Nhận thức được tầm quan trọng vấn đề này vì vậy Nghiên cứu sinh đã chọn đề tài “Một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Thái Nguyên” là
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHẠM NGỌC TUẤN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG
PHÁT TRIỂN THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN, 2013
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHẠM NGỌC TUẤN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG
PHÁT TRIỂN THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Mã số: 60.30.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THANH ĐỨC
THÁI NGUYÊN, 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả
Phạm Ngọc Tuấn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài “Một số giải pháp phòng ngừa và hạn
chế rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng phát triển Thái Nguyên” tôi
đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy, cô giáo Khoa đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên
Đặc biệt xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thanh Đức đã trực
tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và góp ý kiến quý báu, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, phòng Tổng hợp, Phòng tín dụng đầu tư Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tác giả
Phạm Ngọc Tuấn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Những đóng góp chính của luận văn 3
5 Kết cấu luận văn 3
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG 4
1.1 Khái quát chung về tín dụng đầu tư của nhà nước và những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng của ngân hàng 4
1.1.1 Tín dụng ngân hàng 4
1.1.2 Tín dụng đầu tư phát triển 8
1.1.3 Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng của Ngân hàng 16
1.2 Nguyên nhân rủi ro tín dụng và biện pháp phòng ngừa, hạn chế 26
1.2.1 Nguyên nhân rủi ro tín dụng 26
1.2.2 Biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng 32
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 39
2.2 Phương pháp nghiên cứu 39
2.2.1 Thu thập thông tin thứ cấp 39
2.2.2 Thu thập thông tin sơ cấp 39
2.2.3 Vận dụng các phương pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng để giải quyết các mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn 39
Trang 62.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 40
2.3.1 Nợ qua hạn và tỷ lệ nợ quá hạn 40
2.3.2 Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu 41
2.3.3 Doanh số thu nợ 42
2.3.4 Hệ số nguy cơ rủi ro tín dụng 42
2.3.5 Mức độ tập trung tín dụng 43
Chương 3: THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN THÁI NGUYÊN 47
3.1 Khái quát quá trình hình thành, phát triển của Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Thái Nguyên 47
3.1.2 Những nhiệm vụ chủ yếu của Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Thái Nguyên 48
3.1.3 Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh NHPT Thái Nguyên 48
3.2 Khái quát về hoạt động của Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Thái Nguyên 49
3.2.1 Môi trường hoạt động của Chi nhánh NHPT Thái Nguyên 49
3.3 Thực trạng hoạt động rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Thái Nguyên 55
3.3.1 Tình hình hoạt động tín dụng tại chi nhánh NHPT Thái Nguyên 55
3.3.2 Thực trạng rủi ro trong hoạt động tín dụng tại chi nhánh NHPT Thái Nguyên 60
3.4 Đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng và các biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Thái Nguyên 69
3.4.1 Đánh giá chung về rủi ro tín dụng tại Chi nhánh 69
3.4.2 Những yếu tố dẫn đến nợ quá hạn tại Chi nhánh 69
3.4.3 Thực tế phòng ngừa, rủi ro tín dụng và các biện pháp xử lý của Chi nhánh NHPT Thái Nguyên khi xuất hiện rủi ro tín dụng 70
Trang 7Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG PHÁT
TRIỂN THÁI NGUYÊN 75
4.1 Định hướng phát triển hoạt động tín dụng Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Thái Nguyên 75
4.1.1 Định hướng chung 75
4.1.2 Một số chỉ tiêu cụ thể của chi nhánh phấn đấu đạt trong năm 2012 76
4.2 Một số giải pháp phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng tại Chi Nhánh NHPT Thái Nguyên 76
4.2.1 Nâng cao hiệu quả công tác thông tin phòng ngừa rủi ro, dự báo rủi ro tiềm ẩn 77
4.2.2 Phân tích khách hàng thường xuyên và chủ động 78
4.2.3 Nâng cao chất lượng thẩm định 79
4.2.4 Thực hiện đúng quy trình tín dụng 80
4.2.5 Thường xuyên chăm lo đến khách hàng bám sát dự án 80
4.2.6 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ 81
4.2.7 Thực hiện bảo hiểm tín dụng 82
4.2.8 Khai thác có hiệu quả thông tin trong hoạt động tín dụng 83
4.2.9 Tăng cường công tác đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ 84
4.2.10 Xây dựng các hệ thống tín dụng 85
4.3 Kiến nghị 86
4.3.1 Kiến nghị đối với Chính phủ, các Bộ 86
4.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 90
4.3.3 Kiến nghị đối với Ngân hàng Phát triển Việt nam 91
4.3.4 Kiến nghị đối với NHPT Thái Nguyên 92
KẾT LUẬN 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NHNo : Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
QTD.TW : Quỹ tín dụng nhân dân trung ƣơng
QTD.CS : Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
KH&NV : Phòng Kế hoạch và Nguồn vốn
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
Bảng 1.1: Mô hình xếp hạng của công ty Moody và Standard & Poor 24
Bảng 3.1: Kết quả hoạt động của Chi nhánh NHPT Thái Nguyên 55
Bảng 3.2: Khái quát về hoạt động huy động vốn tại chi nhánh 56
Bảng 3.3: Hoạt động tín dụng tại chi nhánh NHPT Thái Nguyên 58
Bảng 3.4: Một số chỉ tiêu chất lƣợng về hoạt động tín dụng tại chi nhánh 59
Bảng 3.5 Hoạt động khác tại Chi nhánh NHPT Thái Nguyên 60
Bảng 3.6: Thực trạng rủi ro tín dụng thể hiện qua NQH 62
Bảng 3.7: Thực trạng rủi ro tín dụng thể hiện qua NQH phân loại tín dụng 62
Bảng 3.8: Thực trạng rủi ro tín dụng thể hiện qua NQH phân theo ngành kinh tế 63
Bảng 3.9: Thực trạng rủi ro tín dụng thể hiện qua NQH phân theo thành phần kinh tế 64
Bảng 3.10: Thực trạng rủi ro tín dụng thể hiện qua NQH theo thời gian quá hạn 65
Bảng 3.11: Thực trạng rủi ro tín dụng thể hiện qua NQH phân theo tính chất tiền tệ tại Chi nhánh 66
Bảng 3.12: Thực trạng rủi ro tín dụng thể hiện qua NQH theo tài sản bảo đảm tại Chi nhánh NHPT Thái Nguyên 67
Bảng 3.13: Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu tại Chi nhánh 68
Bảng 3.14: Bảng phân loại các nhóm khách hàng có dấu hiệu rủi ro 70
Sơ đồ 3.1: Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh NHPT Thái Nguyên 49
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2012 là một năm đánh dấu nhiều sự kiện tài chính ngân hàng nổi bật trên thế giới cũng như Việt Nam Đã hai năm sau thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu, các nền kinh tế đã tăng trưởng trở lại tuy nhiên suy thoái kinh tế vẫn có tác động không nhỏ, một số bất ổn của nền kinh tế thế giới (khủng hoảng nợ công Châu âu chưa có lối thoát rõ ràng, nền kinh tế Mỹ xuống dốc, nền kinh tế Nhật Bản tiến gần đến suy thoái, kinh tế các nước đang phát triển và mới nổi lâm vào lạm phát khá cao) đã gián tiếp ảnh hưởng bất lợi đến Việt Nam Năm 2012 chứng kiến sự xuống dốc của thị thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán, những biến động bất thường của giá vàng, giá USD trong nước tại một số thời điểm, tất cả đã gây khó khăn đối với hoạt động của các ngân hàng Thêm vào đó, các ngân hàng cũng đã và đang đối mặt với các áp lực về huy động vốn và tăng vốn điều lệ, áp lực chống lạm phát, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng không được vượt quá 20%, vấn đề tái cấu trúc lại hệ thống
