1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ kinh tế đánh giá ảnh hưởng của chính sách bảo hộ thương mại trong ngành thép không rỉ đến các doanh nghiệp sử dụng thép tại việt nam

104 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá ảnh hưởng của chính sách bảo hộ thương mại trong ngành thép không rỉ đến các doanh nghiệp sử dụng thép tại Việt Nam
Tác giả Phạm Thị Thu Hương
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Ngãi
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • BÌA

  • LỜI CAM ĐOAN

  • MỤC LỤC

  • DANH MỤC BẢNG BIỂU

  • DANH MỤC BIỂU ĐỒ - HÌNH VẼ

  • DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

  • CHƯƠNG 1: TỒNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

    • 1.1 Lý do chọn để tài

    • 1.2 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu

    • 1.3 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu

    • 1.4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

    • 1.5 Bố cục của luận văn

  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

    • 2.1 Một số khái niệm

    • 2.2 Cơ sở lý thuyết

      • 2.2.1 Mô hình cân bằng từng phần (Computable Partial Equilibrium - CPEM)

        • 2.2.1.1 Mô hình tổng quát

        • 2.2.1.2 Các ảnh hưởng phúc lợi của rào cản thương mại

        • 2.2.1.3 Hàm số cung và cầu

        • 2.2.1.4 Sự co giãn của cung và cầu

      • 2.2.2 Cơ sở lý thuyết để đánh giá ảnh hưởng của bảo hộ đến sự phát triển của doanh nghiệp

        • 2.2.2.1 Khung lý thuyết

        • 2.2.2.2 Một số nghiên cứu trước đó

        • 2.2.2.3 Các giả thiết nghiên cứu

        • 2.2.2.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất

  • CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

    • 3.1 Uớc lượng các chi phí dựa vào mô hình CPME

      • 3.1.1 Quy trình ước lượng

      • 3.1.2 Điều kiện cho việc ước lượng

    • 3.2 Phân tích ảnh hưởng của bảo hộ đến sự phát triển của doanh nghiệp sử dụng thép tại Việt Nam

      • 3.2.1 Quy trình nghiên cứu

      • 3.2.2 Quy trình nghiên cứu

      • 3.2.2.1 Nghiên cứu định tính

      • 3.2.2.2 Nghiên cứu định lượng

      • 3.2.3 Các thang đo trong nghiên cứu

        • 3.2.2.1 Thang đo chất lượng sản phẩm

        • 3.2.2.2 Thang đo chủng loại sản phẩm

        • 3.2.2.3 Thang đo năng xuất sản xuất

        • 3.2.2.4 Thang đo chi phí sản xuất

        • 3.2.2.5 Thang đo khả năng thích ứng

        • 3.2.2.6 Thang đo sự phát triển của doanh nghiệp

      • 3.2.4 Tóm lược quy trình thực hiện nghiên cứu

  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ƯỚC LƯỢNG

    • 4.1 Ước lượng chi phí bảo hộ trong ngành thép không rỉ tại ViệtNam

      • 4.1.1 Ước lượng các tham số co giãn của mô hình CPEM

      • 4.1.2 Sự thay đổi trong giá và sản lượng của hàng trong nước và hàng nhậpkhẩu

    • 4.2 Kết quả nghiên cứu mô hình phân tích ảnh hưởng của bảo hộ

      • 4.2.1 Đặc điểm của mẫu khảo sát

      • 4.2.2 Kiểm định thang đo

        • 4.2.2.1 Kiểm định độ tin cậy của thang do

        • 4.2.2.2 Phân tích nhân tố khám phá

        • 4.2.2.3 Phân tích nhân tố cho biến phụ thuộc

      • 4.2.3 Mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh

      • 4.2.4 Phân tích hồi quy

        • 4.2.4.1 Phân tích tương quan

        • 4.2.4.2 Phân tích hồi quy bội

        • 4.2.4.3 Phân tích kết quả nghiên cứu

        • 4.2.4.4 Kiểm định các giả định của mô hình hồi quy

        • 4.2.4.5 Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu

      • 4.2.5 Phân tích ảnh hưởng của các biến định tính đến sự phát triển của doanh nghiệp

  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    • 5.1 Kết luận

    • 5.2 Hàm ý chính sách cho doanh nghiệp

      • 5.2.1 Với các doanh nghiệp sản xuất thép không rỉ trong nước

      • 5.2.2 Với các doanh nghiệp có sử dụng đầu vào là nguyên liệu thép không rỉ

    • 5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

      • 5.3.1 Hạn chế

      • 5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • Phụ lục 1: DÀN BÀI PHỎNG VẤN ĐỊNH TÍNH

  • Phụ lục 2: KẾT QUẢ PHỎNG VÂN ĐỊNH TÍNH

  • Phụ lục 3: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT

  • Phụ lục 4: KẾT QUẢ XỬ LÝ DỮ LIỆU CRONBACK ALPHA

  • Phụ lục 5: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH NHÂN TỐ EFA

  • PHỤ LỤC 6: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH HỒI QUY

  • PHỤ LỤC 7: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC BIẾN ĐỊNH TÍNH TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP

Nội dung

TỒNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

L Ý DO CHỌN ĐỂ TÀI

Tự do hóa thương mại, theo các lý thuyết kinh tế như lý thuyết so sánh lợi thế của Ricardo và mô hình Hecher-Ohlin-Samuelson, mang lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tự do hóa dẫn đến tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao hơn và bền vững hơn Các quốc gia có mức độ bảo hộ thương mại cao thường gặp phải sự tăng trưởng năng suất thấp hơn so với những nước có mức bảo hộ thấp Do đó, sự cởi mở và tự do hóa thương mại là yếu tố quan trọng để tăng năng suất lao động và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Rào cản thương mại tại một quốc gia thường gây thiệt hại cho người tiêu dùng trong nước, trong khi chính phủ và các nhà sản xuất lại hưởng lợi Nghiên cứu của Hufbauer và Elliott (1994) chỉ ra rằng nếu Mỹ dỡ bỏ tất cả hàng rào thuế quan và hạn ngạch nhập khẩu, người tiêu dùng có thể tiết kiệm tới 70 tỷ USD, tương đương 1,3% GDP Tương tự, Yansheng et al (1998) phát hiện ra rằng việc tự do hóa thương mại tại Trung Quốc có thể dẫn đến thiệt hại ngắn hạn với sản lượng giảm 40 tỷ USD và 11,2 triệu lao động thất nghiệp, nhưng người tiêu dùng vẫn được lợi 35 tỷ USD hàng năm Tại Việt Nam, chính sách đổi mới từ cuối những năm 1980 đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, và việc gia nhập WTO là bước quan trọng để hội nhập toàn cầu, mặc dù Việt Nam vẫn duy trì một số biện pháp bảo hộ cho sản phẩm nội địa.

Sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường trong và ngoài nước còn hạn chế do quá trình tự do hóa thương mại chậm chạp Khi thuế xuất giảm và hạn ngạch được loại bỏ, hàng hóa Việt Nam sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt ngay tại thị trường nội địa, dẫn đến nguy cơ suy giảm sản xuất và doanh thu thuế Nghiên cứu của IMF chỉ ra rằng bảo hộ thương mại đã gây ra sự thiếu hiệu quả trong sản xuất, với quy mô kinh tế không tương xứng với tiềm năng Chẳng hạn, các nhà sản xuất xe hơi lỗ dù giá xe tăng gấp ba lần so với giá chưa thuế, trong khi giá xe máy nhập khẩu cũng tăng gấp đôi Ngoài ra, giá phân bón, xi măng, sắt thép, và đường cao hơn ít nhất 20% so với giá không chịu thuế, gây ra sự phân bổ sai lệch nguồn lực, giá cả cao hơn, và tình trạng thất nghiệp không được cải thiện.

Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (2002) chỉ ra rằng việc dỡ bỏ thuế quan giúp giảm giá hàng nhập khẩu, từ đó hạ giá tiêu dùng và giảm chi phí cho nền kinh tế Hơn nữa, tự do hóa thương mại còn thúc đẩy xuất khẩu và gia tăng sản lượng ngành, phản ánh sự mở rộng của hoạt động kinh tế.

Warner (2001) chỉ ra rằng việc bảo hộ sản xuất trong nước nhằm thay thế nhập khẩu không mang lại hiệu quả, vì nó cản trở việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư nội địa vào các lĩnh vực có mức độ bảo hộ cao Điều này dẫn đến giá hàng hóa nhập khẩu tăng cao, gia tăng tham nhũng và làm tăng chi phí trong thương mại.

Trong ngành thép không rỉ, Việt Nam đã chuyển mình từ việc hoàn toàn phụ thuộc vào nhập khẩu sang có một số nhà máy sản xuất thành phẩm từ nguyên liệu cán nóng Mặc dù ngành này còn non trẻ và thiếu kinh nghiệm trong quản lý sản xuất và chi phí, dẫn đến chất lượng và chủng loại sản phẩm chưa đa dạng, nhưng từ tháng 12 năm 2013, nhà nước đã ban hành các biện pháp bảo vệ nhằm khuyến khích sản xuất trong nước, kiểm soát nhập khẩu và kiềm chế nhập siêu.

Ngày 6-5-2013, Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thương) thông báo đã nhận được hồ sơ của Công ty TNHH Posco VST (Posco VST) và Công ty Cổ Phần Thép không rỉ Hòa Bình (Thép không rỉ Hòa Bình), yêu cầu điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với sản phẩm thép không gỉ cán nguội được NK vào Việt Nam từ 4 quốc gia/vùng lãnh thổ: Trung Quốc, Malaysia và Indonesia, Đài Loan (Trung Quốc) Trong số này, mức thuế suất NK từ Trung Quốc, Malaysia và Indonesia đang là 0%

Công ty thép Posco VST, nhà máy thép không gỉ cán nguội lớn nhất Việt Nam với công suất 235.000 tấn, đã báo cáo lỗ do cạnh tranh từ hàng nhập khẩu giá rẻ Để bảo vệ quyền lợi, Posco VST và Công ty cổ phần Thép không rỉ Hòa Bình đã gửi đơn kiện lên Cục Quản lý cạnh tranh, đề nghị áp dụng thuế chống bán phá giá từ 20-40% cho sản phẩm này.

Mức thuế và tên công ty của 4 nước bị áp thuế chống bán phá giá thép không gỉ cán nguội như bảng 1.1 dưới đây:

Bảng 1.1 Mức thuế thép không rỉ áp dụng cho một số nước nhập khẩu chính vào Việt Nam

Nước/Vùng lãnh thổ Tên nhà sản xuất/xuất khẩu Mức thuế chống bán phá giá

Lianzhong Stainless Steel Corporation Fujian Southeast Stainless Steel Co., Ltd Các nhà sản xuất khác

PT Jindal Stainless Indonesia Các nhà sản xuất khác

Các nhà sản xuất khác

Yieh United Steel Corporation Yuan Long Stainless Steel Corp

Các nhà sản xuất khẩu khác

(Nguồn: Cục Quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Công Thương)

Thép không gỉ là mặt hàng nhập khẩu thứ ba tại Việt Nam bị kiện liên quan đến phòng vệ thương mại, đồng thời là sản phẩm đầu tiên bị kiện về hành vi bán phá giá kể từ khi pháp lệnh chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam được ban hành vào năm 2004.

Việc điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với mặt hàng thép không gỉ cán nguội có mã hồ sơ gồm: 7219.32.00; 7219.33.00; 7219.34.00; 7219.35.00;

7219.90.00; 7220.20.10; 7220.20.90; 7220.90.10; 7220.90.90 nhập khẩu vào Việt Nam từ Trung Quốc, Indonesia, Malaysia và Đài Loan (Cục quản lý cạnh tranh, 2014)

Vào ngày 2 tháng 7 năm 2013, Bộ Công Thương đã quyết định tiến hành cuộc điều tra dựa trên đơn kiện Đến ngày 30 tháng 9 năm 2013, Cục Quản lý Cạnh tranh thông báo gia hạn thời gian ra quyết định sơ bộ, với thời hạn chậm nhất là ngày 2 tháng 12 năm 2013.

Vào ngày 29/10/2013, 18 doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng và vật liệu xây dựng đã đồng loạt gửi kiến nghị đến Bộ trưởng Bộ Công Thương và Cục Quản lý cạnh tranh Họ đề nghị dừng điều tra và tránh áp dụng thuế chống bán phá giá đối với thép không gỉ nhập khẩu.

Vào ngày 3/12/2013, Cục Quản lý Cạnh tranh đã công bố kết luận sơ bộ về việc áp thuế chống bán phá giá đối với thép cán nguội không gỉ và kiến nghị áp dụng mức thuế tạm thời trong 120 ngày Trong thời gian qua, thuế nhập khẩu thép cán nguội không gỉ đã tăng liên tục từ 0% lên 5% và hiện tại là 10% Nếu mức thuế tiếp tục tăng theo đề xuất của hai doanh nghiệp chiếm ưu thế trên thị trường, hàng chục doanh nghiệp khác sẽ gặp khó khăn do giá nguyên liệu quá cao.

