LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành chương trình đào tạo Cao học Lâm nghiệp khoá học 2016 - 2018, được sự đồng ý của Khoa sau đại học - Trường Đại học Lâm nghiệp, tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu
Trang 1Hà Nội, 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết quả đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Người cam đoan
(Tác giả ký và ghi rõ họ tên)
Cấn Văn Nguyên
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo Cao học Lâm nghiệp khoá học 2016 -
2018, được sự đồng ý của Khoa sau đại học - Trường Đại học Lâm nghiệp, tôi
tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài tốt nghiệp: "Nghiên cứu đánh giá tiềm năng du lịch với các sản phẩm từ rừng tại Vườn Quốc gia Ba Vì, huyện Ba
Vì, thành phố Hà Nội"
Để có được luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu, các thầy cô trong Khoa đào tạo sau đại học, các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới GS.TS Vương Văn Quỳnh đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Hải Hòa đã hướng dẫn, góp ý để hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình, tạo điều kiện của Ban lãnh đạo các cơ quan đơn vị và các cán bộ, các đồng chí, đồng nghiệp, bạn
bè và người thân đã tạo mọi kiện thuận lợi để giúp đỡ tôi hoàn thành được bản luận văn này
Mặc dù bản thân đã nỗ lực nhưng do hạn chế về nhiều mặt nên luận văn này khó tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp và xin chân thành tiếp thu mọi ý kiến đóng góp
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Học viên
Cấn Văn Nguyên
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tổng quan về du lịch sinh thái 3
1.1.1 Khái niệm về du lịch sinh thái 3
1.1.2 Khái niệm về tài nguyên du lịch 4
1.1.3 Đặc trưng của du lịch sinh thái 5
1.1.4 Điều kiện cần thiết để phát triển du lịch sinh thái 7
1.1.5 Phát triển du lịch sinh thái 8
1.2 Du sinh thái trên Thế giới 9
1.3 Du lịch sinh thái tại Việt Nam 13
1.4 Hoạt động DLST tại VQG Ba Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 15
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 21
2.1.1 Mục tiêu chung 21
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 21
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 21
2.3 Nội dung nghiên cứu 21
2.3.1 Đánh giá tiềm năng khai thác tài nguyên rừng phục vụ nhu cầu du khách tại VQG Ba Vì, huyện Ba Vì, TP Hà Nội 21
2.3.2 Đánh giá thực trạng khai thác các sản phẩm du lịch từ rừng tại VQG Ba Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 22
2.3.3 Định hướng giải pháp khai thác bền vững các sản phẩm du lịch từ rừng ở VQG Ba Vì, TP Hà Nội 22
Trang 52.4 Phương pháp nghiên cứu 22
2.4.1 Phương pháp tiếp cận 22
2.4.2 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu 24
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 Đánh giá tiềm năng khai thác tài nguyên rừng phục vụ nhu cầu du khách tại VQG Ba Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 27
3.1.1 Đặc điểm hệ sinh thái VQG Ba Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 27
3.1.2 Tiềm năng khai thác các loài động thực vật làm thực phẩm – thuốc chữa bệnh - nguyên liệu hàng thủ công mỹ nghệ 28
3.1.3 Tiềm năng nhân văn cho sự phát triển du lịch tại VQG Ba Vì 50
3.1.4 Tiềm năng du lịch từ sản phẩm du lịch sinh hoạt cộng đồng 52
3.1.5 Tiềm năng khai thác các cảnh quan rừng thỏa mãn nhu cầu thưởng ngoạn53 3.1.6 Tiềm năng khai thác kiến thức bản địa liên quan để thỏa mãn nhu cầu trải nghiệm nghề rừng 56
3.2 Đánh giá thực trạng khai thác các sản phẩm du lịch từ rừng 57
3.2.1 Mục đích của khách du lịch đến với VQG Ba Vì 57
3.2.2 Đánh giá mức độ hài lòng của khách du lịch về hoạt động du lịch tại VQG Ba Vì – Hà Nội 60
3.2.3 Các hoạt động du lịch sinh thái tại VQG Ba Vì 62
3.2.4 Các nguyên tắc chỉ đạo hoạt động du lịch ở VQG Ba Vì 65
3.2.5 Những thuận lợi trong hoạt động phát triển du lịch và khai thác bền vững sản phẩm từ rừng 69
3.2.6 Những khó khăn trong hoạt động phát triển du lịch và khai thác bền vững các sản phẩm từ rừng 72
3.3 Định hướng giải pháp khai thác bền vững các sản phẩm du lịch từ rừng 75
3.3.1 Giải pháp xây dựng cơ chế chính sách, tổ chức hoàn thiện bộ máy hoạt động quản lý 75
3.3.2 Cải thiện xây dựng cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 76
3.3.3 Giải pháp bảo tồn các nguồn tài nguyên, đảm bảo lợi ích kinh tế, xã hội cho cộng đồng dân cư 77
Trang 63.3.4 Giải pháp bảo tồn các loài động, thực vật hoang dã và cảnh quan sinh thái 78 3.3.5 Giải pháp nghiên cứu thị trường, tiếp thị và quảng bá hình ảnh du lịch và các sản phẩm du lịch tại VQG Ba Vì 79 3.3.6 Giải pháp về nguồn nhân lực 80 3.3.7 Giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm và các chương trình du lịch của VQG Ba Vì 84 3.3.8 Giải pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức và khuyến khích cộng đồng tham gia 86
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 88 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Thống kê số lượt khách du lịch đến thăm VQG Ba Vì từ năm 2012 -
2017 17
Bảng 3.1 Danh lục một số loài thực vật cho thực phẩm từ rừngtại VQG Ba Vì 30
Bảng 3.2 Sản lượng các loài thực phẩm từ rừng tính trung bình một hecta một năm (kg/ha/năm) 33
Bảng 3.3 Giá trị thực phẩm từ hệ sinh thái rừng phục phục vụ du lịch (1000đ/ha/năm) 34
Bảng 3.4 Các loài thực vật làm dược liệu được khai thác nhiều nhất ở VQG Ba Vì36 Bảng 3.5 Sản lượng bình quân của dược liệu và nguyên liệu hàng thủ công mỹ nghệ (kg/ha/năm) 40
Bảng 3.6 Giá trị dược liệu và nguyên liệu hàng thủ công mỹ nghệ (1000đ/ha/năm)41 Bảng 3.7 Lượng sử dụng trung bình của khách du lịch với các sản phẩm 42
(Kg/người) 42
Bảng 3.8 Lượng sử dụng trung bình của du khách đối với từng nhóm đối tượng phỏng vấn (kg/người) 43
Bảng 3.9 Lượng sử dụng sản phẩm từ rừng trung bình người 43
Bảng 3.10 Số khách du lịch được đáp ứng nhu cầu thực phẩm từ rừng 44
Bảng 3.11 Danh lục một số loài động vật cho thực phẩm rừng tại VQG Ba Vì 46
Bảng 3.12 Sản lượng các loại thực phẩm từ động vật trung bình một hecta một năm (kg/ha/năm) 47
Bảng 3.13 Giá trị thực phẩm từ động vật rừng trung bình phục vụ du lịch (1000đ/ha/năm) 47
Bảng 3.14 Lượng sử dụng trung bình của khách du lịch với các sản phẩm động vật từ rừng (Kg/người) 48
Trang 9Bảng 3.15 Lượng sử dụng trung bình của du khách đối với từng nhóm đối tượng phỏng vấn (kg/người) 49 Bảng 3.16 Lượng sử dụng sản phẩm động vật từ rừng trung bình người 49 Bảng 3.17 Số khách du lịch được đáp ứng nhu cầu thực phẩm động vật từ rừng (người/ha/năm) 49 Bảng 3.18 Thống kê mục đích của du khách đến với VQG Ba Vì 57 Bảng 3.19 Mức độ hài lòng của khách du lịch về VQG Ba Vì 60
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Lượng du khách do VQG Ba Vì quản lý 17
Hình 1.2 Sơ đồ tổ chức Vườn Quốc Gia Ba Vì 18
Hình 3.1 Hoa chuối hột (dùng làm nộm, nấu canh; chữa táo bón) 31
Hình 3.2 Rau dớn (nấu canh; mát gan, lợi tiểu) 31
Hình 3.3 Rau đắng cảy (nấu canh; chữa bệnh huyết áp) 31
Hình 3.4 Rau tòm bóp (thanh nhiệt, tiêu đờm) 32
Hình 3.5 Măng rừng 32
Hình 3.6 Quả trám 32
Hình 3.7 Cây Xạ đen (Celastrus hindsii) 37
Hình 3.8 Cây Bách Bộ (Stemona tuberosa) 37
Hình 3.9 Cây Bạch Chỉ (Angelica dahurica) 38
Hình 3.10 Cây Bạch Truật (Atractylodes macrocephala) 38
Hình 3.11 Cây cam thảo (Glycyrrhiza uralensis) 39