Sự kiện ngân hàng được quan tâm và có ảnh hưởng lớn trong năm
2012 là việc Ngân hàng nhà nước ban hành Thông tư số 02/2012/TT-NHNN ngày 03/03/2012 quy định lãi suất huy động vốn tối đa bằng VNĐ, và Chỉ thị
02 ngày 07/09/2012 Với mức trần lãi suất huy động vốn 14% đã giúp cho thị trường huy động vốn hạ nhiệt, siết lại hoạt động của các tổ chức tín dụng nhằm đạt được chính sách tiền tệ chặt chẽ, kiềm chế lạm phát đảm bảo tăng trưởng tín dụng dưới 20%, hạ nhiệt lãi suất Chính vì thế mà các ngân hàng phải vận động để vừa đáp ứng những chuẩn mực của Ngân hàng Nhà nước, vừa có tốc độ tăng trưởng theo kỳ vọng của mình là khá khó khăn và tiềm ẩn nhiểu rủi ro
Đối với các Ngân hàng ở Việt Nam hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động chính và mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng Tuy nhiên đây cũng
Trang 11là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất và ảnh hưởng đến sự tồn tại của ngân hàng Sau nhiều sự kiện xảy ra trong ngành ngân hàng và hàng loạt vụ việc lừa đảo ngân hàng chiếm đoạt hàng nghìn tỷ đổng đã phản ánh sự thiếu quan tâm đúng mức và những hạn chế còn tồn tại trong công tác phòng ngừa
và hạn chế rủi ro tín dụng đang được áp dụng tại các Ngân hàng Vì vậy để có thể vượt qua được những khó khăn thách thức hệ thống ngân hàng cần có những bước đổi mới mạnh mẽ trên tất cả các mặt, trong đó nhiệm vụ hàng đầu
là phải tập trung vào vấn đề phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng Nhận thức
được tầm quan trọng vấn đề này vì vậy Nghiên cứu sinh đã chọn đề tài “Một
số giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Thái Nguyên” làm đề tài nghiên cứu, với mong muốn tăng
cường sự hiểu biết, hoàn thiện lý luận chuyên môn của bản thân, tiếp cận nghiên cứu thực trạng phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng và bước đầu đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Thái Nguyên, góp phần đẩy mạnh sự phát triển hoạt động tín dụng trong điều kiện hội nhập
2 Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về rủi ro
- Nghiên cứu lý luận chung về công tác phòng ngừa hạn chế rủi ro của
dự án vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước
- Đánh giá thực trạng công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Thái Nguyên
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Thái Nguyên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Thái Nguyên
Trang 12- Phạm vi nghiên cứu:
+ Nghiên cứu công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro
+ Nghiên cứu thực trạng chung công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Thái Nguyên Thời gian từ 2009-2011
4 Những đóng góp chính của luận văn
Luận văn sau khi được thực hiện hoàn chỉnh sẽ đóng góp những nội dung sau:
- Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về rủi ro;
- Nghiên cứu lý luận chung về công tác phòng ngừa hạn chế rủi ro của
dự án vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước;
- Đánh giá thực trạng công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Thái Nguyên;
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Thái Nguyên;
- Kiến nghị với Chính phủ, các Bộ, Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Phát triển Việt Nam về những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các phụ lục luận văn được kết cấu thành bốn chương như sau:
Chương I: Những vấn đề lý luận chung về rủi ro trong hoạt động tín
dụng của Ngân hàng
Chương II: Phương pháp nghiên cứu
Chương III: Thực trạng rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Phát
triển Thái Nguyên
Chương IV: Một số giải pháp phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín
dụng tại chi nhánh Ngân hàng Phát triển Thái Nguyên
Do điều kiện thời gian và trình độ có hạn nên luận văn sẽ không tránh khỏi
có những thiếu sót nhất định cần được bổ sung Em rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô giáo và các cán bộ tín dụng để bài luận văn hoàn thiện hơn
Trang 13Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO TRONG
HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG
1.1 Khái quát chung về tín dụng đầu tư của nhà nước và những vấn đề
cơ bản về rủi ro tín dụng của ngân hàng
1.1.1 Tín dụng ngân hàng
1.1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng xuất phát từ chữ la tinh là “credo” (tin tưởng, tín nhiệm) Trong tiếng Anh là “credit” trong thực tế tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong từng bối cảnh cụ thể khác nhau:
Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ từ người cho vay sang người đi vay
Trong một quan hệ tài chính cụ thể tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể
Đôi lúc thuật ngữ tín dụng còn đồng nghĩa với thuật ngữ cho vay
Nói về tín dụng ngân hàng có rất nhiều khái niệm Qua nghiên cứu, luận văn xin đưa ra khái quát một số quan niệm sau đây:
Hoạt động tín dụng là việc NH sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động và các nguồn vốn khác để cấp tín dụng cho khách hàng sử dụng một ngân khoản với nguyên tắc có hoàn trả thông qua các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ liên quan khác
- Tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả theo điều kiện đã thoả thuận
- Tín dụng là quan hệ vay mượn dưới dạng tiền tệ có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định
Trang 14- Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian sẽ thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu
Từ những khái niệm tín dụng nói trên ta nhận thấy rằng tín dụng chính
là việc chuyển giao quyền sử dụng chứ không thay đổi quyền sở hữu, việc chuyển giao này có thời hạn nhất định và có tính hoàn trả bao gồm cả gốc và lãi Phần lãi chính là một phần thu nhập của người sở hữu vốn tín dụng
Trong Luật các Tổ chức tín dụng ban hành năm 2004, phần giải thích
thuật ngữ không có định nghĩa riêng về tín dụng Thuật ngữ “Hoạt động tín
dụng" được giải thích như sau: "Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng
sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng" Tiếp đó,
thuật ngữ cấp tín dụng được giải thích: "Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng
thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác"
Như vậy theo giải thích nói trên, thì bản chất của tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng cấp một khoản tiền cho khách hàng sử dụng và có nguyên tắc hoàn trả Quan điểm của luận văn là đồng tình với khái niệm nói trên về tín dụng và hoạt động tín dụng
1.1.1.2 Đặc trưng và vai trò của tín dụng ngân hàng
a Đặc trưng, phân loại tín dụng
Đặc trưng:
Trong bất kì hình thái xã hội nào tín dụng luôn mang ba đặc trưng cơ bản:
- Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên cơ sở lòng tin Lòng tin thể hiện: + Người cho vay tin người đi vay sẽ hoàn trả vốn vay
+ Người cho vay tin người đi vay sẽ sử dụng vốn vay có hiệu quả
- Tín dụng là quan hệ vay mượn có thời hạn, nếu không có thời hạn thì không thể coi là một quan hệ tín dụng hoàn chỉnh
Trang 15- Tín dụng là quan hệ vay mượn có hoàn trả: hoàn trả là một thuộc tính vốn có của tín dụng, nếu không có sự hoàn trả thì không thể coi là một phương pháp tín dụng
Ngoài ra trong nền kinh tế thị trường tín dụng còn mang hai đặc trưng sau: + Hoạt động tín dụng luôn bị chi phối bởi các qui luật kinh tế khách quan của nền kinh tế thị trường: qui luật cung - cầu, qui luật giá trị, qui luật cạnh tranh, qui luật lưu thông tiền tệ…
+ Hoạt động tín dụng luôn chứa đựng khả năng xảy ra rủi ro, bởi vậy các ngân hàng luôn muốn hạn chế tối đa rủi ro
+ Tín dụng trung hạn: cho vay từ 12 tháng đến 60 tháng
