Chúng ta có thể xem xét một số khái niệm về NHTM như sau: Theo pháp lệnh Ngân hàng năm 2019 của Lào có qui định: “NHTM là một tổ chức tài chính được phép hoạt động kinh doanh ngân hàng,
Trang 1SILISITH XAYSOMPHENG
MÔ HÌNH TOÁN HỌC LOGIT – PROBIT HỒI QUY VÀ SCORE TRONG PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁO NỢ XẤU TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NAYOBY CHI NHÁNH TỈNH
Z-OUDOMXAY - LÀO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÁY TÍNH
THÁI NGUYÊN – 2020
Trang 2SILISITH XAYSOMPHENG
MÔ HÌNH TOÁN HỌC LOGIT – PROBIT HỒI QUY VÀ SCORE TRONG PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁO NỢ XẤU TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NAYOBY CHI NHÁNH TỈNH
Z-OUDOMXAY - LÀO
Chuyên ngành : Khoa học máy tính
Mã số chuyên ngành : 848 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÁY TÍNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
PGS.TS Nguyễn Văn Huân
Thái Nguyên – Năm 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là XAYSOMPHENG silisith, học viên lớp K17A – Khoa học máy tính, Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông Thái Nguyên
Tôi xin cam đoan đề tài Mô hình toán học Logit - Probit hồi quy và Z-score trong phân tích và dự báo nợ xấu tín dụng tại ngân hàng NAYOBY chi nhánh tỉnh Oudomxay - Lào do Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Văn Huân hướng dẫn, là công trình nghiên cứu do bản thân tôi thực hiện, dựa trên sự hướng dẫn của Thầy giáo hướng dẫn khoa học và các tài liệu tham khảo đã trích dẫn
Tôi xin chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình
Thái Nguyên, Ngày 09 tháng 11 năm 2020
Học viên
XAYSOMPHENG silisith
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn khoa học
PGS.TS Nguyên Văn Huân về những chỉ dẫn khoa học, định hướng nghiên cứu và
tận tịnh hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Tôi xin cảm ơn các Thầy trong việc Công Nghệ Thông Tin, các Thầy, Cô giáo trong trường Đại học Công Nghệ Thông Tin và Truyền Thông – Đại học Thái Nguyên đã cung cấp cho tôi những kiến trúc vô cùng quý báu và cần thiết trong suốt thời gian học tập tại trường để tôi có thể thực hiện và hoàn thành tốt để đồ án chuyên ngành này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới Chính phủ Lào và Chính phủ Việt Nam, Bộ Giáo dục và Thể thao Lào, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đã tạo điều kiện cấp suất học bổng cao học này cho tôi Xin trân trọng cảm ơn sâu sắc nhất tới Ban Lãnh đạo Viện Khoa học xã hội quốc gia Lào, Trung tâm Thông tin Khoa học
xã hội Lào đã tạo điều kiện và luôn ủng hộ tôi
Với thời gian nghiên cứu còn hạn chế, ngôn ngữ còn khiêm tốn, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được các ý kiến đóng góp chân thành từ các thầy cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè
Cuối cùng, tôi xin cản ơn gia đình và bạn bè, những người đã luôn ủng hộ và động viên tôi, giúp tôi yên tâm và có tâm lý thuận lợi nhất để tôi nghiên cứu luân văn này Tuy nhiên do giới hạn về mặt thời gian và kiến thức nên đồ án chắc chắn
sẽ không tránh khỏi những sai sót ngoài ý muốn Tôi rất mong nhận được sự thông cảm và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, đồng nghiệp và bạn bè
Thái Nguyên, Ngày 09 tháng 11 năm 2020
Học viên
XAYSOMPHENG silisith
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ VÀ SÔ ĐỒ vii
DANH MỤC HÌNH ẢNH viii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: 3
TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 3
1.1 Hoạt động chung của ngân hàng: 3
1.1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại: 3
1.1.1.1 Khái niệm: 3
1.1.1.2 Các hoạt động của Ngân hàng thương mại: 4
1.1.1.3 Tín dụng và đặc trưng của tín dụng: 7
1.2 Nợ xấu của các Ngân hàng thương mại 11
1.2.1 Khái niệm: 11
1.2.2 Các quan điểm về nợ xấu của Ngân hàng thương mại: 12
1.2.3 Nguyên nhân phát sinh nợ xấu: 14
1.2.3.1 Nhóm các nguyên nhân khách quan: 15
1.2.3.2 Nhóm nguyên nhân chủ quan: 17
1.2.4 Các tác động của nợ xấu: 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 21
CHƯƠNG 2: 22
TỔNG QUAN VỀ CÁC MÔ HÌNH TRONG CẢNH BẢO NỢ XẤU NGÂN HÀNG VÀ GIỚI THIỆU MÔ HÌNH LOGIT-PROBIT VÀ Z-SCORE 22
2.1 Tổng quan về các mô hình trong cảnh bảo nợ xấu tín dụng: 22
2.1.1 Nghiên cứu mô hình CAEL cảnh báo nợ xấu tín dụng: 22
Trang 62.1.2 Giới thiệu mô hình CAEL: 22
2.2 Nghiên cứu mô hình chất lượng 6C 24
2.2.1 Mô hình định tính – Mô hình 6C: 24
2.3 Nghiên cứu mô hình xếp hạng của Moody và Standard & Poor: 25
2.3.1 Mô hình xếp hạng các ngân hàng của Moody’s 26
2.3.2 Mô hình của Standard & Poor’s (S&P): 26
2.4 Mô hình toán học Logit-Probit hồi quy trong cảnh báo nợ xấu tín dụng: 29 2.4.1 Mô hình hồi quy theo biến giá (Qualitative Respones Regression Model) 29 2.4.2 Mô hình Logit: 29
2.4.2.1 Đặc điểm mô hình Logit trong việc đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng 30
2.4.2.2 Cơ sở toán học và các khái niệm liên quan nghiên cứu liên quan đến mô hình Logit 33
2.4.2.3 Đặc điểm của mô hình Logit: 37
2.4.3 Mô hình Probit: 40
2.4.3.1 Giới thiệu mô hình Probit: 40
2.4.3.2 Đặc điểm của mô hình Probit: 42
2.5 Mô hình Z-Score và điểm số tín dụng tiêu dùng: 43
2.5.1 Giới thiệu về mô hình: 43
2.5.2 Cơ sở toán học và các khái niệm liên quan: 43
2.5.3 Đặc điểm của mô hình Z-Score: 45
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 46
CHƯƠNG 3: DỰ BÁO NỢ XẤU DỰA VÀO MÔ HÌNH LOGIT-PROBIT TRÊN PHẦN MỀM EVIEWS 8 VÀ DỰ BÁO PHÁ SẢN DỰA VÀO MÔ HÌNH Z-SCORE 48
3.1 Giới thiệu về Ngân hàng NAYOBY Lào: 48
3.1.1 Giới thiệu về ngân hàng: 48
3.1.2 Hoạt động của Ngân hàng NAYOBY Lào: 51
3.1.3 Nguồn dữ liệu và thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng NAYOBY, chi nhánh tỉnh Oudomxay - Lào: 53
Trang 73.1.3.1 Nguồn dữ liệu của ngân hàng NAYOBY: 53
3.1.3.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng NAYOBY: 53
3.1.3.3 Quy trình tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp: 56
3.2 Dự báo nợ xấu dựa trên mô hình toán học Logistic - Probit hồi quy tại NHNBB trên phần mềm Eviews 8.0: 59
3.2.1 Mô hình hồi quy Logistic - Probit: 59
3.2.1.1 Ứng dụng phần mềm Eviews 8.0 60
3.3 Dự báo phá sản dựa trên mô hình Z-Score tại các Doanh nghiệp khách hàng của Ngân hàng 69
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 78
NGUỒN DỮ LIỆU 80
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NBB Ngân hàng NAYOBY Lào
CSXH Chính sách xã hội
NHCSXH Ngân hàng Chính sách xã hội
BCTC Báo cáo tài chính
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế (The International Monetary Fund)
ECB Ngân hàng Trung ương Châu Âu (The European Central Bank) NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NQH Nợ quá hạn
KHDN Khách hàng doanh nghiệp
KHCN Khách hàng cá nhân
Moody’s Moody’s Invertors Service
S&P Standard & Poor
Trang 9DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ VÀ SÔ ĐỒ
Bảng 2.1 Xếp hạng của Moody’s và Standard & Poor 27
Bảng 2 2 Thang điểm đánh giá tín nhiệm ngân hàng của S&P (từ cao đến thấp) 28
Bảng 2 3 Cấu trúc các biến trong mô hình Logit 30
Bảng 2 4 Các biến để ước lượng LLR trong mô hình của Irakli Ninua 34
Bảng 3 1 Dư nợ tín dụng KHCN theo thời gian cho vay tại NBB 55
Bảng 3 2 Phân tích nợ xấu theo nhóm nợ tại NBB 55
Bảng 3 3 Mô tả thống kê các biến của mô hình 62
Bảng 3 4 Ma trận tương quan giữa các biến 63
Bảng 3 5 Kiểm định điểm dừng của EBITA 63
Bảng 3 6 Kiểm định điểm dừng EQUITYA 64
Bảng 3 7 Kiểm định điểm dừng LTLA 65
Bảng 3 8 Kiểm định tính dừng của SALESA 65
Bảng 3 9 Biến xác suất phá sản của 10 doanh nghiệp 67
Bảng 3 10 Kiểm định tính dừng của biến PD 69
Bảng 3 11 Các biến độc lập mô hình Z-Score 71
Sơ đồ 1 1 Các nguyên nhân gây ra nợ xấu 19
Biểu đồ 3 1 Sự biến động của xác xuất phá sản của Ngân hàng NBB 68
Trang 10DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2 1 Mô hình hồi quy theo biến giả (Qualitative Respones Regression Model)
29
Hình 2 2 Đồ thị mô hình Logit 31
Hình 2 3 Đồ thị mô hình Probit 41
Hình 3 1 Cơ cấu tổ chức của NBB chi nhánh tỉnh Oudomxay 49
Hình 3 2 Phần mềm Eviews 8.0 60
Hình 3 3 Lặp bảng để phân tích mô hình Logit 60
Hình 3 4 Nhập dữ liệu vào 61
Hình 3 5 Mô hình thống kê các biến của mô hình 61
Hình 3 6 Ma trận tương quan giữa các biến 62
Hình 3 7 Nhập dữ liệu vào để phân tích Z-Score 68
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
Như đã biết cùng với sự đổi mới của nền kinh tế hệ thống Ngân hàng đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế trong nước cũng như sự phát triển kinh tế toàn cầu Trong kinh tế thị trường, hệ thống Ngân hàng hoạt động thông suốt, lành mạnh và hiệu quả là tiền đề để các nguồn lực tài chính luân chuyển, phân bố và sử dụng hiệu quả, kích thích tăng trưởng kinh tế một cách bền vững
Nợ xấu ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của nền kinh tế cũng như sự tồn tại
và phát triển của toàn bộ hệ thống ngân hàng Do vậy nợ xấu không chỉ là vấn đề của các ngân hàng cần phải giải quyết mà cần phải có sự chỉ đạo chung của Nhà nước Các Ngân hàng cần nhận thức đúng về nợ xấu, đồng thời tìm và phân tích được nguyên nhân để từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục phù hợp Nếu các ngân hàng có tình che dấu nợ xấu thì sẽ không phản ánh đúng được thực trạng của toàn
hệ thống ngân hàng và hậu quả là ảnh hưởng đến nguồn cung cấp vốn cho nền kinh
tế
Điều không thể phủ nhận trong kinh tế thị trường, rủi ro trong kinh doanh là không thể tránh khỏi, đặc biệt trong rủi ro hoạt động kinh doanh ngân hàng Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng nợ xấu và những rủi ro tín dụng… ảnh hưởng tiêu cực hay tích cực đến đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của một đất nước
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới giáo viên hướng dẫn PGS.TS Nguyễn
Văn Huân đã trực tiếp hướng dẫn, truyền đạt nhiều kinh thức, kinh nghiệm trong
quá trình em làm thực tập cơ sở cũng như trong hoàn thành báo cáo
Vì vậy em tiến hành thực hiện đề tài: “Mô hình toán học Logit - Probit hồi
quy và Z-Score trong phân tích và dự báo nợ xấu tín dụng tại Ngân hàng Nayoby Chi nhánh tỉnh Oudomxay - Lào”
Trang 122 Mục tiêu của đề tài:
- Dự báo nợ xấu tín dụng Ngân hàng từ đó giảm thiểu nợ xấu tín dụng, rủi ro nợ
xấu tín dụng và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh Ngân hàng
- Đới tượng nghiên cứu: dự báo nợ xấu của Ngân hàng Thương mại
- Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu một số nội dung nợ xấu tại Ngân hàng NAYOBY, chi nhánh tỉnh Oudomxay - Lào
- Thời gian nghiên cứu: những vấn đề thực trạng nợ xấu tại Ngân hàng
NAYOBY, chi nhánh tỉnh Oudomxay - Lào từ năm 2016 - 2018
- Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích, điều tra, phân tích tổng hợp, so sánh và các phương pháp khác… để giải quyết vấn đề đặt ra
Trang 13CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
1.1 Hoạt động chung của ngân hàng:
1.1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại:
1.1.1.1 Khái niệm:
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh
tế Tùy thuộc vào tính chất và mục tiêu hoạt động cũng như sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống kinh tế nói riêng Ngân hàng bao gồm Ngân hàng thương mại, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại Ngân hàng khác, trong đó Ngân hàng thương mại thường chiếm tỷ trong lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các Ngân hàng Ngân hàng thương mại được xem là một trung gian tài chính có chức năng dẫn vốn
từ nơi có khả năng cung ứng vốn đến những nơi có nhu cầu về vốn nhằm tạo điều kiện cho đầu tư phát triển kinh tế Chúng ta có thể xem xét một số khái niệm về NHTM như sau:
Theo pháp lệnh Ngân hàng năm 2019 của Lào có qui định:
“NHTM là một tổ chức tài chính được phép hoạt động kinh doanh ngân hàng, dịch vụ tiền gửi, tín dụng, thanh toán, kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật”
Theo luật các tổ chức tài chính (TCTC) của Lào do Quốc hội khóa VIII lần thứ 6 thông qua ngày 07/12/2018 thì: Ngân hàng có thể đại diện cho các dịch vụ tài chính, cung cấp các dịch vụ tư vấn tài chính và đầu tư, lưu trữ các vật có giá trị và cung cấp các dịch vụ khác theo ủy quyền của Ngân hàng Nhà nước Lào Trong đó
Tổ chức tài chính là các ngân hàng thương mại, tổ chức tài chính vi mô, liên hiệp
tín dụng và tiết kiệm, nhà máy, công ty cho thuê tín dụng và các tổ chức tài chính
Trang 14khác thuộc thẩm quyền của Ngân hàng Quốc gia Lào theo luật và quy định hiện hành
Ngoài ra, NHTM là ngân hàng thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan về mục đích lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước Trong đó hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng với nội dung thường xuyên là tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán
Nếu xét trên phương diện những loại hình dịch vụ mà Ngân hàng cung cấp thì NHTM là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong kinh tế Như vạy, có thể nói NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh với tiền
tệ với hoạt động thường xuyên là huy động vốn, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cung cấp các dịch vụ tài chính và các hoạt động khác có liên quan Ngoài ra, NHTM còn
là một định chế tài chính trung gian cực kì quan trọng trong nền kinh tế thị trường Nhờ vào hệ thống này mà các nguồn tiền nhàn rỗi vốn nằm rải rác trong xã hội sẽ được huy động và tập trung lại với số lượng đủ lớn để cấp tín dụng cho các Tổ chức kinh tế xã hội (TCKT), cá nhân nhằm mục dịch phục vụ phát triển kinh tế - xã hội
sự có mặt của NHTM trong hầu hết các hoạt động của nền kinh tế - xã hội đã chứng minh rằng: Ở đâu có một hệ thống NHTM phát triển thì ở đó sẽ có sự phát triển với tốc độ cao của kinh tế - xã hội và ngược lại
1.1.1.2 Các hoạt động của Ngân hàng thương mại:
➢ Hoạt động huy động vốn:
Đây là một nghiệp vụ đặc biệt trung trong hoạt động kinh doanh của NHTM,
có ý nghĩa quan trọng đối với sự tăng trưởng và phát triển của Ngân hàng Các NHTM có thể huy động các nguồn vốn từ các tổ chức kinh tế và dân cư bằng nhiều hình thức khác nhau như sau:
Trang 15❖ Hoạt động nhận tiền gửi thường chiếm tỉ trọng rất cao trong tổng nguồn huy động của NHTM do các Ngân hàng đã chú trọng đến việc đa dạng hóa các loại tiền gửi không kì hạn, tiền gửi có kì hạn, trong mỗi loại lại chia thành nhiều loại khác nhau để đáp ứng nhu cầu của khách hàng
❖ Ngân hàng có thể huy động vốn từ dân cư, tổ chức kinh tế bằng cách bán cho họ các trái phiếu do Ngân hàng phát hành, đây là hình thức hay được sử dụng vì thời gian huy động vốn rất ngắn trong khi lãi suất có được lại lương đối cao, do đó Ngân hàng thường phát hành trái phiếu khi cần vốn đột xuất
❖ Ngoài các hình thức huy động vốn trên, các Ngân hàng có thể huy động vốn vay bằng cách vay Ngân hàng Trung ương và các tổ chức tín dụng khác Ở Lào, Hình thức này chịu sự quản lí của Ngân hàng Trung ương cả về khối lượng đi vay và lãi suất đi vay Do vậy, trong bảng tổng kết tài chính của các NHTM khoản đi vay này chiếm tỷ trọng nhỏ so với tổng huy dộng vốn của Ngân hàng
➢ Hoạt động sử dụng vốn:
Ngân hàng huy động và sử dụng vốn đó cho vay và đầu tư để hưởng doanh lợi Cho vay là hình thức thông dụng nhất ở các định chế tài chính nói chung và NHTM nói riêng ở khắp các nơi trên thế giới Ở Lào hoạt động cho vay là hoạt động mang tính lợi nhuận cao nhất cho các Ngân hàng và có ý nghĩa sống còn đối với Ngân hàng
Cho vay là một nghiệp vụ trong đó một thể nhân hoặc một pháp nhân gọi là người cho vay để cho một người khác gọi là người đi vay sử dụng một số tiền với cam kết hoàn trả lãi theo Chính vì thế, có thể nói: “Ngân hàng là người đi vay để cho vay”, số tiền để Ngân hàng sử dụng cho vay xuất phát từ nguồn vốn mà Ngân hàng huy động được Lợi nhuận thu được của Ngân hàng phụ thuộc vào khoản chênh lệch giữa chi phí huy động nguồn và lãi suất Ngân hàng cho vay
Qua các lý luận về hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn nói trên của Ngân hàng có thể thấy Ngân hàng thực hiện chức năng là người trung gian đứng ra dàn xếp giữa người thừa vốn và người thiếu vốn Thông qua hoạt động cho vay, Ngân
Trang 16hàng kiểm soát khối lượng tiền trong lưu thông, tăng vòng quay vốn của nền kinh
tế, làm cho khối lượng tiền tệ trong ngành kinh tế không ngừng vận động và sinh lợi
➢ Thực hiện các dịch vụ khác cho khách hàng:
Ngày nay, hoạt động dịch vụ của NHTM trên thế giới đem lại một mức lợi nhuận khổng lồ cho Ngân hàng (chiếm khoảng 75% tổng số lợi nhuận Ngân hàng), nhưng ở Lào thì con số này thật khiêm tốn, chỉ chiếm khoảng 25% Do vậy, vấn đề
đa dạng hóa các hoạt động dịch vụ ở Ngân hàng đang được rất quan tâm Các dịch
vụ này bao gồm:
Hoạt động điện tử liên quan đến Ngân hàng: gồm việc nối mạng từ các máy tính của Ngân hàng và máy tính của khách hàng, chủ yếu là các công ty để trao đổi các thông tin dữ liệu giúp cho các công ty quản lí nguồn vốn của mình có hiệu quả hơn
Đảm bảo an toàn vật có giá: Đây là một dịch vụ lâu đời nhất của NHTM Do Ngân hàng có đội ngũ nhân viên bảo vệ và có các kết sắt giữ tiền rất quan trọng, nên khách hàng có thể khi gửi các tài sản quý, những giấy tờ có giá trị… Dịch vụ nhận tiền gửi qua đêm Ở nước ta hiện nay dịch vụ này chưa có nhưng trong tương lai sẽ dần hình thành vì thu nhập của dân hiện nay càng tăng lên, đồng nghĩa với việc các tài sản quý mà người dân sở hữu cũng tăng lên và từ đó phát sinh nhu cầu được bảo vệ và đây cũng là lúc Ngân hàng phát huy chức năng quan trọng của mình
Các nghiệp vụ ủy thác: Ngân hàng nhận úy thác từ các khách hàng để quản trị các tài sản khác Có thể chia thành 2 loại tài sản bằng tiền và hiện vật, phần đông khách hàng ủy thác cho Ngân hàng quản trị tài sản bằng tiền, kí gửi vào một tài khoản, ủy thác cho Ngân hàng quản trị một mình hay cùng với người khác Ngoài
ra, Ngân hàng cũng được ủy thác quản trị tài sản của người cầm cố, của vị thành niên…
Trang 17Các dịch vụ kinh doanh khác: Những dịch vụ khác bao gồm nhiều loại như đảm bảo tài sản tín dụng, mua các khoản sẽ thu của các công ty, phát hành thẻ làm tín dụng, làm dịch vụ tư vấn thuê mua…
Có thể thấy hoạt động của NHTM là vô cùng phong phú và đa dạng, trong đó hoạt động nhận tiền gửi và cho vay chiếm tỷ trọng hàng đầu Thông qua các nghiệp
vụ này, NHTM đã chứng tỏ với vai trò quan trọng không thể thiếu của mình trong mỗi quốc gia
1.1.1.3 Tín dụng và đặc trưng của tín dụng:
➢ Khái niệm:
Khái niệm tín dụng đã xuất hiện từ rất lâu, nó xuất phát từ gốc La Tinh CREDITUM có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm hay chính là lòng tin Theo cách biểu hiện nay thì tín dụng là quan hệ vay vốn lẫn nhau dựa trên sự tin tưởng số vốn
đó sẽ được hoàn trả vào một thời điểm xác định trong tương lai
Mác cho rằng: “Tín dụng là quá trình chuyển nhượng tạm thời một lượng giá
trị từ người sở hữu đến người sử dụng, sau một thời gian nhất định thu hồi một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu” Có thể hiểu tổng quát về khái niệm tín
dụng: Tín dụng là quan hệ cuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng sau một thời gian dài nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn so với giá trị ban đầu
Mối quan hệ tín dụng bao gồm 2 mặt cơ bản là quan hệ cho vay và quan hệ hoàn trả được thể hiện như sau:
(1) Người vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật, hàng hóa, máy móc, thiết bị, bất động sản
(2) Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một khoảng thời gian nhất định, khi hết thời gian theo thỏa thuận người đi vay phải trả cho người cho vay Thông thường, giá trị khi hoàn trả phải lớn hơn giá trị cho vay, nói cách khác người đi vay phải nhận thêm một phần lợi tức
Trang 18➢ Đặc điểm của tín dụng:
Mối quan hệ tín dụng phải thỏa mãn 4 đặc trưng: Lòng tin, tính hoàn trả, tính thời hạn và ấn chứa nhiều khả năng rủi ro cao
Một là, Quan hệ tín dụng dựa trên lòng tin Người ta chỉ cho vay khi người ta
tin tưởng, người đi vay có ý muốn trả nợ và có khả năng trả nợ Đồng thời người ta tin rằng người sử dụng lượng giá trị đó sẽ thu được lượng giá trị cao hơn, đặt hiệu quả sau một thời gian dài nhất định, người cho vay cũng tin tưởng người đi vay và
có ý muốn trả nợ thì quan hệ tín dụng mới xảy ra Như vậy có thể nói đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ tín dụng
Hai là, Tính hoàn trả Đối với quan hệ tín dụng thì đây là đặc trưng cơ bản và
sự hoàn trả là tiêu chuẩn phân biệt quan hệ tín dụng với các quan hệ tài chính khác Trong tính hoàn trả thì lượng vốn chuyển nhượng phải được hoản trả đúng hạn về
cả thời gian và về giá trị bao gồm 2 bộ phần: Gốc và lãi Phần lãi đảm bảo cho lượng giá trị hoàn trả lớn hơn lượng giá trị ban đầu Sự chênh lệch này là giá trả cho quyền sử dụng vốn tạm thời Nói cách khác, nó là giá trị cho sự sinh quyền sử dụng vốn hiện tại của người sở hữu, vì thế nó phải đủ hấp dẫn để cho người sở hữu có thể sẵn sàng hy sinh quyền sử dụng nó Mặt khác nếu không có sự hoàn trả thì đó làm quan hệ tín dụng không hoàn hảo
Ba là, Tính thời hạn: Xuất phát từ bản chất của tín dụng là sự tín nhiệm người
cho vay tin tưởng người đi vay sẽ hoàn trả vào một ngày trong tương lai Người đi vay chỉ được sử dụng trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời gian như thỏa thuận, người đi vay hoàn trả cho người cho vay
Bốn là, Tín dụng ấn chứa nhiều khả năng rủi ro Do sự không cân xứng về
thông tin và người cho vay không hiểu rõ hết về người đi vay Một mối quan hệ tín dụng được gọi là hoàn hảo nếu người đi vay hoàn trả được đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn
Tuy nhiên trong thực tế không phải lúc nào cũng diễn ra một cách trôi chảy, không hiếm trường hợp người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ của mình đối với chủ nợ do các nguyên nhân khách quan hay chủ quan gây ra Đó là trường hợp
Trang 19khi đến hạn hoàn trả vốn vay, người đi vay không thể thực hiện được việc trả nợ cho người vay dẫn đến các khoản nợ bị quá hạn Nợ xấu là biểu hiện không lành mạnh của quá trình hoạt động tín dụng, là báo hiệu sự rủi ro
➢ Các hình thức tín dụng:
Khi nền kinh tế chuyển sang nền kinh tế thị trường hoạt động của NHTM cũng giống như các Doanh nghiệp khác đều chịu tác động của các quy định luật kinh tế Điều này đòi hỏi các sản phẩm mà Ngân hàng cung ứng ra thị trường ngày càng phải đa dạng và phong phú phù hợp với nhu cầu của khách hàng nhưng vẫn phải đảm bảo được tính an toàn Chính vì vậy cần tiến hành phân loại tín dụng để có thể
sử dụng và quản lí hiệu quả
✓ Căn cứ vào thời hạn tín dụng thường phân thành: Tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn và tín dụng dài hạn
❖ Tín dụng ngắn hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn không quá 12
tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chỉ tiêu ngắn hạn của cá nhân
❖ Tín dụng trung hạn: Là các khoản vay có thời hạn từ 12 tháng đến 5
năm Tín dụng trung hạn thường được để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, xây dựng các dự án quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh Trong nông nghiệp chủ yếu cho vay
là để đầu tư các đối tượng xây dựng các vườn cây công nghiệp…
❖ Tín dụng dài hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn trên 5 năm Mục
đích sử dụng vốn vay gần như tín dụng trung hạn nhưng với quy mô lớn, thời hạn thu hồi vốn lâu hơn
✓ Căn cứ vào mục đích cho vay có: Tín dụng bất động sản, tín dụng công nghiệp và thương mại…
❖ Tín dụng bất động sản là loại tín dụng có liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản
Trang 20❖ Tín dụng công nghiệp và thương mại là loại tín dụng ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ
❖ Tín dụng công nghiệp là loại tín dụng cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như phân bón, giống cây…
❖ Cho vay các định chế tài chính bao gồm các khoản tín dụng cho các Ngân hàng, các công ty cho thuê tài chính, quỹ tín dụng và các định chế tài chính khác
❖ Cho vay cá nhân là loại vay đáp ứng các nhu cầu chi tiêu
❖ Cho thuê bao gồm cho thuê tài chính và cho thuê vận hành
✓ Căn cứ vào mức độ tín nhiệm với khách hàng có: Tín dụng không đảm bảo và tín dụng có đảm bảo
❖ Tín dụng không đảm bảo là loại tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm
cố hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba
❖ Tín dụng có đảm bảo là loại cho vay dựa trên việc thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh
✓ Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển vốn: Tín dụng vốn lưu động và tín dụng vốn cố định
❖ Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được cung cấp để bổ sung vốn lưu động cho các khách hàng vay vốn trong khi nguồn vốn tự có của họ không đủ để thực hiện phương án sản xuất kinh doanh
❖ Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng được cấp bổ sung để hình thành nên TSCĐ cho các khách hàng vay vốn trong kho các nguồn vốn khác không đủ để thực hiện dự án
✓ Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng: Tín dụng bằng tiền và tín dụng bằng tài sản
❖ Tín dụng bằng tiền: Là loại tín dụng mà hình thái giá trị của tín dụng được cấp bằng tiền
Trang 21❖ Tín dụng bằng tài sản: Là tín dụng mà hình thái giá trị của tín dụng được cấp bằng tài sản Đối với NHTM thì hình thức tín dụng này thể hiện chủ yếu dưới hình thức tín dụng thuê mua
✓ Căn cứ vào phương pháp cho vay Dựa vào căn cứ này tín dụng được chia làm hai loại tín dụng trực tiếp và tín dụng gián tiếp
❖ Tín dụng trực tiếp: Là loại tín dụng mà người vay trực tiếp nhận tiền vay
và trực tiếp hoản trả nợ cho vay cho NHTM
❖ Tín dụng gián tiếp: Là loại tín dụng mà quan hệ tín dụng thông qua hay liên quan đến người thứ ba
✓ Căn cứ vào phương pháp hoàn trả: Tín dụng trả góp, tín dụng phi trả góp
và tín dụng theo yêu cầu
❖ Tín dụng trả góp: Là loại tín dụng mà khách hàng phải trả cả gốc và lãi theo định kỳ Loại tín dụng này chủ yếu được áp dụng trong cho vay bất động sản nhà ở, thương mại, cho vay tiêu dùng, cho vay đối với những người kinh doanh nhỏ, cho vay để mua sắm máy móc thiết bị,…
❖ Tín dụng phi trả góp: Là loại tín dụng được thanh toán một lần theo đúng
kì hạn đã thỏa thuận và thường cho vay vốn lưu động
❖ Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu: Là loại tín dụng mà người vay có thể hoàn trả bất cứ lúc nào khi có thu nhập Ngân hàng không ấn định thời hạn nào, áp dụng cho vay thấu chi
1.2 Nợ xấu của các Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm:
Trong các sách giáo khoa tài chính nước ngoài Nợ xấu được hiểu là các khoản
nợ hầu như không có khả năng được thanh toán và bắt buộc phải xử lí bằng bút toán xóa nợ
Theo quy định về mua sắm nợ và trích khấu hao do tổ chức tài chính vi mô của NHNN Lào phân loại Số 02/BOL ngày 4/2/2015 của NHNN Lào cho biết về
nợ xấu:
Trang 22“Nợ khó đòi là khoản nợ có một hoặc nhiều điều kiện sau đây: Các khoản nợ
đã được coi là không được hoàn lại hoặc bất kỳ phần nào của số dư nợ không được đảm bảo đầy đủ.”
“Khi đến kì hạn trả nợ gốc hoặc lãi, nếu khách hàng không trả nợ đúng hạn
và không được điều chỉnh kỳ hạn nợ gốc hoặc lãi không được gia hạn nợ gốc hoặc lãi, thì tổ chức tín dụng chuyển toàn bộ số dư nợ sang nợ xấu”
1.2.2 Các quan điểm về nợ xấu của Ngân hàng thương mại:
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nợ xấu Quan điểm về nợ xấu khác nhau
ở quốc gia và trong một nền kinh tế dưới góc nhìn của các chủ thể khác nhau thì quan điểm về nợ xấu cũng có sự khác biệt Nếu đứng dưới góc nhìn của các NHTM thì nợ xấu có thể hiểu là những khoản cho vay không có khả năng sinh lời hay những khoản cho vay không còn hoạt động (NPL: non-performing loans) Những khoản cho vay trở nên không sinh lời khi người vay dùng việc thanh toán và khoản cho vay này bắt đầu bị vỡ nợ
✓ Theo quan điểm của Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB)
❖ Nợ xấu là những khoản cho vay không có khả năng thu hồi như:
Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ người mắc nợ
- Ngườ mắc nợ trốn hoặc mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ
- Những khoản nợ mà Ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc
nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ
- Những khoản nợ mà khách nợ chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lí tài sản, hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ
❖ Nợ xấu là những khoản cho vay có thể không được thu hồi đầy đủ cho Ngân hàng
Đây là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản đưa ra để thể chấp không đủ để trả nợ Điều đó đồng nghĩa với việc Ngân hàng không thể thu hồi đầy đủ vì món nợ người mắc nợ rất khó kiếm được lợi nhuận từ công việc kinh doanh hoặc người mắc nợ không liên lạc với ngân hàng để thanh toán hoặc hoàn
Trang 23cảnh chỉ ghi rõ rằng phần lớn tiền nợ sẽ không thể thu hồi được Những khoản nợ loại này gồm có:
- Những khoản nợ mà người mắc nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ, nhưng phần còn lại không thể được đền bù, hoặc những khoản nợ trong
đó tài sản được chuyển để thanh toán nhưng giá trị còn lại không đủ trang trải toàn bộ nợ
- Những khoản nợ mà người mắc nợ khó có thể trả nợ và yêu cầu gia hạn
nợ nhưng không đền bù được nợ trong thời gian thỏa thuận
- Những khoản nợ mà tài sản thế chấp không đủ để trả nợ hoặc tài sản thế chấp ở Ngân hàng không được chấp nhận về mặt pháp lí dẫn đến người mắc nợ không thể trả nợ Ngân hàng đầy đủ
- Những khoản nợ mà tòa án tuyên bố người mắc nợ phá sản nhưng phần bồi hoàn ít hơn dư nợ
Theo quan điểm của ECB, thì nợ xấu được định nghĩa qua hai yếu tố: (i): khoản vay không có khả năng được thu hồi và (ii): mặc dù được thu hồi nhưng giá trị thu hồi là không đầy đủ Như vậy, quan điểm về nợ xấu của ECB được tiếp cận dựa trên kết quả thu hồi nợ của Ngân hàng
✓ Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
Định nghĩa về nợ xấu đã được IMF đưa ra như sau:
“ Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ”
Về cơ bản, nợ xấu theo quan điểm của IMF được định nghĩa dựa trên hai yếu tố:
(i): quá hạn trên 90 ngày, hoặc (ii): khả năng trả nợ bị nghi ngờ Với quan điểm này, nợ xấu được tiếp cận dựa trên thời gian quá hạn trả nợ và khả năng trả nợ
Trang 24của khách hàng Khả năng trả nợ ở đây có thể là khách hàng hoàn toàn không trả được nợ, hoặc việc trả nợ của khách hàng là không đầy đủ
Như vậy, so với quan điểm của ECB, thì quan điểm về nợ xấu của IMF cũng dựa trên kết quả thu hồi nợ của Ngân hàng, nhưng có bổ sung thêm yếu tố về thời gian quá hạn trả nợ Đây được coi là định nghĩa hiện đang được áp dụng phổ biến trên thế giới
✓ Theo quan điểm của Ngân hàng Nhà nước Lào
Theo như Quyết định Số 02/BOL của NHNN Lào ngày 4/2/2015 về việc phân loại nợ, trích tập và sử dụng phòng để xử lí RRTD trong hoạt động ngân hàng của
tổ chức tín dụng (TCTD) thì nợ xấu dược định nghĩa như sau:
Nợ khó đòi là khoản nợ có một hoặc nhiều điều kiện sau đây:
− Các khoản nợ đã được coi là không được hoàn lại hoặc bất kỳ phần nào của
số dư nợ không được đảm bảo đầy đủ
− Các trường hợp nghi ngờ trước đây nhưng chưa được giải quyết bằng các thủ tục cải tiến kinh doanh hoặc khởi kiện trong vòng 90 ngày;
− Các khoản nợ nêu trên nếu quá hạn trả, toàn bộ hoặc một phần lãi bắt đầu từ trên 180 ngày
Với những quan điểm trên thì quan điểm về nợ xấu theo tác giả, phải được tiếp cận dựa vào khả năng trả nợ của khách hàng Có nghĩa một khoản vay trong hạn thậm chí mới cho vay, nhưng các dấu hiệu chứng tỏ rằng khả năng trả nợ của khoản vay là đáng nghi ngờ thì cũng có thể coi là một khoản nợ xấu
1.2.3 Nguyên nhân phát sinh nợ xấu:
❖ Phân tích nguyên nhân nợ xấu là một trong những điểm quan trọng cần phải làm để từ đó đưa ra được chiến lược cũng như phương pháp quản lí và xử lí phù hợp, khả thi và có hiệu quả
❖ Hoạt động Ngân hàng là hoạt dộng của các tổ chức tài chính trung gian, do vậy hoạt động của NHTM phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: Môi trường pháp
Trang 25lí, môi trường kinh tế cũng như môi trường thiên nhiên, tình hình sản xuất kinh doanh của các khách hàng, đạo đức khách hàng và các yếu tố thuộc về chính bản thân ngân hàng…
1.2.3.1 Nhóm các nguyên nhân khách quan:
❖ Môi trường thiên nhiên:
Thiên tai, bão lụt, hỏa hoạn, mất mùa, dịch bệnh… Đây là những nguyên nhân khách quan do sự biến đổi của môi trường thiên nhiên gây ra sự hoạt động thất bại của khách hàng vay, nhất là các khoản cho vay nông nghiệp, dẫn đến nợ xấu phát sinh Nguyên nhân này nằm ngoài tầm kiểm soát và mong muốn của cả NHTM và các khách hàng vay Đây là nguyên nhân gây ra rủi ro nợ xấu không thể tránh được, những mất mát do nguyên nhân này gây ra cần được sự chia sẻ của nhà nước, của
cả xã hội
❖ Môi trường kinh tế:
Nếu môi trường kinh tế chưa thực sự phát triển, cạnh tranh trên thị trường chưa thực sự bình đẳng, tốc độ cũng như trình độ phát triển chưa cao sẽ dẫn đến việc các cá nhân và tổ chức cũng như các doanh nghiệp không có tiềm lực tài chính
đủ mạnh Mặt khác, với sự thay đổi liên tục trong các chính sách kinh tế vĩ mô như
sự thay đổi về cơ chế lãi suất, tỷ giá Chính sách xuất nhập khẩu, hàng tiêu dùng… thay đổi quy hoạch xây dựng hạ tầng, thay đổi cơ chế tài chính, cơ chế sử dụng đất đai… cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, khiến các doanh nghiệp này rơi vào thế bị động, do đó nó gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng nợ của các đối tượng này NHTM
Chúng ta có thể lấy ví dụ như sự thay đổi trong lãi suất: với mặt bằng lãi suất
có xu hướng tăng nhanh sẽ làm gia tăng các khoản nợ xấu Trong lịch sử, hậu quả của lãi suất tăng không có điểm dừng đã chứng minh khá nhiều Khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 với sự tăng mạnh của lãi suất thị trường các nước trong vực Ở thời điểm đó, lãi suất ở Indonesia tăng mạnh, và khi vượt trên 30% thì các ngân hàng bắt đầu phá sản
Trang 26Điều này có thể được giải thích dễ dàng: những doanh nghiệp mạnh sẽ không chấp nhận mức lãi suất quá cao, họ có khả năng tìm đến những nguồn vốn khác thông qua thị trường chứng khoán Nghi vấn đặt ra đối với doanh nghiệp đám chấp thuận mức lãi suất cao Phần lớn sự chấp thuận đó suất phát từ sự thuê vốn trầm trọng, năng lực tài chính hạn chế, độ tín nhiệm thấp nên không tiếp cận được những nguồn vốn khác Và tất nhiên, nguy cơ nợ xấu ngân hàng tăng lên từ nhóm đối tượng này
❖ Môi trường pháp lí:
Môi trường pháp lí cho hoạt động ngân hàng chưa đầy đủ là nguyên nhân quan trọng góp phần gây ra nợ xấu Sự bất cập và chồng chéo của luật sẽ khiến cơ quan hữu quan lúng túng trong việc xử lí tranh chấp về tài sản đảm bảo, các quy định về
kế toán kiểm toán chưa đủ sức mạnh thực hiện sẽ khiến số liệu không đủ cơ sở vững chắc để thẩm định cho vay
❖ Tín dụng chi định của Chính phủ:
Theo lí thuyết và kinh nghiệm của các nước có nền kinh tế hoạch hóa hoặc chuyển đổi, nợ xấu thường là do vấn đề các NHTM quốc doanh bị ràng buộc tài chính “mềm”, dẫn đến việc các ngân hàng không quan tâm đánh giá sát sao năng lực tài chính của người vay Ngoài ra, tại những nước này, chính quyền trung ương
có xu hướng gây áp lực hay khuyến khích các ngân hàng cấp tín dụng vượt quá mức
an toàn cho phép để đạt được những mục tiêu nhất định đã đề ra Sự can thiệp của chính phủ vào việc cho vay của ngân hàng có thể diễn ra trước hoặc sau khi giao dịch đã hoàn tất Đến những năm gần đây, tại một số nền kinh tế, các ngân hàng quốc doanh vẫn có nghĩa vụ thực hiện các khoản cho vay chính sách, theo các chương tình phát triển của chính phủ hoặc vì lí do chính trị
❖ Sự yếu kém trong hoạt động kinh doanh của khách hàng:
Năng lực tài chính của doanh nghiệp không cao ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh Mặt khác, năng lực điều hành, quản lí kinh doanh của chủ doanh nghiệp vay vốn yếu kém cũng dẫn đến hoạt động kinh doanh kém hiệu quả từ đó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của ngân hàng
Trang 27❖ Đạo đức khách hàng:
Một số doanh nghiệp cố ý thông báo số liệu tài chính của doanh nghiệp không chính xác gây sai lệch trong việc thẩm định và cấp tín dụng đã dẫn đến khó khăn trong việc thu hồi nợ ngân hàng (rủi ro do sự lựa chọn đối nghịch)
Hoặc bản thân doanh nghiệp thiếu ý thức trong vấn đề sử dụng vốn vay và trả
nợ, không lo lắng, không quan tâm đến món nợ đối với ngân hàng mặc dù khả năng tài chính của doanh nghiệp có một số doanh nghiệp thì lại có tư tưởng lợi dụng kẽ
hở của pháp luật để tính toán, chụp giựt, từa đảo, móc ngoặc, sử dụng vốn sai mục đích kiếm lời, vay không có ý định trả nợ(rủi ro đạo đức)
1.2.3.2 Nhóm nguyên nhân chủ quan:
Đây là những nguyên nhân xuất phát từ chính bản thân các ngân hàng Đó có thể là do một chính sách hiệu quả tín dụng kém, sự lỏng lẻo trong công tác kiểm tra, giám sát hay các vấn đề liên quan đến chất lượng nguồn nhân lực ngân hàng
❖ Chính sách tín dụng:
Một chính sách tín dụng không đầy đủ, không đồng bộ và thống nhất sẽ dẫn tới việc cấp tín dụng không đúng đối tượng, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cho ngân hàng Mặt khác để thu hút khách hàng và chiếm lĩnh thị phần, nhiều NHTM đã bỏ qua một số bước trong quy trình tín dụng, có thể cho vay được đơn giản hóa, tự ý hạ thấp tiêu chuẩn đánh giá khách hàng Bài học vẫn còn đó, khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 xuất phát từ thị trường tài chính Hoa Kỳ có nguồn gốc sâu xa chính
là những món cho vay dưới chuẩn
Đây là những khoản cho vay chất lượng thấp với mức rủi ro cao Các khoản cho vay này không được xem xét kỹ lưỡng về khả năng thanh toán của khách hàng như: thu nhập hàng năm, tiền sử nghề nghiệp, tài sản… và thường được đảm bảo bởi rất ít hoặc không có giấy tờ chứng minh khả năng tài chính của người đi vay Mặc dù các khoản cho vay này chỉ chiếm 16% tổng số món cho vay thế chấp nhưng
nó lại chiếm tới hơn 50% các khoản vỡ nợ tại Hoa Kỳ
Trang 28❖ Công tác tổ chức kiểm tra, kiểm soát:
Nhiệm vụ của công tác kiểm tra, kiểm soát là phát hiện sớm những sai phạm trong hoạt động cho vay để ngăn ngừa rủi ro Tuy nhiên, công tác tổ chức, kiểm tra, kiểm soát của các NHTM nếu quá yếu kém và lỏng lẻo sẽ dẫn đến việc phát hiện và
xử lí không kịp thời những trường hợp vi phạm, lợi dụng trong hoạt động cho vay
và nợ xấu phát sinh là điều tất yếu
Một số cán bộ của hệ thống NHTM sa sút về phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp, thiếu cững vàng do đó đã lợi dụng công việc được giao để móc ngoặc với con nợ, lợi dụng kẽ hở của pháp luật để làm giàu bất hợp pháp, gây thiệt hại về tài sản và tiền vốn Đây là rủi ro về đạo đức của cán bộ ngân hàng
Ngoài ra, năng lực quản trị điều hành của ban lãnh đạo ngân hàng không tốt như:
(1) Buông lỏng quản lí, khoán trắng mọi việc cho cán bộ tín dụng
(2) Việc quản lí con người chưa đúng mức cũng như các hoạt động khác trong quản lí ngân hàng dẫn đến những sai lầm trong quyết định cho vay, đưa đến chất lượng tín dụng kém kéo dài Ngoài ra, vấn đề rủi ro đạo đức cũng xảy ra khi lãnh đạo ngân hàng có quan hệ lợi ích với khách hàng
Trang 29Sơ đồ 1 1 Các nguyên nhân gây ra nợ xấu
1.2.4 Các tác động của nợ xấu:
Nợ xấu là kết quả của một quan hệ tín dụng không hoàn háo gây nên sự đổ vỡ lòng tin Nợ xấu luôn sóng hàng cùng hoạt động tín dụng theo mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro Vì vậy khi đưa ra một món cho vay thì ngân hàng cần phải xác định nguy cơ phát sinh nợ xấu Vấn đề nằm ở chỗ xác định xem tỷ lệ nợ xấu thể nào là phù hợp, tỷ lệ là cao và bắt đầu ảnh hưởng xấu đến hoạt động của NHTM
Theo chuẩn mực quốc tế hiện nay thì tỷ lệ nợ xấu có thể chấp nhận được là dưới 5% Yêu cầu về tỷ lệ nợ xấu được đưa ra vì khi nợ xấu ở mức độ cao sẽ gây nên hậu quả nghiêm trọng đối với NHTM và nếu xảy ra ở trên diện rộng có thể dẫn đến khủng hoảng cho nền kinh tế
Nợ xấu có những tác động chính ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế và làm ảnh hưởng đến hoạt động của các NHTM như sau:
- Môi trường thiên nhiên
- Môi trường kinh tế
Trang 30❖ Đối với các Ngân hàng thương mại:
Giảm lợi nhuận của ngân hàng: Nợ xấu làm cho doanh thu thấp dẫn đến tình
trạng thua lỗ Hơn nữa kể cả trường hợp không lỗ thì nợ xấu phát sinh, các khoản chi phí cũng tăng lên đáng kể: nó bao gồm chi phí trả tiền lãi gửi, chi phí quản lý nợ xấu, chi phí trích lập DPRR và các khoản cho phí khác liên quan Việc gia tăng các khoản chi phí khiến cho lợi nhuận còn lại cũng trở nên thấp hơn so với dự tính ban đầu
Ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng: Do không thu hồi được
các khoản cho vay, nợ xấu làm chậm quá trình luân chuyển vốn của ngân hàng Trong khi đó ngân hàng vẫn phải có trách nhiệm thanh toán cho những khoản tiền gửi, điều này sẽ khiến ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ mất khả năng thanh toán Với tỷ lệ nợ xấu ở mức cao còn có thể dẫn đến sự phá sản của các NHTM
Giảm uy tín của ngân hàng: Khi một ngân hàng có mức độ rủi ro của các tài
sản có cao thì ngân hàng thường đứng trước nguy cơ mất uy tín của mình trên thị trường Không một ai muốn gửi tiền vào một ngân hàng mà ngân hàng đó có tỷ lệ
nợ quá hạn, nợ xấu vượt quá mức cho phép, có chất lượng tín dụng không tốt và gây
ra nhiều vụ thất thoát lớn Thông tin về việc một ngân hàng có mức độ rủi ro cao hơn thường được báo chí nêu lên và lan truyền trong dân chúng, điều này sẽ khiến cho uy tín của ngân hàng trên thị trường bị giảm mạnh gây nên sự bất lợi trong hoạt động cạnh tranh với các ngân hàng khác
❖ Đối với nền kinh tế:
Đối với nền kinh tế, tác động của nợ xấu là tác động gián tiếp qua một quan hệ hữu cơ: Ngân hàng – khách hàng – nền kinh tế Theo đó, nợ xấu làm ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh ngân hàng cũng sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển nền kinh tế
Nợ xấu phát sinh sẽ làm hạn chế khả năng khai thác đáp ứng vốn, khả năng cung ứng các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế Mặt khác, nợ xấu phát sinh do khách hàng, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh kém hiệu quả sẽ tác động đến toàn bộ nền kinh tế, ảnh hưởng đến sự tang trưởng và phát triển nền kinh tế do vốn ứ đọng, sản xuất kinh doanh đình trệ
Trang 31KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương này trình bày khái quát cơ sở lý lý luận các nhận định trên thế giới về khả năng trả nợ của khách hàng doanh nghiệp, khái quát tín dụng và nợ xấu của Ngân hàng Trình bày về nguyên nhân xuất sinh nợ xấu của Ngân hàng trên thế giới Đây sẽ là căn cứ để trong chương sau tiền hành đổi chiếu những lí luận này với tình hình Ngân hàng thương mại tại Lào để đưa ra những nhận định cho các ngân hàng thương mại cổ phần trên thị trường Lào cũng như đúc rút các kinh nghiệm về sau
Trang 32CHƯƠNG 2:
TỔNG QUAN VỀ CÁC MÔ HÌNH TRONG CẢNH BẢO NỢ XẤU NGÂN HÀNG VÀ GIỚI THIỆU MÔ HÌNH LOGIT-PROBIT VÀ Z-SCORE
2.1 Tổng quan về các mô hình trong cảnh bảo nợ xấu tín dụng:
2.1.1 Nghiên cứu mô hình CAEL cảnh báo nợ xấu tín dụng:
2.1.2 Giới thiệu mô hình CAEL:
Mô hình CAEL là mô hình cảnh báo nợ xấu ngân hàng được xây dựng dựa trên 4 nhân tố chính sau:
- Mức độ an toàn vốn – Capital Adequacy (C)
Mức độ an toàn vốn thể hiện số vốn tự có để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Ngân hàng càng chấp nhận nhiều rủi ro thì càng đòi hỏi phải có nhiều vốn tự có để hỗ trợ hoạt động của ngân hàng và bù đắp tổn thất tiềm năng liên quan đến mức độ rủi ro cao hơn
Tỉ lệ an toàn vốn được tính theo tỉ lệ phần trăm của tổng vốn cấp I và vốn cấp
II so với tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro của ngân hàng
CAR = [(Vốn cấp I + Vốn cấp II) / (Tài sản đã điều chỉnh rủi ro)] * 100%
Vốn cấp I: còn gọi là vốn nòng cốt, về cơ bản gồm vốn điều lệ cộng với lợi nhuận không chia cộng với các quy dự trữ được lập trên cơ sở trích lập từ lợi nhuận của tổ chức tín dụng như quy dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính và quỹ đầu tư phát triển
Tỷ lệ vốn cáp I: Tiền vốn nòng cốt của 1 ngân hàng / Tổng tài sản rủi ro
(Những tài sản như tiền mặt, tiền xu thường có tỉ lệ rủi ro là 0, trong khi các khoản vay không có bảo đảm có tỉ lệ rủi ro là 100%)
Vốn cấp 2: Là thước đo tiềm lực tài chính của một ngân hàng liên quan đến các dạng nguồn lực tài chính Vốn cấp 2 về cơ bản bao gồm: phần giá trị tăng thêm
do định giá lại tài sản của tổ chức tín dụng; Nguồn vốn gia tăng hoặc bổ sung từ bên
Trang 33ngoài (bao gồm trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi và một số công cụ nợ thứ cấp nhất định) và dự phòng chung cho rủi ro tín dụng
Bằng tỉ lệ này, người ta có thể xác định được khả năng của ngân hàng thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các loại rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành Chính vì lý do trên, các nhà quản lý ngành Ngân hàng các nước luôn xác định rõ và giám sát các ngân hàng phải duy trì một tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu Theo chuẩn mực Basel II mà các hệ thống ngân hàng trên thế giới áp dụng phổ biến là 8%
- Chất lượng tài sản có – Asset Quality (A)
Chất lượng tài sản có là nguyên nhân cơ bản dẫn đến các vụ đổ vỡ ngân hàng Thông thường điều này xuất phát từ việc quản lý không đầy đủ trong chính sách cho vay từ trước đến nay Nếu thị trường biết rằng chất lượng tài sản kém, sẽ tạo áp lực lên trạng thái nguồn vốn ngắn hạn của ngân hàng, và điều này có thể dẫn đến khủng hoảng thanh khoản, hoặc dẫn đến tình trạng đổ xô đi rút tiền ở ngân hàng
Tài sản có = Tài sản có sinh lời + Tài sản có không sinh lời
Tài sản có sinh lời là những tài sản đem lại nguồn thu nhập chính cho ngân hàng, đồng thời cũng là những tài sản chứa dựng nhiều rủi ro Những tài sản này bao gồm các khoản cho vay, cho thuê tài chính, các khoản đầu tư vào chứng khoán, góp vốn liên doanh, liên kết…, trong đó chiếm tỷ trọng cao nhất là các khoản cho vay
Bên cạnh chất lượng hoạt động tín dụng, chất lượng tài sản của ngân hàng còn thể hiện ở các tài sản có khác như danh mục đầu tư chứng khoán, tài sản bằng ngoại
tệ, vàng bạc, đá quý Chất lượng những tài sản này thường thể hiện ở cơ cấu và trạng thái ngoại hồi, chất lượng và trạng thái của danh mục đầu tư Những khoản mục này cũng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh lời và tính thanh khoản của một ngân hàng
Trang 34- Lợi nhuận – Earnings (E)
Lợi nhuận là chỉ số quan trọng nhất để đánh giá công tác quản lý và các hoạt động chiến lược của nhà quản lý thành công hay thất bại Lợi nhuận sẽ dẫn đến hình thành thêm vốn, đây là điều hết sức cần thiết để thu hút thêm vốn và sự hỗ trợ phát triển trong tương lai thừ phía các nhà đàu tư Lợi nhuận còn cần thiết để bù đắp các khoản cho vay bị tổn thất và trích dự phòng đầy đủ Bốn nguồn thu nhập chính của ngân hàng là:
o Thu nhập từ lãi
o Thu nhập từ lệ phí, hoa hồng
o Thu nhập từ kinh doanh mua bán
o Thu nhập khác
- Thanh khoản – Liquidity (L)
Có hai nguyên nhân giải thích tại sao thanh khoản lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với ngân hàng:
o Thứ nhất, cần phải có thanh khoản để đáp ứng yêu cầu vay mới mà không cần phải thu hồi những khoản cho vay đang trong hạn hoặc thanh
lý các khoản đầu tư có kỳ hạn
o Thứ hai, cần có thanh khoản để đáp ứng tất cả các biến động hàng ngày hay theo mùa vụ về nhu cầu rút tiền một cách kịp thời và có trật tự Do ngân hàng thường xuyên huy động tiền gửi ngắn hạn (với lãi suất thấp)
và cho vay số tiền đó với thời hạn dài hạn (lãi suất cao hơn) nên ngân hàng về cơ bản luôn có nhu cầu thanh khoản rất lớn
2.2 Nghiên cứu mô hình chất lượng 6C
2.2.1 Mô hình định tính – Mô hình 6C:
Trong tâm của mô hình này là xem xét liệu người vay có thiên chí và khả năng thanh toán các khoản vay khi đến hạn hay không Cụ thể bao gồm 6 yếu tố sau:
✓ Tư cách người vay(Character): Cán bộ tín dụng phải làm rõ mục đích xin
vay của khách hàng, mục đích vay của khách hàng có phù hợp với chính
Trang 35sách tín dụng hiện hành của khách hàng hay không, đồng thời xem xét về lịch sử đi vay và trả nợ đối với khách hàng cũ; còn khách hàng thì cần thu nhập thông tin từ nhiều nguồn khác như Trung tâm phòng ngừa rủi ro, từ
ngân hàng khác, hoặc các cơ quan thông tin đại chúng…
✓ Năng lực của người vay (Capacity): Tùy thuộc vào qui định luật pháp của
quốc gia Người vay phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi
dân sự
✓ Thu nhập của người vay (Cash): Trước hết phải xác định được nguồn trả nợ
của người vay như luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu nhập, tiền từ bán thanh lý tài sản, hoặc tiền từ phát hành chứng khoán… Sau đó cần phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp vay vốn thông qua các tỷ số tài
chính
✓ Bảo đảm tiền vay (Collateral): Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng
và là nguồn tài sản thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho ngân hàng
✓ Các điều kiện (Conditions): Ngân hàng qui định các điều kiện tùy theo chính sách tín dụng theo từng thời kỳ
✓ Kiểm soát (Control): Đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi của luật
pháp, quy chế hoạt động đến khả năng khách hàng đáp ứng các tiêu chuẩn
của ngân hàng
Mô hình 6C tương đối đơn giản, tuy nhiên lại phụ thuộc quá nhiều vào mức độ chính xác của nguồn thông tin thu nhập được, khả năng dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giá chủ quan của cán bộ tín dụng
2.3 Nghiên cứu mô hình xếp hạng của Moody và Standard & Poor:
Moody’s Investors Service (Moody’s) và Standard & Poor’s (S&P) là hai tổ chức ĐMTN có uy tín và lâu đời tại Mỹ và cũng là những yếu tố chức tiên phong trong lĩnh vực xếp hạng tín nhiệm trên thế giới
Trang 362.3.1 Mô hình xếp hạng các ngân hàng của Moody’s
Moody’s Investors Service (Moody’s) là tổ chức ĐMTN chuyên nghiệp đầu tiên trên thế giới được thành lập từ năm 1990 tại Mỹ và cho đến nay vẫn được đánh giá là một trong ba bộ tổ chức ĐMTN hàng đầu thế giới
Mô hình Moody’s áp dụng trong hoạt động ĐMTN cho các ngân hàng rất chi tiết, kết quả đánh giá được điều chỉnh qua nhiều bước, xem xét đến tất cả những yếu
tố bên trong và bên ngoài tác động rủi ro tín dụng của một ngân hàng Mô hình này
có thể phân tích toàn diện rủi ro tín dụng, nợ xấu tín dụng ở một thị trường tài chính phát triển ở mức cao như thị trường Hoa Kỳ nhưng với một thị trường tài chính nhỏ, còn đang trong giai đoạn đầu phát triển như thị trường Lào thì có nhiều yếu tố đưa vào phân tích phù hợp với các hoạt động ngân hàng ở Lào, Những yếu tố theo nhận định của người viết là không phù hợp sẽ chỉ được nêu khái quát
Phương pháp đánh giá rủi ro tín dụng của các ngân hàng của Moody’s được thực hiện theo trình tự 3 bước:
- Bước 1: Xếp hạng sức mạnh tài chính độc lập của ngân hàng (Bank Financial Strength Ratings – BFSR)
- Bước 2: Chuyển BFSR sang thang điểm đánh giá cơ bản của Moody’s (Baseline Credit Assessment – BCA)
- Bước 3: Đánh giá các yếu tố hỗ trợ và các yếu tố khác
2.3.2 Mô hình của Standard & Poor’s (S&P):
Mô hình của S&P đánh giá rủi ro tín dụng của một ngân hàng bằng các xem xét hoạt động độc lập của nó hay còn gọi là đánh giá hồ sơ tín dụng độc tập của ngân hàng (Stand-Alone Credit Profile – SACP) và sau đó đặt nó trong môi trường kinh doanh để đánh giá khả năng nó nhận được hỗ trợ từ bên ngoài khi gặp rủi ro Kết quả cuối cùng là đưa ra một đánh giá rủi ro tín dụng (Issuer Credit rating – ICR)
Trang 37Các yếu tố cần xem xét để điều chỉnh hạng mức tín nhiệm cơ bản được đưa ra sau khi xem xét hồ sơ tín dụng độc lập và những nguồn hỗ trợ khi gặp rủi ro của ngân hàng được đưa ra trong mô hình của S&P gồm có:
- Đánh giá cổ phiếu ưu đãi và các công cụ phát sinh
- Đánh giá tín nhiệm quốc gia
Chi tiết vào phương pháp đánh giá hồ sơ tín dụng độc lập của ngân hàng(tính SACP), mô hình của S&P đưa ra 6 nhân tố chính:
➢ Rủi ro ngành nào cụ thể là ngành ngân hàng và rủi ro nền kinh tế
➢ Vị thế của ngân hàng (tương đương với giá trị thương hiệu của Moody’s)
A Chất lượng vừa cao hơn
Ba Nhiều yếu tố đầu cơ
Trang 38BBB Chất lượng vừa
BB Chất lượng vừa thấp hơn
CCC-CC Đầu cơ có rủi ro cao
C Trái phếu có lợi nhuận DDD-D
Thang điểm đánh giá của cả 2 mô hình đều thể hiện bằng các chữ cái theo thứ
tự bảng chữ cái, cao nhất là mức AAA với S&P hay Aaa với Moody’s và thấp nhất
là D (S&P) hoặc C (Moody’s) Một khoản đầu tư tốt sẽ nằm trong mức A, từ mức BBB- (S&P) hay Baa+ (Moody’s) trở lên được xem là “mức đầu tư”, dưới mức này
bị xem là một khoản đầu tư có rủi ro cao và cần cân nhắc
Các chỉ tiêu đánh giá trong mô hình của Moody’s và S&P có sự tương đồng khá lớn nhưng nếu Moody’s xem xét sức mạnh tài chính độc lập của ngân hàng như một tổng thể kết hợp của những chỉ tiêu này và đưa ra tỷ trọng chi tiết cho từng chỉ tiêu thì mô hình của S&P lại lấy rủi ro của nền kinh tế và rủi ro ngành hàng làm trọng tâm đánh giá Hai yếu tố rủi ro này được đánh giá theo 10 bậc từ thấp đến cao (b- đến a) để đưa ra một hạng mức cơ sở
Trang 392.4 Mô hình toán học Logit-Probit hồi quy trong cảnh báo nợ xấu tín dụng: 2.4.1 Mô hình hồi quy theo biến giá (Qualitative Respones Regression
Model)
➢ Khái niệm về mô hình
Mô hình hồi quy theo biến giả (Qualitative Respones Regression Model) là mô hình có biến phụ thuộc là biến giả (dummy variable) Đây là một dạng của mô hình xác suất Mô hình này khác với mô hình hồi quy tuyến tính cổ điển là biến phụ thuộc là biến định lượng Các biến giả sẽ nhận giá trị là 1 hoặc 0 tương ứng với đặc điểm mà nó biểu hiện Ví dụ biến giả là quyết định đi học cao học, nó sẽ nhận giá trị
là 1 nếu người được hỏi có đi học và ngược lại sẽ nhận giá trị 0 Biến này còn được gọi là biến nhị phân (binary hay dichotomous)
(Nguồn: amorfati.xyz) Hình 2 1 Mô hình hồi quy theo biến giả (Qualitative Respones Regression Model)
➢ Mục tiêu của mô hình
Vì giá trị của biến phụ thuộc là 0 và 1 nên chúng ta không thể ước tính giá trị trung bình như các mô hình hồi quy OLS Mô hình này nhằm mục tiêu tìm kiếm xác suất của một sự kiện như tỷ lệ bỏ phiếu của cử tri, xác suất mua nhà, Do đó mô hình này còn được gọi là mô hình xác suất (Probability model)
2.4.2 Mô hình Logit:
➢ Khai niệm về mô hình Logit:
Là một mô hình định lượng trong đó biến phụ thuộc là biến giả, chỉ nhận 2 giá trị là 0 hoặc 1 Cụ thể hơn mô hình này giúp Ngân hàng xác định khả năng khách
Trang 40hàng sẽ có trả nợ (biến phụ thuộc) trên cơ sở sử dụng các nhân tố ảnh hưởng đến khách hàng (biến độc lập) Nghĩa là, mô hình Logit có thể ước lượng xác xuất khả năng nợ xấu của một khách hàng là bao nhiêu từ mẫu
Cấu trúc dữ liệu trong mô hình như sau:
- Biến độc lập: Giá trị liên tục hoặc rời rạc
- Biến phụ thuộc: Giá trị nhị phân
Mô hình kinh tế lượng tương ứng là:
k
k X X
X Zi
mô hình toán học hồi quy để xem xét mối liên hệ giữa biến (Y) là biến phụ thuộc và tất cả các biến còn lại là biến độc lập
Bảng 2 3 Cấu trúc các biến trong mô hình Logit