Sự kiện này đã kích thích làn sóng phản đối từ hơn 20 doanh nghiệp sản xuất sản phẩm bằng thép không gỉ nhập khẩu, khi họ gửi đơn lên Cục Quản lý cạnh tranh Bộ Công Thương yêu cầu lùi thời hạn áp thuế Các doanh nghiệp cho rằng quyết định áp thuế chống bán phá giá trong 120 ngày chưa đánh giá đầy đủ tác động mà họ phải đối mặt, gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của họ.

Mức thuế sơ bộ hiện tại có thể gây khó khăn lớn cho các doanh nghiệp sản xuất thép không rỉ và người tiêu dùng Việt Nam, dẫn đến thiệt hại không thể khắc phục Việc áp dụng thuế này sẽ làm tăng chi phí đầu vào, đẩy giá bán lên cao, và tạo ra vị thế độc quyền cho một số doanh nghiệp trong nước Do đó, cần phải xem xét lại pháp luật về chống bán phá giá để cân bằng lợi ích giữa các nhà sản xuất, nhà nhập khẩu và người tiêu dùng Tuy nhiên, trong quyết định sơ bộ, lợi ích của các doanh nghiệp và người tiêu dùng chưa được xem xét một cách thỏa đáng.

Nhóm điều tra của Cục Quản lý cạnh tranh cho rằng các doanh nghiệp sản xuất hạ nguồn có thể nhập khẩu nguyên liệu thép cán nguội từ nguồn khác nếu thuế chống bán phá giá được áp dụng Tuy nhiên, doanh nghiệp lại cho rằng việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu thay thế là không khả thi do giá thép không gỉ trong nước cao hơn 10% đến 20% so với thị trường quốc tế, và họ chưa thể cung cấp thép không gỉ cán nguội với giá thành, chất lượng và chủng loại hợp lý Nếu thuế nhập khẩu từ các quốc gia như Đài Loan, hiện đang là 10%, tăng lên, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải thu hẹp sản xuất, nhường thị phần cho hàng ngoại hoặc tăng giá sản phẩm.

Đ ỐI TƯỢNG VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Đối tượng khảo sát: các doanh nghiệp có sử dụng nguyên liệu đầu vào là thép không rỉ tại Việt Nam

Mục tiêu nghiên cứu: Đề tài này nhắm đến các mục tiêu chính như sau

Mục tiêu 1 của nghiên cứu là ước lượng chi phí bảo hộ thương mại trong ngành thép không rỉ tại Việt Nam, bao gồm các lợi ích mà doanh nghiệp sản xuất thép không rỉ trong nước thu được, nguồn thu thuế cho chính phủ, cũng như những lợi ích bị mất của người tiêu dùng.

Mục tiêu 2: Tác giả phân tích tác động của bảo hộ thương mại đối với ngành thép không rỉ và sự phát triển của các doanh nghiệp sử dụng thép tại Việt Nam dựa trên kết quả ước lượng.

Mục tiêu 3: Tác giả đề xuất một số gợi ý cho các doanh nghiệp sản xuất và sử dụng thép không rỉ nhằm cân bằng lợi ích giữa các bên, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của sản xuất trong nước và nâng cao tính cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường quốc tế.

P HẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này tập trung vào việc ước tính chi phí tĩnh của bảo hộ thương mại tại Việt Nam, một quốc gia có quy mô kinh tế nhỏ Bài viết phân tích tác động của chính sách bảo hộ đối với sự phát triển của các doanh nghiệp sử dụng thép không gỉ tại Việt Nam trong năm 2014.

Nghiên cứu được thực hiện qua hai giai đoạn chính: đầu tiên, áp dụng mô hình CPME (Computable Partial Equilibrium) cùng khung lý thuyết để ước lượng chi phí bảo hộ ngành thép không gỉ tại Việt Nam; thứ hai, phân tích tác động cụ thể của bảo hộ đối với doanh nghiệp sử dụng thép không gỉ, dựa trên lý thuyết và ý kiến từ các bên liên quan Tác giả đã vận dụng phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh để thực hiện nghiên cứu định tính nhằm xây dựng bản phỏng vấn, cùng với nghiên cứu định lượng để thu thập và phân tích dữ liệu khảo sát, cũng như ước lượng và kiểm định các mô hình.

Nghiên cứu này thu thập thông tin từ phương pháp định tính nhằm khám phá và điều chỉnh thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp trong ngành thép không rỉ khi có bảo hộ Để thực hiện nghiên cứu định lượng, dữ liệu được thu thập trực tiếp từ người tiêu dùng thông qua bảng câu hỏi Đề tài áp dụng nhiều công cụ phân tích dữ liệu, bao gồm thống kê mô tả, phân tích độ tin cậy (Cronbach’s Alpha), phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis), và phân tích hồi quy bội, sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để xử lý và phân tích dữ liệu.

Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn tổng quan về chi phí và lợi ích trong ngành thép không rỉ tại Việt Nam khi chính sách bảo hộ được thực thi, giúp người tiêu dùng và doanh nghiệp nhận thức rõ hơn về tác động của chính sách Nó cũng hướng đến việc hỗ trợ các doanh nghiệp sử dụng thép không rỉ trong việc thích ứng và phát triển trong bối cảnh mới Đồng thời, nghiên cứu khuyến khích các doanh nghiệp cải tiến công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng sản xuất, đáp ứng nhu cầu trong nước và cạnh tranh quốc tế Cuối cùng, nghiên cứu đề xuất các chính sách phù hợp cho chính phủ nhằm hài hòa lợi ích giữa các bên, tạo điều kiện cho doanh nghiệp duy trì năng lực cạnh tranh lâu dài.

B Ố CỤC CỦA LUẬN VĂN

Luận án được gồm có năm chương:

Chương 1 Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2 sẽ giới thiệu các cơ sở lý thuyết và các mô hình nghiên cứu trước đây Từ các khái niệm và các mô hình nghiên cứu ở chương 2, chương 3 sẽ giới thiệu phương pháp ước lượng các chi phí bảo hộ và phương pháp nghiên cứu để xây dựng, hiệu chỉnh, đánh giá các thang đo khái niệm nghiên cứu và hiệu chỉnh giả thuyết đề ra cho phần phân tích ảnh hưởng của bảo hộ thương mại đến sự phát triển của doanh nghiệp sử dụng thép nói chung Chương 4 sẽ trính bày các kết quả ước lượng chi phí và kết quả phân tích cho nghiên cứu Đồng thời đưa ra một số hàm ý về chính sách nhằm hài hòa lợi ích giữa chính phủ và các đối tượng doanh nghiệp đề cập trong nghiên cứu Chương 5 sẽ trình bày ý nghĩa, những mặt hạn chế của luận văn và hướng nghiên cứu tiếp theo.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

M ỘT SỐ KHÁI NIỆM

Bảo hộ thương mại, hay bảo hộ mậu dịch, là chính sách ngoại thương của các quốc gia nhằm bảo vệ thị trường nội địa trước sự cạnh tranh khốc liệt từ hàng hóa nhập khẩu Đồng thời, chính sách này cũng hỗ trợ các nhà sản xuất trong nước mở rộng thị trường ra nước ngoài.