+ Tín dụng dài hạn: cho vay quá 60 tháng
- Căn cứ vào sự bảo đảm trong tín dụng:
+ Tín dụng không có tài sản đảm bảo kèm theo (cho vay tín chấp): là loại cho vay mà khi cho vay ngân hàng không yêu cầu người cho vay vốn phải thực hiện hình thức bảo đảm tín dụng như: cầm cố, thế chấp, bảo lãnh… Ngân hàng chỉ áp dụng cho vay này với những khách hàng có tình hình sản xuất kinh doanh tốt, tài chính lành mạnh và có những tín nhiệm cao với ngân hàng
+ Tín dụng có tài sản đảm bảo kèm theo: với những khách hàng không
đủ các điều kiện trên, khi vay vốn phải thực hiện các hình thức vay vốn bằng thế chấp, cầm cố, bảo lãnh…
- Căn cứ vào phương thức giao dịch giữa ngân hàng với khách hàng: + Tín dụng trực tiếp: là loại cho vay mà trong đó khách hàng trực tiếp xin vay, trực tiếp nhận tiền vay, trực tiếp trả nợ cho ngân hàng
Trang 16+ Tín dụng gián tiếp: là loại cho vay mà quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng được thông qua một trung gian hoặc quan hệ tín dụng mà người vay vốn và người trả nợ là hai người khác nhau
b Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế
- Ngân hàng là một trung gian tài chính có vai trò quan trọng trong việc điều chuyển nguồn vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn
- Tín dụng ngân hàng là một kênh tạo vốn cho nền kinh tế quốc dân, nó
có vai trò rất quan trọng trong việc ổn định, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm nó thể hiện như sau:
+ Là một kênh cung ứng vốn nhanh nhất đối với khách hàng, những người có nhu cầu hợp pháp, tạo điều kiện cung ứng vốn cho khách hàng khi
họ có cơ hội kinh doanh
+ Tín dụng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nó là cầu nối giữa tiết kiệm và tiêu dùng, là động lực thúc đẩy sự ra đời và phát triển các thành phần kinh tế, thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng cung ứng vốn cho các thành phần kinh tế để các thành phần kinh tế phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh, đa dạng hóa ngành nghề Thông qua hoạt động tín dụng có thể khuyến khích cấp tín dụng cho lĩnh vực này và hạn chế lĩnh vực khác, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các vùng, các ngành
+ Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật: Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp muốn tồn tại luôn phải đổi mới công nghệ, thiết bị Các doanh nghiệp thường không có đủ vốn để thực hiện được việc đó, họ thường thông qua kênh tín dụng để thực hiện việc đổi mới kỹ thuật công nghệ, sau khi tăng cường
cơ sở vật chất kỹ thuật các doanh nghiệp có điều kiện vươn lên và phát triển
+ Thúc đẩy mở rộng sản xuất: Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế thực hiện tái sản xuất mở rộng để nâng cao hiệu quả kinh tế, giảm giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, giúp doanh nghiệp có thể đứng vững và tồn tại
Trang 17Thông qua kênh tín dụng của các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng Trung ương có thể kiểm soát hoạt động của nền kinh tế thông qua các công cụ của chính sách lãi suất, nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, Ngân hàng Trung ương cho vay tái cấp vốn Ngân hàng Trung ương, Ngân hàng thương mại
đề ra mục tiêu cụ thể và các chính sách biện pháp điều chỉnh, phù hợp trong từng thời kỳ nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo định hướng của Nhà nước, bảo đảm ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát
1.1.2 Tín dụng đầu tư phát triển
1.1.2.1 Khái niệm
Tín dụng ĐTPT của Nhà nước là việc Nhà nước sử dụng vốn ngân sách hoặc từ các nguồn vốn do Nhà nước huy động để cho vay các dự án theo kế hoạch của Nhà nước như các chương trình mục tiêu phục vụ lợi ích quốc gia, các dự án đầu tư quan trọng trong từng thời kỳ kế hoạch, nhưng các dự án này phải đảm bảo có khả năng sinh lời, có khả năng hoàn trả được vốn vay cho Nhà nước Nhà nước ưu đãi cho các dự án này vay vốn với thời gian tương đối dài thông thường từ 10 năm đến 15 năm (có khi đến 40 năm), lãi suất cho vay thấp
Như vậy, tín dụng ĐTPT của Nhà nước, về bản chất là quan hệ vay - trả giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội, gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tín dụng nhằm thực hiện các dự án ĐTPT Hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước bao gồm hai mặt là Nhà nước vay vốn của các chủ thể khác trong xã hội để thực hiện các dự án ĐTPT thuộc nhiệm vụ của Nhà nước nhưng chưa có đủ vốn và Nhà nước cho các chủ thể trong xã hội vay vốn để thực hiện các dự án ĐTPT không thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách Nhà nước
Trên thế giới, do nhu cầu chi của NSNN để duy trì hoạt động bình thường của bộ máy Nhà nước, đảm bảo quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế- xã hội không ngừng tăng trong khi nguồn thu NSNN lại bị hạn chế và
Trang 18tăng chậm, nên hầu hết các quốc gia đều xảy ra tình trạng thâm hụt NSNN, cho dù quốc gia đó là một nước giàu có nền kinh tế phát triển hay là một nước nghèo chậm phát triển Đối với các nước chậm phát triển, thâm hụt NSNN càng trầm trọng và phổ biến hơn bởi ngân sách của các nước này luôn trong tình trạng thu không đủ chi do nền kinh tế kém phát triển, trong khi cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế lại nhỏ bé, lạc hậu nên cần phải có một lượng vốn đầu tư phát triển rất lớn Để giải quyết nhu cầu về vốn còn thiếu hụt cho ĐTPT, hầu hết các quốc gia đều lựa chọn con đường đi vay như là một cứu cánh cho NSNN Điều này giải thích vì sao Nhà nước phải đi vay để ĐTPT Mặt khác, do nguồn lực của Nhà nước còn hạn chế trong khi nhu cầu chi ĐTPT lại rất lớn, NSNN không thể trang trải hết cho toàn bộ các dự án ĐTPT, nên Nhà nước buộc phải lựa chọn các dự án ĐTPT không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp Nhà nước chỉ đầu tư thông qua kênh tín dụng ĐTPT, trong đó chủ đầu tư dự án được vay vốn của Nhà nước để đầu tư và phải sử dụng các nguồn thu từ dự án để hoàn trả toàn bộ số nợ đã vay Nhà nước Như vậy, có thể thấy rằng tín dụng ĐTPT của Nhà nước ra đời bắt nguồn trước hết từ yêu cầu về giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu ĐTPT ngày càng lớn của nền kinh tế quốc dân với sự giới hạn của nguồn lực tài chính công, nhất là của NSNN
Ở Việt Nam TDĐT của Nhà nước đã được tập trung cho những chương trình, dự án thuộc các ngành, lĩnh vực trọng điểm của đất nước như: nhà máy thủy điện, nhiệt điện, lọc dầu, các nhà máy đóng tàu biển, xi măng, thép, hoá chất, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội Hoạt động cho vay vốn TDĐT của Nhà nước đã có những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế Thể hiện trên những mặt chủ yếu là: Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; Hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội của các vùng/miền, thúc đẩy phát triển một số lĩnh vực, chương trình, dự án, sản phẩm trọng điểm của nền kinh tế;
Trang 19Góp phần thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo; Phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn; Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu
tư của xã hội; Khai thác các nguồn vốn cho đầu tư, thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính
1.1.2.2 Các nội dung của tín dụng đầu tư phát triển
* Đối tượng cho vay
Đối tượng của tín dụng ĐTPT của Nhà nước là các dự án đầu tư phát triển cần được khuyến khích đầu tư như: các dự án đầu tư tại các vùng khó khăn thuộc các ngành kinh tế trọng điểm hay chủ lực cần phát triển làm nền tảng và xương sống cho toàn bộ nền kinh tế, ví dụ như các ngành sản xuất điện; khai thác và chế biến khoáng sản; hóa chất cơ bản; phân bón; thuốc trừ sâu vi sinh; chế tạo máy công cụ, máy động lực phục vụ nông nghiệp; xây dựng
cơ sở chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản; sản xuất hàng xuất khẩu, đặc biệt là các dự án sử dụng nhiều lao động; trồng rừng nguyên liệu tập trung; trồng cây công nghiệp dài ngày; cơ sở hạ tầng về giao thông, cấp nước, nhà ở cho công nhân và sinh viên thuê; các dự án thực hiện chủ trương của Chính phủ về xã hội hóa y tế, văn hóa, giáo dục
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hoạt động tín dụng ĐTPT, đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư thông qua hình thức cho vay có thời gian được bổ sung hay thu hẹp, nhưng luôn phải đáp ứng yêu cầu là các dự án đầu
tư có tính chất quan trọng, nền tảng cho sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế và vượt quá khả năng tự đầu tư của các thành phần kinh tế
* Lãi suất cho vay
Thông thường lãi suất cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước bao giờ cũng thấp hơn lãi suất của tín dụng thương mại (ở các nước đang phát triển mức lãi suất này thường chỉ bằng 70% lãi suất của các ngân hàng thương mại) Tuy nhiên, cùng với xu thế quốc tế hóa đới sống kinh tế và hội nhập, khoảng cách giữa lãi suất tín dụng ĐTPT và lãi suất tín dụng thương mại ngày
Trang 20càng bị thu hẹp Thay vì những ưu đãi về lãi suất, tín dụng đầu tư phát triển
có lợi thế hơn các hình thức tín dụng thương mại khác ở các điều kiện khác về cho vay, thời hạn cho vay, bảo đảm tiền vay
* Thời hạn cho vay
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian từ khi rút vốn lần đầu cho đến khi trả hết nợ vay (gốc và lãi) theo hợp đồng tín dụng đã ký Thời hạn cho vay đối với các dự án tín dụng ĐTPT thường là dài tùy thuộc vào quá trình triển khai
và thực hiện dự án, thông thường từ 10 năm đến 15 năm, cá biệt có trường hợp đến 40 năm
* Mức vốn vay:
Mức vốn cho vay đối với các dự án tín dụng ĐTPT thường ở mức từ 50-
70 % tổng mức vốn đầu tư của mỗi dự án tùy thuộc vào mức độ ưu đãi của từng ngành, vùng Cá biệt có trường hợp mức vốn vay lên tới 90% tổng mức vốn đầu tư của dự án
* Bảo đảm tiền vay
Bảo đảm tiền vay cũng là một trong những lợi thế của tín dụng ĐTPT Thông thường, chủ đầu tư khi vay vốn tín dụng ĐTPT thường được yêu cầu mức tài sản bảo đảm thấp hơn rất nhiều so với mức mà các ngân hàng yêu cầu
họ khi vay vốn tín dụng thương mại thông thường Trên thực tế mức tài sản bảo đảm này chỉ tương đương 30% giá trị của khoản vay, thậm chí được phép
sử dụng tài sản hình thành từ vốn vay để đảm bảo tiền vay
Tuy nhiên, theo xu thế hội nhập, có một vấn đề đặt ra là hiện nay các doanh nghiệp yêu cầu phải được đối xử bình đẳng như nhau Về nội dung này, tuy không quốc gia nào có định hướng ngược lại với xu thế phát triển chung nhưng các nước vẫn tìm cách ưu tiên hơn cho các doanh nghiệp của nước mình được áp dụng mức bảo đảm tiền vay thấp hơn
1.1.2.3 Những vai trò của tín dụng đầu tư phát triển
Cùng với sự phát triển không ngừng của kinh tế thị trường thì tín dụng ĐTPT của Nhà nước ngày càng có vai trò quan trọng, không chỉ giới hạn trong
Trang 21phạm vi nền kinh tế mà còn vượt ra khỏi phạm vi biên giới lãnh thổ quốc gia Có thể xem xét vai trò của tín dụng ĐTPT Nhà nước trên một số khía cạnh chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, tín dụng ĐTPT của Nhà nước góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đảm bảo sự phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình tất yếu mà các nước chậm phát triển phải trải qua để trở thành một nước công nghiệp phát triển Nội dung trọng tâm của quá trình này là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế mà trong đó chủ yếu là xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KT-
XH và phát triển các ngành công nghiệp quan trọng, đưa công nghiệp trở thành ngành giữ vai trò chủ đạo và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế Tín dụng ĐTPT của Nhà nước là công cụ quan trọng để Nhà nước tài trợ cho các dự án ĐTPT nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng KT-XH (giao thông, điện lực, thông tin, thuỷ lợi, cấp- thoát nước…) và phát triển các ngành công nghiệp then chốt (cơ khí, điện tử- viễn thông, công nghệ sinh học, vật liệu mới…), do đó góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa Mặt khác việc tập trung nguồn vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước cho xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại và phát triển các ngành công nghiệp then chốt, có khả năng đi tắt đón đầu cũng là nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, từ đó góp phần đảm bảo sự phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế
Thứ hai, tín dụng ĐTPT là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô các quan
hệ cân đối lớn của nền kinh tế và hướng dẫn hành vi của các chủ thể trong nền kinh tế
Mặc dù kinh tế thị trường là bước phát triển cao của kinh tế sản xuất hàng hoá với rất nhiều điểm ưu việt nhưng bên cạnh đó nó cũng có khá nhiều khiếm khuyết mà bất cứ quốc gia nào trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị
Trang 22trường đều phải đối mặt như nạn ô nhiễm môi trường, tình trạng phân hoá giàu nghèo, bất công xã hội, phát triển không cân đối giữa các vùng miền…
Để khắc phục những khiếm khuyết này, Nhà nước có thể sử dụng nhiều công
cụ (thuế, chi NSNN, tín dụng ĐTPT của Nhà nước…) trong việc điều tiết, phân bổ các nguồn lực, đảm bảo cho các vùng, các ngành hoặc thành phần kinh tế phát triển một cách đồng đều, trong đó tín dụng ĐTPT được sử dụng như là công cụ chủ yếu để tài trợ cho các dự án ĐTPT có khả năng thu hồi vốn trực tiếp Do đó, có thể coi tín dụng ĐTPT như một “bàn tay hữu hình”
mà Nhà nước phải sử dụng trong quá trình thực hiện chức năng điều tiết vĩ
mô của mình đối với nền kinh tế
Đối với một quốc gia có rất nhiều mục tiêu và quan hệ cân đối kinh tế vĩ
mô mà Nhà nước hướng tới như mục tiêu về sản lượng, việc làm, lạm phát, lãi suất…cân đối tiết kiệm - tiêu dùng - đầu tư, cân đối xuất khẩu - nhập khẩu…để đạt được những mục tiêu và quan hệ cân đối này, Nhà nước phải sử dụng kết hợp nhiều chính sách kinh tế vĩ mô khác nhau mà trong đó chủ yếu
là chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ Là một bộ phận cấu thành trong
hệ thống các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, tín dụng ĐTPT của Nhà nước có tác động rất lớn trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế Điều đó được thể hiện trên một số khía cạnh chủ yếu:
- Thông qua việc hỗ trợ đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng và các cơ
sở sản xuất, tín dụng ĐTPT của Nhà nước góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, tạo công ăn việc làm
- Thông qua việc huy động vốn và cho vay đối với các dự án, tín dụng ĐTPT của Nhà nước tác động đến cung-cầu trên thị trường vốn và thị trường tiền tệ, từ đó ảnh hưởng đến tỷ lệ lạm phát và mặt bằng lãi suất của nền kinh tế
- Thông qua việc đầu tư cho các dự án phục vụ xuất khẩu hoặc đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức hỗ trợ phát triển chính thức, tín dụng ĐTPT của Nhà nước còn góp phần điều chỉnh quan hệ cân đối xuất khẩu - nhập khẩu,
Trang 23đồng thời tác động đến trạng thái cán cân thanh toán quốc tế của quốc gia, từ
đó ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái
- Thông qua lãi suất huy động vốn, tín dụng ĐTPT của Nhà nước góp phần điều tiết tỷ lệ giữa tích luỹ và tiêu dùng của dân cư; đồng thời, thông qua việc quy định đối tượng và điều kiện được hưởng ưu đãi, tín dụng ĐTPT góp phần định hướng đầu tư của các chủ thể trong nền kinh tế vào các ngành, các vùng và lĩnh vực mà Nhà nước khuyến khích phát triển
Thứ ba, tín dụng ĐTPT góp phần giải quyết khó khăn của NSNN trong thực hiện nhiệm vụ chi ĐTPT, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
Mặc dù chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KT-XH là một nội dung chi rất lớn và quan trọng trong chi ĐTPT của NSNN, nhưng có một thực trạng chung hiện nay diễn ra ở hầu hết các quốc gia, là những dự án
sử dụng vốn NSNN thường đầu tư dàn trải, không tập trung, vốn đầu tư bị thất thoát hoặc sử dụng lãng phí, hiệu quả thực tế của dự án không thực sự được quan tâm… mà nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do tâm lý ỷ lại vào sự bao cấp của NSNN Để khắc phục tình trạng này, các quốc gia đều
có xu hướng giảm mạnh chi NSNN cho các dự án ĐTPT có khả năng thu hồi vốn trực tiếp Thay vì được cấp phát hoàn toàn từ NSNN như trước đây, các
dự án này sẽ được Nhà nước đầu tư thông qua kênh tín dụng ĐTPT của Nhà nước Sở dĩ có xu hướng trên, một mặt là do nguồn lực NSNN còn hạn hẹp; mặt khác là nhằm khắc phục tâm lý trông chờ ỷ lại vào NSNN, nâng cao hiệu quả, đồng thời hạn chế tình trạng thất thoát, lãng phí trong các dự án đầu tư sử dụng vốn Nhà nước Việc chuyển kênh đầu tư đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp từ sử dụng vốn NSNN sang sử dụng vốn tín dụng ĐTPT
là một việc tất yếu phải làm nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình đổi mới cơ chế quản lý NSNN nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn NSNN
Sự ra đời của tín dụng ĐTPT nhà nước đã làm thu hẹp phạm vi các dự án được cấp phát không hoàn trả từ NSNN; thay vào đó, chủ đầu tư phải sử dụng
Trang 24các nguồn thu từ dự án để hoàn trả toàn bộ số vốn đã vay Nhà nước, và số vốn này lại được sử dụng để cho vay đối với những dự án khác Như vậy, nguồn vốn tín dụng ĐTPT đã góp phần tích cực giải quyết khó khăn của NSNN thông qua việc hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ chi ĐTPT của NSNN
Mặt khác, do phải hoàn trả số vốn vay (cả gốc và lãi) nên chủ đầu tư phải cân nhắc kỹ lưỡng trong việc lựa chọn phương án đầu tư có khả năng sinh lời cao, đồng thời tìm cách giảm thiểu chi phí đầu tư bằng cách cắt giảm những khoản chi không cần thiết Điều đó cũng có nghĩa là việc tài trợ cho các dự án thông qua tín dụng ĐTPT nhà nước góp phần hạn chế tình trạng dàn trải, thất thoát, lãng phí trong đầu tư, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
Thứ tư, tín dụng ĐTPT nhà nước góp phần nâng cao vị thế của quốc gia, tạo điều kiện mở rộng và phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại
Trong điều kiện mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực ngày càng sâu rộng và mạnh mẽ, nguồn vốn đầu tư quốc tế có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình phát triển, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia, thì nhu cầu của các nước nghèo được vay vốn của các nước giàu hơn đang được đặt ra một cách bức thiết và nghiêm túc Trong bối cảnh đó, các Nhà nước không thể từ chối nghĩa vụ cho vay đối với quốc gia kém phát triển hơn Các khoản cho vay của nhà nước đối với các quốc gia khác có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng trong đó phổ biến là các khoản cho vay ODA với thời hạn cho vay dài, lãi suất cho vay ưu đãi nhằm thực hiện các dự án ĐTPT cơ sở hạ tầng KT-XH Thông qua các khoản ODA này, nước cho vay có thể tăng cường ảnh hưởng của mình đối với nước
đi vay, đồng thời nâng cao vị thế trong các tổ chức và diễn đàn quốc tế Điều
đó có nghĩa là tín dụng ĐTPT đã góp phần nâng cao vị thế quốc gia trong cộng đồng thế giới
Mặt khác, các công trình cơ sở hạ tầng KT-XH được đầu tư bằng nguồn vốn ODA cho vay ưu đãi đã tạo điều kiện để nước cho vay mở rộng đầu tư
Trang 25trực tiếp và xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ vào thị trường của nước được vay ODA ưu đãi; và như vậy tín dụng ĐTPT đã tạo điều kiện để mở rộng và phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại của quốc gia
Xuất phát từ vai trò quan trọng của tín dụng ĐTPT nhà nước, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều chú trọng đến chính sách tín dụng ĐTPT; tuy nhiên, tùy theo điều kiện của mỗi quốc gia ở từng thời kỳ mà nhiệm vụ thực thi chính sách tín dụng ĐTPT của Nhà nước có thể được giao cho các tổ chức khác nhau như Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng Tái thiết, Ngân hàng Phát triển, các Quỹ ĐTPT
Ở nước ta hiện nay, NHPT Việt Nam được giao thực hiện chính sách tín dụng ĐTPT của nhà nước thông qua hoạt động huy động vốn và tài trợ dưới hình thức cho vay đầu tư, bảo lãnh tín dụng đầu tư, hỗ trợ sau đầu tư đối với các dự án ĐTPT thuộc danh mục được Chính phủ quy định (mà chủ yếu là các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp không thuộc nhiệm vụ chi của NSNN) Trong điều kiện hiện tại của nền kinh tế, hoạt động tín dụng ĐTPT của NHPT Việt Nam là một kênh cung ứng vốn ĐTPT rất lớn cho nền kinh tế quốc dân và là công cụ quan trọng để hỗ trợ thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
1.1.3 Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng của Ngân hàng
Trong hoạt động kinh doanh của mình các Ngân hàng luôn phải chấp nhận nhiều rủi ro, không một Ngân hàng nào có thể loại trừ hết các rủi ro có thể gặp phải Như vậy, trong hoạt động kinh doanh, mục đích của Ngân hàng không cho là thu được lợi nhuận cao mà còn phải hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro có thể xảy ra Tuy nhiên trong phạm vi luận văn này em xin chỉ trình bày một loại rủi ro cơ bản nhất - rủi ro tín dụng
1.1.3.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh và rủi ro là hai phạm trù cặp đôi mà hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng không nằm ngoài hai cặp
Trang 26phạm trù này, mà còn rất nhạy cảm Hầu hết các nghiệp vụ của ngân hàng đều dẫn tới rủi ro Do vậy hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn chứa đựng những nguy cơ rủi ro tiềm ẩn Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng là sự kiện xẩy ra ngoài ý muốn vàảnh hưởng đến hoạt động, gây tổn thất cho ngân hàng Cho đến nay chưa có một tài liệu chính thức, hay giải thích thuật ngữ trong Luật chuyên ngành về khái niệm rủi ro tín dụng Song có thể hiểu rủi ro tín dụng theo một số cách thức tiếp cận như sau:
- Rủi ro tín dụng phát sinh khi một bên đối tác không thực hiện nghĩa
vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với ngân hàng, bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ, cho dù đó là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn
- Rủi ro tín dụng là thiệt hại kinh tế của ngân hàng do một khách hàng hoặc một nhóm khách hàng không hoàn trả được nợ vay của ngân hàng
- Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng vốn có khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng hay nói cách khác rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra
do khách hàng không thực hiện trả nợ theo các điều khoản đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng
- Rủi ro tín dụng là rủi ro tổn thất tài chính (trực tiếp hoặc gián tiếp) xuất phát từ người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết hoặc mất khả năng thanh toán
- Rủi ro tín dụng xảy ra khi xuất hiện các biến cố không thể lường trước khiến khách hàng không thực hiện được các cam kết đã thoả thuận với ngân hàng
Như vậy, bản chất của rủi ro tín dụng đó là khoản tiền cấp cho khách hàng sử dụng không được hoàn trả đúng thời gian và nội dung thoả thuận, do
đó gây thiệt hại cho ngân hàng về kế hoạch sử dụng vốn, về thu nhập, về uy
