Luận án làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của dịch vụ CTXH đối với trẻ em rối loạn tâm thần. Từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm giúp cho hoạt động cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em rối loạn tâm thần trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đạt được hiệu quả cao hơn.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Hữu Nghị
TS Bùi Thị Mai Đông
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Thanh Bình
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Đức Chiện
Phản biện 3: TS Nguyễn Nguyên Ngọc
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học
viện họp tại Học viện Khoa học xã hội
Vào hồi …… giờ… phút, ngày… tháng… năm ……
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, đời sống vật chất và tinh thần của trẻ em (TE) từng bước được nâng cao, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục TE có nhiều chuyển biến tích cực từ nhận thức đến chính sách và phương pháp tổ chức thực hiện, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ lớn cho trẻ em và trong thời gian khá ngắn Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng người dân đã nhận thức rõ các quyền lợi và bổn phận của TE được ghi trong Công ước Liên hợp quốc về quyền TE và Luật Trẻ em năm 2016 Đời sống văn hóa tinh thần cho TE đang dần dần được chăm lo tốt hơn, tỷ lệ tử vong TE dưới
1 tuổi và dưới 5 tuổi giảm, tỷ lệ trẻ em được đến trường và tỷ lệ phổ cập giáo dục tiểu học, trung học tăng, số lượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (HCĐB) được chăm sóc ngày càng tăng lên
Tuy nhiên, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, một mặt mang lại nhiều cơ hội, đưa đất nước theo kịp với khu vực và thế giới, mặt khác cũng tạo ra môi trường có nhiều diễn biến phức tạp và thách thức mới đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục TE TE có HCĐB đang có xu hướng gia tăng, theo báo cáo của các địa phương đến cuối năm 2015, cả nước có hơn 26 triệu TE, trong đó có khoảng 1,5 triệu TE có HCĐB và gần 2,5 triệu TE có nguy cơ rơi vào HCĐB TE khuyết tật trên 1,2 triệu TE, chiếm khoảng 1,4% tổng số dân và 3,1% tổng số TE Trong số những trẻ khuyết tật về trí tuệ thì TE bị rối loạn tâm thần (RLTT) là một trong những đối tượng gặp nhiều khó khăn nhất Hiện nay số lượng TE được chuẩn đoán
bị mắc RLTT khá lớn, theo báo cáo của tổ chức y tế thế giới (WHO), tỷ lệ
TE bị RLTT trong cộng đồng đã được nhận định là ở mức phổ biến từ 10% đến 20% ở các nước phát triển Với các nước đang phát triển nơi còn rất nhiều TE đang phải sống trong nghèo khổ, thiếu ăn, bệnh tật, bạo lực và chiến tranh, ước tính tỷ lệ này ít nhất cũng ở mức tương tự Tại Việt Nam qua một số nghiên cứu, điều tra của các nhà nghiên cứu và tổ chức có hoạt động trợ giúp TE cho thấy tỷ lệ trẻ có các vấn đề SKTT nói chung nằm trong khoảng tỷ lệ ở các nước đang phát triển từ 13% - 20%, đặc biệt theo kết quả khảo sát thực trạng sức khỏe tinh thần TE của thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Lê Thị Ngọc Dung và cộng sự thực hiện đã đưa ra một kết
Trang 4quả rất đáng lưu ý với tỷ lệ TE có vấn đề sức khỏe tâm thần (SKTT) ở thành phố Hồ Chí Minh chiếm 21,3% Qua đó có thể thấy là hiện nay số lượng TE có RLTT tại cộng đồng là tương đối cao Trong khi đó, không ít người Việt Nam hiện nay vẫn còn xa lạ với bệnh RLTT ở TE, họ thường nhầm lẫn với một số bệnh khác như: Thiểu năng trí tuệ, down, thần kinh Nhiều phụ huynh thường mang tâm lý khó chấp nhận và giấu giếm mọi người xung quanh, từ đó họ nuôi con trong một môi trường khép kín, không biết làm gì để giúp con khỏi la hét hay tự làm đau bản thân Chính sự
mù mờ trong nhận thức, trong đường hướng chăm sóc và giáo dục TE RLTT vô hình chung đã khiến cho những hành vi bất thường ở trẻ tăng thêm và khoảng cách giữa những đứa trẻ này với xã hội cũng ngày càng lớn
Nghiên cứu về TE RLTT và các dịch vụ trợ giúp trẻ và gia đình trong thời gian qua được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm ở nhiều chiều cạnh khác nhau Khi nghiên cứu về chủ đề này, mỗi tác giả đều
đã có những phát hiện, những đóng góp riêng và đã góp phần làm rõ được bức tranh chung về vấn đề công tác xã hội (CTXH) đối với TE RLTT Bên cạnh đó các nghiên cứu cho thấy: Nhiều chứng RLTT có thể bắt đầu từ thời thơ ấu Ước chừng 1/5 (khoảng 20%) trẻ em và thanh thiếu niên có các rối loạn về SKTT và cảm xúc cần được phát hiện và điều trị Một số RLTT của
TE thường gặp bao gồm: Các chứng rối loạn cảm xúc lo âu; Các chứng rối loạn hành vi phá rối và thiếu tập trung chú ý; Các chứng rối loạn ăn uống; Các chứng rối loạn tâm trạng…Trẻ mắc RLTT sẽ ảnh hưởng tới việc phát triển về thể chất, giảm sút hiệu quả học tập, thường có những hành vi hiếu chiến hoặc rút lui khỏi các mối quan hệ xã hội Đặc biệt với một số RLTT còn khiến trẻ có những hành vi tự tử hoặc tự làm hại bản thân…Trên thực
tế, qua đánh giá của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, số lượng TE có HCĐB khó khăn trong đó có trẻ tâm thần được nhận trợ cấp và các dịch vụ hiện đang thấp nhất trong các nhóm đối tượng Điều đó đã tạo ra những bất cập trong việc trợ giúp các nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội
Quảng Ninh là một tỉnh nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam, với diện tích 611.081,3 km2, dân số trên 1,2 triệu người, gồm 13 huyện, thị xã, thành phố với 177 xã, phường, thị trấn Có đường bờ biển dài 250 km, đường biên
Trang 5giới dài 132 km giáp với Trung Quốc và cửa khẩu Quốc tế Móng Cái Nằm trong vùng trọng điểm phát triển kinh tế khu vực phía Bắc (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh), có khu công nghiệp than lớn nhất cả nước, có Vịnh
Hạ Long là một trong những kì quan thiên nhiên của Thế giới thu hút khách
du lịch trong và ngoài nước Với lợi thế về địa lý: Cảng biển, biên giới và nguồn tài nguyên, đây là thế mạnh để các ngành kinh tế của Quảng Ninh phát triển như: Công nghiệp, giao thông vận tải, du lịch, thương mại và dịch
vụ Quảng Ninh cũng là một trong những tỉnh đi đầu trong cả nước về việc thực hiện có hiệu quả Đề án phát triển nghề CTXH, Đề án chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí, trợ giúp cho các đối tượng yếu thế góp phần đảm bảo anh sinh xã hội
Tại tỉnh Quảng Ninh, theo số liệu của Sở Lao động Thương binh và Xã hội năm 2019, toàn tỉnh hiện có 319.807 TE độ tuổi từ 0-16 tuổi Và theo số liệu điều tra của TTCTXH tỉnh Quảng Ninh đã triển khai để thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh “Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu rối nhiễu tâm trí trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” thì tỷ lệ rối loạn tâm thần ở trẻ em tỉnh Quảng Ninh là 10,1% trên tổng số 3.656 trẻ được điều tra
Hiện nay, các dịch vụ công tác xã hội can thiệp, trợ giúp cho TE RLTT
và gia đình còn ít, nhỏ lẻ, chưa đáp ứng được nhu cầu của gia đình có TE RLTT và cộng đồng và đặc biệt tại các cơ sở y tế, cơ sở TGXH công lập và ngoài công lập tại Quảng Ninh cung cấp các dịch vụ công tác xã hội còn rất hạn chế, chưa chuyên nghiệp, chưa được sự quan tâm đúng mức của các cấp, các ngành và cộng đồng dân cư
Trong thời gian qua tại tỉnh Quảng Ninh đã có một số nghiên cứu liên quan đến TE có HCĐB và lĩnh vực CTXH có đề cập đến nhóm TE RLTT Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu về CTXH đối với TE RLTT từ góc độ lý thuyết và thực tiễn Vì vậy, việc thiết kế các chương trình hay đề án chăm sóc bảo vệ, trợ giúp TE RLTT ở tỉnh Quảng Ninh còn thiếu căn cứ khoa học Điều này dễ dẫn tới việc tổ chức thực hiện các hoạt động hỗ trợ, can thiệp, trị liệu tâm lý kém hiệu quả thậm chí gây ra hậu quả tiêu cực; mặt khác, gây ra nhiều khó khăn cả về thời gian, kinh tế lẫn sức
Trang 6khỏe của TE RLTT lẫn gia đình trong sàng lọc, chuẩn đoán và can thiệp, điều trị
Bên cạnh đó, hướng nghiên cứu về CTXH đối với TE RLTT còn rất hạn chế và mới mẻ, chưa có nhiều công trình nghiên cứu Do vậy chúng tôi
lựa chọn đề tài “Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em rối loạn tâm thần
từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của dịch vụ CTXH đối với TE RLTT Từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm giúp cho hoạt động cung cấp dịch vụ CTXH đối với TE RLTT trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đạt được hiệu quả cao hơn
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
(1) Tổng quan tình hình nghiên cứu và xác định, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về dịch vụ CTXH đối với TE RLTT; các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ CTXH đối với TE RLTT tại tỉnh Quảng Ninh
(2) Khảo sát, đánh giá thực trạng dịch vụ CTXH đối với TE RLTT tại tỉnh Quảng Ninh và các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ CTXH đối với TE RLTT tại tỉnh Quảng Ninh
(3) Tổ chức thực nghiệm tác động đào tạo, trang bị kiến thức, kỹ năng hướng dẫn trợ giúp cho cha mẹ, người chăm sóc TE RLTT
(4) Đề xuất một số kiến nghị để công tác chăm sóc, trợ giúp TE RLTT đạt hiệu quả hơn
2.3 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Hiện nay tại tỉnh Quảng Ninh đã có các dịch vụ CTXH nào đối với
2.4 Giả thuyết nghiên cứu
(1) Hiện nay có một số dịch vụ CTXH để can thiệp, trợ giúp cho TE RLTT tại tỉnh Quảng Ninh như: Sàng lọc, can thiệp sớm cho TE RLTT;
Trang 7Tham vấn, tư vấn cho gia đình TE RLTT; Kết nối, chuyển tuyến, hỗ trợ chính sách; Truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức, đào tạo
(2) Dịch vụ CTXH đối với TE RLTT tại tỉnh Quảng Ninh chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố: Chính sách, pháp luật; Đội ngũ cán bộ, bác sĩ, nhân viên CTXH; Đặc điểm của TE RLTT; Gia đình TE RLTT; Cơ sở cung cấp dịch vụ…
(3) Cha mẹ, người chăm sóc TE RLTT tại Quảng Ninh thiếu kiến thức,
kỹ năng để chăm sóc và giáo dục trẻ, họ cần được đào tạo, trang bị kiến thức, kỹ năng để chăm sóc TE RLTT tốt hơn
3 Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Dịch vụ CTXH đối với TE RLTT
3.2 Khánh thể nghiên cứu
- 110 cha, mẹ, người chăm sóc TE RLTT
- 90 cán bộ, bác sĩ, NVCTXH (các nhân viên chăm sóc, trị liệu tâm lý tại các cơ sở TGXH; cán bộ tâm lý lâm sàng; giáo viên mầm non)
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn về nội dung nghiên cứu:
Có nhiều dịch vụ CTXH đối với TE RLTT, tuy nhiên đề tài tập trung nghiên cứu các dịch vụ cơ bản, phổ biến nhất hiện nay ở Việt Nam là: Sàng lọc, can thiệp sớm cho TE RLTT; Tham vấn, tư vấn cho gia đình TE RLTT; Kết nối, chuyển tuyến, hỗ trợ chính sách; Truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức, đào tạo Đồng thời phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến dịch
vụ CTXH đối với TE RLTT tại Quảng Ninh: Chính sách, pháp luật; Đội ngũ cán bộ, bác sĩ, nhân viên CTXH; Đặc điểm của TE RLTT; Gia đình TE RLTT; Cơ sở cung cấp dịch vụ
TE RLTT được đề cập trong phạm vi của luận án là TE từ 0 đến dưới
16 tuổi đã được các cơ sở y tế, cơ sở trợ giúp xã hội có chức năng chuẩn đoán mắc rối loạn tâm thần
Giới hạn địa bàn nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành ở một số đơn vị ở tỉnh Quảng Ninh: Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh; Trung tâm Y tế huyện Vân Đồn; Bệnh viện Sản nhi Quảng Ninh; Bệnh viện Bảo vệ sức khỏe tâm thần; một
Trang 8số phòng LĐTB&XH cấp huyện, thị xã, thành phố; một số cơ sở TGXH tư nhân; hệ thống Văn phòng CTXH trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 5/2016 đến tháng 5/2019; Các số liệu,
dữ liệu về dịch vụ CTXH đối với TE RLTT được thu thập, tổng hợp từ năm
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp sau: Phương pháp phân tích tài liệu; Phương pháp quan sát; Phương pháp chuyên gia; Phương pháp thực nghiệm; Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi; Phương pháp phỏng vấn sâu; Phương pháp thảo luận nhóm
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về dịch vụ CTXH đối với
TE RLTT, luận án làm rõ, hệ thống hóa về mặt lý luận vấn đề dịch vụ CTXH đối với TE RLTT; luận án phát hiện những khó khăn, tồn tại trong việc cung cấp dịch vụ CTXH trợ giúp TE RLTT và gia đình, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ CTXH đối với TE RLTT và gia đình
Nghiên cứu khẳng định tầm quan trọng của dịch vụ CTXH và vai trò của cán bộ, bác sĩ, NVCTXH trong hoạt động can thiệp, trợ giúp cho TE RLTT và gia đình Qua nghiên cứu, đề xuất thường xuyên thực hiện hoạt động đào tạo, trang bị kiến thức, kỹ năng hướng dẫn trợ giúp cho cha, mẹ, người nuôi dưỡng TE RLTT để tăng cường hiệu quả trong công tác trợ giúp
Trang 9TE RLTT Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng trong các cơ sở y tế,
cơ sở TGXH công lập và ngoài công lập tại tỉnh Quảng Ninh và trong cả nước
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu khái quát hóa các vấn đề lý luận về dịch vụ CTXH đối với
TE RLTT; làm sáng tỏ một số khái niệm có liên quan; bổ sung một số khái niệm và các lý thuyết ứng dụng trong CTXH đối với TE RLTT
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu sẽ chỉ ra thực trạng dịch vụ CTXH đối với TE RLTT, chỉ
ra được thực trạng những yếu tố ảnh hưởng tới dịch vụ CTXH đối với TE RLTT tại Quảng Ninh, đồng thời khẳng định tính hiệu quả của hoạt động đào tạo, trang bị kiến thức, kỹ năng hướng dẫn trợ giúp cho cha, mẹ, người nuôi dưỡng TE RLTT
Kết quả nghiên cứu có thể là tài liệu tham khảo bổ ích để giảng dạy và học tập CTXH đối với người có vấn đề về SKTT nói chung, hoạt động cung cấp các dịch vụ CTXH trợ giúp cho TE RLTT nói riêng trong các trường đại học, cao đẳng tại Việt Nam Mặt khác, kết quả nghiên cứu của luận án
là cơ sở để tham mưu, đề xuất với các cơ quan có thẩm quyền thiết kế các
kế hoạch, chương trình hay đề án chăm sóc bảo vệ, trợ giúp TE RLTT ở tỉnh Quảng Ninh
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục các công trình đã công bố của tác giả liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án bao gồm 4 chương:
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
- Chương 2: Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em rối loạn tâm thần
- Chương 3: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em rối loạn tâm thần tại tỉnh Quảng Ninh
- Chương 4: Thực nghiệm hoạt động đào tạo, trang bị kiến thức, kỹ năng, hướng dẫn trợ giúp trẻ em rối loạn tâm thần cho cha, mẹ, người nuôi dưỡng trẻ em rối loạn tâm thần
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu nước ngoài
1.1.1 Một số nghiên cứu về trẻ em rối loạn tâm thần
Các nghiên cứu cho thấy trên thế giới, có tới 7 đến 10% trẻ em và thanh thiếu niên mắc phải các RLTT cần điều trị Tỷ lệ này cao hơn ở các vùng đô thị đông dân có nhiều yếu tố xã hội không thuận lợi, đặc biệt ở tuổi dậy thì Những vấn đề về áp lực từ các kỳ thi chuyển cấp và gánh nặng học tập; TE phải sống trong hoàn cảnh khó khăn; TE sống với những bố mẹ có mắc chứng trầm cảm…có liên quan đến vấn đề SKTT ở TE
1.1.2 Một số nghiên cứu về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em rối loạn tâm thần
Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã tập trung vào nghiên cứu lĩnh vực dịch vụ từ đầu thập niên 1980 trong các lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, văn hóa, giáo dục Tuy nhiên, dưới góc độ CTXH thì đây còn là lĩnh vực cần được quan tâm, nghiên cứu sâu hơn CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp, vì thế có nhiều công trình nghiên cứu CTXH, các chính sách an sinh xã hội Về dịch vụ CTXH và cách thức triển khai dịch vụ CTXH hầu như được phát triển mạnh ở các nước phát triển
Các nghiên cứu về dịch vụ CTXH đối với TE RLTT trên thế giới tập trung vào một số vấn đề như: Nhu cầu sử dụng sử dụng dịch vụ chăm sóc RLTT của các nhóm TE RLTT khác nhau; TE RLTT cần có các dịch vụ can thiệp, trị liệu tâm lý trực tiếp cho trẻ và kết nối, thay đổi môi trường sống của trẻ; NVCTXH và các hoạt động, mô hình CTXH tại cộng đồng đóng một vai trò quan trọng trong can thiệp, hỗ trợ TE RLTT; Các Hiệp hội NVCTXH của các quốc gia trên thế giới cùng với các đối tác về vận động chính sách hỗ trợ nâng cao các dịch vụ chăm sóc SKTT cho TE; Nghiên cứu về các biện pháp can thiệp giúp cải thiện nhận thức ở TE RLTT; Nhiều
TE và trẻ vị thành niên có nhu cầu chăm sóc SKTT (được xác định bởi một
số đánh giá lâm sàng) đều mong muốn được nhận các dịch vụ xã hội tuy nhiên cũng còn nhiều hạn chế trong việc nhận dịch vụ…
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước
Trang 111.2.1 Một số nghiên cứu về trẻ em rối loạn tâm thần