Hình 3.12 Cây Câu Đằng (Uncaria rynchophylla) 39
Hình 3.13 Một số sản phẩm cung cấp thực phẩm cho du lịch từ động vật tại VQG46 Hình 3.14 Cây bách Xanh tại độ cao 1200m 55
Hình 3.15 Cây Trường Vân ở độ cao 1100m 55
Hình 3.16 Mục đích của khách du lịch đến VQG Ba Vì 58
Hình 3.17 Sơ đồ du lịch tại khu vực VQG Ba Vì 64
Hình 3.18 Sơ đồ du lịch tại khu vực đền thờ Bác Hồ và đỉnh Tản Viên 65
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự phát triển của khoa học công nghệ và xu hướng toàn cầu hoá, hoà bình hợp tác cùng sự phát triển kinh tế đã nâng cao chất lượng cuộc sống của con người, tạo điều kiện thụân lợi cho du lịch trở thành một hoạt động phổ biến với
ý nghĩa là sự giải trí, thư giãn và hơn hết là một phương thuốc công hiệu giúp con người tránh khỏi được những căng thẳng của cuộc sống hiện đại Dưới tác động của chính sách phát triển kinh tế, hội nhập với thế giới của Đảng và Nhà nước, sự ổn định của chế độ chính trị cùng tiềm năng du lịch phong phú đã tạo
ra những điều kiện thuận lợi thúc đẩy ngành du lịch Việt Nam phát triển Và trong những năm gần đây ngành du lịch đã có những bước phát triển mạnh mẽ, mang tính chất bùng nổ, nó đã trở thành một trong những ngành quan trọng của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Tại các địa phương có tài nguyên được khai thác phục vụ du lịch, sự phát triển du lịch đem lại nhiều tác động tích cực như tăng thu ngân sách, tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương, tạo ra nguồn thu ngoại tệ góp phần tăng trưởng kinh tế… từ đó có điều kiện giải quyết các vấn đề tiêu cực trong xã hội Hoạt động du lịch còn là chất xúc tác cho việc phát triển nhiều ngành kinh tế như giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, các ngành nghề thủ công truyền thống…cơ sở hạ tầng như giao thông, các công trình công cộng, hệ thống cấp thoát nước, cung cấp điện,
xử lý rác thải được nâng cấp, xây dựng cùng với sự phát triển của du lịch
Huyện Ba Vì - TP Hà Nội là một nơi giàu tiềm năng du lịch, với hệ thống các giá trị tài nguyên tự nhiên và nhân văn phong phú Trước hết là sự đa dạng sinh học với Vườn Quốc gia (VQG) Ba Vì, nơi tập trung hàng trăm loài động thực vật quý hiếm; hồ Suối Hai với diện tích lớn cùng một quần thể sinh thái khá đa dạng; với những khu du lịch nghỉ mát nổi tiếng như khu du lịch Ao Vua, khu du lịch Khoang Xanh – Suối Tiên, khu du lịch Đầm Long… Đây còn
là khu vực có nền văn hoá lâu đời, với nhiều giá trị tài nguyên du lịch nhân văn
Trang 12như Đình Tây Đằng, Đình Chu Quyến, khu di tích K9 Đá Chông… Với truyền thuyết Sơn Tinh – Thuỷ Tinh, những nét văn hoá độc đáo của các dân tộc cùng các giá trị tài nguyên đó đã tạo ra sức hấp dẫn riêng của Ba Vì đối với du khách Như vậy, có thể thấy rằng Ba Vì là nơi có tiềm năng to lớn để phát triển du lịch,
và hoàn toàn có thể đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho vùng nói riêng và cho đất nước nói chung Nhưng thực tế chưa được như vậy
Trong thời gian qua, hoạt động du lịch tại Ba Vì tuy cũng đã có những bước phát triển nhất định, song việc khai thác tài nguyên vẫn chưa đạt hiệu quả cao, hoat động du lịch phát triển còn trì trệ, chưa tương xứng với tiềm năng to lớn của vùng, và phía sau của sự phát triển còn tiềm ẩn những nguy cơ phá huỷ môi trường sinh thái, nhân văn… Ngày 01/08/2008 Ba Vì (tỉnh Hà Tây cũ) đã chính thức sát nhập vào thủ đô Hà Nội Ba Vì cách trung tâm thành phố Hà Nội chừng 70 km, có thể nói là một khoảng cách rất thuận lợi cho phát triển du lịch – đặc biệt là du lịch cuối tuần Việc khai thác các sản phẩm từ rừng phục vụ phát triển du lịch là một trong những hướng phát triển du lịch hiện nay trên thế giới
và Việt Nam Huyện Ba Vì với diện tích lớn với nhiều sinh cảnh khác nhau có tiềm năng lớn để phát triển đa dạng các hình thức du lịch có sự khai thác sản phẩm từ rừng Với mục đích đánh giá tiềm năng để phát triển du lịch của Ba Vì,
chúng tôi đã thực hiện đề tài: "Nghiên cứu đánh giá tiềm năng du lịch với các sản phẩm từ rừng tại VQG Ba Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội"
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về du lịch sinh thái
1.1.1 Khái niệm về du lịch sinh thái
Từ những năm đầu thế kỷ XIX, khái niệm du lịch sinh thái (DLST) xuất hiện với hàm ý mọi hoạt động du lịch có liên quan đến thiên nhiên như tắm biển, nghỉ mát, leo núi, đều gọi là du lịch sinh thái Đến nay, khái niệm du lịch sinh thái đã có sự phát triển với hàng chục kiểu khác nhau
Năm 1987, một định nghĩa hoàn chỉnh về du lịch sinh thái đã được Hector Ceballos - Lascurain lần đầu tiên đưa ra: Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi với những mục đích đặc biệt như: Nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được chấm phá (Bộ KHCN&MT, 2002)
Theo Hiệp hội DLST Hoa Kỳ năm 1998: DLST là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương
Tổ chức bảo tổn thiên nhiên Quốc tế (IUCN) đã định nghĩa: "Du lịch sinh thái là loại hình du lịch và tham quan có trách nhiệm với môi trường tại những vùng còn tương đối nguyên sơ để thưỏng thức và hiểu biết thiên nhiêncó hỗ trợ đối với bảo tồn, giảm thiểu tác động từ khách du lịch, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế- xã hội của nhãn dân địa phương
Ở Việt Nam, tại cuộc hội thảo quốc gia bàn về: Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam từ ngày 7 - 9/8/1999 Tổng cục Du lịch Việt Nam, ESCAP, WWF, IUCN đã đưa ra định nghĩa về DLST ở Việt Nam theo đó:
Trang 14DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với môi trường, có đóng góp nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương (Nguyễn Đức Hậu, 2007)
Tuy các khái niệm về DLST còn khác nhau về cách diễn đạt và ngôn ngữ thể hiện Nhưng có sự thống nhất cao về những đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, DLST bao gồm tất cả các loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, trong đó mục đích chính của khách du lịch là tham quan tìm hiểu khám phá những giá trị văn hóa truyền thống ở các khu du lịch
Thứ hai, DLST bao gồm những hoạt động giáo dục, tuyên truyền về môi trường sinh thái
Thứ ba, DLST hạn chế tối đa những tác động tiêu cực đến môi trường, văn hóa, xã hội
Thứ tư, DLST hỗ trợ cho hoạt động bảo tồn tự nhiên thông qua việc tạo ra lợi ích kinh tế, tạo việc làm và thu nhập cho cộng đồng dân cư, nâng cao nhận thức, hiểu biết về bảo tồn đa dạng sinh học và các giá trị tự nhiên khác cho du lịch và người dân bản địa
1.1.2 Khái niệm về tài nguyên du lịch
Theo Luật du lịch năm 2005 của Quốc hội Nước cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam: Tài nguyên du lịch là cơ sở để phát triển ngành du lịch Đó là
cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử – văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch
Theo Luật Du lịch 2017, tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu
tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu
du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch
* Khái niệm sản phẩm du lịch sinh thái: là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch sinh thái để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch
Trang 151.1.3 Đặc trưng của du lịch sinh thái
* Đặc trưng thứ nhất: DLST mang tính đa ngành
Tính đa dạng ngành của DLST thể hiện ở 2 góc đó sau:
- Đối tượng được khai thác để phục vụ các hoạt động DLST là rất đa dạng
và liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực như: Cảnh quan tự nhiên, các giá trị lịch sử, văn hóa, cơ sở hạ tầng và các dịch vụ kèm theo
- DLST mang lại nguồn thu cho nhiều ngành kinh tế khác thông qua các sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khác du lịch (điện, nước, nông sản, hàng hóa )
* Đặc trưng thứ hai: Thành phần tham gia DLST rất đa dạng
Thực tế cho thấy có nhiều các nhân, tổ chức chính phủ, tổ chức phi chính phủ và cộng động tham gia các hoạt động DLST Nhiều thành phần tham gia làm việc cho tổ chức, quản lý các hoạt động DLST phức tạp, đòi hỏi phải có sự kết hợp hài hòa giữa các thành phần với nhau
* Đặc trưng thứ ba: DLST hướng tới nhiều mục đích
DLST không chỉ nhằm mục đích thu lợi nhuận giống như ngành kinh doanh khác mà còn nhằm góp phần bảo tồn thiên nhiên các cảnh quan lịch sử văn hóa, nâng cao chất lượng cuộc sống của du khách và những người tham gia các hoạt động du lịch, mở rộng sự giao lưu văn hóa, kinh tế và nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng về đa dạng sinh học, phát triển bền vững
* Đặc trưng thứ tư: DLST mang tính mùa vụ
Các hoạt động DLST không phân bố đều trong năm mà tập trung với cường độ cao trong những khoảng thời gian nhất định trong năm: Các loại hình
du lịch nghỉ biển, leo núi, tìm hiểu tập tính động vật (quan sát chim di cư, quan sát bướm, thực vật ) theo mùa (theo tính chất khí hậu, mùa di cư, xuất hiện của động vật) thể hiện rõ ở tính mùa vụ
* Đặc trưng thứ năm: DLST có tính liên vùng
Các hoạt động DLST thường không chỉ diễn ra ở một địa phương, một khu vực mà có sự liên thông giữa các điểm du lịch trong một khu vực, các vùng
và giữa các quốc gia với nhau
Trang 16* Đặc trưng thứ sáu: Chi phí
Du khách tham gia DLST nhằm hưởng thụ các sản phẩm du lịch chứ không phải với mục đích kiếm tiền Họ sẵn sàng bỏ ra những khoản chi phí cho chuyến du lịch, nhằm khám phá cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, môi trường hấp dẫn, bản sắc văn hóa bản địa độc đáo
* Đặc trưng thứ bảy: Xã hội hóa các hoạt động DLST
DLST thu hút nhiều người, tổ chức kinh tế, xã hội; cộng đồng trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia hoạt động du lịch; lợi ích do DLST mang lại được xã hội hóa rất rộng rãi; nhiều người, tổ chức, cộng đồng được hưởng lợi từ DLST
* Đặc trưng thứ tám: Giáo dục nhận thức về môi trường
DLST giúp con người tiếp cận gần hơn nữa với các vùng tự nhiên và khu bảo tồn, nơi có giá trị đa dạng sinh học và nhạy cảm về môi trường Qua các hoạt động du lịch sinh thái, nhận thức các khách du lịch, của người dân, cộng đồng dân cư về đa dạng sinh học và môi trường được nâng cao
* Đặc trưng thứ chín: Bảo tồn các tài nguyên thiên nhiên và duy trì tính ĐDSH
DLST bao gồm cả hoạt động giáo dục, nâng cao nhận thức và hình thành
ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho khách du lịch, những người tham gia hoạt động du lịch Qua đó thúc đẩy các hoạt động bảo vệ môi trường, tăng cường nguồn lực duy trì và bảo tồn ĐDSH
* Đặc trưng thứ mười: Sự tham gia của cộng đồng địa phương
Sự tham gia của cộng đồng địa phương là một đặc trưng cơ bản của DLST Cộng đồng địa phương với tư cách là chủ sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên nên sự tham gia của cộng đồng vào DLST có ý nghĩa quan trọng Một mặt, sự tham gia của cộng đồng mang lại sự phong phú, đa dạng của DLST trên cơ sở phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử của địa phương, mặt khác tăng thêm khả năng quản lý, bảo tồn nguồn tài nguyên
Trang 171.1.4 Điều kiện cần thiết để phát triển du lịch sinh thái
Muốn phát triển DLST cần phải có những điều kiện sau đây:
* Tồn tại các hệ sinh thái có tính ĐDSH cao
Đây là một điều kiện quyết định để phát triển DLST, bởi vì DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, chỉ có thể tồn tại và phát triển ở những nơi
có hệ sinh thái điển hình với tính ĐDSH cao ĐDSH là cơ sở tạo ra sự hấp dẫn đối với khách du lịch, nhờ đó DLST mới tồn tại và phát triển được Có thể nói nếu không có ĐDSH thì không thể có DLST
* Cán bộ quản lý, hướng dẫn viên DLST phải có trình độ chuyên môn và hiểu biết về ĐDSH
Muốn DLST phát triển, cần phải có đội ngũ hướng dẫn viên du lịch, không chỉ nắm bắt được các kiến thức về du lịch mà còn có trình độ hiểu biết nhất định về các đặc điểm sinh thái tự hiên và văn hóa ở địa phương Họ có khả năng tuyên truyền, giải thích cho khách du lịch về văn hóa, lịch sử và ĐDSH, góp phần nâng cao nhận thức cho du khách về môi trường và bảo tồn ĐDSH
DLST đòi hỏi những người quản lý, diều hành du lịch phải nắm vững và tôn trọng các nguyên tắc của DLST Một mặt, các nhà quản lý điều hành DLST quan tấm đến lợi nhuận do du lịch mang lại nhưng mặt khác họ phải quan tâ đến việc bảo tồn ĐDSH thông qua các hoạt động thiết lập quan hệ hợp tác với nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phương nhằm mục đích góp phần vào việc bảo vệ một cách lâu dài các giá trị thiên nhiên và văn hóa, cải thiện cuộc sống nâng cao sự hiểu biết chung giữa người dân địa phương với khách du lịch (Nguyễn Đức Hậu, 2007) Đây là đặc điểm khác nhau cơ bản giữa DLST với các loại hình du lịch khác
* Giảm thiểu tối đa các hoạt động tiêu cực của DLST đến môi trường
Hoạt động DLST thương có những tác động tiêu cực đến tự nhiên và môi trường Nếu không có các biện pháp hạn chế những tác động tiêu cực sẽ làm mất
đi cơ sở phát triển bền vững của DLST Du khách sẽ không đến những nơi mà
Trang 18họ không có cơ hội thỏa mãn về sự khám phá ĐDSH cũng như các giá trị tự nhiên, lịch sử, văn hóa khác
Để hạn chế những tác động tiêu cực đến môi trường, DLST cần tính toán đến lượng khách tham quan một cách hợp lý, đảm bảo sự hài hòa giữa lượng khách tham quan và môi trường DLST cần phải tuân thủ các quy định của sức chứa, tính toán số lượng khác đến một địa điểm trong cùng một thời điểm sao cho phù hợp về mặt vật lý, sinh học, tâm lý, xã hội và trình độ quản lý của những người làm du lịch
* Thỏa mãn nhu cầu nâng cao sự hiểu biết của khách du lịch
Việc thỏa mãn những mong muốn được khám phá, hiểu biết của khách du lịch về kinh nghiệm, hiểu biết đối với tự nhiên của văn hóa bản địa thường là rất khó khăn, song lại là yêu cầu cần thiết đối với sự tồn tại lâu dài của ngành DLST Vì vậy, những dịch vụ để làm hài lòng sự hiểu biết của du khách có vị trí quan trọng chỉ đứng sau công tác bảo tồn Những gì họ đã nhìn thấy và khám phá được có ảnh hưởng sâu sắc đến nhận thức, quan niệm, tâm tư, tình cảm của
họ về môi trường, xã hội và cộng đồng (Công ty Du lịch Khoang xanh - Suối tiên, 2015)
1.1.5 Phát triển du lịch sinh thái
Phát triển du lịch bền vững thể hiện ở chỗ: Có sự tham gia của cộng đồng, xây dựng đánh giá tác động môi trường, tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sự phát triển của du lịch và ổn định, an toàn
Phát triển DLST cần đảm bảo những nguyên tắc sau đây:
Khai thác, sử dụng tài nguyên hợp lý: Các hoạt động du lịch luôn luôn
gắn với việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các hệ sinh thái Vì vậy, phải chú ý sử dụng hợp lý tài nguyên vào mục đích du lịch, không sử dụng tài nguyên một cách quá giới hạn cho phép
Trang 19Phát triển du lịch gắn với bảo tồn ĐDSH: Du lịch bền vững phát triển
dựa vào tính ĐDSH Vì vậy, các hoạt động du lịch luôn luôn gắn liền với viện bảo tồn ĐDSH
Đảm bảo hài hòa các lợi ích: Du lịch mang lại lợi ích to lớn nhưng
phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo hài hòa giữa các bên liên quan như lợi ích của doanh nghiệp hoạt động du lịch, lợi ích của các cộng đồng, lợi ích của Nhà nước
Tăng cường sự tham gia của cộng đồng: Phát triển du lịch sinh thái bền
vững đòi hỏi cần có sự tham gia của cộng đồng nhằm tạo nên sự đồng thuận xã hội, cộng đồng cần được tham gia các quyết định có liên quan đến phát triển du lịch như quy hoạch du lịch, quá trình triển khai các dự án du lịch, giám sát các hoạt động du lịch, duy tu bảo dưỡng các công trình hạ tầng phục vụ du lịch
Nâng cao tính trách nhiệm của các bên liên quan: Hoạt động du lịch bền
vững dựa trên cơ sở đề cao tính trách nhiệm của các bên liên quan, các chủ thể tham gia các hoạt động du lịch
1.2 Du sinh thái trên Thế giới
Yi-fong, Cheng (2012) trong "DLST bản địa và phát triển xã hội ở Vườn Quốc gia (VQG) Taroka và cộng đồng người San - Chan, Đài Loan" đã tìm hiểu tác động về mặt văn hóa xã hội của hoạt động du lịch mới được xây dựng tới bảo tồn văn hóa, xã hội và sinh thái Tác giả đã kết luận rằng các nhóm khác nhau sẽ hưởng lợi hoặc chịu tác động khác nhau từ việc phát triển DLST Phát triển du lịch ở VQG có thể sẽ làm trầm trọng hóa tính bất bình đẳng và khác biệt giữa các nhóm trong cộng đồng Do vậy, để xây dựng một dự án DLST dựa vào cộng đồng cần thiết phải có hiểu biết sâu sắc về không chỉ mối quan hệ giữa cộng đồng địa phương và môi trường mà cả những vấn đề chính trị, kinh tế và văn hóa tồn tại giữa các cộng đồng, cũng như giữa các cộng đồng và Ban quản
lý VQG
Trang 20Yacob và cộng sự (2011) khi tìm hiểu về "Nhận thức và quan niệm của khách du lịch về phát triển DLST ở VQG Redang Island Marine, Malaysia" đã phỏng vấn 29 đối tượng, phân tích thông tin cơ bản của khách du lịch tới VQG, nhận thức và quan niệm của khách du lịch về quản lý tài nguyên du lịch, bảo tồn tài nguyên du lịch sinh thái và quan niệm của khách du lịch về tăng doanh thu cho VQG từ hoạt động du lịch Nghiên cứu kết luận rằng quan điểm và nhận thức của khách du lịch về các vấn đề môi trường có thể được giải quyết trên cơ
sở công tác lập kế hoạch và quản lý, do đó cách tiếp cận quản lý có thể sẽ thành công nếu như có cơ hội đối thoại và trao đổi giữa nhà quản lý và các bên liên quan Tuy nhiên, quá trình quản lý, phát triển và lập kế hoạch DLST hiệu quả phải là một quá trình có đề cập đến hoạt động dựa vào thiên nhiên, kết hợp với giáo dục môi trường và duy trì sự bền vững sinh thái, những lợi ích đối với cộng đồng địa phương và tạo ra sự hài lòng của du khách Nghiên cứu cung cấp những đề xuất có giá trị cho quản lý tài nguyên DLST ở VQG Do vậy, nghiên cứu có khả năng hỗ trợ việc quản lý VQG nhằm cải thiện công tác quản lý tài nguyên DLST và phát triển kế hoạch phát triển DLST
Bhuiyan và cộng sự (2011) trong nghiên cứu "Vai trò của Chính phủ trong phát triển DLST: Nghiên cứu điểm ở khu vực kinh tế duyên hải" đã khẳng định
sự can thiệp của Chính phủ là rất cần thiết đối với các Quốc gia đang phát triển trong việc lập kế hoạch và xúc tiến hoạt động DLST Cụ thể, ở Malaysia sự can thiệp chủ yếu của Chính phủ trong lĩnh vực phát triển DLST là phát triển các sản phẩm DLST, thúc đẩy khả năng tiếp cận du lịch, đào tạo, xúc tiến du lịch, phát triển du lịch bền vững Nghiên cứu cũng đề xuất Chính phủ nên xây dựng một
kế hoạch hành động DLST, xây dựng năng lực thể chế, đầu tư cho các dự án DLST ở các khu rừng đặc dụng, phát triển nguồn nhân lực Đặc biệt, Chính phủ nên đảm bảo lợi ích kinh tế, xã hội, văn hóa và sinh thái của cộng đồng địa phương thông qua việc tham gia phát triển DLST
Trang 21Hill (2011) trong nghiên cứu "DLST ở khu vực Amazon Peru: Sự kết hợp giữa du lịch, bảo tồn và phát triển cộng đồng" đã đề xuất một số nguyên tắc chủ yếu nhằm đạt được thành công trong quá trình phát triển DLST ở khu vực rừng nhiệt đới Cụ thể, những nguyên tắc đó là nâng cao năng lực cộng đồng thông qua việc tạo điều kiện cho họ tham gia vào hoạt động DLST, trao đổi nhận thức giữa cộng đồng và người điều hành tour du lịch, đồng quản lý tài nguyên rừng, kết hợp đào tạo và du lịch, giảm thiểu ảnh hưởng của hoạt động du lịch tới môi trường và hệ sinh thái Nghiên cứu này nhấn mạnh mối quan hệ giữa hưởng lợi hoặc chịu tác động khác nhau từ việc phát triển DLST Phát triển DLST ở VQG
có thể sẽ làm trầm trọng hóa tính bất bình đẳng và khác biệt giữa các nhóm trong cộng đồng Do vậy, để xây dựng một dự án DLST dựa vào cộng đồng cần thiết phải có hiểu biết sâu sắc về không chỉ mối quan hệ giữa cộng đồng địa phương với môi trường mà cả những vấn đề chính trị, kinh tế và văn hóa tồn tại giữa các cộng đồng, cũng như giữa cộng đồng và Ban quản lý VQG
Apostu và Gheres (2009) khi nghiên cứu về "Một số đề xuất về tổ chức và phát triển DLST đối với rừng đặc dụng ở Romania" đã phân tích thực trạng hoạt động DLST ở Romania và cho thấy những thiếu sót có thể chia thành 2 nhóm là: thiếu sót trong nội bộ ngành du lịch và thiếu sót trong việc quản lý các khu rừng đặc dụng Đối với nội bộ ngành, vấn đề nảy sinh từ sự thất bại trong chương trình quảng bá cho môi trường sinh thái ở tất cả các cấp quản lý, đặc biệt là không có chương trình phổ biến thông tin cho cộng đồng ở những khu vực có tiềm năng lớp về DLST
Ở các khu rừng đặc dụng, một loạt vấn đề nảy sinh nhưng không bắt nguồn từ việc không thể thực hiện được hình thức du lịch này mà nảy sinh từ thực tế thiếu một cơ chế quản lý hợp lý môi trường tự nhiên có giá trị độc đáo và quan trọng đối với việc duy trì cân bằng sinh thái và bảo vệ ĐDSH Trong nghiên cứu "Tiềm năng DLST và quản lý DLST ở hạ lưu sông Kavak (Tây
Trang 22Đông Thổ Nhĩ Kỳ", Ozcan và cộng sự (2009) nhận thấy rằng cần phải thực hiện một hệ thống các giải pháp để có thể phát huy tối đa tiềm năng DLST Các giải pháp đó bao gồm xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ DLST đáp ứng nhu cầu của
du khách, thực hiện các biện pháp ngăn ngừa tác động tiêu cực của hoạt động DLST tới bảo tồn chim hoang dã, đồng thời đặt những biển quảng bá thông tin
về tính đặc hữu của loài chim trong bảo tồn Bên cạnh đó dù có tiềm năng DLST rất lớn nhưng khu vực nghiên cứu cũng chịu sự ảnh hưởng của các hoạt động của người dân sống lân cận như canh tác nông nghiệp, chăn nuôi gia súc, săn bắn Chính vì vậy, những hoạt động nông nghiệp có thể gây ảnh hưởng tiêu cực tới việc phát triển DLST cần phải được loại bỏ
Sambin và cộng sự (2013) trong nghiên cứu "Sự bền vững của tài nguyên DLST ở VQG Taman Negara: Phương pháp định giá ngẫu nhiên (Contingent Valuation" đã đánh giá được giá trị kinh tế của tài nguyên DLST ở VQG Taman Negara Nghiên cứu cũng đã đưa ra được khung mức bằng lòng chi trả cho dịch
vụ DLST ở VQG và kết luận rằng du khách bằng lòng chi trả mức phí vào của cao hơn so với mức phí hiện hành
Chase và cộng sự (1998) cũng áp dụng phương pháp tương tự trong nghiên cứu "Cầu về DLST và nguyên tắc phân biệt giá trong thu phí vào cổng VQG ở Costa Rica" Tuy nhiên, Costa Rica và cộng sự không chỉ đề xuất khung mức bằng lòng chi trả mà còn xây dựng được hàm cầu về DLST đối với VQG
và đánh giá được độ co giãn của cầu theo thu nhập Trên cơ sở đó, nghiên cứu tính toán được mức phí nhằm tối đa hóa doanh thu và phân tích ứng dụng của nguyên tắc phân biệt đối với quản lý DLST trong VQG Tác giả cũng kết luận mức phí vào cổng hiện hành không phản ánh chính xác mức bằng lòng chi trả của du khách
Như vậy, việc nghiên cứu về DLST và DLST ở các VQG, ở các khu bảo tồn tài nguyên thiên nhiên của các tác giả ở nước ngoài cho thấy việc quản lý và
Trang 23khai thác DLST cần phải tổ chức quản lý thống nhất và tài nguyên DLST tại các VQG là một tài nguyên rất có giá trị và cần được khai thác hiệu quả DLST, bảo tồn hệ sinh thái và phát triển cộng đồng địa phương
Tuy nhiên, hoạt động du lịch sinh thái cũng tác động nên hệ sinh thái rừng
và tài nguyên thiên nhiên Những nghiên cứu cũng khẳng định du lịch sinh thái
là một mắt xích của phát triển bền vững, là một nguồn lực cho phát triển bền vững, song nó yêu cầu một cách tiếp cận tổng hợp đa lĩnh vực, một quy hoạch tốt và hướng dẫn chỉ đạo thực hiện nghiêm túc để có thể đảm bảo cho sự vận hành bền vững Việc phát triển du lịch sinh thái nhưng thiếu kinh phí và nhân lực đã làm tài nguyên không được bảo vệ tại nhiều KBTTN, đặc biệt ở các nước đang phát triển (David Western, 1999) Họ cũng cho rằng những tồn tại trên có thể bắt đầu được tháo gỡ nếu có các cơ cấu thích hợp để phân bổ đồng tiền thu được từ du lịch vào hệ thống các KBTTN (Héctor Caballos - Lascurain, 1999)
1.3 Du lịch sinh thái tại Việt Nam
Ở Việt Nam DLST cũng được sự quan tâm, chú ý từ những năm 1990 của thế kỷ XX Các công trình nghiên cứu về DLST cũng từ đó được thực hiện, cụ thể như:
Nguyễn Thị Tú (2006) khi nghiên cứu "Những giải pháp phát triển DLST Việt Nam trong xu thế hội nhập" đã phân tích khá chi tiết điều kiện phát triển DLST và xu thế phát triển DLST Việt Nam trong xu thế hội nhập Tuy nhiên, tác giả chưa làm rõ được tiềm năng DLST tại các VQG, khu bảo tồn tài nguyên thiên nhiên cũng như việc quản lý và khai thác tiềm năng du lịch này
Nguyễn Đình Hòa (2006) trong nghiên cứu "DLST - thực trạng và giải pháp để phát triển ở Việt Nam″ đã phân tích điều kiện và giải pháp phát triển DLST của Việt Nam nhưng chưa làm nổi bật được hoạt động này của Việt Nam Nghiên cứu của Hoàng Hoa Quân và Ngô Hải Dương (2005) về "Thực trạng hoạt động DLST tại Việt Nam và định hướng phát triển″ đã làm rõ thực trạng hoạt động DLST của Việt Nam, tuy nhiên vẫn chưa đề cập nhiều đến mối quan hệ giữa phát triển du lịch với phát triển bền vững
Trang 24Tại Hội nghị Quốc tế về "Xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển DLST tại Việt Nam″ diễn ra tháng 9/1999 được tổ chức với sự phối hợp của Tổng cục Du lịch Việt Nam với tổ chức UICN, ESCAP và sự tài trợ của tổ chức SIDA, tại hội nghị này đã có rất nhiều tham luận được đưa ra về những kinh nghiệm và thực tế phát triển DLST ở nhiều nơi như:
- Một giải pháp phát triển DLST và bảo tồn VQG Ba Vì và vùng phụ cận của tác giả Vũ Đăng Khôi (2004) Tác giả đã đưa ra được các giải pháp cho phát triển DLST ở VQG Ba Vì và phương pháp ma tác giả sử dụng là phương pháp định tính
- Tương tự, công trình nghiên cứu về xây dựng chiến lược kinh doanh sản phẩm DLST tại VQG Ba Vì của tác giả Nguyễn Văn Hợp (2007) đã phân tích được thực trạng kinh doanh sản phẩm DLST ở VQG Ba Vì từ đó đưa ra các chiến lược kinh doanh cho sản phẩm DLST ở đây Tuy nhiên, phương pháp trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Hợp cũng mới sử dụng phương pháp định tính
- Bảo tồn ĐDSH và phát triển DLST bền vững ở VQG Ba Vì và vùng đệm nền kinh tế thị trường của tác giả Nguyễn Đức Hậu (2006) Ở công trình nghiên cứu này tác giả chủ yếu đề cập đến việc bảo tồn ĐDSH và mối quan hệ giữa bảo tồn ĐDSH với phát triển DLST
- Đặc điểm DLST và khả năng kinh doanh loại hình du lịch này tại các VQG và khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam của tác giả Nguyễn Văn Mạnh (2000) Trong nghiên cứu này tác giả đã phân tích khía cạnh khai thác tiềm năng
du lịch tại VQG để phát triển DLST, tác giả đã làm rõ được tiềm năng du lịch tại VQG phù hợp với tính chất và đặc điểm du lịch sinh thái, tuy nhiên còn chưa cụ thể hóa cần khai thác tiềm năng du lịch này như thế nào
Các kết quả nghiên cứu tại hội nghị đã làm rõ được các nội dung cơ bản của DLST ở Việt Nam, là những cơ sở bổ ích cho phát triển DLST ở Việt Nam Tuy vậy, các công trình nghiên cứu về DLST ở Việt Nam có rất ít
Trang 25Năm 2002, Vương Văn Quỳnh và cộng sự đã nghiên cứu ảnh hưởng của
du lịch đến bảo vệ môi trường ở 3 VQG Tam Đảo, VQG Cúc Phương và VQG Cát Bà Nghiên cứu đã chỉ ra rằng du lịch sinh thái ở các VQG và khu bảo tồn đang phát triển như một xu hướng không thể cưỡng lại được Nó có vai trò to lớn với phát triển kinh tế xã hội của đất nước nhưng cũng là một nguy cơ tiềm
ẩn về suy thoái môi trường ở các VQG và KBTTN Mặc dù ở mức còn hạn chế nhưng những tác động tiêu cực ở 3 VQG đã biểu hiện rõ
Năm 2004, Bùi Thế Đồi đã nghiên cứu về những giải pháp quản lý bền vững tài nguyên du lịch sinh thái VQG Cát Bà Nghiên cứu cho thấy du lịch đang diễn ra mạnh mẽ tại Cát Bà, đã mang lại lợi ích đáng kể đối với sự phát triển của vùng đảo, đã tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người dân Nguồn thu nhập từ du lịch đã tăng lên theo từng năm, đặc biệt ở khu vực thị trấn và những nơi thuận lợi cho kinh doanh du lịch Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng về lượng khách du lịch đến với đảo Cát Bà thì số lượng các vụ vi phạm tài nguyên rừng, biển có chiều hướng gia tăng Cộng đồng địa phương vẫn chưa thực sự tham gia vào quản lý du lịch sinh thái và lợi ích từ du lịch đối với họ không đáng kể
1.4 Hoạt động DLST tại VQG Ba Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
Cùng với định hướng chung của đất nước, VQG Ba Vì cũng coi du lịch
là một trong những lĩnh vực có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế
- xã hội Tiềm năng du lịch dồi dào phong phú đã được khách du lịch gần xa biết đến với các lễ hội, các làng nghề thủ công truyền thống và vùng văn hóa sinh thái xứ Đoài
Khách du lịch vào thăm Vườn những năm gần đây có xu hướng tăng dần với tốc độ tương đối cao Địa điểm du khách tới thăm tập trung tại các khu vực
độ cao 400, độ cao 1.100, đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh, đền thờ Đức Thánh Tản, đền Trung, chùa Tản Viên và một lượng lớn khách học sinh, sinh viên đến Vườn cắm trại, thực tập, nghiên cứu đặc biệt vào dịp mùa hoa dã quỳ
Trang 26Một trong các lý do khách đến Vườn trong 2 năm gần đây tăng đột biến
do Vườn đã xây dựng được nhiều tuyến đi bộ trong rừng, đặc biệt là tuyến thăm hoa dã quỳ, vào mùa hoa dã quỳ nở có ngày cao điểm lên đến 10.000 lượt người/ngày Đối tượng chính là học sinh, sinh viên, gia đình, nhóm bạn…
Trung tâm Giáo dục môi trường và dịch vụ của Vườn tổ chức hướng dẫn
du khách thăm quan rừng, cắm trại, giới thiệu cho du khách hiểu biết thêm những giá trị về tài nguyên thiên nhiên, văn hoá lịch sử, tâm linh…
Tổ chức dịch vụ các hội nghị, hội thảo: hiện nay trên Vườn chỉ có một hội trường có sức chứa 200 đại biểu tại khu vực độ cao 400, ngoài ra có thể tận dụng, kết hợp từ nhà ăn phục vụ một số chương trình hội thảo nhỏ cho các đơn
vị, cơ quan có nhu cầu thuê để tổ chức hội nghị
Ngoài lượng du khách do vườn quốc gia Ba Vì quản lý chủ yếu từ độ cao 400m trở lên, quanh chân núi Ba Vì còn nhiều điểm du lịch như (Khoang Xanh,
Ao Vua, Đầm Long, Hồ Suối Hai, Tản Đà resort, Hồ Tiên Sa…)
Hiện nay lượng khách quốc tế đến Việt Nam muốn tham gia vào những hoạt động của du lịch sinh thái ngày càng nhiều đông VQG Ba Vì cũng là nơi
mà du khách nước ngoài quan tâm và muốn đặt chân đến Đối tượng khách quốc
tế đến đây chủ yếu là khách châu Âu như: Anh, Úc, Mỹ hoặc Đức Họ đến đây với một mục đích chính là tham gia vào du lịch sinh thái theo đúng nghĩa của
nó, đó là “sống hòa nhập hoàn toàn với thiên nhiên”, được tận mắt chứng kiến
sự đa dạng sinh học, những loài động vật quí hiếm, đặc hữu, cuộc sống hoang dã
đã phong phú Nhưng thực tế du khách chỉ được tham gia vào du lịch sinh thái mang tính “màu sắc”
Kết quả điều tra thống kê thì số lượng khác du lịch đến với VQG Ba Vì có hướng tăng và được tổng hợp tại Bảng 4.1:
Trang 27Nguồn: Trung tâm Giáo dục môi trường và Dịch vụ (2018)
Sự gia tăng lượng du khách qua các năm được thể hiện ở hình sau:
Trang 28(lượt) tương ứng tốc độ tăng 2,49% so với năm 2016 Tuy nhiên khách quốc tế lại giảm 1.164 (lượt) tương ứng mức giảm 33,86% so với năm 2016
Về tình hình thu hút khách du lịch của các đơn vị thuê đạt kết quả tốt, lượng khách du lịch của các đơn vị thuê môi trường rừng tăng khá nhanh, đã đem lại nguồn thu lớn cho địa phương cũng như cho các doanh nghiệp Trong tổng số các đơn vị nhận thuê thì KDL Ao Vua và KDL Khoanh Xanh – Suối Tiên có doanh thu cao nhất, KDL Suối Mơ có doanh thu thấp nhất Để được phép thuê, cũng như có nguồn thu thì các đơn vị thuê cũng phải bỏ vốn đầu tư, bao gồm kinh phí đầu tư cơ sở vật chất phục vụ du lịch (theo khả năng của từng đơn vị), kinh phí cho công tác bảo vệ và phát triển rừng tại khu vực thuê Hàng năm các đơn vị thuê phải nộp phí thuê môi trường rừng căn cứ vào diện tích thuê, đơn giá được duyệt Ngoài chi phí thuê dịch vụ môi trường rừng, các đơn
vị thuê còn phải bỏ kinh phí bảo vệ rừng hàng năm, bao gồm chi phí nhân công, chi phí thiết bị ước tính khoảng 690 triệu đồng (Bùi Thị Minh Nguyệt, Trần Quang Bảo, 2013)
* Hoạt động quản lý hoạt động du lịch tại VQG Ba Vì
Hình 1.2 Sơ đồ tổ chức Vườn Quốc Gia Ba Vì
Trang 29* Ban giám đốc Vườn:
Giám đốc Vườn: Giám đốc Vườn kiêm Hạt trưởng Hạt Kiểm Lâm là người được nhà nước giao nhiệm vụ quản lý, chịu trách nhiệm trước Tổng Cục Trưởng Tổng cục Lâm nghiệp và trước pháp luật về mọi hoạt động của Vườn theo chức năng, nhiệm vụ được giao trên cơ sở bảo toàn và sử dụng nguồn vốn của đơn vị, đồng thời thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước, địa phương và chính quyền sở tại Giám đốc Vườn do Bộ trưởng bộ Nông Nghiệp bổ nhiệm và bổ nhiệm lại
Phó Giám đốc Vườn: Là người giúp việc Giám đốc Vườn và được Giám đốc Vườn phân công (bằng văn bản) phụ trách một số lĩnh vực công tác cụ thể, chịu trách nhiệm trước Giám đốc Vườn và trước pháp luật về các lĩnh vực được phân công Phó Giám đốc Vườn do Giám đốc Vườn đề nghị theo qui trình bổ nhiệm cán bộ, Tổng cục trưởng TCLN ra quyết định bổ nhiệm và bổ nhiệm lại
* Phòng Tổ chức - Hành Chính:
Chức năng, nhiệm vụ: Tham mưu công tác tổ chức, cán bộ, lao động tiền
lương, hành chính, quản trị, tổng hợp
* Phòng Kế hoạch – Tài chính:
Chức năng, nhiệm vụ: Tham mưu xây dựng kế hoạch hoạt động của Vườn
quốc gia, thực hiện công tác quản lý, sử dụng tài chính, tài sản
* Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế:
Chức năng, nhiệm vụ: Là phòng tham mưu giúp Giám đốc Vườn thực
hiện chức năng chuyên môn về hoạt động khoa học, công nghệ và hợp tác Quốc tế
* Trung tâm Giáo dục môi trường và Dịch vụ: Đơn vị sự nghiệp có con
dấu, tài khoản riêng.Trụ sở: Xã Tản Lĩnh - Huyện Ba Vì - TP Hà Nội
Chức năng, nhiệm vụ:
Tổ chức hoạt động du lịch sinh thái và giáo dục môi trường, kinh doanh một số dịch vụ khác theo quy chế hoạt động của Trung tâm
Trang 30Tổ chức đón tiếp, phục vụ, giới thiệu, hướng dẫn, tuyên truyền, giáo dục
về bảo tồn thiên nhiên, môi trường cho các đối tượng khách đến tham quan du lịch Tổ chức các hoạt động quảng bá, tiếp thị, Maketing nhằm thu hút khách du lịch đến tham quan Vườn
Xây dựng phương án tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch (Phương án kinh doanh, sử dụng lao động, thu nhập, đầu tư phát triển…)
Quản lý và sử dụng cơ sở vật chất cho Vườn Tổ chức kinh doanh dịch vụ
du lịch đảm bảo đúng pháp luật và phù hợp với định hướng phát triển của Vườn
Tìm kiếm đối tác và tham mưu cho Giám đốc Vườn tổ chức liên doanh, liên kết, liên doanh dịch vụ du lịch theo quy hoạch của Vườn
Được giám đốc Vườn ủy quyền bằng văn bản đại diện cho lợi ích của Vườn, thực hiện quyền và trách nhiệm trong các hoạt động liên doanh, liên kết kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái và Giáo dục môi trường
Phối hợp với các đoàn thể, các đội văn nghệ của địa phương tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ với các đoàn khách, tạo sân chơi, góp phần tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức bảo tồn thiên nhiên, môi trường cho du khách
* Hạt kiểm lâm: Đơn vị có con dấu và tài khoản riêng
Chức năng: Tham mưu cho Giám đốc và trực tiếp thực hiện việc quản lý
bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ các di sản văn hóa, lịch sử trong phạm vi ranh giới Vườn theo pháp luật hiện hành Giúp chính quyền địa phương thực hiện quản lý nhà nước vè bảo vệ rừng, đảm bảo chấp hành pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng
Nhiệm vụ: Hạt Kiểm lâm chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc Vườn
và chịu sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của Cục Kiểm lâm và các Chi cục kiểm lâm có liên quan theo phân cấp
Trang 31Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động du lịch và các sản phẩm từ rừng tại VQG Ba Vì, huyện Ba Vì, TP Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu: Du lịch tại rừng ở VQG Ba Vì, TP Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/2018 đến tháng 12/2018
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài thực hiện nghiên cứu các nội dung:
2.3.1 Đánh giá tiềm năng khai thác tài nguyên rừng phục vụ nhu cầu du khách tại VQG Ba Vì, huyện Ba Vì, TP Hà Nội
- Đánh giá tiềm năng khai thác các loài động thực vật rừng làm thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nguyên liệu hàng thủ công mỹ nghệ
- Đánh giá tiềm năng nhân văn cho dự phát triển du lịch tại VQG Ba Vì
- Đánh giá tiềm năng du lịch sinh hoạt cộng đồng tại VQG Ba Vì
Trang 32- Đánh giá tiềm năng khai thác cảnh quản rừng để du khách thỏa mãn nhu cầu thưởng ngoạn
- Đánh giá tiềm năng khai thác kiến thức bản địa để du khách thỏa mãn nhu cầu trải nghiệm nghề rừng
2.3.2 Đánh giá thực trạng khai thác các sản phẩm du lịch từ rừng tại VQG
Ba Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
2.3.3 Định hướng giải pháp khai thác bền vững các sản phẩm du lịch từ rừng ở VQG Ba Vì, TP Hà Nội
- Đề xuất giải pháp thể chế, chính sách;
- Giải pháp về mặt kinh tế, xã hội
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp tiếp cận
Sản phẩm du lịch là các dịch vụ hàng hóa cung cấp cho người du lịch, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó
Sản phẩm du lịch từ rừng là các sản phẩm du lịch được cung cấp cho người du lịch tại hệ sinh thái rừng Các sản phẩm du lịch từ rừng như: sản phẩm thăm ngắm, thưởng ngoạn, dịch vụ cung cấp thực phẩm từ rừng, dịch vụ cung cấp dược thảo, nguyên liệu đồ thủ công mỹ nghệ, dịch vụ du lịch tâm linh,
Tiềm năng của các sản phẩm du lịch từ hệ sinh thái rừng phục vụ mục đích du lịch được thể hiện ở nhu cầu của người dân đến du lịch ở hệ sinh thái rừng, đặc điểm tự nhiên và đặc điểm nhân tạo của các hệ sinh thái rừng, loại hình và số lượng sản phẩm du lịch có thể được tạo ra của các hệ sinh thái rừng
và sức chịu tải, hay sức chứa du lịch của chúng Tiềm năng của các sản phẩm du lịch từ rừng là cơ sở ban đầu giúp xây dựng các tiêu chí, chỉ số kỹ thuật cần thiết liên quan mỗi khi tiến hành quy hoạch, thiết kế các dự án du lịch Việc xác định
Trang 33tiềm năng các sản phẩm từ rừng cũng giúp các nhà quản lý điểm du lịch và các nhà điều hành cơ sở cung cấp dịch vụ quản trị hiệu quả và duy trì sự cân bằng giữa nguồn cung và cầu về dịch vụ, hàng hóa đáp ứng được nhu cầu của khách
du lịch
Để nghiên cứu tiềm năng các sản phẩm du lịch của các hệ sinh thái rừng trước tiên cần nghiên cứu xác định các loại hình du lịch và sản phẩm du lịch mà các hệ sinh thái rừng có thể cung cấp, nghiên cứu giới hạn (hay tiêu chuẩn) về
số lượng sản phẩm du lịch có thể tạo ra từ các hệ sinh thái rừng Từ đó xác định được tổng số du khách có thể được cung cấp sản phẩm du lịch từ các hệ sinh thái rừng Trong quá trình nghiên cứu cũng cần nhận thức rằng tiềm năng của các sản phẩm du lịch không phải là cố định, nó có thể tăng lên nhờ những giải pháp làm tăng số sản phẩm du lịch từ các hệ sinh thái rừng
2.4.1.1 Cách tiếp cận hệ thống
Rừng là một thành phần của hệ thống tự nhiên, kinh tế và xã hội Rừng là một thành phần của hệ thống tự nhiên vì sự tồn tại và phát triển của nó phụ thuộc chặt chẽ vào các yếu tố tự nhiên như khí hậu, địa hình, địa chất, thổ nhưỡng v.v Rừng cũng là thành phần của hệ thống kinh tế bởi sự tồn tại và phát triển của nó phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế như sản xuất, lưu thông, phân phối, giá cả, thị trường Rừng cũng là một thành phần của hệ thống xã hội vì sự tồn tại và phát triển của nó phụ thuộc vào các yếu tố của hệ thống xã hội như nhận thức, kiến thức, chính sách, thể chế, hương ước, tôn giáo, tín ngưỡng v.v Vì vậy, khi nghiên cứu ảnh hưởng của một nhân tố hay một hoạt động phát triển đến rừng cần phân tích đồng thời ảnh hưởng của nhấn tố đó trong mối tác động tổng hợp đồng thời của nhiều nân tố tự nhiên, kinh tế và xã hội khác Đồng thời khi tác động vào rừng để định hướng phát triển của nó cần áp dụng đồng thời nhiều biện pháp kinh
tế, xã hội và khoa học công nghệ
Trang 34Vì rừng là một thành phần của hệ thống tự nhiên, kinh tế và xã hội, nó luôn tác động qua lại với nhiều thành phần khác, nên khi tác động vào rừng để định hướng sự phát triển của cần nghiên cứu xác định những mối quan hệ trọng yếu nhất để tác động vào đó như tác động vào những chốt điều khiển hệ thống
2.4.1.2 Cách tiếp cận nghiên cứu phát triển
Nghiên cứu quản lý du lịch là một nghiên cứu phát triển, nó góp phần vào thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội Vì vậy, phương pháp nghiên cứu tổng quát
sẽ theo lộ trình chung của nghiên cứu phát triển là từ phân tích thực trạng, xác định nguyên nhân và xây dựng giải pháp Nghiên cứu những giải pháp quản lý
du lịch phải bắt đầu từ phân tích thực trạng quản lý du lịch, đánh giá hiệu quả của quản lý du lịch và xác định những vấn đề tồn tại, phân tích nguyên nhân và
đề xuất những giải pháp quản lý mới
2.4.1.3 Cách tiếp cận nghiên cứu sinh thái
Rừng là một hệ sinh thái, có khả năng tự phục hồi mỗi khi bị tác động Tiềm năng của các hệ sinh thái rừng với du lịch chính là khả năng phát triển tối đa của du lịch trong chừng mực chưa vượt quá năng suất tự phục hồi những biến đổi của nó do hoạt động du lịch gây nên
Vì vậy, để xác định tiềm năng phát triển du lịch cũng như sức chịu tải du lịch của các hệ sinh thái rừng cần nghiên cứu những tác động của du lịch đến thành phần và tính chất của các hệ sinh thái rừng cũng như giới hạn phục hồi những biến đổi của hệ sinh thái rừng
2.4.2 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu
- Phương pháp kế thừa tư liệu
Kế thừa những kết quả đã có, sử dụng các tài liệu đã được công bố của nhà khoa học về du lịch sinh thái, dịch vụ du lịch sinh thái, phát triển dịch vụ du lịch sinh thái về những nét tổng quan nhất của khu vực nghiên cứu Thu thập các nguồn tài liệu tham khảo chuyên ngành, các số liệu đã có ở các cơ quan liên
Trang 35quan như: UBND huyện Ba Vì, Sở Du lịch, VQG Ba Vì Các tài liệu tại VQG
Ba Vì bao gồm thông tin về: Bản đồ VQG; các loại, nguồn tài nguyên thiên nhiên của khu du lịch; các loại hình hoạt động du lịch và sản phẩm du lịch chính; các dự án hiện tại và tương lai của VQG; các tình trạng cơ sở hạ tầng, dịch vụ của khu vực; các loại phương tiện vận chuyển khách; tài liệu có sẵn về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của khu vực nghiên cứu
- Phương pháp điều tra xã hội học
+ Tiềm năng du lịch với các sản phẩm từ rừng ở VQG Ba Vì
Tiến hành nghiên cứu về tiềm năng của các sản phẩm du lịch từ hệ sinh thái rừng, như tiềm năng từ nguồn tài nguyên thực vật, tiềm năm từ nguồn tài nguyên động vật và các tiềm năng khác (giá trị cảnh quan, văn hóa, tâm linh )
Tiềm năng các sản phẩm du lịch từ rừng được xác định bằng phương pháp điều tra xã hội học, cụ thể nghiên cứu thiết kế hệ thống bảng câu hỏi điều tra phỏng vấn với đối tượng là 20 khách du lịch, 20 người dân kinh doanh, 20 cán
bộ quản lý Đề tài dự kiến tổ chức khảo sát ở địa điểm tập trung nhiều hoạt động du lịch ở hệ sinh thái rừngVQG Ba Vì Theo phương pháp này, đề tài sẽ tổ chức phỏng vấn khách du lịch, cán bộ quản lý và những người nhiều tuổi về sản phẩm của các loại rừng ở địa phương có trở thành sản phẩm du lịch
Trang 36Các câu hỏi phỏng vấn tập trung vào số lượng và chủng loại sản phẩm
từ những loại rừng khác nhau, mẫu phỏng vấn được ghi trong mẫu phiếu (phần phụ lục)
Căn cứ vào kết quả phỏng vấn đề tài sẽ thống kê tiềm năng về đa dạng sản phẩm rừng cho mục đích du lịch
+ Xác định nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động phát triển du lịch bền vững khu vực nghiên cứu
Đề tài thực hiện phỏng vấn 20 khách du lịch, 20 người dân kinh doanh, 20 cán bộ quản lý Từ kết quả điều tra phỏng vấn và kế thừa tư liệu, xác định các nhân tố thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến khả năng khai thác sản phẩm bền vững từ rừng khu vực nghiên cứu Đây là cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển du lịch bền vững cho khu vực nghiên cứu
Căn cứ vào kết quả điều tra và số liệu tính toán, phân tích đề xuất các giải pháp nhằm phát triển bền vững các sản phẩm du lịch từ rừng đặc dụng khu vực nghiên cứu đề tài
Dựa vào số liệu từ việc thu thập thông tin, quá trình trực tiếp điều tra, khảo sát thực địa Phân tích việc khai thác các sản phẩm từ rừng để phục vụ du lịch và thực trạng hoạt động du lịch ở khu vực nghiên cứu để đưa ra các kiến nghị những giải pháp để nâng cao hiệu quả trong quá trình phát triển du lịch khai thác các sản phẩm từ rừng tại Ba Vì bền vững
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Sử dụng các phần mềm Excel và
các phần mềm khác để tổng hợp, phân tích, xử lý các số liệu đã thu thập được
Trang 37Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đánh giá tiềm năng khai thác tài nguyên rừng phục vụ nhu cầu du khách tại VQG Ba Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
3.1.1 Đặc điểm hệ sinh thái VQG Ba Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
VQG Ba Vì nằm cách thủ đô Hà Nội 60 km về phía Tây, là một trong những khu bảo tồn, thăm quan, giải trí đẹp, thuộc xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội Nơi đây phong cảnh ngoạn mục, cảnh sắc thiên nhiên hòa quyện với con người
Do địa hình núi cao, độ che phủ của rừng lớn nên nơi đây có khí hậu mát
mẻ vào mùa hè, với nhiều con suối bắt nguồn từ núi rừng Ba Vì quanh năm nước chảy như Thiên sơn - Suối ngà, Ao Vua, Khoang Xanh, Hồ Tiên Sa Là nơi có nhiều di tích lịch sử, văn hóa như đền Thượng, đền Trung, đền Hạ, tháp Báo Thiên, động Ngọc Hoa Về mùa đông, mây mù bao phủ tạo một cảnh quan rất ấn tượng Ba Vì là một quần thể núi gồm 6 đỉnh, cao nhất là đỉnh Vua với độ cao 1.296m, đỉnh Tản Viên cao 1.227 m, đỉnh Ngọc Hoa cao 1.131 m… Đỉnh Vua là nơi xây dựng đền thờ Bác Hồ Đối diện đỉnh Vua lại là một mái núi “thắt
cổ bồng” được lập đền Thượng, tương truyền là nơi hóa thân của Đức Thánh Tản - Sơn Tinh được dân gian tôn thờ là anh hùng chống lũ lụt, ngoại xâm, vị thần liên minh các bộ tộc Việt - Mường
VQG Ba Vì với 3 kiểu rừng: Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới; Rừng kín thường xanh hỗn giao cây lá rộng và cây lá kim á nhiệt đới; Rừng lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi thấp Núi Ba Vì với 2 đai cao nên
hệ động thực vật nơi đây khá phong phú và đa dạng
Trang 383.1.2 Tiềm năng khai thác các loài động thực vật làm thực phẩm – thuốc chữa bệnh – nguyên liệu hàng thủ công mỹ nghệ
3.1.2.1 Tiềm năng từ nguồn tài nguyên thực vật
Thảm thực vật ở VQG Ba Vì gồm có 3 kiểu chính: rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới; rừng kín thường xanh hỗn giao cây lá rộng và cây lá kim á nhiệt đới; rừng lá rộng thương xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi thấp Núi Ba Vì với 2 đai cao nên hệ thực vật nơi đây khá phong phú và đa dạng, theo danh mục thực vật đã được thu thập mẫu và kết quả điều tra bổ sung của VQG Ba Vì năm
2008, cho tới nay VQG Ba Vì có 1201 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 649 chi và 160 họ Như vậy, qua kết quả nghiên cứu đã khẳng định sự phong phú đa dạng loài thực vật của VQG So với kết quả điều tra năm 1998, số họ thực vật phát hiện mới tăng 61 họ, số chi tăng 177 chi, số loài tăng 389 loài.Thực vật cây thuốc Vườn Quốc gia Ba Vì có tới 503 loài thuộc 118 họ, 321 chi chữa 33 loại bệnh và chứng bệnh khác nhau trong đó có nhiều loài thuốc quý như: Hoa tiên (Asarum maximum), Huyết đằng (Sargentodoxacuneata), Bát giác liên (Podophyllum tonkiensis), Râu hùm (Tacca chantrieri), Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria)
VQG Ba Vì tuy cùng nằm trong vùng có hệ thực vật bản địa của Việt Nam – Nam Trung Hoa như một số nơi khác nhưng ảnh hưởng của độ cao, số loài thuộc các họ phân bố chủ yếu ở á nhiệt đới và ôn đới nhiều hơn Đáng chú ý hơn
là ở đây có tới 5 chi 5 loài thuộc họ Đỗ quyên Ercaceae, 6 loài thuộc họ Chè Theacae, 3 chi 19 loài thuộc họ Dẻ - Fagaceae nhiều hơn số chi cùng họ ở VQG Cúc Phương (nơi có diện tích lớn gấp 10 lần) Ngược lại, số chi có loài thuộc
-các họ phân bố chủ yếu ở nhiệt đới như họ Dầu - Dipterocapaceae lại tồn tại
tương đối ít ở vùng cao Ba Vì
VQG Ba Vì có mhiều loài phân bố phổ biến như: Giổi nhung - Michelia
faveolata, Giối lá bạc - Michelia cavalcria, các loài họ Đỗ quyên, Chè thơm - Annesla fragrans, Hoa tiên - Asarum maximum, Mắc niễng bạc - Eberbardtia
Trang 39aurata, Dẻ lá tre - Quercus bambusaefolia, Dẻ đấu nứt - Castanopnis fissa,
Chẹo lông - Engelbardtia apicata… chỉ gặp ở các vùng cao Tam Đảo (Vĩnh
Phúc), Sa Pa (Lào Cai), Bạch Mã (Thừa Thiên Huế), Sốp Cộp (Sơn La), Hoàng
Su Phì (Hà Giang), trong khi các loài phổ biến trong kiểu rừng kín ẩm nhiệt đới như: Chò xanh, Chò chỉ, Chò nâu, Tấu ruối, Táu nước lại không tồn tại mặc dù
có thể gặp chúng ở đai thấp 600 m trở xuống Những đặc điểm này đã phản ánh
rõ nét rừng đai cao Ba Vì gồm nhiều thực vật thuộc đai á nhiệt đới núi thấp
Tham gia vào thành phần thực vật ở đây còn có một số loài thạt vật tàn di (Hóa thạch sống) của Kỷ Đệ Tam, qua thời kỳ băng hà còn sót lại như: các loài
Quyết thân gỗ - Cibotium barometz (L) J Sm, Gymnosphaera gigantea (Wall
Ex Hook) và các loài thực vật hạn trần Calocedrus macrolepis, Podocarpus
nerrifolius D Don, Cepbalotaxus mannii Hooker, Amentotaxus làm tăng thêm
tính đa dạng và phong phú của hệ thực vật
Cùng với sự đa dạng, đặc sắc và có giá trị sinh thái cao của nguồn tài nguyên thực vật tại khu vực VQG Ba Vì, đây là tiềm năng tài nguyên to lớn, góp phần tạo lợi thế để phát triển DLST ở VQG Ba Vì Nguồn tài nguyên thực vật tại đây có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mục đích chính của khách DLST là được trải nghiệm về sinh cảnh và các giá trị ĐDSH tại điểm đến Sự phong phú, đa dạng của các loài sinh vật, đặc biệt là sự hiện diện của sinh vật quý hiếm, đặc hữu trong những sinh cảnh đặc thù sẽ tạo sức hấp dẫn lớn đối với du khách
Sản phẩm từ nguồn tài nguyên thực vật có vai trò quan trọng Ngành y tế nhất là y dược học cổ truyền đang sử dụng nhiều loài thực vật theo cách thức và quy mô khác nhau, để phục vụ việc chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân
Nhàm chán với những thực phẩm được tạo ra từ trồng trọt quy mô lớn với những quy trình có sử dụng phân bón và hóa chất, các du khách thường rất mong đến rừng để được thưởng thức những món ăn hoàn toàn của thiên nhiên cùng với những cách chế biến đầy bản sắc địa phương Thực phẩm từ rừng trở thành một trong những yếu tố hấp dẫn du khách đến những khu du lịch trong hoặc ven rừng
Trang 40Kết quả điều tra, phỏng vấn cho thấy hệ sinh thái rừng khu vực VQG có một tập đoàn các loài thực vật cho các sản phẩm là thực phẩm và dược liệu khá phong phú Một số loài rau có thể khai thác được ở tất cả các kiểu rừng tự nhiên
và rừng trồng như rau đắng cảy, rau dớn, rau má, rau tòm bóp, rau sam, rau dền cơm nhưng có một số loài chỉ phát triển tốt trong rừng tự nhiên như các loại quả, củ Những loài phổ biến đang được khai thác làm thực phẩm và thuốc chữa bệnh cho người dân địa phương và du khách được thống kê trong bảng sau:
Bảng 3.1 Danh lục một số loài thực vật cho thực phẩm từ rừng
tại VQG Ba Vì
1 Hoa chuối hột Musa acuminata Thực phẩm + thuốc
2 Rau dớn Diplazium esculentum Thực phẩm + thuốc
3 Rau đắng cảy Clerodendrum cyrtophyllum Thực phẩm + thuốc
4 Rau tòm bóp Physalis angulata Thực phẩm + thuốc
5 Rau má Centella asiatica Thực phẩm + thuốc
6 Rau dền cơm Amaranthus viridis Thực phẩm + thuốc
7 Rau sam Portulaca oleracea Thực phẩm + thuốc
8 Rau tàu bay Crassocephalum crepidioides Thực phẩm + thuốc
10 Cây sấu Dracontomelon duperreanum Thực phẩm
11 Cây sung Ficus racemosa Thực phẩm + thuốc
12 Cây vả Ficus auriculata Thực phẩm + thuốc
13 Cây trám Canarium album Thực phẩm
14 Củ mài Dioscorea persimilis Thực phẩm + thuốc