tín, Ta cũng có thể hiểu đơn giản: "Rủi ro tín dụng là tình trạng con nợ
không có khả năng hoàn trả lãi hoặc gốc hay cả hai" Mỗi khi có hoạt động
Trang 27cung ứng tín dụng thì rủi ro tín dụng luôn có nguy cơ xảy ra, nó muôn hình muôn vẻ, với nhiều hình thái, màu sắc, cung bậc khác nhau, nó luôn tiềm ẩn trong suốt quá trình trước, trong và sau khi cho vay và nó được biểu hiện ra bên ngoài là số tiền cho vay không thu hồi được đầy đủ như mong đợi
Theo như điều 2, chương 1 quyết định 493/2005/QĐ - NHNN đưa ra
định nghĩa: “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân
hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết ”
Rủi ro là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc các ngân hàng bị phá sản Rủi ro tín dụng luôn tồn tại với hoạt động tín dụng, chúng ta không thể giảm
nó xuống bằng không mà chúng ta phải chấp nhận sự tồn tại của nó Nhưng không có nghĩa rằng chúng ta không quan tâm đến rủi ro, mà chúng ta cần phải
có các biện pháp để phòng ngừa hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro tín dụng có thể xảy ra
1.1.3.2 Đặc điểm rủi ro tín dụng
- Rủi ro tín dụng mang tính chất gián tiếp:
Đặc điểm này xuất phát từ nguyên nhân là trong quan hệ tín dụng, ngân hàng có sự chuyển giao về vốn giữa ngân hàng và khách hàng, có sự tách rời
về quyền sử dụng và quyền sở hữu về vốn sau một thời gian nhất định Do vậy nếu khách hàng sử dụng vốn không hiệu quả, sai mục đích vay thì có thể dẫn đến rủi ro cho khách hàng và chính là rủi ro cho ngân hàng
Trang 28- Rủi ro tín dụng luôn gắn liền với hoạt động của ngân hàng:
Trong hoạt động ngân hàng, hoạt động tín dụng và rủi ro luôn đi liền với nhau, khi phát sinh một nghiệp vụ tín dụng thì đồng thời đã có một mức
độ rủi ro được xác lập Sở dĩ có hiện tượng như vậy là do có sự thông tin không cân xứng giữa người đi vay và người cho vay, người cho vay luôn muốn tìm hiểu toàn bộ thông tin về người đi vay và nhu cầu vay, còn người đi vay chỉ cung cấp những thông tin ngân hàng yêu cầu Hoạt động kinh doanh của khách hàng cũng bị tác động rất nhiều yếu tố rủi ro khách quan và chủ quan khác nhau Do vậy việc sử dụng tiền vay của khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định luôn chứa đựng những yếu tố rủi ro đối với ngân hàng trong việc thu hồi vốn vay và lãi
1.1.3.3 Phân loại rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng có thể được phân chia theo hai hướng: căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng và căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro Cụ thể như sau:
Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng cho ngân hàng: dựa trên 2
khía cạnh là thời gian trả nợ và số tiền trả nợ
- Rủi ro đọng vốn: xảy ra khi khách hàng không trả nợ theo đúng kỳ hạn như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng đã ký với ngân hàng hay nói cách khác đây là việc khách hàng trì hoãn trả nợ cho ngân hàng Việc này làm ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng, gây cản trở và khó khăn cho việc chi trả người gửi tiền
- Rủi ro mất vốn: xảy ra khi khách hàng không có khả năng hoàn trả một phần hoặc toàn bộ nợ vay khiến cho khả năng sinh lời trên đồng vốn mà ngân hàng bỏ ra bị giảm sút, vòng quay tín dụng chậm lại và làm tăng các chi phí liên quan tới khoản vay như chi phí giám sát, chi phí pháp lý liên quan tới việc xử lý nợ quá hạn và nợ khó đòi
Trang 29Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro: rủi ro tín dụng được phân
chia như sau:
- Rủi ro giao dịch: phát sinh do những hạn chế trong quá trình giao dịch
và xét duyệt cho vay đánh giá khách hàng
+ Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả
để ra quyết định cho vay
+ Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay các loại tài sản bảo đảm, chủ thể bảo đảm, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo
+ Rủi ro nghiệp vụ: liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và xử lý các khoản cho vay có vấn đề
- Rủi ro danh mục: phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng được phân chia thành 2 loại là rủi ro nội tại và rủi ro tập trung
+ Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm mang tính riêng biệt bên trong quá trình hoạt động hoặc sử dụng vốn của các chủ thể đi vay tùy theo ngành hoặc lĩnh vực kinh tế
RỦI RO TÍN DỤNG
Rủi ro giao dịch
Rủi ro danh mục
Rủi ro
lưạ chọn
Rủi ro bảo đảm
Rủi ro nghiệp vụ
Rủi ro nội tại
Rủi ro tâp trung
Trang 301.1.3.4 Dấu hiệu rủi ro tín dụng
Trong hoạt động tín dụng các khoản cho vay luôn tiềm ẩn rủi ro nhưng không phải nó thường xuyên xảy ra bất ngờ mà không có dấu hiệu báo trước
Do vậy đối với hầu hết các trường hợp, một khoản cho vay đang xấu dần đi đều có những dấu hiệu báo trước là rắc rối đang sắp xảy ra Nếu cán bộ tín dụng muốn phát hiện những khoản cho vay có vấn đề thì họ phải liên tục nghiên cứu cẩn thận các khoản cho vay thông qua việc sử dụng vốn đầu tưđểxác định những yếu tố báo hiệu khả năng rủi ro có thể xảy ra Dưới đây là một số dấu hiện rủi ro có thể xảy ra đối với khoản vay
a Dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với Ngân hàng
+ Khách hàng chấp nhận vay với một lãi suất cao
+ Thường xuyên phải xin ngân hàng gia hạn (điều chỉnh kỳ hạn) trả nợ + Có những dấu hiệu không muốn công khai tình hình tài chính cho ngân hàng
+ Khách hàng có dấu hiệu vay tại nhiều tổ chức khác nhau để đáp ứng nhu cầu của mình, đặc biệt từ các đối thủ cạnh tranh của ngân hàng
+ Đánh giá quá cao và không quản lý hợp lý tài sản thế chấp, hoặc không đánh giá được giá trị thực của nó
b Dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý, tình hình tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng
+ Có sự chênh lệch giữa doanh thu và lợi nhuận thực tế so với dự kiến
mà không có lý do hợp lý
+ Vốn vay sử dụng không đúng mục đích
+ Thay đổi thường xuyên ban điều hành
+ Đối với khách hàng là tư nhân cá thể, có dấu hiệu người vay bị bệnh kéo dài hoặc chết
c Dấu hiệu xuất phát từ chính sách tín dụng của Ngân hàng
+ Cho vay mới với giá trị cao hơn nhưng không có thêm tài sản thế chấp
Trang 31+ Cán bộ thực hiện khoản vay một cách không hợp lý, bỏ qua các bước cần thiết trong qui trình tín dụng, dựa phần nhiều giữa quan hệ khách hàng với mình
+ Cán bộ tín dụng không thể kiểm tra, đánh giá tình trạng khoản vay thường xuyên
+ Cho vay với các doanh nghiệp mới có chủ sở hữu thiếu kinh nghiệm + Cung cấp tín dụng với khối lượng lớn cho các khách hàng không thuộc thị trường, phân đoạn thị trường tối ưu của ngân hàng
+ Có khuynh hướng cạnh tranh thái quá: giảm lãi suất cho vay, phí dịch
vụ hay thực hiện chiến lược "giữ chân" khách hàng bằng các khoản tín dụng mới để họ không quan hệ với các TCTD khác mặc dù biết rõ các khoản tín dụng sẽ cấp tiềm ẩn rủi ro cao
1.1.3.5 Hậu quả rủi ro tín dụng
- Rủi ro làm suy giảm uy tín của ngân hàng:
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính, nguồn vốn họ dùng trong kinh doanh phần lớn là nguồn huy động Rủi ro tín dụng xảy ra phản ánh hiệu quả kinh doanh, quản lý của ngân hàng kém, lòng tin của khách hàng đối với ngân hàng giảm, chính là làm giảm uy tín của ngân hàng trên thị trường, nó tác động mạnh nhất tới nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng, làm giảm quy mô hoạt động của ngân hàng Uy tín ngân hàng giảm cũng làm giảm lòng tin đối với các tổ chức tài chính tiền tệ trên thế giới do vậy ngân hàng khó khăn trong việc quan hệ vay vốn, thiết lập quan hệ đại lý với các
tổ chức đó
- Rủi ro làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận trong hoạt động ngân hàng:
Trong kinh doanh các ngân hàng không thể tránh khỏi rủi ro, tuy nhiên các ngân hàng đề phải trích lập quỹ dự phòng rủi ro và sau này tính vào chi phí Nếu quỹ này quá lớn thì lợi nhuận hàng năm của ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng trong khi các khoản vốn huy động của khách hàng ngân hàng vẫn phải trả lãi
Trang 32Khi rủi ro xảy ra ngân hàng không thu đƣợc số vốn nhƣ dự kiến do vậy không quay vòng đƣợc vốn, mất cơ hội đầu tƣ các dự án khả thi, làm giảm lợi nhuận của ngân hàng
- Rủi ro có thể làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng:
Rủi ro tín dụng xảy ra, làm cho ngân hàng không thu hồi đƣợc gốc và lãi số vốn đã cho vay, do vậy làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng Nếu tình trạng này kéo dài có thể làm ngân hàng mất khả năng thanh toán và phá sản
- Rủi ro có thể làm tăng nguy cơ phá sản ngân hàng:
Nếu rủi ro tín dụng kéo dài, làm thất thoát lƣợng vốn lớn thì ngân hàng
có thể rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và có thể dẫn đến phá sản
- Rủi ro tín dụng có thể làm cho khủng hoảng nền kinh tế:
Với vai trò là các trung gian tài chính, hoạt động của các ng©n hµng luôn tác động mạnh đến nền kinh tế Khi ngân hàng phá sản có thể dẫn đến phản ứng dây chuyền gây nên phá sản các ngân hàng khác, nó tác động tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế, chính trị của quốc gia làm kinh tế khủng hoảng
1.1.3.6 Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng
a Mô hình xếp hạng của Standard & Poor và Moody
Theo Standard & Poor xếp hạng tín nhiệm là những ý kiến đánh giá hiện tại về rủi ro tín dụng, chất lƣợng tín dụng, khả năng và thiện ý của chủ thể đi vay trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn biểu hiện thông qua hệ thống ký hiệu giảm dần từ AAA đến C
Theo Moody xếp hạng tín nhiệm là những ý kiến đánh giá về chất lƣợng tín dụng và khả năng thanh toán nợ của chủ thể đi vay dựa trên những phân tích tín dụng và khả năng thanh toán nợ của chủ thể đi vay dựa trên những phân tích tín dụng cơ bản và biểu hiện thông qua hệ thống ký hiệu giảm dần từ Aaa - C
Trang 33Bảng 1.1: Mô hình xếp hạng của công ty Moody và Standard & Poor
BB Chất lượng trung bình mang yếu tố đầu cơ
B Chất lượng dưới trung bình CCC Chất lượng kém
CC Mang tính đầu cơ có thể vỡ nợ
Bb Chất lượng trung bình mang yếu tố đầu cơ
B Chất lượng dưới trung bình Ccc Chất lượng kém
Cc Mang tính đầu cơ, có thể vỡ nợ
C Chất lượng kém nhất, triển vọng xấu
b Mô hình tiêu chuẩn 6C
Hệ thống tiêu chuẩn thường được các ngân hàng sử dụng trong mô hình định tính
- Character (tư cách của người vay): tiêu chuẩn này thể hiện tinh thần trách nhiệm, tính trung thực, mục đích rõ ràng và thiện chí trả nợ của người vay khi có quyết định cho vay, cán bộ tín dụng phải chắc chắn tin rằng người
Trang 34xin vay có mục đích tín dụng rõ ràng và có thiện chí nghiêm chỉnh trả nợ khi đến hạn
- Capacity (năng lực của người vay): cán bộ tín dụng phải chắc chắn tin rằng người xin vay phải có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng tín dụng Tương tự, cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng người đại diện cho công ty ký kết hợp đồng tín dụng phải là người được ủy quyền hợp pháp của công ty Một hợp đồng tín dụng được ký kết bởi người không được
ủy quyền có thể sẽ không thu hồi được nợ, tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng
- Cash (thu nhập của người vay): tiêu chuẩn thu nhập của người vay tập trung vào câu hỏi: người vay có khả năng tạo ra đủ tiền để trả nợ hay không? Nhìn chung, người vay có ba khả năng để tạo ra tiền, đó là: dòng tiền ròng từ doanh thu bán hàng, dòng tiền từ phát hành chứng khoán và dòng tiền từ bán thanh lý tài sản Bất cứ nguồn thu nào từ ba khả năng trên đều có thể sử dụng
để trả nợ vay cho ngân hàng
- Collateral (tài sản đảm bảo): một khoản tín dụng nếu được đảm bảo bằng tài sản cầm cố hay tài sản thế chấp sẽ gắn chặt hơn trách nhiệm và nghĩa
vụ trả nợ của người vay Nếu xảy ra những rủi ro khách quan, người đi vay không trả được nợ thì tài sản cầm cố thế chấp sẽ trở thành nguồn thu nợ thứ hai của ngân hàng Tất nhiên tài sản cầm cố thế chấp cũng phải đáp ứng những yêu cầu và điều kiện nhất định theo quy định của ngân hàng
- Conditions (các điều kiện): để đánh giá xu hướng ngành và điều kiện kinh tế có ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động kinh doanh của khách hàng, cũng như khi các điều kiện kinh tế thay đổi sẽ ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động của người vay
- Control (kiểm soát): tập trung vào những vấn đề như sự thay đổi của luật pháp có liên quan và quy chế hoạt động mới có ảnh hưởng xấu đến người vay hay không? Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn
của ngân hàng hay không?
Trang 351.2 Nguyên nhân rủi ro tín dụng và biện pháp phòng ngừa, hạn chế
1.2.1 Nguyên nhân rủi ro tín dụng
Với nền kinh tế thị trường, Kinh doanh và rủi ro là hai phạm trù cặp đôi Kinh tế thị trường làm đa dạng hóa các thành phần kinh tế, bình đẳng hóa hoạt động của các thành phần này và thúc đẩy, cạnh tranh lẫn nhau Rủi ro xuất hiện ở những điểm yếu, kém hiệu quả, mất cân đối trong phát triển kinh
tế Rủi ro vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của những hoạt động kinh tế không có hiệu quả Tín dụng ngân hàng tham gia vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa, tham gia vào mọi thành phần kinh tế, mọi lĩnh vực với nhiều yếu tố tác động đến hoạt động tín dụng, kể cả yếu tố
khách quan và chủ quan
Nhận biết các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng là một công việc hết sức quan trọng Quá trình này đòi hỏi phải phân tích theo cả ba hướng:
+ Các nguyên nhân từ phía môi trường
+ Năng lực thanh toán nợ và thái độ sẵn sàng chi trả của khách hàng + Sai sót trong quá trình cho vay
1.2.1.1 Nguyên nhân khách quan
* Chính trị - pháp luật
Ngành ngân hàng luôn có một vị trí quan trọng tại mỗi quốc gia nên các ngân hàng luôn bị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý chặt chẽ Cũng chính vì vậy, ngành ngân hàng là một trong nhiều ngành chịu ảnh hưởng lớn trước mỗi sự biến động của chính trị Sự biến động về chính trị - pháp luật ảnh hưởng trực tiếp đến ngân hàng hoặc khách hàng của họ đều có nguy cơ gây ra rủi ro tín dụng
- Môi trường pháp lý:
Các qui định của nhà nước không đầy đủ, đồng bộ, chặt chẽ, hoàn thiện đều có thể gây ra rủi ro cho ngân hàng Trước năm 1996 khi NHNN không có qui định cụ thể về đảm bảo tiền vay thì các ngân hàng lúc đó không có cơ sở
xử lý
Trang 36Khi NHNN quyết định điều chỉnh lãi suất tái cấp vốn tăng thì ngay lập tức lãi suất thị trường tăng theo, lúc đó có ít doanh nghiệp chịu chấp nhận vay với lãi suất cao, chỉ có các dự án có mức sinh lời lớn mới có thể chấp nhận mức lãi suất cao nhưng các dự án này thường có rủi ro cao nên rất dễ gây rủi ro cho ngân hàng
Sau khi NHNN ra quyết định 127 (ngày 3/2/2005) để sửa đổi, bổ sung một số điều tại quyết định 1627 thì số nợ quá hạn và nợ được coi là quá hạn tại các ngân hàng thương mại cao hơn trước rất nhiều Điều đó đồng nghÜa
là rủi ro tín dụng tại các ngân hàng đã tăng, ngân hàng phải trích lập dự phòng nhiều hơn và làm giảm lợi nhuận của các ngân hàng
Ngày nay, các ngân hàng đang tự bảo vệ mình bằng cách phải thường xuyên nắm được qui định của pháp luật, đặc biệt phải dự báo được xu hướng thay đổi của môi trường pháp luật (toàn cầu hoá thị trường tài chính, NHNN kiểm soát các ngân hàng bằng những công cụ nào…) để điểu chỉnh hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng cho phù hợp
- Môi trường chính trị:
Một nền chính trị ổn định là điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, doanh nghiệp yên tâm đầu tư sản xuất, tập trung vốn cho mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Ngược lại nếu môi trường chính trị không ổn định, xảy
ra các cuộc xung đột, chiến tranh làm cho doanh nghiệp không quan tâm đến sản xuất, sản xuất đình trệ, khả năng trả nợ ngân hàng khó khăn
* Môi trường kinh tế:
Nhất cử nhất động của môi trường kinh tế đều có thể tác động đến sức khoẻ ngành ngân hàng
Môi trường kinh tế có ảnh hưởng đến sức mạnh tài chính của người đi vay, đến sự thành công hay thất bại của người đi vay Sự tăng trưởng hay suy thoái của chu kỳ kinh tế cũng ảnh hưởng đến lợi nhuận của người đi vay Trong giai đoạn kinh tế tăng trưởng, doanh nghiệp bán được nhiều hàng hoá,
Trang 37do đó lợi nhuận thu được cao, doanh nghiệp có nguồn thu trả nợ Ngân hàng Nhưng trong thời kỳ suy thoái, hàng hoá không bán được, doanh thu bị giảm sút, doanh nghiệp không có lợi nhuận để trả nợ, Ngân hàng không thu được gốc
và lãi đúng hạn
Tùy vào mức độ nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng mà việc ảnh hưởng lên cá nhân và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cũng như lên khả năng thanh toán các khoản nợ của họ ở mức độ khác nhau: mức độ khủng hoảng càng cao, sức mua của người tiêu dùng càng giảm sút làm cho hàng hoá bán ra càng giảm mạnh, ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp.Thất nghiệp tăng, cho vay cá nhân tại các ngân hàng cũng dễ gặp rủi ro lớn…
Lạm phát cũng ảnh hưởng bất lợi đến công việc kinh doanh: Chi phí đầu vào tăng làm cho các doanh nghiệp khó khăn về tài chính dẫn đến nhu cầu tín dụng tăng Nợ không thay đổi tương ứng với sức mua đồng tiền, vì vậy đã trở nên gánh nặng đối với doanh nghiệp, kết quả là không trả được nợ
Tình hình kinh tế thế giới cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động ngân hàng ở từng quốc gia Với xu hướng hội nhập, khi các ngân hàng nước ngoài được đối xử bình đẳng trên thị trường Việt Nam thì các ngân hàng Việt Nam đứng trước sự cạnh tranh gay gắt, và như vậy các ngân hàng buộc phải chấp nhận những dự án và phương án có mức rủi ro cao
Để tự bảo vệ mình trước sự biến động không ngừng của nền kinh tế các ngân hàng thường sử dụng các công cụ phái sinh để phòng ngừa cho mình trước những rủi ro có thể gặp phải
* Môi trường văn hoá - Xã hội:
Hành vi của khách hàng bị chi phối bởi các yếu tố văn hoá Những hành động trái với truyền thống văn hoá thường khó được chấp nhận
Các yếu tố văn hoá xã hội thường được hình thành từ rất lâu và rất khó thay đổi Sự thay đổi của các yếu tố văn hoá xã hội không phải diễn ra ngày một ngày hai mà là cả một quá trình Để nhận biết được các yếu tố này thay
Trang 38đổi không phải là công việc đơn giản đòi hỏi ngân hàng phải kết hợp nhiều lĩnh vực: xã hội học, tâm lý Như thói quen tiêu dùng của người dân thay đổi các sản phẩm truyền thống không thể bán được, các doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng này sẽ gặp nhiều khó khăn và ngân hàng cũng gặp nhiều rủi ro hơn khi cho các doanh nghiệp này vay
* Môi trường công nghệ:
Sự thay đổi về công nghệ có tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế và xã hội Nó làm thay đổi phương thức sản xuất, cách thức tiêu dùng và cả phương thức trao đổi của xã hội nói chung và của ngân hàng nói riêng Mỗi kỹ thuật công nghệ thường tạo ra một hệ quả lâu dài nhưng lại khó dự kiến trước
Khi có một công nghệ hiện đại xuất hiện có thể làm giảm giá trị của các máy móc cũ, các tài sản đảm bảo của khách hàng không còn giá trị như ban đầu và rất nguy hiểm cho ngân hàng khi khách hàng không trả được nợ
Hay như xu hướng hiện nay thông tin về khách hàng thường được tập trung tại một trung tâm Nhưng khi các thông tin về khách hàng đã thay đổi
mà công nghệ thông tin chưa kịp cập nhật thì sẽ rủi ro lớn cho ngân hàng khi vốn sự dụng các thông tin cũ…
* Nguyên nhân do các yếu tố từ thiên nhiên
Các thiệt hại nảy sinh từ nguyên nhân thiên tai như: thời tiết, khí hậu, động đất, núi lửa, bão lụt, hạn hán, dịch bệnh…mà ngân hàng không thể lường hết được Những thiệt hại này đều có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của khách hàng, làm cho khách hàng kinh doanh giảm sút, gặp khó khăn thì khả năng trả nợ cho ngân hàng sẽ giảm, do vậy có thể dẫn đến rủi ro trong hoạt động tín dụng
Trong thời gian vừa qua, chúng ta đã chịu ảnh hưởng thời tiết, khí hậu khắc nghiệt dẫn đến việc lượng mưa giảm đáng kể, ảnh hưởng đến thời gian phát điện của các nhà máy thuỷ điện làm cho các Chủ đầu tư của các nhà máy trên gặp khó khăn trong việc trả nợ và khó có khả năng trả nợ đúng hạn cho
Trang 39ngân hàng dẫn đến hàng loạt các ngân hàng cho vay để đầu tư các nhà máy
thuỷ điện phải tiến hành gia hạn nợ cho khách hàng của mình
Các yếu tố khách quan nêu trên thường khó dự báo và ngân hàng
thường không thể lường hết được Mọi ngân hàng kinh doanh trong điều kiện
kinh tế thị trường không thể loại bỏ hết rủi ro mà chỉ phòng ngừa và dự báo
một phần nào mà thôi
1.2.1.2 Nguyên nhân chủ quan
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng luôn ở vị thế "không cân xứng về
thông tin" Vì vậy ngân hàng dễ rơi vào tình trạng rủi ro đạo đức và sự lựa
chọn đối nghịch
* Từ phía khách hàng:
Rủi ro từ phía khách hàng thường là nguyên nhân chính và cổ điển nhất
dẫn đến rủi ro tín dụng
Khi đi vay khách hàng luôn cung cấp cho ngân hàng những thông tin
tốt về mình Chính vì vậy, các ngân hàng thường khó có thể đánh giá chính
xác về khách hàng của mình Đặc biệt rủi ro khi ngân hàng đã cho vay mà vì
một nguyên nhân chủ quan nào đó mà khách hàng không trả nợ đúng hạn
hoặc tồi tệ hơn là không trả được nợ
Mọi khách hàng vay vốn đều cam kết sử dụng vốn vay đúng mục đích
và trả nợ đúng thời hạn Tuy nhiên công việc kinh doanh của họ thì không
phải lúc nào cũng như ý muốn Khi việc tính toán triển khai dự án đầu tư sản
xuất, kinh doanh của khách hàng không khoa học, không được thẩm định kĩ,
khả năng quản lý tài chính yếu kém… thì nguy cơ họ không trả được nợ là rất
rõ ràng
Một số trường hợp cá biệt khi khách hàng không có thiện chí trả nợ (mặc dự họ có khả năng) đó là những trường hợp ngân hàng phải cần thận
trọng, những khách hàng này thường có đặc điểm chấp nhận những khoản vay
có lãi suất cao và vay với khối lượng lớn
Trang 40Đối với khách hàng là cá nhân thì rủi ro thường xảy ra khi họ lâm vào tình trạng: thất nghiệp, ốm đau, bệnh tật…
+ Trình độ cán bộ tín dụng cũng thường là nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động tín dụng: cán bộ tín dụng không am hiểu nghiệp vụ, ngành nghề kinh doanh xin vay…hoặc đạo đức nghề nghiệp không tốt đều có thể dẫn đến rủi ro
+ Do cạnh tranh để lôi kéo khách hàng nên hạ thấp các điều kiện vay vốn, đánh giá phân tích khách hàng đơn giản, muốn duy trì mối quan hệ với khách hàng truyền thông nên có thể giãn nợ, gia hạn nợ, thậm chíđảo nợ trong lúc biết rõ khách hàng có thể không trả được nợ
+ Qui trình tín dụng thiếu chặt chẽ và không phù hợp: Quy trình tín dụng thông thường được xây dựng trên những quy định chung của pháp luật
và đặc thù trong hoạt động của mỗi ngân hàng Việc xây dựng quy trình không chặt chẽ có thể gây ảnh hưởng làm tăng rủi ro tín dụng của ngân hàng
+ Cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ ngân hàng lạc hậu: dẫn đến quá trình thu thập và xử lý thông tin không cập nhật, chính xác việc thẩm định quyết định cho vay không hiệu quả, rủi ro tín dụng dễ xảy ra
+ Không thực hiện hoặc thực hiện không tốt các đảm bảo tín dụng: nhận bản sao giấy tờ về tài sản thế chấp, để khách hàng lợi dụng vay nhiều, nâng giá trị tài sản để nâng mức cho vay