Đa phần các kết quả nghiên cứu dịch tễ SKTT ở TE Việt Nam cho thấy
tỷ lệ trẻ có các vấn đề SKTT nói chung nằm trong khoảng tỷ lệ ở các nước đang phát triển theo nghiên cứu của WHO, từ 13% - 20%
Đặc biệt, trong các công trình nghiên cứu về TE RLTT, thì việc nghiên cứu về tự kỷ ở TE là một trong những chủ đề được rất nhiều nhà nghiên cứu
cả thế giới và Việt Nam quan tâm nghiên cứu Cụ thể: Kết quả tìm kiếm từ
“autism” (tự kỷ) trên PsyINFO là 38.250 bài báo, sách, luận văn, luận án Nếu giới hạn “autism” ở tên của nghiên cứu thì có 12.174 kết quả Như vậy
có thể nói là số lượng và chủ đề nghiên cứu về tự kỷ trên thế giới là vô cùng rộng lớn, phong phú Tự kỷ đã, đang và sẽ rất được quan tâm nghiên cứu
1.2.2 Một số nghiên cứu về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em rối loạn tâm thần
RLTT là một vấn đề được sự quan tâm lớn từ các cơ quan, đoàn thể của nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam Đặc biệt, TE RLTT thuộc vào nhóm trẻ yếu thế trong xã hội và là đối tượng của ngành CTXH Vì vậy đã
có rất nhiều chương trình hành động của ngành CTXH dành cho nhóm TE RLTT
Kết quả nghiên cứu của một số tác giả: Những thông tin cơ bản về các vấn đề RNTT thường gặp ở TE; Những kiến thức kỹ năng chăm sóc, giáo dục trẻ và quy trình khám, đánh giá và điều trị, cải thiện tình hình cho TE RNTT; Khuyến nghị mang tính định hướng về đổi mới quản lý và phát triển dịch vụ xã hội ở góc độ khái quát nhất về dịch vụ ở Việt Nam trong thời gian tới; Khuyến nghị về phát triển mạng lưới dịch vụ xã hội ở Việt Nam như các dịch vụ cần được thiết lập và cung cấp cho các đối tượng có vấn đề
xã hội ở các cấp và tại cộng đồng; Khái niệm cơ bản, quy trình và công cụ
sử dụng trong CTXH dành cho người bị RNTT là phụ nữ và TE; Việc trị liệu đa hệ thống hiện được đánh giá rất có hiệu quả trong can thiệp rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên Tuy nhiên, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu chỉ rõ điều kiện nào thì trị liệu đa hệ thống phát huy được hiệu quả tốt Kết quả phân tích cũng đã xác định được một số yếu tố ảnh hưởng như tuổi của trẻ, thu nhập của gia đình, tình trạng hôn nhân của cha mẹ hay SKTT của cha mẹ; Kỹ năng tham vấn cơ bản và một số kỹ năng tham vấn chuyên biệt của
Trang 12NVCTXH khi làm việc với gia đình TTK và đưa ra các giải pháp tác động
để nâng cao một số kỹ năng tham vấn chuyên biệt cho gia đình TTK của NVCTXH; Thực trạng cung cấp dịch vụ xã hội tại các cơ sở cung cấp dịch
vụ chăm sóc xã hội trong và ngoài công lập và các yếu tố ảnh hưởng Tóm lại, lĩnh vực CTXH đối với TE RLTT trong thời gian qua tại Việt Nam nhận được rất nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà quản lý, nhân viên tại các cơ sở TGXH, các nhà khoa học, các giảng viên giảng dạy, nghiên cứu về chuyên ngành CTXH, tâm lý học…Các kết quả nghiên cứu
sẽ là cơ sở đề xuất các giải pháp, các hoạt động để trợ giúp ngày càng có hiệu quả cho TE RLTT và gia đình
1.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu đã đƣợc thực hiện
1.3.1 Những kết quả của các công trình nghiên cứu đã thực hiện
Có thể thấy, các nghiên cứu về chủ đề RLTT ở TE đã được quan tâm ở nhiều chiều cạnh khác nhau Khi nghiên cứu về chủ đề này, mỗi tác giả đều
đã có những phát hiện, những đóng góp riêng và đã góp phần làm rõ được bức tranh chung về vấn đề CTXH với TE RLTT: Tỷ lệ TE có RLTT giao động trong khoảng từ 10% - 20% và chỉ có số ít TE có RLTT được điều trị
về vấn đề này, điều này sẽ ảnh hưởng một cách sâu sắc đến khả năng học tập và sự phát triển sau này của TE; Các dạng RLTT ở TE và nguyên nhân gây ra RLTT do một hoặc nhiều yếu tố gây ra, bao gồm di truyền, sinh học, sang chấn tâm lý và Stress từ môi trường và giữa các yếu tố này phụ thuộc qua lại, ảnh hưởng và tác động lẫn nhau; Thực hiện các can thiệp hành vi trong can thiệp, trị liệu cho TE RLTT sẽ giúp trẻ tăng cường nhận thức, tương tác và hòa nhập cộng đồng; Dấu hiệu sơ bộ để chuẩn đoán TE RLTT:
Về chất lượng giao tiếp, về hành vi, về chất lượng quan hệ xã hội Nghề CTXH đóng vai trò quan trọng trong quá trình tham gia cung cấp các dịch
vụ CTXH để can thiệp, trợ giúp cho bệnh nhân tâm thần nói chung và TE RLTT nói riêng
Các tác giả đi trước còn chỉ ra vai trò quan trọng của NVCTXH trong cung cấp các dịch vị trị liệu, can thiệp cho TE RLTT và gia đình qua các nhiệm vụ cụ thể: Cung cấp các dịch vụ về quản lý trường hợp, điều phối dịch vụ, hỗ trợ và vận động chính sách…hướng đến những ảnh hưởng tích cực đối với TE và gia đình; Mối quan hệ giữa trầm cảm của cha mẹ trẻ với
Trang 13vấn đề RLTT ở TE, từ đó tìm ra những nguyên nhân, yếu tố tác động và giải pháp để hỗ trợ vấn đề này
Bên cạnh đó, các tác giả có những đánh giá cơ bản hướng tới việc tiếp cận về dịch vụ CTXH và đánh giá tổng quan, mặt khác cũng đề xuất nhiều giải pháp để nâng cao hiệu quả, đa dạng các dịch vụ, hoạt động, mô hình CTXH để trợ giúp cho TE RLTT
Những đánh giá, phân tích cụ thể về thực trạng dịch vụ CTXH đối với
TE RLTT và các yếu tố ảnh hưởng còn chưa được đề cập và nghiên cứu nhiều
1.3.2 Những vấn đề chưa được các công trình quan tâm nghiên cứu
Qua quá trình tổng quan tài liệu, tác giả nhận thấy, chủ đề CTXH đối với TE RLTT là chủ đề nghiên cứu rộng, còn rất nhiều mảng nghiên cứu cụ thể chưa thực sự thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu như: (1) Nghiên cứu về thực trạng các dịch vụ CTXH trợ giúp cho TE RLTT và gia đình
(2) Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả cung cấp các dịch vụ CTXH trợ giúp TE RLTT và gia đình
(3) Nghiên cứu về vai trò, tầm quan trọng của nhân viên CTXH trong trợ giúp cho TE RLTT
(4) Nghiên cứu các giải pháp để nâng cao hiệu quả trợ giúp cho TE RLTT và gia đình
(5) Nghiên cứu về nhu cầu, nguyện vọng tiếp cận và sử dụng các dịch
vụ CTXH của trẻ, cha, mẹ và người nuôi dưỡng TE RLTT
(6) Nghiên cứu so sánh về dịch vụ CTXH đối với TE RLTT trong hệ thống chính trị giữa Việt Nam và các nước khác trên thế giới
1.3.3 Những vấn đề tập trung giải quyết
Thực hiện đề tài “Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em rối loạn tâm thần từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh”, luận án kế thừa những kết quả của
các công trình nghiên cứu đã thực hiện về CTXH đối với TE RLTT và tập trung nghiên cứu và giải quyết là: Lý luận và thực trạng về dịch vụ CTXH đối với TE RLTT, các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ CTXH đối với TE RLTT tại tỉnh Quảng Ninh Trên cơ sở đó luận án đề xuất một số kiến nghị, giải pháp, mô hình đào tạo trang bị kiến thức, kỹ năng cho cha, mẹ, người