Có hai loại bảo hộ chính trong thương mại: hạn chế định lượng, chẳng hạn như hàng rào thuế quan, và hạn chế về chất lượng, bao gồm một số hàng rào phi thuế quan.

Các nước sử dụng chính sách bảo hộ thương mại như là một công cụ bảo vệ hữu hiệu nhằm:

Giảm bớt sức cạnh tranh của hàng nhập khẩu

Bảo hộ các nhà sản xuất kinh doanh trong nước, giúp họ tăng cường sức mạnh trên thị trường nội địa

Giúp nhà xuất khẩu tăng sức cạnh tranh để thâm nhập thị trường nước ngoài

Giúp điều tiết cán cân thanh toán quốc tế, sử dụng hợp lý nguồn ngoại tệ thanh toán của mỗi nước

Tuy có rất nhiều ưu điểm, chinh sách bảo hộ mậu dịch cũng bộc lộ một số những nhược điểm nhất định:

Việc bảo hộ quá mức có thể gây hại cho sự phát triển của thương mại quốc tế, dẫn đến tình trạng cô lập kinh tế cho một quốc gia Điều này đi ngược lại với xu hướng toàn cầu hiện nay, đó là quốc tế hóa đời sống kinh tế.

Bảo hộ quá mức có thể dẫn đến sự bảo thủ và trì trệ trong nền kinh tế nội địa, khiến cho mức độ bảo hộ ngày càng gia tăng Điều này làm cho các ngành công nghiệp chủ lực trở nên kém linh hoạt, và hoạt động kinh doanh cũng như đầu tư không đạt hiệu quả Nếu không thay đổi, các ngành công nghiệp sẽ đối mặt với nguy cơ phá sản trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt.

Sự bảo hộ quá mức từ nhiều quốc gia gây thiệt hại cho người tiêu dùng nội địa, do thị trường hàng hóa thiếu đa dạng về mẫu mã, kiểu dáng và chất lượng, dẫn đến giá cả cao và sự kém cải tiến trong sản phẩm.

Rào cản thương mại: là bất kì biện pháp hay hành động nào gây cản trở đối với thương mại quốc tế

Theo WTO: Rào cản trong thương mại quốc tế bao gồm 2 loại là các biện pháp thuế quan và các biện pháp phi thuế quan

Theo Hoa Kỳ, có 9 nhóm rào cản chính trong thương mại quốc tế, bao gồm: chính sách nhập khẩu, tiêu chuẩn và kiểm tra, nhãn mác và chứng nhận, mua sắm của chính phủ, trợ cấp xuất khẩu, bảo hộ sở hữu trí tuệ, rào cản dịch vụ, rào cản đầu tư, rào cản chống cạnh tranh, và các rào cản khác như tham nhũng và hối lộ.

Hàng rào thuế quan là loại thuế áp dụng cho hàng hóa khi qua khu vực hải quan của một quốc gia Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu sắc, nhiều quốc gia đang nỗ lực giảm dần và hướng tới việc loại bỏ hoàn toàn hàng rào thuế quan.

Có 3 loại thuế quan phổ biến như sau:

Thuế phần trăm là loại thuế được áp dụng dựa trên tỷ lệ phần trăm giá trị giao dịch của hàng hóa nhập khẩu Đây là hình thức thuế phổ biến nhất hiện nay, tuy nhiên, mức thuế vẫn còn cao.

Thuế phi phần trăm: Bao gồm 3 loại, được áp dụng chủ yếu cho hàng nông sản

Thuế tuyệt đối: Thuế xác định bằng một khoản cố định trên một đơn vị hàng nhập khẩu

Thuế tuyệt đối thay thế: Quy định quyền lựa chọn áp dụng thuế phần trăm hay thuế tuyệt đối

Thuế tổng hợp: Là sự kết hợp cả thuế phần trăm và thuế tuyệt đối

Hạn ngạch thuế quan là một biện pháp quản lý nhập khẩu, trong đó áp dụng hai mức thuế khác nhau Các mặt hàng nằm trong hạn ngạch sẽ được hưởng mức thuế suất thấp, trong khi những mặt hàng ngoài hạn ngạch sẽ phải chịu mức thuế suất cao hơn.

Thuế đối kháng, hay còn gọi là thuế chống trợ cấp xuất khẩu, là loại thuế được áp dụng đối với các sản phẩm nhập khẩu nhằm bù đắp cho việc các nhà sản xuất và xuất khẩu sản phẩm đó nhận được sự trợ cấp từ Chính phủ nước xuất khẩu.

Thuế chồng bán phá giá: nhằm ngăn chặn và đối phó với hàng nhập khẩu được bán phá giá vào thị trường nội địa

Thuế thời vụ là loại thuế có mức thuế suất khác nhau cho cùng một sản phẩm, thường được áp dụng cho hàng nông sản Trong thời gian thu hoạch mùa vụ trong nước, mức thuế suất cao được áp dụng nhằm bảo vệ sản xuất trong nước.

Thuế bổ sung: được đặt ra để thực hiện biện pháp tự vệ trong trường hợp khẩn cấp

Hàng rào phi thuế quan là những biện pháp hành chính được sử dụng để ngăn chặn sự xâm nhập của hàng hóa nước ngoài, nhằm bảo vệ sản phẩm trong nước mà không áp dụng thuế quan Các quốc gia công nghiệp phát triển thường viện dẫn lý do bảo vệ an toàn và lợi ích của người tiêu dùng, cũng như bảo vệ môi trường, để áp dụng các biện pháp phi thuế quan nhằm giảm lượng hàng hóa nhập khẩu.

Tỷ lệ bảo hộ danh nghĩa là sự chênh lệch giữa giá hàng hóa trong nước và giá quốc tế, đã tính đến các chi phí phát sinh từ chính sách bảo hộ thương mại, bao gồm thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu, hạn chế định lượng, cùng các ưu đãi như trợ cấp và giảm thuế (Theo Frank Flatters, 2003).

