1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhân một trường hợp xoắn mạc nối lớn được chẩn đoán và điều trị tại Bệnh viện Quân y 175

6 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 884,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xoắn mạc nối lớn là một nguyên nhân đau bụng cấp tính hiếm gặp với biểu hiện lâm sàng khá giống các bệnh lý bụng khác và rất khó được chẩn đoán trước phẫu thuật. nghiên cứu tài liệu và thảo luận về nguyên nhân tiềm năng, các yếu tố nguy cơ, phương pháp chẩn đoán và điều trị đối với xoắn mạc nối lớn.

Trang 1

NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP XOẮN MẠC NỐI LỚN ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 175

Nguyễn Văn Mạnh 1 , Nguyễn Đình Thành 1

TÓM TẮT

Xoắn mạc nối lớn là một nguyên nhân đau bụng cấp tính hiếm gặp với biểu hiện lâm sàng khá giống các bệnh lý bụng khác và rất khó được chẩn đoán trước phẫu thuật

Ở đây, chúng tôi báo cáo trường hợp của một bệnh nhân nam 31 tuổi nhập viện với các triệu chứng viêm ruột thừa cấp tính Xoắn mạc nối lớn được phát hiện khi mổ nội soi và phẫu thuật cắt bỏ được thực hiện mà không có biến chứng sau phẫu thuật Trong báo cáo này, chúng tôi nghiên cứu tài liệu và thảo luận về nguyên nhân tiềm năng, các yếu

tố nguy cơ, phương pháp chẩn đoán và điều trị đối với xoắn mạc nối lớn.

Từ khóa: Xoắn mạc nối lớn, thiếu máu mạc nối, nhồi máu mạc nối.

A CASE OF OMENTAL TORSION WAS DIAGNOSED AND TREATMENTED AT MILITARY HOSPITAL 175

ABSTRACT

Greater omental torsion is a rare cause of acute abdominal pain with a clinical presentation quite resembling other abdominal pathologies and is difficult to be diagnosed preoperatively Here, we report the case of a 31-year-old male patient presented with the symptoms of acute appendicitis Omental torsion was discovered upon laparoscopy and the torsed omentum was excised without postoperative complications In this report,

we reviewed literatures and discussed about potential causes, contributing factors, diagnosis and treatment for omental torsion.

Keywords: Omental torsion, Omental Ischemia, Omental infarction.

1 Bệnh viện Quân y 175

Trang 2

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Xoắn mạc nối lớn (Omental

torsion - OT) được định nghĩa đơn giản là

sự xoắn của mạc nối lớn trên chính nó và

thường là xoắn trên trục dài theo chiều kim

đồng hồ Đây là tình trạng bệnh lý khá hiếm

gặp, được mô tả lần đầu bởi Eitel (1899),

ước tính tỷ lệ mắc 0,0016 - 0,037%, khi so

sánh với tỷ lệ viêm ruột thừa cấp tính tỷ lệ

gặp OT dưới 4/1000 trường hợp viêm ruột

thừa cấp tính [8] Biểu hiện của OT là tình

trạng đau bụng khu trú cấp tính giống với

triệu chứng của viêm ruột thừa cấp hoặc

viêm túi mật cấp tính và ở bệnh nhân nữ

nó có thể bắt chước triệu chứng của xoắn

buồng trứng Biểu hiện lâm sàng không

đặc hiệu này làm cho chẩn đoán OT trước

phẫu thuật khó khăn vì thế mà hầu hết các

trường hợp OT chỉ được chẩn đoán trong

phẫu thuật [5, 7] Trong một số trường hợp,

chụp cắt lớp vi tính (CLVT) và siêu âm có

thể giúp chẩn đoán được OT trước phẫu

thuật Gần như toàn bộ các trường hợp OT

được điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ, một

vài trường hợp OT chẩn đoán được trước

mổ nếu tổn thương ở một bộ phận nhỏ của

mạc nối lớn thì có thể điều trị bảo tồn [6]

2 CA LÂM SÀNG

Bệnh nhân nam 29 tuổi được đưa

vào Khoa Cấp cứu trong tình trạng đau

bụng hố chậu phải (HCP) và hạ vị nghiêm

trọng ngày thứ 3 kèm theo chán ăn và sốt Trước đó 3 ngày bệnh nhân biểu hiện đau

âm ỉ thượng vị được chẩn đoán viêm dạ dày và điều trị bằng thuốc giảm tiết, giảm

co thắt nhưng tình trạng đau không cải thiện, bệnh nhân vẫn trung tiện được, chưa đại tiện 2 ngày Khám thực thể, thể trạng bệnh nhân trung bình (BMI: 24,5kg/m2), nhịp tim là 90 lần/phút, huyết áp là 130/80 mmHg, nhịp thở là 18 lần/phút, độ bão hòa oxy ngoại biên là 99% và sốt 38°C Khám bụng dấu hiệu đề kháng rõ tại phần

tư dưới phải kèm theo có cảm giác một khối mass chắc tay không rõ ranh giới tại khu vực HCP – hạ vị, dấu hiệu viêm phúc mạc tại chỗ rõ, thăm trực tràng không thấy

u, không có máu, túi cùng Douglas ấn đau tức Khám phổi và tim không cho thấy bất

kỳ sự bất thường nào Phân tích máu, tình trạng nhiễm trùng rõ với bạch cầu 14,4 G/l (N: 76,8%), không có rối loạn về đông máu, chức năng gan, thận, điện giải máu trong giới hạn bình thường Hình ảnh siêu

âm ổ bụng cho thấy khối thâm nhiễm mỡ lớn vùng góc hồi manh tràng, có ít dịch

tự do vùng HCP, phúc mạc cục bộ có dấu hiệu viêm và không thấy được hình ảnh ruột thừa Tính chất đau bụng không giảm

có xu hướng ngày càng tăng khi theo dõi Chúng tôi quyết định tiến hành phẫu thuật nội soi (PTNS) để chẩn đoán và xử trí, chẩn đoán trước mổ là viêm phúc mạc cục

bộ nghĩ nhiều do viêm ruột thừa cấp

Trang 3

Khi mổ nội soi, xác định được tổn

thương là OT, vị trí xoắn gần sát gốc mạc

nối lớn, xoắn theo chiều kim đồng hồ 3

vòng, đoạn mạc nối dưới chỗ xoắn hoại tử

đen dính vào thành bụng HCP, nhiều quai

hỗng tràng, hồi tràng và đại tràng sigma

dính bọc lấy khối mạc nối hoại tử, phúc

mạc cục bộ viêm xung huyết rất mạnh

Vị trí mạc nối hoại tử có hiện tượng xuất

huyết, dịch huyết thanh đỏ sẫm trong

khung chậu lượng vừa, ruột thừa hoàn toàn

bỏ khối mạc nối hoại tử

Sau phẫu thuật, bệnh nhân hồi phục tốt và được xuất viện vào ngày thứ

8 Kết quả mô bệnh học đã xác nhận OT (xuất tiết fibrin huyết thanh có chứa các tế bào viêm cấp tính với phản ứng viêm xung huyết xuất huyết kèm theo mô hoại tử)

3 BÀN LUẬN

Xoắn mạc nối lớn (OT) là một nguyên nhân đau bụng cấp tính hiếm gặp,

Hình 1A: Hình ảnh siêu âm trước mổ Hình 1B: Hình ảnh xoắn mạc nối lớn kèm

theo dính hỗng tràng và đại tràng.

Hình 2: A: Vị trí xoắn sát gốc, các mạch

máu xoắn theo chiều kim đồng hồ 3 vòng B: Hình ảnh xoắn mạc nối lớn sau khi gỡ dính hỗng tràng và đại tràng.

Trang 4

sàng trước phẫu thuật Chẩn đoán trước

phẫu thuật chính xác đã được báo cáo

trong khoảng 0,6 - 4,8%; Basson và Jones

đã phân tích 223 trường hợp xoắn và tiết lộ

rằng chỉ có một bệnh nhân được chẩn đoán

chính xác trước phẫu thuật [2],[4, 5, 7]

OT có thể là nguyên phát hoặc thứ

phát OT nguyên phát (Primary Omental

Torsion - POT) xảy ra trong trường hợp

không có bất kỳ bệnh lý nào trong ổ bụng

liên quan, đầu xa của mạc nối lớn là tự

do (còn được hiểu là xảy ra khi không có

nguyên nhân bệnh lý) POT xảy ra nhiều

hơn ở nhóm tuổi từ 30 đến 50 tuổi (83

trường hợp, 52,5%) và tỷ lệ nam/nữ là

2:1 [1] Sinh bệnh học của POT hiện chưa

được xác định rõ ràng, một số yếu tố liên

quan đã được báo cáo gồm các biến thể

giải phẫu, tác động cơ học và béo phì Các

biến thể giải phẫu có thể gặp như mạc

nối lớn chẻ đôi, mạc nối lớn phụ, dị dạng

mạch máu mạc nối lớn…[4] Các yếu tố

cơ học bao gồm yếu tố chấn thương (nâng

tạ, ho, nôn mửa mạnh mẽ, lao động nặng

nhọc, ăn nhiều thức ăn, chấn thương bụng)

, tình trạng tăng nhu động ruột và sự thay

đổi đột ngột vị trí cơ thể… các yếu tố này

dẫn đến sự gia tăng áp lực trong ổ bụng

gây ra sự di chuyển thụ động của mạc nối

lớn dẫn tới xoắn [4] Xoắn mạc nối lớn thứ

phát (Second ary Omental Torsion – SOT)

phổ biến hơn so với xoắn nguyên phát và

có sự liên quan rõ ràng hơn đến bệnh lý

bụng cụ thể Ở SOT, đầu xa được cố định

do dính hoặc do một số tình trạng bệnh lý

như thoát vị bẹn (đa số), khối u, u nang,

thoát vị bên trong hoặc bên ngoài, dính vào ổ viêm trong ổ bụng, vết thương sau phẫu thuật hoặc sẹo mổ… Trong đó phần lớn các trường hợp xoắn xảy ra do nguyên nhân thoát vị bẹn [1, 6]

Sự xoắn của mạc nối lớn thường

là xoắn dọc trục theo chiều kim đồng hồ quanh một điểm then chốt và độ xoắn cũng được xác định dựa vào điểm then chốt đó Khi quá trình xoắn xảy ra làm cho cung cấp máu bị suy yếu Các tĩnh mạch là thành phần dễ bị chèn ép hơn vì vậy tổn thương ban đầu là tình trạng ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch ở dưới chỗ xoắn gây phù nề và chảy máu Quá trình này có thể phục hồi nếu mạc nối lớn được tháo xoắn nếu không quá trình tổn thương có thể tiếp tục [6] Kết quả xuất huyết tạo ra một chất lỏng huyết thanh đặc trưng bên trong khoang màng bụng Khi xoắn tiến triển, nó gây ra tắc động mạch dẫn đến nhồi máu xuất huyết cấp tính và cuối cùng là hoại tử

Trên lâm sàng, xoắn nguyên phát

và thứ phát biểu hiện tương tự nhau, nó biểu hiện như một đau bụng cấp tính với cơn đau khởi phát đột ngột khu trú, thường xuyên nhất là đau ở hố chậu phải và đôi khi có thể kèm theo buồn nôn, nôn và sốt nhẹ [7] Tiền sử bệnh nhân có thể từng có biểu hiện đau tương tự nhưng ít nghiêm trọng hơn Biểu hiện lâm sàng OT không đặc hiệu thường bắt chước các bệnh lý bụng khác: 66% viêm ruột thừa và 22% viêm túi mật… Có tới 50% trường hợp OT khi thăm khám sờ thấy có khối mass vùng bụng và dấu hiệu viêm phúc mạc tại chỗ

Trang 5

[3, 5] Mặc dù vậy, các dấu hiệu hoại tử

mạc nối lớn cũng có thể xảy ra mà không

phải do nguyên nhân xoắn (có thể do huyết

khối gây ra bởi bệnh lý tim mạch hoặc tình

trạng tăng đông) Siêu âm có thể cho thấy

một khối phức tạp và hỗn hợp đặc có vùng

giảm âm và dịch tự do trong khoang màng

bụng Chụp CLVT có độ nhạy cao khi cho

thấy mức độ tổn thương của mạc nối lớn

nhưng không đặc hiệu để chẩn đoán Các

dấu hiệu cổ điển của OT trên CLVT là tổn

thương mờ, dấu hiệu xoáy của một khối

mỡ với các dải tuyến tính đồng tâm trong

mạc nối lớn (đây là hình ảnh các mạch

máu xoắn quanh một trục trung tâm) [1,

3, 6] Mặc dù, CLVT không thể chẩn đoán

xác định vì có những tổn thương trên

CLVT cũng có đặc điểm tương tự chẳng

hạn như viêm bờ mỡ đại tràng, đám quánh

ruột thừa và u có chứa chất béo nhưng dựa

vào hình ảnh toàn vẹn của các cơ quan

khác trong ổ bụng để chẩn đoán loại trừ

Đôi khi, siêu âm và CLVT có thể thiết lập

chẩn đoán một cách an toàn và cho phép

điều trị bảo tồn tránh phải can thiệp phẫu

thuật không cần thiết [6]

Điều trị OT hiện nay còn có những

quan điểm chưa đồng thuận Một số báo

cáo chứng minh rằng OT có thể hồi phục

thành công với điều trị bảo tồn vì OT là

một tổn thương lành tính và tự khỏi Điều

trị bảo tồn bao gồm sử dụng thuốc giảm

đau đường uống, thuốc chống viêm và

kháng sinh dự phòng Diễn tiến tổn thương

2 tuần [7] Điều trị phẫu thuật được chọn khi chẩn đoán không chắc chắn hoặc khi dấu hiệu lâm sàng trở nên tồi tệ hơn trong quá trình điều trị bảo tồn Trong đó PTNS

là phương pháp tuyệt vời để chẩn đoán và điều trị bởi những ưu điểm của nó như: kiểm tra đầy đủ khoang bụng để xác nhận chẩn đoán, thuận lợi để xử trí tổn thương

và rửa phúc mạc, và giảm thiểu xâm lấn phẫu thuật, giảm đau sau mổ và các biến chứng liên quan đến vết mổ [1, 4, 6-8] Chiến thuật phẫu thuật là tiến hành xác định và loại bỏ phần nhồi máu của mạc nối lớn

Trường hợp OT chúng tôi báo cáo, lựa chọn điều trị phẫu thuật vì không chắc chắn chẩn đoán Và quan điểm của chúng tôi cho rằng phẫu thuật cắt bỏ của mạc nối lớn là phương pháp điều trị an toàn, hiệu quả và PTNS là lựa chọn tốt nhất; điều trị bảo tồn có thể được áp dụng trong một vài trường hợp được chẩn đoán một cách chắc chắn với mức độ tổn thương mạc nối lớn

ít, không có biến chứng nghiêm trọng

4 KẾT LUẬN

Xoắn mạc nối lớn là nguyên nhân đau bụng rất ít gặp, biểu hiện lâm sàng dễ nhầm lẫn với các bệnh lý về bụng khác nhất là viêm ruột thừa cấp, viêm túi mật cấp và rất khó chẩn đoán được trước phẫu thuật Vì vậy cần được nghĩ tới trong chẩn đoán phân biệt của viêm ruột thừa cấp hoặc viêm túi mật cấp nếu có yếu tố nghi ngờ và chụp cắt lớp vi tính là một biện pháp hỗ

Trang 6

toàn, hiệu quả và phẫu thuật nội soi là lựa

chọn tốt nhất; điều trị bảo tổn có thể được

áp dụng trong một vài trường hợp được

chẩn đoán một cách chắc chắn với mức độ

tổn thương mạc nối lớn ít, không có biến

chứng nghiêm trọng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 J Andreuccetti, C Ceribelli, O

Manto, M Chiaretti, P Negro, D Tuscano

(2011) “Primary omental torsion (POT):

a review of literature and case report”

World J Emerg Surg, 6, 6

2 S E Basson, P A Jones (1981)

“Primary torsion of the omentum” Ann R

Coll Surg Engl, 63, (2), 132-4

3 Vijay Borgaonkar, Sushil

Deshpande, Mukesh Rathod, Imran Khan

(2013) “Primary Omental Torsion Is a

Diagnostic Challenge in Acute Abdomen-a

Case Report and Literature Review” The

Indian journal of surgery, 75, (4), 255-257

4 C Chinaka, S Mansoor,

M Salaheidin (2018) “Torsion of the

Omentum: A Rare Cause of Acute

Abdomen in a 14-Year-Old Boy” Case Rep Surg, 2018, 7257460

5 S Joshi, G A Cuthbert, R Kerwat (2016) “Omental torsion, a rare cause of acute abdomen” BMJ Case Rep, 2016

6 M Karanikas, K Kofina, F Boz Ali, V Vamvakerou, E Effraemidou,

N Lyratzopoulos, A Polychronidis (2018)

“Primary greater omental torsion as a cause

of acute abdomen-a rare case report” J Surg Case Rep, 2018, (8), rjy207

7 J Kataoka, T Nitta, M Ota, Y Takashima, Y Yokota, K Fujii,

T Higashino, T Ishibashi (2019)

“Laparoscopic omentectomy in primary torsion of the greater omentum: report of a case” Surg Case Rep, 5, (1), 76

8 A Kumar, J Shah, P Vaidya (2016) “Primary omental gangrene mimicking appendicular perforation peritonitis-A case report” Int J Surg Case Rep, 21, 67-9

Ngày đăng: 10/06/2021, 10:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm