (xuất bản sau khi J Locke đã mất); Xem xét ý kiến của Cha Malebranche nhìn thấy tất cả mọi việc nhân danh Chúa
(xuất bản sau khi J Locke đã mất)
1.3.2.Tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền”
“Khảo luận thứ hai về chính quyền” là tác phẩm nằm trong “Hai khảo luận về chính quyền” (Two Treatises of The Government) của John Locke
Trang 3734
“Khảo luận thứ nhất về chính quyền” hiện chưa được dịch sang tiếng
Việt Trong khảo luận thứ nhất, Locke nhắm đến việc biện bác cách nhìn gia trưởng về thánh quyền của vua chúa được Sir Robert Filmer truyền bá Locke đã phê phán luận điểm của Filmer khi cho rằng con người tự do mặc nhiên, và mọi chính quyền chân chính đều là nền quân chủ chuyên chế, vua chúa là những người được truyền tiếp từ con người đầu tiên là Adam
“Khảo luận thứ hai về chính quyền” của Locke được cho là viết vào thời
điểm xảy ra sự khủng hoảng của dự luật tống xuất anh em quốc vương Jame II
Sự thất bại của bộ luật này đã đưa Locke và những người bạn của mình đến với quan điểm vũ trang Có thể nói, tác phẩm chính là một sự biện luận chân chính hợp lí về cuộc các mạng tư sản năm 1689
Khảo luận thứ hai về chính quyền được xem là một trong những tác phẩm
vĩ đại nhất của chính trị học nhân loại, thể hiện rõ nhất quan điểm của J Locke
về nhà nước, về quyền tự nhiên, về khế ước xã hội và trong đó quan điểm về quyền lực nhà nước là một trong những giá trị cốt lõi của tư tưởng chính trị mang tinh thần Khai sáng
“Khảo luận thứ hai về chính quyền” với tựa phụ là “Luận về nguồn gốc, phạm vi và mục đích chân chính của chính quyền dân sự” được xem là một
trong những tác phẩm vĩ đại nhất của chính trị học nhân loại Tác phẩm là sự tiếp tục dòng chảy của tư tưởng nhân loại về nhà nước và quyền lực nhà nước bắt đầu từ thời Hy Lạp - La Mã cổ đại đến thời Phục hưng, là tiền đề trực tiếp ảnh hưởng đến tư tưởng của trào lưu Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII và được thể hiện rõ nét trong tư duy và hoạt động của các nhà lập pháp hiện đại sau này
Tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền” được John Locke chia
làm 19 chương tập trung luận giải các luận điểm là nền tảng cơ bản để thiết lập một nhà nước dân sự toàn hảo với một văn phong sáng sủa, đơn giản nhưng rất logic và chặt chẽ Trong đó, chương 1, Locke đưa ra định nghĩa của mình về
Trang 3835
quyền lực chính trị Ở chương 2 của tác phẩm Locke đưa ra một trạng thái xã hội giả định là trạng thái tự nhiên, một trạng thái giống với xã hội sơ khai nguyên thủy không có nhà nước, chính quyền và cả quan tòa Từ đó, Locke cho rằng trong một xã hội như vậy, mỗi cá nhân sinh ra đã tự bình đẳng như nhau, đều có quyền thụ hưởng những gì của tự nhiên cũng như quyền tự bảo toàn tính mạng, tự do và những gì là sở hữu của mình, con người sống và hành động tuân theo các quy tắc của luật tự nhiên
Ở chương 3 và 4, Locke xác định trạng thái chiến tranh và trạng thái nô
lệ Trạng thái chiến tranh hình thành khi có người có ý định xâm phạm đến quyền sống của người khác Khi đó, người này đã tự đặt mình vào trạng thái chiến tranh với người mà cuộc sống bị nhắm lấy đi Tình trạng nô lệ là trạng thái người ta sống dưới quyền lực độc đoán của người khác, là sự tiếp tục của trạng thái chiến tranh giữa người đi chinh phạt và người thất trận, hoặc có thể là sự cưỡng ép bằng sức mạnh đưa người khác vào vòng lô nệ của mình
Chương 5, bàn về sở hữu là một trong những chương nổi tiếng nhất và quan trọng nhất Tại đây, Locke đã đưa ra nguồn gốc để xác lập quyền sở hữu và
tư hữu, đó là từ lao động, khi mỗi cá nhân hòa trộn sức lao động của mình vào sản phẩm thô của tự nhiên, tức là anh ta đã đánh dấu quyền sở hữu của mình lên
nó, như việc ta đi khai hoang một mảnh đất vậy sẽ không có ai xứng đáng hơn ta
kì ai xâm phạm vào luật pháp của cộng đồng đã định ra
Trang 3936
Trong những phần cuối của khảo luận, Locke đưa ra những kiến giải về quyền lực bạo chính và sự biến thể của một chính quyền dân sự chân chính thành quyền chuyên chế tàn bạo Điều đó dẫn đến giải pháp rằng trong tình cảnh như thế nổi loạn là một hành động công chính Người dân có quyền hành động với tư cách quyền lực tối cao và tự mình tiếp tục công việc lập pháp hoặc dựng lên một hình thức chính quyền mới
Có thể nói, vấn đề quyền con người và học thuyết về nhà nước là 2 tư tưởng cơ bản của tác phẩm, trong đó tư tưởng của Locke về sự quyền nhà nước
là một trong những nội dung mang giá trị cốt lõi Ta thấy tư tưởng chính trị của Locke thể hiện tinh thần chung xuyên suốt mạch chảy của triết học chính trị thời
kỳ XVII - XVIII, đó là quan niệm về các quyền tự nhiên và khế ước xã hội
cả đó ảnh hưởng sâu sắc đến quan niệm chính trị của Locke Bởi ông không chỉ đóng vai trò như một nhân chứng lịch sử mà còn là người trực tiếp tham gia vào các sự kiện chính trị lúc đó
John Locke là một trong những triết gia, chính trị gia có ảnh hưởng lớn không chỉ đối với riêng nước Anh mà còn đối với lịch sử tư tưởng nhân loại nói chung Cả đời ông sống, làm việc và cống hiến cho nhân loại những tư tưởng
lớn về triết học, giáo dục, đặc biệt là chính trị với tác phẩm nổi tiếng “Khảo
luận thứ hai về chính quyền” Tư tưởng của Locke về sự phân quyền nhà nước trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền” cùng toàn bộ tư tưởng triết
học của ông chính là sản phẩm của bối cảnh lịch sử nước Anh lúc bấy giờ, là sự
Trang 4037
phản ánh yêu cầu của giai cấp tư sản muốn vươn lên chống lại chế độ phong kiến giành địa vị thống trị, tạo điều kiện cho chủ nghĩa tư bản phát triển Quan niệm về quyền lực và sự phân chia quyền nhà nước của John Locke còn là sự tiếp nối dòng chảy chung của lịch sử tư tưởng nhân loại về nhà nước và quyền lực