C Ơ SỞ LÝ THUYẾT

Nghiên cứu được tiến hành thông qua hai phần:

Phần 1: Sử dụng mô hình cân bằng từng phần (Computable Partial Equilibrium) và khung lý thuyết về tỉ lệ bảo hộ danh nghĩa để hiển thị tất cả các tác động của bảo hộ tại Việt Nam và ước lượng chi phí trong ngành thép không rỉ

Phần 2: Từ lý thuyết và các nghiên cứu liên quan, tác giả phân tích nhằm tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp sử dụng thép không rỉ tại Việt Nam dưới tác động của chính sách bảo hộ thương mại Cụ thể như sau:

2.2.1 Mô hình cân bằng từng phần (Computable Partial Equilibrium - CPEM)

Mô hình cân bằng từng phần do Peter Uimonen phát triển (theo Hufbauer và Elliott, 1994) được sử dụng để đo lường chi phí bảo hộ thương mại và các phúc lợi, dựa trên bốn giả định chính.

(i) Hàng hoá trong nước và hàng hóa nhập khẩu không phải là thay thế hoàn hảo; (ii) Nguồn cung hàng nhập khẩu là hoàn toàn đàn hồi;

(iii) Kế hoạch cung cấp của hàng hoá trong nước có độ dốc lên (ít hơn so với đàn hồi hoàn hảo);

(iv) Tất cả các thị trường được coi là cạnh tranh hoàn hảo

Hình 2.1: Hiệu ứng của thị trường nhập khẩu khi loại bỏ rào cản thương mại

Khi các rào cản thương mại được thực thi, giá hàng hóa nhập khẩu trên thị trường nội địa là Pm với số lượng nhập khẩu Qm Sau khi tự do hóa thương mại, giá giảm xuống Pm’ (giá thế giới), dẫn đến việc đường cầu nhập khẩu thay đổi từ Dm sang Dm', tương ứng với số lượng nhập khẩu mới tại Qm'.

Rào cản thương mại có tác động rõ rệt đến thị trường, như được thể hiện trong hình 2.1 và 2.2 Hình 2.1 minh họa đường cung từ nhập khẩu (Sm) hoàn toàn đàn hồi, phản ánh giả định về một quốc gia nhỏ và mở như Việt Nam Giá thế giới (Pm’) tương ứng với giá CIF, trong khi giá bán lẻ (Pm) của hàng nhập khẩu là giá sau thuế quan.

Sự thay thế không hoàn hảo giữa hàng hóa trong nước và hàng hóa nhập khẩu đã dẫn đến việc giảm giá do nhập khẩu, làm thay đổi đường cầu đối với hàng nội địa từ Dd xuống Dd’ Khi đường cầu dịch chuyển vào trong, giá hàng nội địa giảm từ Pd xuống Pd’ Xu hướng giảm giá này đã khiến đường cầu trong nước đối với hàng nhập khẩu cũng giảm từ Dm xuống.

Tại hai điểm cân bằng sản lượng mới, lượng hàng nội địa giảm, trong khi lượng hàng nhập khẩu tăng, dẫn đến giá cả của cả sản phẩm sản xuất trong nước và nhập khẩu đều thấp hơn.

Hình 2.2: Hiệu ứng của thị trường trong nước khi loại bỏ các rào cản thương mại

Khi rào cản thương mại được áp dụng, giá của sản phẩm nội địa cạnh tranh với hàng nhập khẩu là Pd, với lượng cầu là Qd Tuy nhiên, sau khi tự do hóa thương mại khiến giá hàng nhập khẩu giảm (như minh họa trong hình 2.1), nhu cầu đối với sản phẩm sản xuất trong nước giảm, dẫn đến việc đường cầu dịch chuyển từ Dd sang Dd’ Kết quả là sản lượng tiêu thụ giảm xuống Qd' và giá cũng giảm xuống còn Pd'.

2.2.1.2 Các ảnh hưởng phúc lợi của rào cản thương mại

Tự do hóa thương mại mang lại thặng dư cho người tiêu dùng nhờ vào việc giảm giá cả hàng hóa, cả từ thị trường hàng nhập khẩu lẫn hàng nội địa Người tiêu dùng chỉ phải chi trả ít hơn cho sản phẩm so với khi có chính sách bảo hộ, dẫn đến việc một số người trước đây không tham gia thị trường giờ đây sẽ gia nhập khi giá giảm Mặc dù thặng dư tiêu dùng tăng lên nhờ tự do hóa, nhưng điều này cũng bù đắp cho phần thặng dư sản xuất hàng nội địa bị mất do sản lượng và giá cả giảm.

Khi áp dụng hạn chế thương mại dưới dạng thuế quan, doanh thu thuế của chính phủ sẽ được bù đắp bởi thặng dư của người tiêu dùng khi thuế quan được gỡ bỏ Nếu hạn chế định lượng được sử dụng thay vì thuế quan, việc loại bỏ sẽ liên quan đến việc bãi bỏ các hạn ngạch đã cấp cho các nhà nhập khẩu hoặc xuất khẩu, hoặc có thể kết hợp cả hai hình thức tùy thuộc vào cách phân bổ các hạn chế này dựa trên sức mạnh kinh tế của các bên tham gia thị trường Trước khi tiến hành tự do hóa, cần thiết lập một bước đệm giữa giá bán trong nước của hàng nhập khẩu và giá thế giới để đảm bảo chuyển giao nguồn lực theo hướng sản xuất thay thế nhập khẩu và học hỏi từ các ngành khác, nơi nguồn lực đã được sử dụng hiệu quả hơn.

Các phương pháp ước lượng phúc lợi được nghiên cứu bởi Morkre và Tarr (1980) chỉ ra rằng, do hàng nhập khẩu và hàng nội địa không phải là những sản phẩm thay thế hoàn hảo, việc tính toán tổng lợi ích của người tiêu dùng cần dựa trên thặng dư của người tiêu dùng ở từng thị trường riêng biệt.

Trong thị trường nhập khẩu, thặng dư tiêu dùng từ tự do hóa được xác định bởi khu vực giữa các điểm aceg Khi hàng hóa bị bảo vệ bằng thuế quan, khu vực hình chữ nhật acfg thể hiện doanh thu thuế của chính phủ, được chuyển giao từ thặng dư của người tiêu dùng.

Cef là vùng thể hiện hiệu quả gia tăng của tự do hóa (hay hiệu quả xã hội mất đi do bảo hộ):

Đường cung hàng nội địa trong hình 2.2 cho thấy sự cạnh tranh với hàng nhập khẩu (Sd) có xu hướng dốc lên Người tiêu dùng được hưởng lợi từ giá trong nước thấp hơn, dẫn đến sự mất đi thặng dư sản xuất trong nước, tạo thành vùng swyz.

Bảng 2.1: Các ảnh hưởng phúc lợi trên cả hai thị trường khi tự do hóa

2.2.1.3 Hàm số cung và cầu

Hàm số cung và cầu trong bối cảnh bảo hộ thương mại cho thấy mối quan hệ giữa cung và cầu là phi tuyến trong điều kiện bất biến, nhưng có thể được biểu diễn tuyến tính khi sử dụng logarit Điều này được chứng minh qua nghiên cứu của Hufbauer và Elliott (1994), Yansheng et al (1998) và Messerlin (2000).

Hàm số cung và cầu trong nước được xác định theo các phương trình sau đây: Cầu trong nước: Q d a P d E dd P m E dm (2.5)

Thị trường nội địa Tổng lợi ích

Thặng dư tiêu dùng +aceg +swyz +aceg +swyz

Thặng dư sản xuất - swyz - swyz

Khoản thu của chính phủ - acfg - acfg

Lợi ích xã hội + cef 0 + cef

Trong hàm cầu 2.5, Edd đại diện cho độ co giãn riêng của cầu theo giá đối với hàng hóa nội địa, trong khi Edm thể hiện độ co giãn chéo cầu theo giá của hàng hóa nội địa so với giá hàng nhập khẩu.

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Điều kiện cho việc ước lượng

Việc tính toán độ co giãn và các thông số sản lượng cân bằng cùng đơn giá thay đổi là thách thức lớn trong mô hình này, vốn dựa trên các giả định đơn giản hóa Mô hình giả định rằng thị trường trong nước và nhập khẩu có tính cạnh tranh hoàn hảo, trong khi thực tế có thể không như vậy Để thuận tiện cho việc tính toán và thực nghiệm, mô hình chỉ xem xét một phần của bảo hộ trong một lĩnh vực cụ thể, giả định rằng không có thay đổi trong cơ cấu nguồn cung trong nước Tuy nhiên, phương pháp này bỏ qua các tác động từ sự cạnh tranh gia tăng giữa hàng nhập khẩu và sản phẩm thay thế trong nước sau khi tự do hóa, không tính đến sự giảm sút sản lượng hàng trong nước khi hàng nhập khẩu trở nên cạnh tranh hơn.

Mô hình nghiên cứu cần được hỗ trợ bởi số liệu thực nghiệm để đảm bảo tính chính xác, đặc biệt là sự kế thừa độ co giãn từ các nghiên cứu trước Độ co giãn giữa cung và cầu (Edt) cùng với độ co giãn chéo của cầu nhập khẩu với hàng trong nước (Es) là những yếu tố cơ bản, nhưng thường thiếu dữ liệu đáng tin cậy Hơn nữa, dữ liệu chủ yếu được thu thập từ thống kê chung và các báo cáo, dẫn đến khả năng sai lệch do các vấn đề trong thống kê và quản lý dữ liệu.

Các số liệu thống kê cần có:

Tổng cầu trong nước, tổng nguồn cung trong nước và tổng nguồn cung nhập khẩu đều ảnh hưởng đến giá hàng hóa trong nước và giá hàng hóa nhập khẩu Giá thị trường thế giới, được thể hiện qua giá CIF, cùng với thuế nhập khẩu và các rào cản phi thuế quan, đóng vai trò quan trọng trong việc xác định giá cả trên thị trường nội địa.

Các thông số co giãn bao gồm độ co giãn riêng của cầu theo giá cho hàng nội địa và hàng nhập khẩu, độ co giãn riêng của cung theo giá cho hàng nội địa, cùng với độ co giãn chéo của cầu theo giá giữa hàng nội địa và hàng nhập khẩu.

P HÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA BẢO HỘ ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP SỬ DỤNG THÉP TẠI V IỆT N AM

Quá trình này được thực hiện qua hai bước chính: (1) nghiên cứu định tính để phát triển và hoàn thiện bản phỏng vấn; (2) nghiên cứu định lượng nhằm thu thập và phân tích dữ liệu khảo sát, đồng thời ước lượng và kiểm định các mô hình.

Quy trình nghiên cứu có thể mô tả theo các bước sau:

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết (Thang đo chất lượng sản phẩm, chủng loại sản phẩm…)

Bản phỏng vấn sơ bộ

Bản câu hỏi chính thức

Mã hóa, nhập liệu Làm sạch dữ liệu Chạy Cronbach’s Alpha Phân tích nhân tố EFA Phân tích hồi quy Các phân tích khác

Kết luận Viết báo cáo

Mục tiêu của nghiên cứu định tính là xác định và điều chỉnh các yếu tố trong thang đo để phù hợp với thị trường Việt Nam Nghiên cứu được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu với 5 doanh nghiệp lớn sử dụng nguyên liệu thép không rỉ nhập khẩu Các câu hỏi trong nghiên cứu được trình bày tại Phụ lục 1 Sau đó, tác giả tiến hành phân tích và đánh giá để làm rõ các vấn đề, từ đó điều chỉnh và hoàn thiện các thang đo.

Kết quả của bước này là xây dựng được một Bản phỏng vấn chính thức (Phụ lục

2) dùng cho nghiên cứu định lượng Đồng thời kết quả của nghiên cứu định tính cũng khẳng định lại các biến độc lập đã xác định ở chương 2 là phù hợp

3.2.2.2 Nghiên cứu định lượng Đối tượng nghiên cứu là các doanh nghiệp có sử dụng thép không rỉ là nguyên liệu đầu vào chính Dữ liệu trong nghiên cứu này được dùng để kiểm định lại các giả thuyết trong mô hình

Kích cỡ mẫu trong nghiên cứu phụ thuộc vào bản chất của nghiên cứu và kỹ thuật thống kê được áp dụng Cụ thể, trong phân tích nhân tố, kích cỡ mẫu yêu cầu tỷ lệ thuận với số lượng biến quan sát; ví dụ, với 10 biến quan sát cần 200 mẫu, còn với 22 biến quan sát cần 220 mẫu (Kamran, 2011).

Theo nghiên cứu của Theo Hair & ctg (2009), để thực hiện phân tích nhân tố khám phá (EFA), cần thu thập dữ liệu với tối thiểu 5 mẫu cho mỗi biến quan sát, và cỡ mẫu lý tưởng nên đạt ít nhất 10 mẫu trên mỗi biến.

1 biến quan sát Bên cạnh đó, để tiến hành phân tích hồi quy, Tabachnick & Fidell

(2007) cho rằng kích thước mẫu cần phải đảm bảo theo công thức:

Và để phân tích từng quan hệ riêng lẻ, kích thước mẫu cần phải đảm bảo:

-m: số biến độc lập của mô hình

Nếu nghiên cứu sử dụng nhiều công cụ thì tính N trong từng trường hợp và chọn N lớn nhất

Dựa trên các nghiên cứu đã thực hiện, tác giả đã thu thập dữ liệu từ một mẫu tối thiểu 109 với 22 biến quan sát, sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện Nghiên cứu này diễn ra tại Việt Nam trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2014.

3.2.3 Các thang đo trong nghiên cứu

Các thang đo trong nghiên cứu này được tham khảo từ các tác giả khác, mặc dù phương pháp nghiên cứu không giống hệt, nhưng vẫn tương đồng về mục tiêu và kết quả.

Bảng 3.1: Các thang đo sử dụng trong nghiên cứu

Chất lượng sản phẩm khi có bảo hộ

Hylke Vandenbussche and Christian Viegelahn (2003)

Chủng loại sản phẩm khi có bảo hộ

Năng xuất sản xuất khi có bảo hộ

Mary Amiti and Jozef Konings (2005) Trefler (2004), Head và Ries (1999)

Gaurav Akrani (2013) Chi phí sản xuất khi có bảo hộ Hylke Vandenbussche and Christian Viegelahn (2003)

Khả năng thích ứng khi có bảo hộ

Sự phát triển của doanh nghiệp

Mary Amiti and Jozef Konings (2005) Jelena Borocki - Ilija Cosic - Bojan Lalic - Rado Maksimovic, 2010

Chi tiết các thang đo sau khi hiệu chỉnh từ khảo sát định tính như sau:

3.2.2.1 Thang đo chất lượng sản phẩm

Bảng 3.2: Thang đo chất lượng sản phẩm sau khi hiệu chỉnh

Chất lượng sản phẩm khi có bảo hộ Ký hiệu

Việc bảo hộ sản phẩm có thể làm giảm chất lượng do nguyên liệu sản xuất trong nước chưa đạt tiêu chuẩn như nguyên liệu nhập khẩu trước đây.

Doanh nghiệp phải chuyển sang sản xuất hàng có chất lượng thấp hơn để giảm giá thành CL2

Doanh nghiệp phải chuyển sang sản xuất hàng có chất lượng thấp hơn do không tìm được nguyên liệu thay thế trong nước CL3

Doanh nghiệp khó đáp ứng được những đơn hàng có yêu cầu cao về chất lượng mà trong nước chưa đáp ứng được CL4

3.2.2.2 Thang đo chủng loại sản phẩm

Bảng 3.3: Thang đo chủng loại sản phẩm sau khi hiệu chỉnh

Chủng loại sản phẩm khi có bảo hộ Ký hiệu

Mẫu mã sản phẩm kém đa dạng do nguyên liệu sản xuất trong nước chưa đủ chủng loại như hàng nhập khẩu MM1

Chủng loại sản phẩm giảm tính cạnh tranh hơn so với các đơn vị sản xuât nước ngoài và hàng thay thế MM2

Việc bảo hộ làm giảm năng lực sáng tạo ra các chủng loại sản phẩm mới vì thiếu hoặc không tìm được nguyên liệu trong nước MM3

3.2.2.3 Thang đo năng xuất sản xuất

Bảng 3.4: Thang đo năng xuất sản xuất sau khi hiệu chỉnh

Năng suất sản xuất khi có bảo hộ Ký hiệu

Việc bảo hộ dẫn đến năng suất sản xuất của doanh nghiệp giảm do nguyên liệu trong nước khó làm, hao hụt nhiều NS1

Việc bảo hộ dẫn đến sản lượng giảm do đơn hàng ít hơn do giá nguyên liệu cao NS2

Việc bảo hộ dẫn đến năng xuất không ổn định do giá nguyên liệu cao

Việc bảo hộ dẫn đến năng xuất không ổn định do không mua được nguyên liệu thay thế trong nước NS4

3.2.2.4 Thang đo chi phí sản xuất

Bảng 3.5: Thang đo chi phí sản xuất sau khi hiệu chỉnh

Chi phí sản xuất khi có bảo hộ Ký hiệu

Việc bảo hộ dẫn đến doanh nghiệp mất chủ động trong việc hoạch định chi phí sản xuất do phụ thuộc vào giá nguyên liệu sản xuất trong nước

Việc bảo hộ dẫn đến chi phí giá thành sản phẩm khó cạnh tranh hơn với sản phẩm cùng loại từ nước ngoài và hàng thay thế GIA2

Việc bảo hộ dẫn đến nguy cơ tăng chi phí sản xuất do tiền ẩn độc quyền của nguyên liệu trong nước GIA3

Việc bảo hộ dẫn đến nguy cơ phải mua nguyên liệu nhập khẩu có chi phí giá nguyên liệu cao do bị đánh thuế GIA4

3.2.2.5 Thang đo khả năng thích ứng

Bảng 3.6: Thang đo khả năng thích ứng sau khi hiệu chỉnh

Khả năng thích ứng khi có bảo hộ Ký hiệu

Việc bảo hộ quá sớm dẫn đến doanh nghiệp chưa kịp có lộ trình thích ứng hoàn cảnh mới TU1

Việc bảo hộ dẫn đến giảm tính cạnh tranh của doanh nghiệp cả trong nước và quốc tế TU2

Việc bảo hộ dẫn đến doanh nghiệp bị động trong cạnh tranh cả trong nước và quốc tế TU3

3.2.2.6 Thang đo sự phát triển của doanh nghiệp

Bảng 3.7: Thang đo sự phát triển của doanh nghiệp sau khi hiệu chỉnh

Sự phát triển của doanh nghiệp Ký hiệu

Việc bảo hộ dẫn đến doanh nghiệp có nguy cơ bị thu hẹp thị phần

Việc bảo hộ có thể làm giảm lợi nhuận và quy mô sản xuất của doanh nghiệp, đồng thời khiến doanh nghiệp không thể chủ động trong việc lập kế hoạch phát triển dài hạn.

3.2.4 Tóm lược quy trình thực hiện nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện bằng cả hai phương pháp định tính và định lượng Đầu tiên, phương pháp định tính sử dụng phỏng vấn sâu với 5 khách hàng trong ngành sản xuất thép không rỉ để xác định các thành phần chính trong mô hình và điều chỉnh bảng phỏng vấn Tiếp theo, nghiên cứu định lượng được tiến hành với kích thước mẫu tối thiểu 109 để đáp ứng yêu cầu phân tích, bao gồm phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích hồi quy.

Chương này giới thiệu các thang đo quan trọng trong nghiên cứu, bao gồm thang đo chất lượng sản phẩm, thang đo chủng loại sản phẩm, thang đo năng suất sản xuất, thang đo chi phí sản xuất, thang đo khả năng thích ứng và thang đo sự phát triển của doanh nghiệp.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ƯỚC LƯỢNG

Ngày đăng: 10/06/2021, 09:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Trọng và Chu Mộng Ngọc (2008), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, Trường Đại Học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, NXB Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS
Tác giả: Hoàng Trọng và Chu Mộng Ngọc
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2008
2. Nguyễn Đình Thọ (2011), Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh
Tác giả: Nguyễn Đình Thọ
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động - Xã hội
Năm: 2011
3. Tổng cục Hải quan (Bản quyền 2005-2013), Số liệu thống kế Hải quan, http://www.customs.gov.vn/Lists/ThongKeHaiQuan/Default.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu thống kế Hải quan
4. Tổng cục Hải quan Việt Nam (2013), Niên giám Hải quan trên Thương mại hàng hóa, Nhà xuất bản Nam Hải - Tổng cục Việt Nam Hải quan, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám Hải quan trên Thương mại hàng hóa
Tác giả: Tổng cục Hải quan Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Nam Hải - Tổng cục Việt Nam Hải quan
Năm: 2013
5. Tổng cục Thống kê, Số liệu thống kế, Trung tâm Tư liệu và Dịch vụ Thống kê https://gso.gov.vn/Default.aspx?tabid=706&ItemID=13412 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu thống kế
6. Tổng cục Thống kê (2014), Thông tin thống kê hàng hóa Tháng 1; Tháng 2; Tháng 3; Tháng 4, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin thống kê hàng hóa Tháng 1; Tháng 2; Tháng 3; Tháng 4
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2014
1. A Zugarramurdi, M.A. Parin, L. Gadaleta, G. Carrizo, H.M. Lupin (2004), “The effect of improving raw material quality on product quality and operating costs: a comparative study for lean and fatty fish,” Food Control, Volume 15, Issue 7, October 2004, Pages 503–509 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effect of improving raw material quality on product quality and operating costs: a comparative study for lean and fatty fish,” "Food Control
Tác giả: A Zugarramurdi, M.A. Parin, L. Gadaleta, G. Carrizo, H.M. Lupin
Năm: 2004
2. Aggarwal, Aradhna (2010), “Trade Effects of Anti-dumping in India: Who Benefits?” International Trade Journal, Vol. 25, No. 1, pp. 112-158 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trade Effects of Anti-dumping in India: Who Benefits"?” International Trade Journal
Tác giả: Aggarwal, Aradhna
Năm: 2010
3. Antonia Diakantoni and Hubert Escaith, (2012), Reassessing Effective Protection Rates in a Trade in Tasks Perspective: Evolution of trade policy in "Factory Asia", World Trade Organization Sách, tạp chí
Tiêu đề: Factory Asia
Tác giả: Antonia Diakantoni and Hubert Escaith
Năm: 2012
4. David Ricardo (1817), On the Principles of Political Economy and Taxation, Batoche Books. Economics, Vol. 39(1-2), pp. 53-78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: On the Principles of Political Economy and Taxation," Batoche Books. "Economics
5. Farooq, M., M. A. Mian and A. Asghar (2001), Factors affecting cost of production and net profit per broiler in the subtropics, Poultry Science Department, NWFP,Agricultural, University, Peshawar Sách, tạp chí
Tiêu đề: Factors affecting cost of production and net profit per broiler in the subtropics
Tác giả: Farooq, M., M. A. Mian and A. Asghar
Năm: 2001
6. Gaston, Noel, and Daniel Trefler (1997), “The Labour Market Consequences of the Canada-U.S. Free Trade Agreement,” Canadian Journal of Economics, Vol. 30(1), pp. 18-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Labour Market Consequences of the Canada-U.S. Free Trade Agreement,” "Canadian Journal of Economics
Tác giả: Gaston, Noel, and Daniel Trefler
Năm: 1997
7. Gaurav Akrani (2013), Eight Important Factors that Affect Productivity: http://kalyan-city.blogspot.com/2013/03/factors-that-affect-productivity.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Eight Important Factors that Affect Productivity
Tác giả: Gaurav Akrani
Năm: 2013
8. Gliem Joseph A., Gliem Rosemary R. (2003), Calculating, Interpreting, and Reporting Cronbach’s Alpha Reliability Coefficient for Likert-Type Scales, Midwest Research-to-Practice Conference in Adult, Continuing, and Community Education Sách, tạp chí
Tiêu đề: Calculating, Interpreting, and Reporting Cronbach’s Alpha Reliability Coefficient for Likert-Type Scales
Tác giả: Gliem Joseph A., Gliem Rosemary R
Năm: 2003
9. Hair Joseph F., Black William C., Babin Barry J., Anderson Rolph E. (2009), Multivariate Data Analysis, 7 th edition, Prentical-Hall Publisher Sách, tạp chí
Tiêu đề: Multivariate Data Analysis
Tác giả: Hair Joseph F., Black William C., Babin Barry J., Anderson Rolph E
Năm: 2009
10. Head, Keith, and John Ries (1999), “Rationalization Effects on Tariff Reductions,” Journal of International Economics, Vol. 47(2), pp. 295-320 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rationalization Effects on Tariff Reductions,” "Journal of International Economics
Tác giả: Head, Keith, and John Ries
Năm: 1999
11. Head, Keith, and John Ries (1999), “Rationalization Effects on Tariff Reductions,” Journal ofInternational Economics, Vol. 47(2), pp. 295-320 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rationalization Effects on Tariff Reductions,” "Journal ofInternational Economics
Tác giả: Head, Keith, and John Ries
Năm: 1999
12. Hecher-Ohlin-Samuelson (2006), The Heckscher-Ohlin-Samuelson model, Karp International Trade Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Heckscher-Ohlin-Samuelson model
Tác giả: Hecher-Ohlin-Samuelson
Năm: 2006
13. Hufbauer, G.C. and Elliott, K.A. (1994), Measuring the Costs of Protection in the United States, Institute for International Economics, Washington DC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hufbauer, G.C. and Elliott, K.A. (1994), "Measuring the Costs of Protection in the United States
Tác giả: Hufbauer, G.C. and Elliott, K.A
Năm: 1994
21. Jelena Borocki - Ilija Cosic - Bojan Lalic - Rado Maksimovic (2011), Analysis of Company Development Factors in Manufacturing and Service Company: a Strategic Approach: http://www.sv-jme.eu/search-the-articles/?id=31 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm