* Quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi: Quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi CTTL được hiểu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN VĂN CHUNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN VĂN CHUNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS: PHẠM BẢO DƯƠNG
THÁI NGUYÊN 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là của riêng tôi, trung thực và chưa hề được sử dụng đề tài luận văn nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Chung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này tôi
đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của rất nhiều thầy cô giáo, cá nhân, các cơ quan và các tổ chức Tôi xin được bầy tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới tất cả các thầy cô giáo, cá nhân, các cơ quan và tổ chức đã quan tâm giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phạm Bảo Dương, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm Khoa Quản lý kinh tế - Luật kinh tế, các thầy cô giáo Bộ môn Quản lý kinh tế đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi về nhiều mặt trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Huyện uỷ, UBND, các phòng ban chức, Cụm thuỷ nông, Công ty TNHH MTV quản lý thủy nông tỉnh, chính quyền địa phương các xã trong Huyện, các HTX và bà con nông dân đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra thực tế để nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn những người thân và bạn bè đã chia sẻ cùng tôi những khó khăn, động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Lai Châu, ngày tháng năm 2016
Tác giả Nguyễn Văn Chung
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài 4
5 Kết cấu đề tài 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 6
1.1 Một số vấn đề lý luận về QLNN đối với các công trình thủy lợi 6
1.1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài 6
1.1.2 Lý luận về quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi 10
1.1.2.1 Hệ thống các văn bản pháp lý liên quan tới đề tài 10
1.1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi 11
1.1.2.3 Vai trò của quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi 12
1.1.2.4 Đặc điểm quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi 15
1.1.2.5 Nội dung quản lý nhà nước về các công trình thủy lợi 16
1.1.2.6 Một số yếu tố ảnh hưởng tới quản lý nhà nước đối với công trình thủy lợi 17
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 17
1.2.1 Tổng quan về quản lý nhà nước đối với công trình thủy lợi trên thế giới 17
1.2.2 Tổng quan về QLNN đối với công trình thủy lợi tại Việt Nam 21
1.2.2.1 Hệ thống các tổ chức quản lý và sử dụng các công trình thủy lợi 21
1.2.2.2 Tình hình phát triển hệ thống thủy lợi ở các vùng trong nước 24
Trang 61.2.2.3 Một số chính sách thủy lợi phí của nhà nước Việt Nam 29
1.2.2.4 Những bài học rút ra từ thực tiễn về quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi 30
1.3 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu 33
1.3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên tự nhiên 33
1.3.1.1 Vị trí địa lý 33
1.3.1.2 Điều kiện địa hình 33
1.3.1.3 Điều kiện khí hậu, thủy văn 34
1.3.1.4 Điều kiện đất đai và hiện trạng sử dụng đất 35
1.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội 36
1.3.2.1 Điều kiện dân cư và lao động 36
1.3.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 36
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 39
2.2 Phương pháp tiếp cận 39
2.3 Phương pháp nghiên cứu 42
2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin 42
2.3.1.1 Thông tin thứ cấp 42
2.3.1.2 Thông tin sơ cấp 42
2.3.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 43
2.3.2.1 Phương pháp thống kê kinh tế 43
2.3.2.2 Phương pháp so sánh 44
2.4 Một số chỉ tiêu đánh giá, phân tích và cách tính 44
2.4.1 Các chỉ tiêu phản ánh về số lượng và chất lượng đội ngũ nhân lực làm công tác thủy lợi 44
2.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi 45
2.4.2.1 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình cung cấp, sử dụng và quản lý nước 45
2.4.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả tài chính của công trình thuỷ lợi 45
2.4.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh tế-xã hội của người sử dụng nước 46
Trang 7Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU 47
3.1 Đặc điểm phát triển hệ thống các công trình thủy lợi của huyện Tam Đường 47 3.2 Hiện trạng nguồn nhân lực phục vụ quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi tại huyện Tam Đường 49 3.3 Tình hình phân cấp quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi tại huyện Tam Đường 51 3.3.1 Tình hình quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi cấp huyện 52 3.3.2 Tình hình quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi cấp xã 53 3.4 Tình hình quản lý đầu tư, duy tu, bảo dưỡng và sửa chữa các công trình thủy lợi huyện Tam Đường giai đoạn 2010-2015 55 3.5 Đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi tại huyện Tam Đường 57 3.5.1 Đánh giá kết quả sử dụng CTTL trên địa bàn huyện Tam Đường 57 3.5.2 Đánh giá hiện trạng quản quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi 58 3.5.3 Đánh giá hiện trạng quản lý nhà nước đối với công tác thủy lợi phí 62 3.5.4 Kết quả đầu tư kiên cố hóa kênh mương của 3 xã nghiên cứu 66 3.5.5 Đánh giá kết quả sản xuất của hộ điều tra trong sử dụng CTTL 68 3.5.6 Đánh giá chung 70
Chương 4: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TAM ĐƯỜNG 73
4.1 Dự báo, quan điểm, mục tiêu, phương hướng phát triển thủy lợi trên địa bàn huyện Tam Đường đến năm 2020 73 4.1.1 Những yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về công trình thủy lợi huyện Tam Đường 73
Trang 84.1.2 Những thuận lợi và khó khăn thách thức trong công tác quản lý nhà
nước về công trình thủy lợi huyện Tam Đường 76
4.1.2.1 Những thuận lợi 76
4.1.2.2 Những khó khăn thách thức: 77
4.1.3 Quan điểm và định hướng phát triển thủy lợi tại huyện Tam Đường 78
4.1.3.1 Một số quan điểm 78
4.1.3.2 Một số định hướng: 79
4.1.4 Phương hướng phát triển thủy lợi trên địa bàn huyện Tam Đường 80
4.2 Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện Tam Đường 82
4.2.1 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các chính sách, pháp luật về thủy lợi 82
4.2.2 Huy động tối đa cộng đồng hưởng lợi tham gia vào việc quản lý các công trình thủy lợi 83
4.2.3 Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ trực tiếp quản lý công trình thủy lợi 85
4.2.4 Xây dựng ban tự quản công trình thủy lợi của cộng đồng hưởng tạo thể chế cho cộng đồng làm chủ công trình 86
4.2.5 Đẩy nhanh công tác chuyển giao quyền quản lý công trình thủy lợi cho địa phương và cộng đồng hưởng lợi 88
4.2.6 Tăng cường kiên cố hóa kênh mương nhằm nâng cao công tác quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi 89
4.2.7 Đẩy mạnh công tác quản lý, duy tu bảo dưỡng và sửa chữa công trình 91
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH - HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại học
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Một số chỉ số khí hậu tại huyện Tam Đường 34Bảng 1.2: Hiện trạng sử dụng tài nguyên đất huyện Tam Đường 35Bảng 3.1 Tổng hợp các công trình thủy lợi của huyện Tam Đường đến
năm 2015 48Bảng 3.2 Trình độ nguồn nhân lực của cán bộ chuyên trách và kiêm
nhiệm các xã tại huyện Tam Đường 51Bảng 3.3 Tình hình quản lý và sử dụng các công trình thủy lợi cấp huyện
năm 2015 52Bảng 3.4 Tình hình quản lý và sử dụng các công trình thủy lợi cấp xã
huyện Tam Đường năm 2015 54Bảng 3.5 Tình hình duy tu bảo dưỡng và sửa chữa các công trình thủy lợi
của Huyện Tam Đường giai đoạn (2010 - 2015) 56Bảng 3.6 Mức tăng giá trị sản lượng nông nghiệp của huyện Tam Đường
giai đoạn 2010-2015 (Đơn vị: %) 57Bảng 3.7 Tình hình sử dụng các công trình thủy lợi ở 3 xã nghiên cứu
năm 2015 (xã Bình Lư, xã Hồ Thầu, xã Bản Bo) 59Bảng 3.8 Tình hình miễn và cấp bù thủy lợi phí của huyện Tam Đường
giai đoạn 2013-2015 (Theo Nghị định số 67/2012/NĐ-CP) 62Bảng 3.9 Tình hình sử dụng miễn thủy lợi phí của 3 xã nghiên cứu giai
đoạn 2013-2015 (Không có thủy lợi phí nội đồng) 63Bảng 3.10 Tình hình cấp bù thiếu thủy lợi phí ở 3 xã nghiên cứu (2013-2015) 65Bảng 3.11 Kết quả đầu tư kiên cố hóa kênh mương của 3 xã nghiên cứu 67Bảng 3.12 Một số chỉ tiêu của các hộ điều tra tại các cánh đồng đã cứng
hóa và chưa cứng hóa kênh mương ở 3 xã nghiên cứu (Tính bình quân một hộ) 69
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công trình thủy lợi có vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp, đặc biệt là phục vụ cho canh tác lúa nước, đảm bảo an ninh lương thực bền vững Tỉnh Lai Châu là tỉnh thuần nông, sản xuất vẫn mang nặng tính tự nhiên, tự
cung, tự cấp, trong đó sản xuất tự túc lương thực vẫn là chính Vì vậy UBND tỉnh đã đặc biệt quan tâm đến công tác quản lý và phát triển các công trình thủy lợi để phục vụ cho chương trình thâm canh, tăng vụ, xóa đói, giảm nghèo, ổn định đời sống nhân dân
Tam Đường là huyện nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Lai Châu Hệ thống các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện đã có bước phát triển, cơ bản đáp ứng được các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra trong giai đoạn 2006 - 2010 Tuy vậy, ở giai đoạn mới, xuất hiện một số vấn đề như: Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, các nhu cầu sử dụng nước cho sản xuất nông nghiệp, thủy sản, thủy điện, nước sinh hoạt ngày càng cao nhất là chủ trương phát triển nuôi cá nước lạnh,… nên nhiều công trình thủy lợi cũ đã không còn đáp ứng tốt được yêu cầu hiện tại do nhiều nguyên nhân khác nhau [7]
Hơn thế nữa, lượng mưa và dòng chảy nhiều nhưng phân bố không đều theo thời gian và theo vùng, chủ yếu tập trung vào mùa mưa, tăng dần từ Nam lên Bắc Địa hình dốc, địa chất kém ổn định là những nguyên nhân khách quan gây ra lũ quét, sạt lở đất, gây hư hỏng và phá hủy các công trình thủy lợi đang sử dụng Mặc dù nguồn nước mặt của huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu được đánh giá là khá dồi dào, xong do điều kiện địa hình phức tạp, bãi tưới tập trung có chênh cao lớn so với các sông suối chảy qua nên việc khai thác để phát triển sản xuất nông nghiệp rất khó khăn, chỉ khai thác được nguồn nước ở thượng nguồn các sông suối Đa số các khu tưới nhỏ lẻ, rải rác phải đầu tư xây dựng nhiều công trình thủy lợi, hệ thống kênh mương kéo dài Hệ thống hạ tầng giao thông chưa phát triển nên kinh phí đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi cao Công tác quản lý khai thác công trình thủy
Trang 13lợi, công tác tuyên truyền giáo dục quản lý sử dụng nguồn nước còn hạn chế Kinh phí cho sự nghiệp thủy lợi còn ít, ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu, nhiệm vụ phát triển thủy lợi trên địa bàn tỉnh Trình độ dân trí thấp, nhiều dân tộc, sinh sống phân bố rải rác, phong tục tập quán còn lạc hậu nên việc phát triển thủy lợi và sử dụng nguồn nước hiệu quả chưa cao
Chất lượng của công tác quy hoạch, kế hoạch thủy lợi còn thấp Việc tổ chức khảo sát, lập, thẩm định, phê duyệt một số dự án đầu tư thủy lợi còn thiếu khả thi dẫn đến chưa tranh thủ được nguồn vốn trái phiếu Chính phủ theo kế hoạch Một số công trình đầu tư kéo dài làm tăng tổng mức đầu tư, chậm đưa công trình vào khai thức sử dụng Một số công trình thủy lợi khảo sát, thiết kế thiếu chính xác, đặc biệt là việc xác định diện tích tưới, diện tích tưới thực tế đạt thấp so với diện tích thiết kế (đạt khoảng 60%) dẫn đến suất đầu tư quá cao, hiệu quả thấp, một số khác gần như không phát huy được hiệu quả Các tổ chức quản lý thủy lợi đã được thành lập nhưng hầu hết các ban quản lý cấp xã hoạt động kém hiệu quả Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý thủy lợi đã được tăng cường nhưng năng lực quản lý vẫn còn nhiều yếu kém Việc đầu tư, quản lý thủy lợi mới chú trọng đến đảm bảo nước tưới cho sản xuất lúa nước theo phương thức truyền thống, chưa quan tâm đến các nhiệm
vụ khác như cây công nghiệp, nuôi trồng thủy sản và hướng tới mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, tưới tiết kiệm nước Chưa phối hợp tốt với các ngành để tham mưu khai thác sử dụng nguồn nước có hiệu quả giữa nông nghiệp với các nhu cầu khác của nền kinh tế, đặc biệt là có phương án cân bằng sử dụng nước, bảo vệ nguồn nước và tích trữ nước ở những nơi có nguy
cơ thiếu nước do biến đổi khí hậu [7]
Thực tế cho thấy vai trò của quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi có tính quyết định tới hiệu quả đầu tư cho các công trình thủy lợi Vậy câu hỏi đặt ra là giải pháp quản lý nhà nước như thế nào để có thể quản
lý tốt và hiệu quả công tác thủy lợi tại huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu trước
Trang 14một số vấn đề nêu trên? Để thực hiện tốt các giải pháp quản lý nhà nước với công tác thủy lợi của huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu thì các cấp quản lý cần làm những gì? Và làm như thế nào cho thất hiệu quả? Để giải quyết được các câu hỏi này cần làm sáng tỏ một số vấn đề sau:
- Cơ sở khoa học nào để quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi ?
- Thực trạng quản lý nhà nước đối với các công trình thuỷ lợi và kết quả sử dụng các công trình thuỷ lợi tại huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu như thế nào?
- Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi tại huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu như thế nào?
- Các giải pháp quản lý nhà nước hữu hiệu nào đảm bảo nâng cao kết quả sử dụng các công trình thuỷ lợi tại huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu?
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên đề tài: “Quản lý nhà nước đối với
các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu”
Trang 15- Xây dựng và đề xuất các giải pháp quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi góp phần nâng cao kết quả sử dụng các công trình thuỷ lợi tại huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý nhà nước về các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu Cụ thể là công tác quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi cấp xã và cấp huyện, trên cơ sở phân tích điều tra hiện trạng, đề xuất các giải pháp
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Phạm vi về nội dung
Đề tài tập trung vào đánh giá thực trạng tổ chức và quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi, qua đó xây dựng và đề xuất giải pháp quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu
3.2.2 Phạm vi về không gian
Đề tài giới hạn trong phạm vị không gian huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu Tuy nhiên trong quá trình phân tích, đánh giá và đề xuất các giải pháp đề tài có xem xét đến tính liên vùng, xem xét mối quan hệ với địa bàn tiếp giáp
3.2.3 Phạm vi về thời gian
Các tài liệu phục vụ đánh giá thực trạng được thu thập trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2015, số liệu thứ cấp thu thập trong năm 2016 Các cơ chế, chính sách, định hướng giải pháp xây dựng, đề xuất cho các năm đến 2020
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Luận văn có một số đóng góp sau:
- Chỉ ra được những vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề quản lý nhà nước với các công trình thủy lợi
- Chỉ ra được thực trạng tổ chức, quản lý nhà nước đối với các công trình thuỷ lợi và kết quả sử dụng công trình thuỷ lợi tại huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu
Trang 16- Đề xuất được các giải pháp tăng cương công tác quản lý nhà nước đối với các công trình thuỷ lợi tại huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu
5 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, kết cấu của đề tài gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về Quản lý nhà nước đối với các
công trình thủy lợi
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi trên địa
bàn huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
Chương 4: Phương hướng và giải pháp tăng cường công tác quản lý
nhà nước đối với các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 1.1 Một số vấn đề lý luận về QLNN đối với các công trình thủy lợi
1.1.1 C ác khái niệm liên quan đến đề tài
a) Các khái niệm liên quan đến quản lý nhà nước:
* Khái niệm về quản lý:
Trên thực tế tồn tại nhiều cách tiếp cận khái niệm “quản lý” Thông thường, quản lý đồng nhất với các hoạt động tổ chức chỉ huy, điều khiển, động viên, kiểm tra, điều chỉnh… Theo lý thuyết hệ thống: “Quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống
cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống”
Chúng ta cũng có thể hiểu quản lý là quá trình làm việc thông qua các
cá nhân, các nhóm và các nguồn lực khác (thiết bị, vốn, công nghệ) để đạt được những mục tiêu của tổ chức Quản lý được thử thách và đánh giá qua việc đạt được các mục tiêu thông qua sự tổ chức và thực hiện các kỹ năng khác nhau Hoạt động quản lý phải do 4 yếu tố cơ bản sau cấu thành:
- Chủ thể quản lý, trả lời câu hỏi: do ai quản lý?
- Khách thể quản lý, trả lời câu hỏi: quản lý cái gì?
- Mục đích quản lý, trả lời câu hỏi: quản lý vì cái gì?
- Môi trường và điều kiện tổ chức quản lý, trả lời câu hỏi: quản lý trong hoàn cảnh nào?
* Khái niệm về quản lý nhà nước:
Khái niệm quản lý nhà nước (QLNN) theo nghĩa rộng : Là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp hành pháp và tư pháp Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước được đặt trong cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ "
Trang 18Theo nghĩa hẹp, QLNN chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ QLNN Đồng thời, các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình Chẳng hạn ra quyết định thành lập, chia tách,sát nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức,ban hành quy chế làm việc nội bộ,
QLNN có thể hiểu đơn giản là sự chỉ huy, điều hành xã hội của các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền lực Nhà nước, thông qua các văn bản quy phạm pháp luật
* Quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi:
Quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi (CTTL) được hiểu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các CTTL nhằm đạt các mục tiêu của công tác thủy lợi
QLNN đối với các CTTL tùy thuộc vào điều kiện cụ thể và quy mô phục vụ từng công trình mà áp dụng các biện pháp quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả công trình về mặt tưới tiêu cũng như tính bền vững của công trình
QLNN đối với các CTTL ở Việt Nam hiện hay được chia thành 4 cấp:
- Cấp Trung ương: Do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, trực tiếp là Cục thủy lợi quản lý
- Cấp Tỉnh: Do Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, giao cho Chi cục thủy lợi quản lý
- Cấp huyện: Được giao cho Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hoặc Phòng Kinh tế quản lý
- Cấp xã: Giao cho cán bộ phụ trách về giao thông - thủy lợi quản lý
Trang 19b) Các khái niệm liên quan đến công trình thủy lợi
* Khái niệm về thuỷ lợi:
Thủy lợi được hiểu là những hoạt động liên quan đến ý thức con người trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước để phục vụ lợi ích của mình Những biện pháp khai thác nước bao gồm khai thác nước mặt và nước ngầm thông qua hệ thống bơm hoặc cung cấp nước tự chảy
Thủy lợi trong nông nghiệp là các hoạt động kinh tế - kỹ thuật liên quan đến tài nguyên nước được dùng trong nông nghiệp Điểm quan trọng của thủy lợi trong nông nghiệp là sử dụng hợp lý nguồn nước để có năng suất cây trồng và năng suất vật nuôi cao Các nội dung của thuỷ lợi trong nông nghiệp bao gồm:
* Xây dựng hệ thống thủy lợi:
+ Tạo nguồn nước thông qua việc xây đập làm hồ chứa hoặc xây dựng trạm bơm
+ Xây dựng trạm bơm tưới và hệ thống kênh mương dẫn nước
- Thực hiện việc tưới và tiêu khoa học cho đồng ruộng Làm tăng năng suất cây trồng vật nuôi và phát triển các ngành kinh tế khác
• Công trình thủy lợi: là công trình thuộc kết cấu hạ tầng nhằm khai
thác mặt lợi của nước; phòng, chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái, bao gồm: hồ chứa nước, đập, cống, trạm bơm, giếng, đường ống dẫn nước, kênh, công trình trên kênh và bờ bao các loại
Hệ thống công trình thủy lợi: bao gồm các công trình thủy lợi có
liên quan trực tiếp với nhau về mặt khai thác và bảo vệ trong một khu vực nhất định
Thủy lợi phí: là phí dịch vụ về nước thu từ tổ chức, cá nhân sử dụng
nước hoặc làm dịch vụ từ công trình thủy lợi cho mục đích sản xuất nông nghiệp để góp phần chi phí cho việc quản lý, duy tu, bảo dưỡng và bảo vệ công trình thủy lợi
Trang 20Tiền nước: là giá tiền trong hợp đồng dịch vụ về nước thu từ tổ chức,
cá nhân sử dụng nước hoặc làm dịch vụ từ công trình thủy lợi ngoài mục đích sản xuất nông nghiệp
Phí xả nước thải: là phí thu từ tổ chức, cá nhân xả nước thải vào công
trình thủy lợi để góp phần chi phí cho việc bảo vệ chất lượng nước
Tổ chức hợp tác dùng nước: là hình thức hợp tác của những người cùng
hưởng lợi từ công trình thủy lợi, làm nhiệm vụ khai thác và bảo vệ công trình, phục vụ sản xuất, dân sinh
Thủy nông: Hệ thống công trình thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông
nghiệp được gọi là thủy nông Sản phẩm của công trình thủy nông là nước tưới, nước tưới là yếu tố hàng đầu và không thể thiếu đối với sản xuất nông nghiệp
Hệ thống thuỷ nông: là tập hợp các công trình làm nhiệm vụ lấy nước từ
nguồn nước, dẫn vào đồng ruộng tưới cho cây trồng và tiêu hết lượng nước thừa trên đồng ruộng, bao gồm công trình lấy nước, hệ thống kênh mương lấy nước tưới tiêu và các công trình phục vụ trên hệ thống đó
Công trình lấy nước: Nguồn nước tưới trong nông nghiệp có thể là
nước sông ngòi, nước trong các hồ chứa, nước thải của các thành phố, các nhà máy công nông nghiệp và nước ngầm ở dưới đất Tuỳ theo nguồn nước và các điều kiện địa hình, thuỷ văn ở từng vùng mà các công trình lấy nước có thể xây dựng khác nhau, để phù hợp với khả năng lấy nước, vận chuyển nước về khu tưới và các địa điểm cần nước khác Người ta thường gọi chúng là công trình đầu mối của hệ thống tưới
Hệ thống kênh mương dẫn nước: bao gồm hệ thống tưới và hệ thống
tiêu Hệ thống tưới làm nhiệm vụ vận chuyển nước từ công trình đầu mối về phân phối cho hệ thống điều tiết nước mặt ruộng trên từng cánh đồng trong khu vực tưới Hệ thống tiêu làm nhiệm vụ vận chuyển nước thừa trên mặt ruộng do tưới hoặc do mưa gây nên, ra khu vực chứa nước
Trang 21Theo tiêu chuẩn thiết kế hệ thống kênh tưới Việt Nam TCVN 4118- 85,
hệ thống kênh tưới được phân ra như sau:
- Kênh đầu mối: Dẫn nước từ nguồn đến kênh cấp 1
- Kênh cấp 1: Lấy nước từ kênh đầu mối phân phối nước cho kênh cấp 2
- Kênh cấp 2: Lấy nước từ kênh nhánh cấp 1 phân phối cho kênh nhánh cấp 3
- Kênh cấp 3: Lấy nước từ kênh nhánh cấp 2 phân phối cho cấp kênh cuối cùng
- Kênh nhánh cấp 4: Còn là kênh nội đồng: Đây là cấp kênh tưới cố định cuối cùng trên đồng ruộng, phụ trách tưới cho khoảnh ruộng, thửa ruộng
Khai thác các công trình thuỷ lợi: Là một quá trình vận hành, sử dụng
và quản lý các công trình thuỷ nông nhằm đảm bảo cung cấp và tiêu thoát nước đúng kế hoạch tưới tiêu, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho khu vực tưới tiêu và xã hội
Thuỷ lợi phí: Là một phần phí dịch vụ về nước của công trình thuỷ
lợi, để góp phần chi phí cho công tác duy tu, vận hành và bảo vệ công trình thuỷ lợi
1.1.2 Lý luận về quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi
1.1.2.1 Hệ thống các văn bản pháp lý liên quan tới đề tài
- Luật tài nguyên nước ngày 20 tháng 5 năm 1998
- Pháp lệnh số 32/2001/PL-UBTVQH10 về khai thác và bảo vệ các công trình thuỷ lợi ngày 04/4/2001
- Nghị định số 143/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ các công trình Thuỷ lợi; Nghị định số 115/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 143/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2003
Trang 22- Nghị đinh số 172/2004 NĐ-CP ngày 29/9/2004 về tổ chức các cơ quan chuyên môn huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
- Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; Nghị định
số 04/2008/NĐ-CP, ngày 11/01/2008 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 của Chính phủ
- Quyết định số 87/2006/QĐ-TTg ngày 20/4/2006 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh thời kỳ 2006-2020
- Thông tư số 65/2009/TT-BNN ngày 12 tháng 10 năm 2009 của Bộ Nông nghiệp & PTNT về việc hướng dẫn tổ chức hoạt động và phân cấp quản
lý, khai thác công trình thủy lợi
- Quyết định số 1481/QĐ-UB ngày 16/10/2007 của UBND tỉnh Lai Châu về việc phê duyệt Quy hoạch thuỷ lợi giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng 2020
- Quyết định số 29/QĐ-UBND ngày 27 tháng 11 năm 2009 của UBND tỉnh Lai Châu về việc tổ chức, quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi cấp nước sinh hoạt nông thôn do Nhà nước đầu tư trên địa bàn tỉnh Lai Châu
- Quyết định số 317/QĐ-UB ngày 15/3/2011 của UBND tỉnh Lai Châu
về việc phê duyệt đề cương, dự toán kinh phí rà soát điều chỉnh Quy hoạch thuỷ lợi giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng 2020
1.1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi;
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi;
- Quyết định việc điều chỉnh quy hoạch hệ thống công trình thủy lợi, dự
án đầu tư sửa chữa, nâng cấp công trình thủy lợi và kế hoạch tài chính cho doanh
Trang 23nghiệp nhà nước khai thác công trình thủy lợi, tổ chức hợp tác dùng nước; giám sát chất lượng thi công; tổ chức nghiệm thu, bàn giao công trình;
- Cấp, thu hồi giấy phép đối với các hoạt động phải có phép trong phạm
vi bảo vệ công trình thủy lợi;
- Phê duyệt phương án bảo vệ công trình thủy lợi; quyết định biện pháp
xử lý trong trường hợp công trình thủy lợi có nguy cơ xảy ra sự cố; chỉ đạo việc điều hòa, phân phối nước của công trình thủy lợi trong trường hợp xảy ra hạn hán, ưu tiên nước cho sinh hoạt;
- Tổ chức việc nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào việc khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; tổ chức bộ máy tuyên truyền, phổ biến pháp luật về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho người làm công tác quản lý khai thác và bảo
vệ công trình thủy lợi;
- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi;
- Tổ chức thực hiện việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi [6]
1.1.2.3 Vai trò của quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi
Thuỷ lợi là một ngành có đóng góp đáng kể để giải quyết các vấn đề quan trọng của nền kinh tế quốc dân Đặc biệt trong lĩnh vực an ninh lương thực, năng lượng và môi trường Nghị quyết đại hội Đảng đã chỉ ra rằng nông nghiệp phải là mặt trận hàng đầu.Vì phát triển nông nghiệp là vấn đề giải quyết vấn đề lương thực thực phẩm Bên cạnh các biện pháp thâm canh tăng năng xuất cây trồng như cơ giơi hoá nông nghiệp, phân bón, bảo vệ thực vật thì thuỷ lợi phải là biện pháp hàng đầu Thực tế bài toán xâm nhậm mặn và hạn hán tại một số tỉnh của nước ta trong thời gian gần đây do thiếu nước ngọt
đã minh chứng cho điều đó
Xuất phát từ vai trò của ngành thuỷ lợi trong hệ thống kinh tế quốc dân
mà ngành thuỷ lợi có một số nhiệm vụ như sau:
Trang 24- Cung cấp nước cho dân sinh, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông thuỷ với khối lượng và chất lượng cần thiết
- Dẫn và xử lý nước thải để bảo vệ nguồn nước tránh bị ô nhiễm
- Hồi phục và bổ sung nguồn nước để lợi dụng theo kế hoạnh
- Phòng chống lũ lụt, bảo vệ bờ biển, tránh những thiệt hại về người, tài sản của nhân dân và tài sản xã hội chủ nghĩa
Thuỷ lợi phục vụ nhiều mục đích như: yêu cầu tưới tiêu, phát điện, cung cấp nước cho đời sống, phát triển giao thông thuỷ, chống lũ lụt bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân
Xây dựng thuỷ lợi là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt, nó sản xuất trực tiếp ra tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân Ngành thuỷ lợi góp phần trực tiếp cải thiện đời sống của nhân dân thông qua các công trình, tạo ra tích luỹ cho xã hội từ lợi nhuận của các hoạt động sản xuất kinh doanh
Ngành thuỷ lợi góp phần thực hiện đường lối kinh tế, chính trị, văn hoá, quốc phòng của Đảng đồng thời thuỷ lợi quản lý một khối lượng lớn vốn đầu tư nhà nước, thường chiếm khoảng 8-10% vốn đầu tư xây dựng của các ngành trong nền kinh tế quốc dân Thuỷ lợi đã tạo ra một giá trị sản phẩm xã hội bằng 11%-12% Tổng sản phẩm quốc dân cả nước và tiêu phí từ 14-16% tổng số lao động
Vì vậy, vai trò của quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi được thể hiện tại Điều 29 pháp lệnh số 32/2001/PL-UBTVQH10, về khai thác
và Bảo vệ các công trình Thuỷ lợi ngày 04/4/2001 cụ thể như sau:
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi
- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi theo sự phân công của Chính phủ
Trang 25- Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi ở địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ Sơ
đồ tổ chức quản lý nhà nước về thủy lợi được trình bày tại hình 1.2
Hình 1.1 cho thấy cơ cấu bộ máy quản lý Nhà nước đối với công tác QLKT CTTL hiện nay được chia thành 4 cấp:
Cấp Trung ương: Do Bộ Nông nghiệp & PTNT mà trực tiếp là Tổng Cục Thủy Lợi; Cấp Tỉnh: Do Sở Nông nghiệp & PTNT giao cho các Chi cục Thủy lợi; Cấp Huyện: Được giao Phòng Nông nghiệp & PTNT hoặc Phòng Kinh tế; Cấp Xã: Giao cho cán bộ phụ trách về giao thông-thủy lợi quản lý
Hình 1.1 Sơ đồ tổ chức quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi
Trong những năm qua, một số cơ chế chính sách về quản lý, khai thác CTTL đã được ban hành phục vụ công tác quản lý như Pháp lệnh số 32/2001/PL-UBTVQH10 về Khai thác & bảo vệ CTTL, Nghị định số 143/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác & bảo vệ CTTL; Nghị định số 72/2007/NĐ-CP ngày 7/5/2007 về Quản
Trang 26lý an toàn đập và một số Thông tư trong công tác quản lý, khai thác & bảo vệ
CTTL cũng như các quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật phục
vụ quản lý vận hành
1.1.2.4 Đặc điểm quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi
Đặc điểm quản lý nhà nước về các công trình thủy lợi được thể hiện theo các nguyên tắc và chính sách sau:
a) Nguyên tắc trong hoạt động thủy lợi:
- Hoạt động thủy lợi phải đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia
- Phát triển thủy lợi phải dựa trên cơ sở khoa học, kết hợp kinh nghiệm truyền thống với việc áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; kết hợp đồng
bộ các giải pháp công trình và phi công trình
- Các công trình thủy lợi phải được tổ chức quản lý bảo vệ, vận hành chặt chẽ, hiệu quả, bền vững đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đề ra; ưu tiên bảo vệ
và đáp ứng yêu cầu phục vụ trực tiếp đối với người dân; đảm bảo an ninh lương thực quốc gia
- Tham gia phát triển thủy lợi là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức,
cá nhân
- Tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ thủy lợi có trách nhiệm trả tiền theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
b) Chính sách của Nhà nước trong hoạt động thủy lợi:
Nhà nước thực hiện các chính sách sau đây để phát triển thủy lợi:
- Đầu tư cho phát triển thủy lợi; bảo đảm cho các hoạt động thuỷ lợi được đầu tư từ ngân sách nhà nước; ưu tiên đầu tư các công trình trọng điểm quốc gia, công trình vùng kinh tế trọng điểm, vùng đặc biệt khó khăn về cấp, thoát nước
- Khuyến khích các tổ chức, cá nhân thực hiện các công tác thủy lợi khác
- Bảo đảm công bằng xã hội trong công tác thủy lợi đối với các đối tượng, các vùng, miền
- Tạo động lực để tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng, quản lý khai thác công trình thủy lợi
Trang 27- Khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học và chuyển giao công nghệ tiên tiến vào xây dựng, quản
lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi
- Nhà nước có chính sách khuyến khích để nhà đầu tư tư nhân đầu tư xây dựng, quản lý vận hành công trình thủy lợi theo hình thức hợp tác công
tư, tạo điều kiện để nhà đầu tư thực hiện dự án, thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý
- Nhà nước có chính sách hỗ trợ cho người dân xây dựng công trình thủy lợi quy mô nhỏ trên địa bàn cấp xã
Ngoài ra nhà nước có chính sách đối với các công trình thủy điện tham gia phòng, chống lũ và cấp nước phục vụ sản xuất, dân sinh
1.1.2.5 Nội dung quản lý nhà nước về các công trình thủy lợi
Để giải quyết mục tiêu đề ra, đề tài tập trung vào 3 nội dung chính:
- Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện Tam Đường: Trong đó tập trung vào hệ thống các khái niệm liên quan, các quan điểm, hệ thống các văn bản quy phạm về quản lý nhà nước đối các CTTL; Phân tích kinh nghiệm thực tiễn của các nước trên thế giới, và các địa phương khác tại Việt Nam về công tác quản lý nhà nước đối với các CTTL;
- Phân tích thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với các công trình thuỷ lợi tại huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu: Trên cơ sở phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với các công trình thuỷ lợi tại huyện Tam Đường; Phân tích hiện trạng phân cấp QLNN đối với các CTTL; Phân tích hiện trạng nguồn nhân lực, công tác quản lý đầu tư, duy tu sửa chữa các CTTL, Từ đó đánh giá thực trạng chung trong công tác QLNN đối với các CTTL tại huyện Tam Đường
- Xây dựng và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các công trình thủy lợi góp phần nâng cao kết quả sử dụng các công trình thuỷ lợi tại huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu
Trang 281.1.2.6 Một số yếu tố ảnh hưởng tới quản lý nhà nước đối với công trình thủy lợi
Thực tế cho thấy công tác quản lý nhà nước về thủy lợi không phải lúc nào cũng thuận lợi Nó luôn bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau và có thể tác động theo hai chiều cả tích cực và tiêu cực, phụ thuộc vào từng thời điểm
và ở tại mỗi vùng khác nhau sẽ có mức ảnh hưởng khác nhau Có thể kể ra một số yếu tố sau:
- Các yếu tố về cơ chế, chính sách
- Các yếu tố về tài chính
- Các yếu tố về nguồn nhân lực
- Các yếu tố liên quan tới đặc điểm kỹ thuật của các công trình thủy lợi
- Các yếu tố về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của khu vực
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Tổng quan về quản lý nhà nước đối với công trình thủy lợi trên thế giới
Kinh nghiệm của một số nước về chính sách thủy lợi phí cho thấy việc xác lập mức thu thủy lợi phí đối với sản xuất nông nghiệp phải dựa vào điều kiện thực tiễn của từng quốc gia, đặc biệt là điều kiện kinh tế xã hội và mức sống của dân để quyết định Hầu hết các nước việc thu thủy lợi phí chỉ để trang trải chi phí vận hành và bảo dưỡng và hầu như vẫn chưa đủ chi bù đắp được khoảng 20 -70% cho chi phí vận hành, bảo dưỡng, thấp nhất là ấn Độ và Pakistan chỉ thu hồi được 20 -39%… thực tế hiện nay, cả các nước đang phát triển và phát triển cũng đang tính lại chính sách về phí sử dụng nước và một
số nước đã bắt đầu thu lại ít nhất một phần kinh phí ban đầu từ người sử dụng như Australia và Brazin
* Kinh nghiệm của Trung Quốc: Chính phủ ban hành chính sách về
giá nước mang tính nguyên tắc giao cho địa phương trực tiếp quản lý công trình thủy lợi, quy định cụ thể cho phù hợp trên cơ sở lợi ích kinh tế và mức chi phí thực tế đã sử dụng, mức chi phí tính toán và ý kiến tham gia của người dân
Trang 29Giá nước bao gồm các khoản:
+ Các loại khấu hao
+ Chi phí quản lý vận hành
+ Các loại thuế và lãi
Cơ cấu giá nước bao gồm
+ Đảm bảo chi phí cho đơn vị quản lý vận hành
+ Đảm bảo tính công bằng
Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy từ khi bắt đầu thu thủy lợi phí việc sử dụng nước được tiết kiệm hơn Đặc biệt là khi thủy lợi phí được tính bằng m3, nhưng điều này cũng là một thách thức đối với các đơn vị quản lý vận hành, đơn vị quản lý công trình thủy lợi phải có các biện pháp để quản lý tốt, giảm các tổn thất để có nhiều nước bán cho nông dân theo yêu cầu của họ và giảm thiểu chi phí Giá nước tưới có chính sách riêng, được quy định phù hợp với điều kiện cụ thể, mang tính công ích và căn cứ vào chi phí thực tế Nhà nước có chính sách hỗ trợ các trường hợp sau:
+ Vùng nghèo khó khăn, mức sống thấp
+ Khi công trình hư hỏng nặng cần phải sửa chữa
+ Hỗ trợ chi phí cho diện tích tiêu phi canh tác
+ Hỗ trợ chi phí tiền điện tưới tiêu
Tùy theo loại hình công trình, tự chảy hay động lực, điều kiện cụ thể của hệ thống công trình để quy định mức thu và có chính sách hỗ trợ Cơ quan nào quyết định miễn giảm giá nước tưới thì cơ quan đó có trách nhiệm cấp bù hỗ trợ tài chính cho đơn vị quản lý công trình thủy lợi
Về vấn đề quản lý: Trung Quốc tồn tại 2 hình thức quản lý
- Quản lý tập trung: Các công trình thủy lợi đều do Chính phủ quản lý, các đơn vị quản lý do Chính phủ thành lập, nước được cung cấp miễn phí, các chi phí vận hành bảo dưỡng công trình thủy lợi cũng như lương cho nhân
Trang 30viên, cán bộ lấy từ doanh thu công cộng với cách quản lý này cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến xuống cấp công trình thủy lợi vào giữa thập kỷ 70 và lên đỉnh điểm vào đầu thế kỷ 80
- Quản lý phân quyền: Quản lý theo hợp đồng theo nguyên tắc phân tích quyền quản lý và quyền sở hữu Trong thời gian này đối tượng tiêu dùng
và các dịch vụ thủy nông cũng được chuyển đổi từ hình thức HTX sang cho hàng nghìn, hàng triệu các hộ cá thể Các dịch vụ cung cấp nước đã phải được trả tiền thay vì “có thể được trả tiền” như trước đây Cũng từ đây, trách nhiệm
và nghĩa vụ của Trung ương cũng như địa phương được phân ra để quản lý công trình thủy lợi một cách rõ ràng
* Kinh nghiệm ở Australia: Tại lưu vực miền nam Murray - Darling năm
1992 thủy lợi phí nông nghiệp thu đáp ứng được 80% chi phí vận hành và bảo dưỡng và đến năm 1996 thu được 100% chi phí vận hành và bảo dưỡng Giá cả cũng khác nhau giữa các vùng ở bang Victoria mức thu gần đảm bảo chi phí vận hành và bảo dưỡng (năm 1995) Ở New South Weles thu trong nội bang thu khoảng 0,92 USD/1000m3 (năm 1995), trong khi đó nếu nước được đưa sang bang Victoria thì giá nước tăng hơn 3,6 lần giá nước trong nội bang New South Wales Tương tự như vậy ở bang Quuensland giá thu trong nội bộ bang khoảng 1,5 USD/1000m3 trong khi đó giá nước chuyển ra ngoài bang tăng hơn 4,2 lần, cuối cùng đối với vùng miền nam, lưu vực Muray - Darlinl năm 1991 - 1992 mức thu đồng đều hơn 7,8 USD/1000m3 (tương đương với 80% chi phí vận hành và bảo dưỡng), từ năm 1992 trở đi giá cao hơn giá thành 11% để thu hẹp khoảng cách giữa chi phí đầu tư và thu hồi vốn
* Kinh nghiệm ở Mỹ và một số quốc gia khác
Mỹ là một quốc gia có nguồn tài nguyên nước phong phú
+ Trước kia thủy nông địa phương thu thủy lợi phí dựa trên cơ sở chi phí vận hành và bảo dưỡng cho các vùng đất canh tác khác nhau
Trang 31+ Bắt đầu từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước, Nhà nước đã xây dựng luật mà nó bao hàm cả việc bảo vệ tài nguyên nước Thủy lợi phí đã được thu tăng lên đáng kể Năm 1988 thủy nông huyện Broadview đã tăng mức thu từ 40 USD/ha lên 100 USD/ha
- Kinh nghiệm của ấn Độ mức thu dao động từ 6 - 1000 Rs/ha Mức thu thủy lợi phí cũng tính theo diện tích và loại cây trồng Cũng trong thời gian từ 1979 -1990, mức thu đối với lúa nước từ 40 -220 Rs/ha tùy theo vùng lãnh thổ, mức thu đối với lúa mỳ từ 29 - 143 Rs/ha và mức thu đối với mía từ 62 - 830 Rs/ha
- Kinh nghiệm của Đài Loan: Trước năm 1991, mức thu dao động từ 20 -
300 kg thóc/ha - năm tùy theo vùng, điều kiện nước Mức thu thu đó nhìn chung tương đương 2% tổng chi phí đầu vào cho sản xuất nông nghiệp Đến năm 1991 Chính phủ trợ cấp 1,43 tỷ nhân dân tệ (tương đương 52 triệu USD) và thủy lợi phí thu được ở mức đồng đều là 20 kg/ha/năm Đến năm 1992 tổng trợ cấp thủy lợi phí từ Nhà nước và địa phương là 1,87 tỷ nhân dân tệ trong đó ngân sách trung ương chiếm 74% và ngân sách địa phương 26% Mức trợ cấp như vậy tương đương với mức hỗ trợ hàng năm là 183 USD/ha đất canh tác [9]
* Bài học kinh nghiệm
Đa số các công trình thủy nông hiện tại của các nước trên thế giới là khó kiểm soát được chính xác toàn bộ hoặc từng phần nước sử dụng trong mỗi nông trại Mặt khác, công trình thuỷ lợi không những chỉ phục vụ tưới tiêu cho nông nghiệp mà còn đáp ứng nhu cầu sản xuất phi nông nghiệp và sinh hoạt cho công đồng, song người tiêu dùng ở các khu vực này lại không phải trả tiền Trước những khó khăn đó hầu hết các chính phủ đều lựa chọn chính sách từ bỏ thu thuỷ lợi phí và khuyến khích rộng rãi nông dân; những người sản xuất nông nghiệp tự làm thuỷ lợi Riêng đối với những công trình thuỷ lợi lớn đã được xây dựng nhiều nhà kinh tế cho rằng: duy trì mức thu, đảm bảo đủ kinh phí khai thác và vận hành công trình là hợp lý hơn cả, còn chi phí sửa chữa, nâng cấp công trình sẽ do chính phủ gánh chịu
Trang 321.2.2 Tổng quan về QLNN đối với công trình thủy lợi tại Việt Nam
1 2.2.1 Hệ thống các tổ chức quản lý và sử dụng các công trình thủy lợi
Hiện tại hệ thống tổ chức bộ máy quản lý, khai thác CTTL từng bước được củng cố và phát triển Tính đến cuối năm 2012 cả nước có 102 đơn vị trực tiếp quản lý, khai thác CTTL với 24.458 người Ngoài ra còn 16.238 tổ chức hợp tác dùng nước với hơn 81.800 người tham quản lý CTTL quy nhỏ, nội đồng Cho đến nay, hầu hết các CTTL đều có đơn vị trực tiếp quản lý, khai thác và bảo vệ Công tác quản lý, khai thác CTTL đang từng bước đi vào nề nếp, tuân thủ các quy định về quản lý, vận hành công trình, phục vụ tốt SX, dân sinh, KT-XH Một số tỉnh, TP đã chủ động đổi mới mô hình tổ chức và cơ chế quản lý nhằm nâng cao hiệu quả các CTTL như Tuyên Quang, An Giang, Hà Nội, Thái Nguyên, Ninh Thuận, Bình Thuận, Tiền Giang, Thanh Hóa [3] Theo nghiên cứu của Nguyễn Đình Ninh [4] thì đến nay, cả nước có 172 doanh nghiệp nhà nước với gần 20000 cán bộ công nhân, trong đó có 1800 cán bộ đại học và trên đại học Những năm qua, các doanh nghiệp nhà nước khai thác công trình thuỷ lợi đã cố gắng trên cả 3 nội dung của công tác quản lý là quản lý công trình, quản lý nước và quản lý kinh tế Nhưng hầu hết các doanh nghiệp đều rơi vào tình trạng tài chính khó khăn, công trình xuống cấp, đời sống của người lao động thấp dẫn đến hiệu quả khai thác chưa cao [4]
Cấp quản lý các công trình đầu mối, kênh trục chính (cấp 1, cấp 2), bao gồm gần 110 doanh nghiệp quản lý khai thác chủ yếu là các công trình đầu mối, kênh trục chính chưa bao gồm các doanh nghiệp, tổ chức khác thuộc Nhà nước cũng được giao nhiệm vụ quản lý, khai thác và sử dụng công trình thủy nông
Cấp quản lý các công trình thủy nông, mặt ruộng khoảng 13000 tổ chức hợp tác dùng nước bao gồm các hợp tác xã nông lâm nghiệp có làm dịch vụ thủy nông, hợp tác xã dùng nước, tổ chức hợp tác Ban quản lý khai thác công trình thủy nông, tổ thủy nông, đường nước độc lập
Trang 33Một số loại hình có tính chất đặc thù khác bao gồm ban quản lý khai thác công trình thủy nông, công trình liên huyện, liên xã trung tâm quản lý khai thác các công trình thủy nông Chi cục thủy lợi, công ty xây dựng thủy lợi cũng giao chức năng quản lý, khai thác công trình thủy nông
Tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi trên cả nước có 93 Công
ty khai thác công trình thuỷ lợi (trong đó có 3 công ty liên tỉnh trực thuộc Bộ NN&PTNT, còn lại là các Công ty trực thuộc UBND cấp tỉnh), một số tổ chức
sự nghiệp và hàng vạn Tổ chức hợp tác dùng nước (TCHTDN) Trong những năm qua, tiếp tục thực hiện lộ trình sắp xếp, đổi mới hoạt động của doanh nghiệp các địa phương tiếp tục đổi mới, kiện toàn các tổ chức quản lý khai thác công trình thuỷ lợi và củng cố tổ chức hoạt động của các tổ chức hợp tác dùng nước Một số tỉnh đã kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về thuỷ lợi như Thừa Thiên Huế, Hà Giang, Bắc Cạn, Phú Yên đã thành lập các Chi cục Thuỷ lợi hoặc kiện toàn về tổ chức như Quảng Ngãi Các địa phương khác chưa có Chi cục Thuỷ lợi cũng đang trong quá trình xây dựng Đề án thành lập Chi cục Thuỷ lợi Các doanh nghiệp KTCTTL thường xuyên chịu tác động của các chủ trương, chính sách mới, dẫn đến việc thường xuyên đưa vào diện được xem xét tách, nhập, tổ chức lại Một số tỉnh đã thực hiện đổi mới, sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi (KTCTTL) trong tỉnh như TP.Hà Nội, tỉnh Hải Dương Nhìn chung tiến độ đổi mới hoạt động của các doanh nghiệp KTCTTL còn chậm Theo báo cáo của Cục thuỷ lợi, đến nay hầu hết các doanh nghiệp, đơn vị quản lý KTCTTL chưa thực hiện đổi mới tổ chức và giảm bớt được số lượng công nhân quản lý thuỷ nông Nhiều địa phương chưa thành lập các TCHTDN để quản lý các công trình thuỷ lợi nhỏ và công trình thuỷ lợi nội đồng ở những hệ thống công trình thuỷ lợi vừa và lớn (Bắc Cạn, Hà Giang, Cà Mâu, Hà Tĩnh ) Ở một số địa phương, UBND xã hoặc thôn quản lý các công trình thuỷ lợi nhỏ và công trình thuỷ lợi nội đồng trong địa bàn xã, trong khi UBND xã và thôn không phải là các TCHTDN Nhiều
Trang 34địa phương ở vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long các tổ thuỷ nông quản lý công trình thuỷ lợi nội đồng trong địa bàn xã Các tổ thuỷ nông này chưa phải là các tổ chức hợp tác dùng nước hoàn chỉnh
Việc thực hiện Nghị định 115/2009/NĐ-CP của Chính phủ về miễn giảm thuỷ lợi phí còn gặp nhiều vướng mắc ở các địa phương Đối với phần kinh phí cấp cho các doanh nghiệp KTCTTL không có nhiều vướng mắc, tuy nhiên việc triển khai phân bổ kinh phí cho các tổ chức hợp tác dùng nước và các đơn vị quản lý KTCTTL không phải là doanh nghiệp còn gặp nhiều vướng mắc Để phần nào gỡ bỏ các vướng mắc đó hiện tại nhiều địa phương đang tiến hành phân cấp quản lý khai thác các công trình thủy lợi Nhìn chung, các tỉnh đều có chủ trương phân cấp công trình thuỷ lợi nhỏ, phạm vi tưới cho 1 xã, mức độ quản lý đơn giản cho các tổ chức hợp tác dùng nước Một số tỉnh đã đề
ra các tiêu chí phân cấp quản lý theo quy mô công trình, ranh giới hành chính
và mức độ phức tạp về quản lý công trình [10] Hầu hết các tỉnh đều áp dụng tiêu chí ranh giới hành chính để phân cấp công trình thuỷ lợi Các tỉnh đều có chủ trương phân cấp công trình thuỷ lợi nhỏ, phạm vi tưới, tiêu cho 1 xã cho các tổ chức hợp tác dùng nước Các tồn tại, vướng mắc khi thực hiện phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi như sau:
- Một số tỉnh chỉ có Công ty KTCTTL tỉnh, mà không thành lập các xí nghiệp khai thác thuỷ lợi huyện (tỉnh Bạc Liêu, Hậu Giang)
- Một số tỉnh, đến nay chưa có Công ty KTCTTL cấp tỉnh, nhất là các tỉnh ở vùng miền núi phía Bắc và vùng Đồng bằng sông Cửu Long Nhiều tỉnh miền núi đến nay chỉ thành lập các trạm thuỷ lợi cấp huyện, như tỉnh, Lào Cai, Hà Giang…
- Do thiếu cơ chế hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ tài chính nên mặc dù thấy được hiệu quả song nhiều địa phương vẫn còn dè dặt trong phân giao quản lý các công trình thuỷ lợi nhỏ, kỹ thuật đơn giản cho các tổ chức hợp tác dùng nước và cá nhân quản lý
Trang 35- Một số tỉnh không thực hiện phân cấp quản lý trực tiếp cho các tổ chức hợp tác dùng nước mà phân cấp cho các huyện Nhưng một số huyện không thành lập được các trạm khai thác thuỷ lợi hoặc các tổ chức hợp tác dùng nước, nên huyện tạm thời cử cán bộ của phòng kinh tế huyện quản lý
- Ở nhiều địa phương, hiện nay các công trình thuỷ lợi nhỏ và các kênh nội đồng (kênh loại III) trong 1 xã vẫn do các Công ty KTCTTL quản lý (Quảng Nam, Hải Dương, Nghê An) Trong khi đó, đối với các công trình thuỷ lợi nhỏ ở nhiều tỉnh miền núi phía Bắc (Sơn La, Hoà Bình ) về danh nghĩa các Công ty KTCTTL chịu trách nhiệm quản lý công trình đầu mối và tuyến kênh chính còn các tổ chức thuỷ nông cơ sở (thôn, bản) quản lý hệ thống kênh nội đồng, nhưng thực tế các công trình đầu mối và kênh chính cũng do các thôn, bản quản lý vận hành
- Các tiêu chí phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi thực hiện khác nhau ở các địa phương Tiêu chí phân cấp hệ thống công trình thuỷ lợi
có quy mô nhỏ, vừa và lớn chưa được thống nhất trong các văn bản pháp quy cũng như trong các báo cáo khoa học Tiêu chí về quy mô công trình thuỷ lợi nội đồng không thống nhất ở các địa phương Tiêu chí phân loại cấp kênh không thống nhất ở các văn bản khác nhau, dẫn đến tình trạng thực hiện phân cấp quản lý công trình thuỷ lợi cùng khác nhau ở các địa phương Hầu hết các tỉnh chưa đưa ra tiêu chí phân cấp quản lý công trình thuỷ lợi đầu mối là các trạm bơm điện hoặc đập dâng nước [10]
1 2.2.2 Tình hình phát triển hệ thống thủy lợi ở các vùng trong nước
a) Tình hình thủy lợi trước Cách mạng Tháng tám:
Để sử dụng nước và chống những tác hại do nước gây ra, nhân dân ta
đã có truyền thống làm thủy lợi lâu đời Với những hình thức như đắp bờ khoanh vùng, đào đắp kênh mương, làm những đập chắn, các guồng nước đơn sơ trên các sông suối, lấy nước phục vụ nông nghiệp Những sông đào như sông Đuống, sông Luộc ở ngoài Bắc, những kênh Đông Xuyên, Vĩnh Tế
đã có tác dụng cho đến nay Nước ta đã có đê rất sớm Lịch sử đã ghi, đê Cơ
Xá (Hà Nội) đắp năm 1108 từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 16 đã xây dựng được hệ thống đê điều ở đồng bằng Bắc Bộ
Trang 36Trong 80 năm đô hộ, thực dân Pháp cũng có làm một số công trình như
hệ thống Đô Lương (Nghệ Tĩnh), Bái Thượng (Thanh Hóa), Thác Huống (Bắc Thái) Trạm thủy điện Tà Sa - Nà Ngần, một số trạm bơm ở Sơn Tây, Nghệ
An, hệ thống tưới Đồng Cam (Phú Khanh)… Những công trình này chủ yếu
để phục vụ cho các đồn điền và khai thác hầm mỏ của thực dân Pháp, nhiều công trình đến nay đã hư hỏng, có công trình không còn tác dụng Về quản lý các công trình thủy nông chủ yếu là do người pháp trực tiếp quản lý kết hợp với bộ máy cai trị thuộc địa Tuy nhiên, đầu tư phát triển thuỷ nông thời kỳ này chủ yếu giải quyết lợi ích trước mắt phục vụ cho mục đích riêng chứ chưa mang tính tổng thể, đồng bộ và toàn diện nên hiệu quả khai thác thấp, nhiều dự
án công trình thủy nông được triển khai nhưng còn ở mức độ không đáng kể
b) Tình hình phát triển thủy lợi sau Cách mạng Tháng tám:
Trong những ngày đầu cách mạng mới thành công, để cứu đói và đẩy mạnh sản xuất, Đảng và Chính phủ đã huy động toàn dân đắp lại đoạn đê bị
vỡ, khôi phục các công trình thủy nông
Trong những năm kháng chiến chống Pháp, hầu hết các công trình thủy nông bị giặc phá hoại Nhân dân ta đã đấu tranh bảo vệ các công trình,
tu sửa đê điều, làm thủy lợi phục vụ sản xuất, góp phần đưa kháng chiến đến thắng lợi
Năm 1955 miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, đây là thời kỳ mà sự nghiệp thủy lợi phát triển mạnh nhất Chỉ sau 3 năm khôi phục kinh tế (1955 - 1957) tất cả 12 hệ thống thủy nông lớn đã trở lại hoạt động bình thường Sáu
hệ thống mới được xây dựng thêm và đến cuối thời kỳ này, diện tích tưới đã đạt trên 1300000 ha
Trong 3 năm cải tạo và phát triển kinh tế (1958 - 1960) ta xây dựng hàng ngàn công trình thủy lợi loại lớn, vừa và nhỏ Đã làm thêm 9 hệ thống thủy nông lớn, như hệ thống Bắc Hưng Hải phục vụ tưới gần 130000 ha, tiêu
65000 ha Những hồ chứa nước như hồ Suối Hai mỗi công trình tưới cho hơn
Trang 3775000 ha Tính đến cuối năm 60, diện tích được tưới đã đạt trên 1900000 ha Diện tích úng bị thu hẹp, biến 45000 ha một vụ thành hai vụ Đê kè được củng cố và tôn cao, các nhà máy thủy điện được khôi phục và mở rộng với công suất 15000 kw
Trong kế hoạch năm năm (1960 - 1965), với Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ 5, Đảng đã xác định rõ “Thủy lợi là biện pháp hàng đầu để phát triển nông nghiệp”, với phương châm xây dựng kết hợp công trình nhỏ, công trình vừa và lớn, do Nhà nước đầu tư hoặc Nhà nước và nhân dân cùng làm, phong trào làm thủy lợi đã dấy lên mạnh mẽ Trong thời kỳ này đã xây dựng nhiều công trình thủy nông lớn và vừa bao gồm hồ chứa nước, trạm bơm, cống lấy nước, tiêu nước, công trình phân lũ, nhà máy thủy điện và mạng lưới thủy nông gồm hàng vạn công trình trên hệ thống để phục vụ sản xuất nông nghiệp và các lĩnh vực kinh tế đời sống
Sau thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cả nước
đi lên chủ nghĩa xã hội Thủy lợi giữ vai trò chủ yếu trong công cuộc khôi phục
và phát triển kinh tế, phục hồi đắc lực cho phát triển nông nghiệp Nhiều công trình bị hư hỏng trong chiến tranh được khôi phục như đập Cẩm Ly (Quảng Bình), trạm bơm Linh Cảm (Hà Tĩnh) Hệ thống Tam Giang (Phú Yên) đã làm mới và đưa vào khai thác nhiều công trình cỡ lớn như hồ chứa nước Đồng Mô- Ngải Sơn (Hà Tây), những công trình như Dầu Tiếng, Thạch Nham đang được khai thác, mỗi công trình có năng lực tưới hàng vạn ha
Những công trình thủy điện lớn như Thác Bà, Hòa Bình, Trị An, và những dự án tiếp theo nhằm khai thác nguồn thủy năng của đất nước, đó là những sự kiện, những cái mốc lớn trên con đường xây dựng xã hội ở nước ta
c) Tình hình phát triển thuỷ lợi thời kỳ 1975 đến nay:
Sau khi thống nhất đất nước và đi lên xây dựng xã hội chủ nghĩa thì phát triển nông nghiệp, nông thôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm
Trang 38trong phạm vi cả nước Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V đã nhấn mạnh “Tập trung phát triển nông nghiệp, nông thôn và đưa nông nghiệp lên một bước sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa” (Đảng cộng sản Việt Nam (2000),
Các văn kiện đại hội của Đảng, Hà Nội) Trong Nghị quyết của Đảng từ Đại hội VI đến Đại hội IX, vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn đều đã được khẳng định và là một trong những nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước Trong các kỳ đại hội đã được nhấn mạnh để nông nghiệp phát triển bền vững, Đảng và Nhà nước luôn luôn chú trọng đầu tư phát triển thuỷ lợi Chính vì vậy trên cả nước đã có nhiều công trình thủy nông được đầu tư xây dựng, sự kết hợp giữa thuỷ điện và thuỷ lợi, phát triển nuôi trồng thuỷ sản, du lịch đã tạo ra sự chuyển đổi quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nhiều địa phương và thực sự cho phép khai thác triệt để nguồn tiềm năng để phát triển kinh tế cũng như bảo vệ môi trường sinh thái Điển hình như các công trình thủy lợi Hồ Kẻ Gỗ tại Hà Tình, đập dâng nước Nam Thạch Hãn tỉnh Quảng Bình Công tác quản lý trong giai đoạn này cũng được sắp xếp lại theo hướng thành lập các Công ty khai thác công trình thủy lợi Các tỉnh trao quyền tự chủ hoạt động cho các Công ty khai thác công trình thủy lợi Cơ chế quản lý mới được tạo ra để các Công ty quản lý khai thác công trình thủy lợi trở thành Doanh nghiệp Nhà nước tự chủ, từng bước cân đối thu chi, đồng thời tăng cường quản lý khai thác công trình để nâng cao chất lượng
dịch vụ Nhiều công trình thủy lợi được đầu tư xây dựng và đã có tác dụng đảm
bảo nước tưới, hạn chế lũ lụt, khắc phục tình trạng ngăn mặn, chua phèn cho nhiều vùng Các công trình thủy nông còn giải quyết vấn đề nước sinh hoạt cho hàng triệu dân, cải tạo môi trường sinh thái theo hướng phát triển bền vững, phát triển thuỷ điện và du lịch đồng thời tạo ra những điều kiện quan trọng cho quá trình thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi và mùa vụ của tùng vùng lãnh thổ và trên cả nước
Trang 39d) Kết quả của thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và các ngành kinh tế khác:
Ở nước ta trước đây, nhiều vùng khi có công trình thủy lợi đảm bảo tưới tiêu, giá đất đang sản xuất tăng 5 lần, giá đất có khả năng khai hoang tăng 15 - 20 lần Trong thực tế sản xuất nhiều nơi đã cho thấy hiệu quả do nước chiếm 30 - 40% sản lượng thực tế
Riêng đối với sản xuất nông nghiệp, thủy lợi không đơn giản là biện pháp kỹ thuật hàng đầu mà nhiều nơi là điều kiện sản xuất, là tiền đề phát huy hiệu quả của các biện pháp khác như khai hoang, phục hóa, tăng diện tích, chuyển vụ, đưa các giống mới có năng suất cao và kỹ thuật thâm canh vào sản
xuất đại trà Theo thống kê, năm 2006 tổng diện tích được tưới của cây hàng năm là 8,33 triệu ha trong tổng số 11,561 triệu ha gieo trồng các loại, trong đó tưới cho lúa khoảng 6,88 triệu ha, hoa màu và cây công nghiệp hàng năm đạt 1,45 triệu ha, tiêu cho hơn 2 triệu ha đất nông nghiệp Cấp nước sinh hoạt và công nghiệp trên 5 tỷ m3/ năm, cấp nước và tạo điều kiện nuôi trồng thủy sản, phát triển du lịch góp phần đáng kể vào xóa đói giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, cải thiện môi trường, giao thông Các biện pháp thủy nông đã góp phần cùng những biện pháp kỹ thuật nông nghiệp khác, cùng những tiến
bộ khoa học kỹ thuật, cơ chế quản lý mới trong nông nghiệp đã góp phần đưa sản lượng lương thực nước ta đạt 21,5 triệu tấn năm 1990 lên 31,8 triệu tấn năm 1998, 34,5 triệu tấn năm 2003, giữ vững một trong những quốc gia xuất khẩu gạo đứng hàng đầu thế giới Bên cạnh đó hệ thống thủy nông tạo điều kiện và phục vụ phát triển nuôi trồng thủy sản, thông qua việc tận dụng các hồ chứa nước nhân tạo để nuôi trồng thủy sản, hệ thống thủy nông đưa nước vào các trại cá, các hồ nuôi cá đã tạo nguồn lợi thủy sản to lớn của cả nước Thủy nông phục vụ sinh hoạt, phục vụ công nghiệp, hệ thống thủy nông đều dẫn nước qua làng, bản, thị trấn, thành phố cung cấp nước sạch cho nhân dân và đã góp phần cải tạo môi trường sinh thái, biến nhiều vùng hoang vu xưa kia thành những vùng dân cư trù phú, điểm thăm quan du lịch, nghỉ mát hấp dẫn Nhiều
Trang 40vùng trước đây ngập úng quanh năm, nhờ tiêu kiệt nước trở nên khô ráo, không những tạo điều kiện cho sản xuất, sinh hoạt mà còn giảm nhiều bệnh tật
1.2.2 3 Một số chính sách thủy lợi phí của nhà nước Việt Nam
a Phương án về thủy lợi phí:
* Miễn toàn bộ thủy lợi phí cho các vùng biên giới, hải đảo, các vùng
có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, các vùng khác chỉ áp dụng mức thu thủy lợi phí thấp nhất hoặc giảm 30 % theo mức thu thấp nhất quy định của Nghị định 143, mức thu thủy lợi phí nội đồng do tổ chức hợp tác của nông dân tự nguyện như quy định hiện nay
* Trên cơ sở phân cấp, chuyển giao hợp lý các công trình thủy lợi cho các tổ chức hợp tác dùng nước quản lý, thực hiện miễn thủy lợi phí tại các hệ thống công trình thủy lợi do các doanh nghiệp quản lý, các tổ chức hợp tác dùng nước tự chủ về tài chính, tự thỏa thuận với người dân mức thu thủy lợi phí để đảm bảo cho công tác quản lý, khai thác các công trình thủy lợi đã được chuyển giao, phân cấp
* Giữ nguyên chính sách thủy lợi phí theo các quy định hiện hành củng
cố các tổ chức, đơn vị khai thác công trình thủy lợi, thực thi đầy đủ các chính sách đối với các hoạt động quản lý khai thác các công trình thủy lợi
b Miễn thủy lợi phí Nghị định 115:
Quy định việc miễn thuỷ lợi phí đối với các hộ nông dân sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và làm muối Đây là chính sách quan trọng của Chính phủ và có tác động mạnh mẽ đối với hoạt động khai thác và bảo vệ khai thác công trình thủy lợi, liên quan chặt chẽ tới đông đảo bà con nông dân Bắt đầu từ ngày 1.1.2008, Nghị định này có hiệu lực, đem lại lợi ích cho hàng triệu nông dân trên cả nước Theo đó, toàn bộ chi phí vận hành, duy tu, bảo dưỡng hệ thống thuỷ lợi sẽ do ngân sách Nhà nước cấp cho các Công ty khai thác công trình thủy lợi
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2012/NĐ-CP ngày
28 tháng 12 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều