S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn tăng hơn 50% so với năm 2000 iện cả nước có gần 185 000 người nghiện ma tuý có hồ sơ quản lý, tăng 0,8% so với cuối năm 20
Trang 1S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
T N U N TRƢ N N T V QU N TR N O N
N U N TRUN T Ƣ NG
O N Ƣ I SAU CAI NGHIỆN MA TÚY
Trang 2S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
C Y
TRƢ N N T V QU N TR N O N
N U N TRUN T Ƣ NG
O N Ƣ I SAU CAI NGHIỆN MA TÚY
Trang 3S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa
từng được dùng để bảo vệ một học vị nào
ôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác gi ả luận văn
Nguy ễn Trung Thường
Trang 4S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ, lãnh đạo Trung tâm chữa bệnh, giáo
dục lao động xã hội thành phố Thái Nguyên, Cục Phòng chống ma túy, tệ nạn
xã hội, Công an thành phố hái guyên đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và điều tra khảo sát dữ liệu giúp tôi toàn hoàn thành đề tài tốt nghiệp
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và các bạn đồng môn lớp Quản trị kinh doanh K10C đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
H ọc viên
Nguy ễn Trung Thường
Trang 5S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Ờ CAM OA i
Ờ CẢM Ơ ii
MỤC ỤC iii
DA MỤC Ừ V Ế Ắ vii
DA MỤC C C BẢ viii
MỞ ẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
3 ối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 3
4 Những đóng góp của luận văn 4
5 Bố cục của luận văn 4
hương 1 Ơ SỞ LÝ LUẬN V Ơ SỞ T Ự T N VỀ Ỗ TRỢ T O V Ệ L M O N Ư S U N ỆN M TÚ 6
1.1 Ma túy và tác hại của nghiện ma túy đối với kinh tế - xã hội 6
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến ma túy 6
1.1.2 Nguyên nhân của nghiện và tái nghiện ma túy 8
1.1.3 Tác hại của nghiện và tái nghiện ma túy tới kinh tế - xã hội 16
1.2 Việc làm và hỗ trợ việc làm đối với người sau cai nghiện 17
1.2.1 Một số vấn đề chung về việc làm, tạo việc làm trong nền kinh tế thị trường 17
1.2.2 ội dung hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện của hà nước 22
1 2 3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện tại cộng đồng 24
1.2.4 Một số phương thức hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện tại trung tâm 28
1.3 Kinh nghiệm tạo việc làm cho người sau cai nghiện 30
Trang 6S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.3.1 Kinh nghiệm tạo việc làm cho người sau cai nghiện tại Hải Phòng 30
1.3.2 Kinh nghiệm tạo việc làm cho người sau cai nghiện tại tỉnh Phú Thọ 31
1.3.3 Bài học có thể vận dụng đối với thành phố Thái Nguyên 32
hương 2 P ƯƠN P P N N ỨU 33
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 33
2 2 Các phương pháp nghiên cứu 33
2 2 1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 33
2 2 2 Phương pháp thu thập thông tin 33
2 2 3 Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin 35
2 2 4 Phương pháp phân tích số liệu 35
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 36
2.3.1 Nhóm chỉ tiêu định lượng 37
2.3.2 Nhóm chỉ tiêu định tính 37
hương 3 T Ự TR N Ỗ TRỢ T O V Ệ L M O N Ư SAU N ỆN M TÚ T TRUN TÂM Ữ BỆN , O Ụ L O ỘN XÃ Ộ T N P Ố T N U N ỆN NAY 38
3.1 Khái quát chung quá trình hình thành và phát triển của trung tâm chữa bệnh, giáo dục lao động xã hội thành phố Thái Nguyên 38
3 2 hực trạng hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma túy tại trung tâm chữa bệnh, giáo dục lao động xã hội thành phố hái guyên 42
3 2 1 Văn bản pháp qui về chính sách tạo việc làm cho người sau cai nghiện 42
3 2 2 hực trạng hỗ trợ tổ chức đào tạo dạy văn hóa 45
3 3 3 Công tác hỗ trợ dạy nghề tại trung tâm chữa bệnh, giáo dục lao động xã hội 47
3 2 4 Công tác tổ chức việc làm cho người sau cai 51
3.3.5 ình trạng việc làm, đời sống của người sau cai trong các doanh nghiệp 53
Trang 7S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
3 3 6 ời sống và việc làm của đối tượng hồi gia 60
3 4 ánh giá chung về tạo việc làm và hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện 62
3 4 1 hững kết quả đạt được về tạo việc làm và hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện 63
3.4.2 Những hạn chế trong hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện 64
3 4 3 guyên nhân của hạn chế 65
hương 4 P P Ỗ TRỢ T O V Ệ L M O N Ư S U N ỆN M TÚ T TRUN TÂM Ữ BỆN , O Ụ , L O ỘN XÃ Ộ T N P Ố T N U N 68
4 1 Dự báo, mục tiêu và định hướng cơ bản 68
4 1 1 Dự báo một số yếu tố tác động đến công tác quản lý sau cai, hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện trong những năm sắp tới 68
4 1 2 Mục tiêu phòng chống ma túy trong tình hình mới 70
4 1 3 Cai nghiện, quản lý sau cai nghiện 71
4 1 4 ịnh hướng hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma túy 72
4 2 Các giải pháp chủ yếu nhằm hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma túy tại trung tâm chữa bệnh giáo dục, lao động xã hội thành phố hái guyên trong thời gian tới 73
4 2 1 hóm giải pháp chung 74
4 2 2 iải pháp cụ thể 78
4 3 Kiến nghị 81
4 3 1 Kiến nghị với chính phủ 81
4 3 2 Kiến nghị với thành phố hái guyên 82
T LUẬN 84
N MỤ T L ỆU T M O 86
P Ụ LỤ 90
Trang 8S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 9S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 10S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Bảng 3.1: Cơ cấu trình độ văn hóa của đối tượng 46
Bảng 3.2: Qui mô đào tạo nghề qua các năm 47
Bảng 3.3: Số lượng và tỷ lệ đối tượng theo học nghề tại Trung tâm 50
Bảng 3.4: Số lượng và tỷ lệ đối tượng theo tình trạng có hay không có
việc làm 51
Bảng 3.5: Cơ cấu ngành nghề việc làm của các trung tâm được khảo sát 52
Bảng 3.6: Cơ cấu việc làm của đối tượng sau khi kết thúc giai đoạn
quản lý tập trung về các doanh nghiệp đặc biệt 58
Bảng 3.7: Tiền lương/tháng của người lao động sau khi kết thúc
giai đoạn quản lý tập trung về các doanh nghiệp đặc biệt theo nghề 59
Bảng 3.8: Tình trạng việc làm của các đối tượng hồi gia về địa phương 60
Bảng 3.9: Tỷ lệ đối tượng hồi gia theo mức thu nhập 61
Bảng 3.10: Kết quả tái hòa nhập cộng đồng của người sau cai tại
Trung tâm chữa bệnh, giáo dục - lao động xã hội thành
phố Thái Nguyên 64
Trang 11S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1 Tính c ấp thiết của đề tài
ã từ lâu, tệ nạn ma túy là một hiểm họa lớn của toàn nhân loại Trong
đó, nhiều quốc gia đang phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng do tệ buôn lậu ma túy và nghiện ma túy gây ra cho đời sống kinh tế - xã hội trong
đó có Việt Nam Ma túy làm suy thoái nhân cách, phẩm giá con người, tàn phá cuộc sống gia đình, gây xói mòn đạo lý, làm gia tăng tội phạm, bạo lực, tham nhũng, vắt cạn kiệt nguồn nhân lực và tài chính, lẽ ra phải được huy động cho việc phát triển kinh tế - xã hội, đem lại ấm no hạnh phúc cho mọi người Nghiêm trọng hơn, ma túy là một trong những nguyên nhân chủ yếu
dẫn đến lây nhiễm đại dịch thế kỷ HIV/AIDS trên toàn cầu
Do siêu lợi nhuận và lợi dụng tự do hóa thương mại, chính sách mở cửa thu hút đầu tư của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, tội phạm
ma túy tiến hành mở rộng phạm vi hoạt động sản xuất, buôn bán ma túy kết
hợp với rửa tiền Các nhóm vũ trang móc nối với bọn buôn lậu ma túy và
khủng bố quốc tế để sản xuất ma túy làm nguồn tài chính phục vụ ý đồ chính
trị và khủng bố quốc tế
ỉnh hái guyên, là trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi đông bắc nói chung, là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với đồng bằng Bắc Bộ; phía Bắc giáp với Bắc Kạn, phía ây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, uyên Quang, phía ông giáp với các tỉnh ạng ơn, Bắc iang và phía am giáp với hủ đô
à ội Vì vậy, tình hình các loại tội phạm diễn biến rất phức tạp đặc biệt là các loại tội phạm về ma tuý
ệ nạn ma túy đang diễn biến phức tạp ở Việt am nói chung và địa bàn thành phố hái guyên, tỉnh hái guyên nói riêng ính đến hết năm
2006, toàn quốc có khoảng 140 000 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý,
Trang 12S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
tăng hơn 50% so với năm 2000 iện cả nước có gần 185 000 người nghiện
ma tuý có hồ sơ quản lý, tăng 0,8% so với cuối năm 2013, tăng 6,3% so với năm 2012 và tăng tới 15,4% so với 2012 ính đến tháng 01/2015 toàn tỉnh hái guyên có 5 671 người nghiện ma túy (giảm 82 người so với năm 2014) rong đó, thành phố hái guyên có 2008 người nghiện
ong song với những biện pháp quyết liệt chống tội phạm buôn bán ma túy, hà nước ta cũng đồng thời quan tâm đến việc tổ chức cai nghiện, giúp cho những người nghiện ma túy có thể cắt cơn, phục hồi sức khỏe, hành vi và nhân cách để có thể tái hòa nhập cộng đồng Công tác cai nghiện phục hồi tuy đạt được một số kết quả bước đầu, nhưng tính hiệu quả và sự bền vững còn hạn chế, tỷ lệ tái nghiện còn cao
Tạo việc làm cho người nghiện ma túy sau khi được chữa trị, phục hồi
là một trong những biện pháp quan trọng có ý nghĩa cả về kinh tế và xã hội,
nhằm giúp đối tượng trở về cuộc sống bình thường, góp phần nâng cao hiệu
quả công tác phòng chống tệ nạn ma túy Chủ trương này thể hiện rõ trong các văn bản chỉ đạo của ảng và Chính phủ như Chỉ thị 33-CT/TW, Chỉ thị 06-CT/TW, Nghị quyết 06/CP của Chính phủ và gần đây nhất là Chỉ thị 21-CT/TW, ngày 26/3/2008 về tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy trong tình hình mới
Trên thực tế, việc giải quyết việc làm cho người nghiện ma túy sau khi được chữa trị, phục hồi còn nhiều hạn chế àng năm, số đối tượng được tạo
việc làm ở cộng đồng chỉ chiếm khoảng 10% số đối tượng được chữa trị, phục
hồi Ngoài những khó khăn khách quan của nền kinh tế thị trường, nguyên nhân của tình trạng này còn do nhận thức, trách nhiệm của chính quyền, đoàn
thể ở các cấp chưa cao, đặc biệt là chính quyền cấp xã, cộng đồng, khu phố, thôn xóm ít quan tâm Bản thân đối tượng và gia đình họ còn có tư tưởng ỷ lại
xã hội, không nỗ lực tìm kiếm việc làm Mặt khác, hà nước ta cũng chưa có
Trang 13S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
cơ chế chính sách phù hợp để khuyến khích, huy động nhiều thành phần kinh
tế - xã hội tham gia giải quyết việc làm cho đối tượng
Do vậy, dạy nghề, tổ chức lao động sản xuất, tạo việc làm có thu nhập
ổn định không những là một nội dung quan trọng của quy trình cai nghiện mà còn là yêu cầu thiết yếu, tạo điều kiện cho đối tượng tái hòa nhập cộng đồng, phòng chống tái nghiện có hiệu quả iều đó đã đặt ra một yêu cầu cấp thiết ở nước ta hiện nay là cần có sự nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống vấn đề
tạo việc làm cho những người sau cai nghiện ma túy để giúp họ thực sự tái hòa
nhập cộng đồng và có cuộc sống yên ổn, trở thành người có ích cho xã hội
ể góp phần nhỏ bé vào yêu cầu chung đó, tôi chọn đề tài "Giải pháp hỗ
tr ợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma túy tại trung tâm chữa bệnh, giáo d ục lao động xã hội thành phố Thái Nguyên" làm luận văn của mình
2 M ục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 M ục tiêu chung
Mục tiêu của luận văn là tìm ra các giải pháp hỗ trợ tạo việc làm cho
những người sau cai nghiện ma túy tại trung tâm chữa bệnh, giáo dục lao động xã hội thành phố Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay
2.2 M ục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa và làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về ma túy, sử
dụng ma túy, cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; lý luận về
hỗ trợ tạo việc làm cho đối tượng sau cai nghiện
- Phân tích, đánh giá thực trạng hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma túy tại trung tâm chữa bệnh giáo dục, lao động xã hội thành phố Thái Nguyên trong giai đoạn 2012-2014
- ề xuất các giải pháp hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma túy tại trung tâm chữa bệnh, giáo dục lao động xã hội thành phố Thái Nguyên
3 ối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Trang 14S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
3.1 Đối tượng nghiên cứu
ối tượng nghiên cứu là các biện pháp hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma túy
3.2 Ph ạm vi nghiên cứu
- Về không gian: đề tài nghiên cứu về vấn đề hỗ trợ tạo việc làm cho
những người sau cai nghiện ma túy có hồ sơ quản lý sau cai nghiện tại trung tâm chữa bệnh giáo dục, lao động xã hội thành phố Thái Nguyên
- Về thời gian: nghiên cứu thực trạng hỗ trợ tạo việc làm cho những người sau cai nghiện ma túy từ năm 2012 đến năm 2014; đề xuất giải pháp cho những năm tiếp theo
- Về nội dung: tập trung nghiên cứu cách thức tổ chức quản lý, cơ chế, chính sách trong hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện tại trung tâm
chữa bệnh giáo dục, lao động xã hội thành phố Thái Nguyên
4 Những đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần phân tích và làm rõ những vấn đề cơ bản về ma túy, sử dụng ma túy, cai nghiện ma túy, nguyên nhân và tác hại của sử dụng
ma túy, tái nghiện, quản lý sau cai nghiện, tái hòa nhập cộng đồng và hỗ trợ
tạo việc làm cho những người sau cai nghiện ma túy Hệ thống các giải pháp
khả thi, hiệu quả cho người sau cai nghiện nhằm nhân rộng các mô hình trong toàn tỉnh Thái Nguyên và cả nước
- Luận văn là tài liệu khoa học có ý nghĩa thiết thực, là tài liệu tham
khảo cho các cơ quan quản lý nghiên cứu hoạch định chính sách và chỉ đạo thực tiễn về tạo việc làm cho người sau cai nghiện, phù hợp với điều
kiện, và tình hình ở mỗi địa phương, góp phần đẩy mạnh công tác phòng
chống ma túy, làm giảm tỷ lệ tái nghiện và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã
hội nói chung
5 B ố cục của luận văn
Trang 15S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm và hỗ trợ tạo việc làm
cho người sau cai nghiện ma túy
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma
túy tại trung tâm chữa bệnh giáo dục, lao động xã hội thành phố Thái Nguyên
Chương 4: Giải pháp hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma
túy tại trung tâm chữa bệnh giáo dục, lao động xã hội thành phố Thái Nguyên
Trang 16S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
hương 1
Ơ SỞ LÝ LUẬN V Ơ SỞ THỰC TI N VỀ
HỖ TRỢ T O VIỆ L M O N Ư I SAU CAI NGHIỆN MA TÚY
1.1 Ma túy và tác h ại của nghiện ma túy đối với kinh tế - xã hội
1.1.1 M ột số khái niệm liên quan đến ma túy
Thuật ngữ "ma túy" xuất hiện ở Việt am ban đầu có ý nghĩa là chỉ thuốc phiện, về sau còn được hiểu là các cây cần sa, cô ca và các loại thuốc tân dược gây nghiện khác Có ý kiến giải thích thuật ngữ "ma túy" đó là vì các
chất này có tác dụng như ma thuật, ma quái Nó chữa được một số bệnh có
hiệu quả cao và làm tăng hưng phấn hoặc ức chế thần kinh, đồng thời làm cho con người mê mẩn, ngây ngất và túy lúy Và như vậy, thuật ngữ "ma túy" được ghép từ các từ ma thuật, ma quái và túy lúy
Chương trình kiểm soát ma túy quốc tế của Liên hợp quốc (UNDCP) năm 1991 đã xác định: "Ma túy là những chất độc có tính gây nghiện, có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo khi xâm nhập và cơ thể con người thì có tác
dụng làm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ, làm cho con người bị lệ thuộc vào chúng gây nên những tổn thương cho từng cá nhân và cộng đồng"; theo
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), "Ma túy là bất kỳ chất gì mà khi đưa vào cơ
thể sống có thể làm thay đổi một hay nhiều chức năng sinh lý của cơ thể"
Từ các quan niệm nêu trên, có thể nêu khái niệm như sau: ma túy là
những chất có nguồn gốc từ tự nhiên hay nhân tạo và khi dùng không được
chỉ dẫn có thể gây nghiện, làm ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của con người cũng như sự ổn định và phát triển của cộng đồng
Khi dùng ma túy lần đầu, người ta thấy có cảm giác lâng lâng, dễ chịu
và thèm muốn dùng lại Ma túy vào cơ thể vài lần sẽ tác động đến cơ quan
Trang 17S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
cảm thụ, gây trạng thái quen thuốc, nếu không dùng tiếp sẽ rất khó chịu, đau đớn, vật vã,… thèm muốn được dùng lại và trở nên nghiện ma túy Do đó, nghiện ma túy, nếu hiểu theo nghĩa rộng thì đó là tình trạng một bộ phận trong xã hội gồm những người có thói quen dùng các chất ma túy Còn theo nghĩa hẹp thì nghiện ma túy là sự lệ thuộc của con người cụ thể đối với các
chất ma túy, làm cho con người ta không thể quên và từ bỏ được ma túy
Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về "nghiện ma túy", nhưng chưa có một khái niệm đầy đủ và thống nhất Tuy nhiên, theo Tổ chức Y tế
Thế giới (WHO), "nghiện ma túy là trạng thái nhiễm độc chu kỳ hay mãn tính
có hại cho cá nhân và xã hội do dùng lặp lại một chất ma túy tự nhiên hay
tổng hợp"
Tổ chức DAYTOP quốc tế định nghĩa: nghiện ma túy là tình trạng rối
loạn cơ thể con người về các mặt sinh lý, tâm lý, nhận thức và hành vi do
người đó sử dụng lặp đi lặp lại một hoặc nhiều loại ma túy từ tự nhiên hay
tổng hợp
* Người nghiện ma túy
Tổ chức Y tế thế giới (W O) định nghĩa: người nghiện ma túy là người
sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần dưới các hình thức khác nhau như hút, hít, tiêm chích và bị lệ thuộc vào các chất này Từ khái
niệm nghiện ma túy có thể rút ra cách hiểu về người nghiện ma túy như sau: người nghiện ma túy là người bị lệ thuộc đối với các chất ma túy và không thể quên hay từ bỏ được ma túy Nếu ngừng sử dụng thì người nghiện sẽ xuất
hiện hội chứng cai
hư vậy, có thể hiểu người nghiện ma túy theo các cách định nghĩa khác nhau, nhưng điểm cơ bản là người sử dụng lặp lại nhiều lần một chất ma túy tự nhiên hay tổng hợp và bị lệ thuộc vào nó, không thể quên hay từ bỏ được nó
Trang 18S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ó là biện pháp giúp người nghiện ma túy thông qua chữa trị để từ bỏ
ma túy, phục hồi sức khỏe tinh thần và tái hòa nhập cộng đồng Thực chất
"cai nghiện ma túy" là quá trình giải quyết sự rối loạn ba yếu tố của người nghiện (trạng thái sinh lý, tâm lý, nhận thức và hành vi)
Liên hợp quốc đưa ra định nghĩa: cai nghiện là một biện pháp tổng hợp
gồm các tác động về y học, pháp luật, giáo dục học, đạo đức… nhằm điều trị giúp người nghiện ma túy cắt các hội chứng cai nghiện, phục hồi sức khỏe và tái hòa nhập xã hội
Quá trình nghiện ma túy đã tạo cho người nghiện luôn có phản xạ nhạy
cảm với ma túy, nên dù đã cắt cơn nhưng có thể sau 4 - 5 năm, hễ cứ nhìn
thấy ma túy, ngửi hơi ma túy, tiếp xúc với người nghiện, thậm chí nói đến tên
loại ma túy quen dùng, là cơn thèm khát ma túy lại bùng lên dữ dội, khó có
thể kìm hãm được Vì vậy, khi ra khỏi các trung tâm cai nghiện, người cai trở
lại sống với gia đình và cộng đồng, chịu sự ảnh hưởng trực tiếp của môi trường xã hội còn chưa trong sạch ma túy dẫn đến khả năng tái sử dụng ma túy là rất cao
Ranh giới giữa tái sử dụng ma túy (tái nghiện) và dứt khoát đoạn tuyệt
với ma túy là rất mong manh Chính vì vậy, công việc phòng, chống tái nghiện khi người cai hòa nhập cộng đồng là một việc làm tất yếu phải được
thực hiện
1.1.2 Nguyên nhân c ủa nghiện và tái nghiện ma túy
Nghiện và tái nghiện ma túy là một hiện tượng xã hội tiêu cực xảy ra
do nhiều nguyên nhân khác nhau
Trang 19S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ó vừa là nguyên nhân dẫn đến nghiện ma túy, vừa là một nguyên nhân của tái nghiện gười nghiện vốn do có lối sống sai lệch, nhiều thói quen xấu nên mắc vào nghiện ngập và trở thành thói quen khó bỏ, thậm chí khi đã cai nghiện được một thời gian ở trung tâm trở về tái hòa nhập cộng đồng, người nghiện vẫn giữ những thói quen đó hói quen sử dụng ma túy
lại càng khó từ bỏ đối với người nghiện bởi ma túy đã ăn sâu vào não người nghiện mà trong thời gian ngắn chưa thể xóa hết được Thực tế cho thấy đã có
những người cai được trong thời gian từ 20 - 30 năm nhưng vẫn tái nghiện trở
lại Môi trường tái hòa nhập cộng đồng của người nghiện vẫn còn những điều kiện xấu tồn tại xung quanh và nếu lối sống lành mạnh không đủ sức hút thì khả năng tái nghiện là rất lớn, thậm chí việc tái nghiện hoàn toàn có
thể xảy ra
Hiện nay khả năng cung về ma túy vẫn rất lớn, chúng ta chỉ ngăn chặn,
bắt giữ được một lượng rất nhỏ, còn lại hầu hết ma túy vẫn đang trôi nổi, tồn
tại trong xã hội, nó luôn sẵn sàng đáp ứng cho người có nhu cầu Bọn tội
phạm tiếp tục buôn bán cái chết trắng vẫn hiện diện khắp nơi Chừng nào còn
những tên tội phạm này - kể cả bọn buôn ma túy xuyên biên giới với số lượng tính bằng hàng chục, hàng trăm kg hê rô in lẫn bọn bán lẻ từng tép thì khó có
thể nói đến việc ngăn chặn tình trạng tái nghiện, càng không thể ngăn ngừa
những con người thiếu bản lĩnh trở thành những con nghiện mới Những con nghiện mới xuất hiện và trở thành gánh nặng và nỗi khổ đau cho nhiều gia đình
Trang 20S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
cũng như luật pháp của mỗi nước dành cho tội phạm về ma tuý Lợi dụng điểm yếu là sự lệ thuộc vào ma túy của những người nghiện ma túy vẫn chưa
hết khi họ từ trung tâm cai nghiện trở về tái hòa nhập cộng đồng nên bọn buôn bán ma túy tìm mọi cách rủ rê, lôi kéo để người nghiện sau cai phải tái
sử dụng ma túy, với hình thức ban đầu là cho không thuốc nhưng khi đã nghiện lại thì chúng bắt phải mua hoặc phải giúp chúng tiêu thụ ma túy
Tái nghiện có xảy ra hay không xảy ra được quyết định trực tiếp, cuối cùng bởi người nghiện sau cai Tại sao những người đã có hiểu biết về tác hại
của ma túy qua quá trình trải nghiệm của bản thân, qua sự giáo dục, tư vấn tại các trung tâm lại dễ dàng nghiện trở lại các chất ma túy? Nguyên nhân thuộc
về người nghiện bao gồm:
Quá trình nghiện ngập trước khi đi cai ở các trung tâm đã gây ra sự rối
loạn cho người nghiện ma túy cả về thể chất cho đến nhận thức, hành vi, hay chính là mất cân bằng cả về thể chất và tinh thần Cai nghiện ma túy giúp cho người nghiện từ bỏ được hội chứng cai, loại bỏ một phần sự mất cân bằng chứ không xóa được sự lệ thuộc về tâm lý, ý thức Hành vi sử dụng lại các chất
ma túy là biểu hiện rõ ràng nhất sự lệ thuộc đó, nó giống như một phương
thức mà người nghiện tìm đến để xóa đi trạng thái mất cân bằng Sau khi cai, cách suy nghĩ, hành vi của người nghiện vẫn còn bị ảnh hưởng rất đậm nét
bởi ma túy Theo nhận định của hội đồng chuyên viên về lạm dụng ma túy của
Trang 21S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
vào bộ nhớ của não và hình thành một phản xạ có điều kiện kiên cố không thể nào xóa bỏ được Do đó, cái thèm và nhớ các cảm giác dễ chịu, sảng khoái do
ma túy đem lại có cơ sở vững chắc tại các tế bào thần kinh, tồn tại tiềm tàng
và thường xuyên trong não Bởi vậy khi gặp một kích thích gợi nhớ chất ma túy, các dấu vết của phản xạ có điều kiện được hoạt hóa, xung động thèm chất
ma túy xuất hiện trở lại và thúc đẩy người nghiện quay về với chất ma túy,… đói ma túy trường diễn hay sự lệ thuộc về mặt tâm thần là khó khăn trở ngại
lớn nhất trong điều trị nghiện ma túy hiện nay
Loại bỏ sự lệ thuộc tâm lý đòi hỏi một quá trình điều trị lâu dài gắn với
cuộc đời người nghiện, trong thời gian đó, phải tạo cho họ được sống trong môi trường không có ma túy, chăm sóc giúp đỡ thường xuyên,… tức là tạo ra các yếu tố bảo vệ để phòng chống tái nghiện
Sự lệ thuộc về tâm lý tạo ra ở người nghiện cảm giác tò mò muốn thử
lại Khi thèm nhớ, người nghiện tưởng tượng đến các cảm giác đê mê, ngây
ngất do ma túy mang lại Trong thời gian cai nghiện tại các trung tâm, cảm giác thèm nhớ các chất ma túy vẫn luôn tồn tại, lúc lắng xuống, lúc mạnh mẽ tùy theo trạng thái tâm lý của người nghiện: khi họ cảm thấy buồn bực, đau đớn, thất vọng thì cảm giác thèm ma túy tăng lên, tương tự như khi họ quá
phấn khích, vui vẻ Trở về với cộng đồng, nếu không được sống trong một môi trường cách ly với ma túy, không được sự quan tâm, giám sát, giúp đỡ
của gia đình, chính quyền, người đã cai rất dễ tái nghiện
Cũng về nguyên nhân tò mò dẫn đến sử dụng ma túy, Báo cáo tình hình
lạm dụng ma túy ở Việt Nam của DCP có đề cập: tò mò và xã giao chơi
bời là hai nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sử dụng ma túy (60%)
Trang 22S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Những con số đó lưu ý chúng ta về các giải pháp phòng chống tái nghiện ma túy, phải làm cho người nghiện sau cai có đủ tự tin, nghị lực và
hiểu biết để vượt qua sự thèm nhớ, tò mò muốn sử dụng lại ma túy
gười nghiện không đủ can đảm và nghị lực để đoạn tuyệt với sự lôi kéo của những bạn bè xấu Với những thói quen cũ, người nghiện vẫn tiếp tục giao du với những bạn bè trước đây và đa số những người bạn này là những người có nhu cầu và thói quen giống người nghiện Vì thế mà nguy cơ tái nghiện ma túy bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra với người sau cai
Nguyên nhân khách quan
Các đối tượng nghiện nhưng chưa cai nghiện hoặc người đã tái nghiện trước, những người buôn bán các chất ma túy luôn tìm cách lôi kéo, rủ rê để người cai nghiện trở lại sử dụng ma túy và trở thành tái nghiện Báo cáo kết
quả điều tra người nghiện ma túy năm 2014 đã làm rõ: bị rủ rê là nguyên nhân chính dẫn tới nghiện ma túy của các đối tượng (66,5%) Tái nghiện vì nguyên nhân này lại cao là do bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, trong đó có quan hệ bạn bè Bạn bè đóng vai trò rất lớn trong cuộc sống của
mỗi cá nhân ành động của mỗi cá nhân dù tốt hay xấu đều tìm thấy dấu ấn
của những người bạn anh ta Hành vi sử dụng trở lại các chất ma túy không
nằm ngoài nhận xét đó au khi được cai nghiện, trở về với cộng đồng, mọi cái dường như đều trở nên mới lạ, gần gũi nhất với người sau cai lúc này là gia đình và bạn bè của họ Bạn bè của người nghiện chủ yếu là bạn tiêm chích
cũ, có người đã cai nghiện, có người chưa cai, có người tái nghiện Sự tiếp xúc, giao lưu với những người bạn nghiện cũ khiến họ gợi nhớ những cảm giác do ma túy đem đến Trong hoàn cảnh đó, nếu một người bạn của người
đã cai sử dụng ma túy, "khoe" ma túy hay mời chào sử dụng ma túy… thì vấn
Trang 23S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
đề tái nghiện chỉ còn phụ thuộc vào ý chí của đối tượng nữa thôi, đa phần là không thể vượt qua
Nếu gia đình, người thân không thông cảm, sẻ chia và có những sự hỗ trợ
kịp thời cả về vật chất và tinh thần thì với tâm trạng buồn chán, bi quan sẵn có sẽ làm cho người sau cai dễ lâm vào tái nghiện Trong thực tế có nhiều gia đình có
những người thân đã tỏ ra thiếu lòng tin, sự cảm thông đối với người cai nghiện
từ trung tâm về và có thái độ khinh ghét đối với họ, tạo ra cho họ tâm lý tự ti,
mặc cảm gười nghiện ma túy khi đi cai về thường thì họ muốn tìm việc làm, có những việc làm nguy hiểm ngoài khả năng kiểm soát của gia đình (ví
dụ: phụ xe đi nơi này nơi khác, chạy xe ôm…) hoặc có những công việc đòi
hỏi vốn lớn ngoài khả năng của gia đình nên người nghiện không được đáp ứng và có thể xảy ra mâu thuẫn giữa gia đình và người nghiện sau cai Những mâu thuẫn này có thể đưa người nghiện trở lại con đường nghiện hút ma túy
Những thành kiến của xã hội đối với người nghiện đã có từ lâu Nhiều người nhìn người nghiện với con mắt khinh bỉ, miệt thị, coi họ là thành phần
xấu cần cảnh giác Hầu hết người dân gọi người nghiện là thằng nghiện, con nghiện, bọn đạo chích, bọn xì ke, ma túy iều đó làm cho người nghiện càng
trở nên mặc cảm và làm cho quá trình tìm việc làm của họ càng gặp nhiều trở
ngại Trong cộng đồng, xã hội còn nhiều người hoài nghi về khả năng quyết tâm đoạn tuyệt với ma túy của người nghiện Cũng có lẽ do người ta đã chứng
kiến cảnh người nghiện sau cai lại tái nghiện quá nhiều, đặc biệt với tỷ lệ tái nghiện quá cao như hiện nay (trên 90%, thậm chí 100% tái nghiện) nên số người đặt niềm tin vào lời hứa của người đã cai là rất ít
Trang 24S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại một tỷ lệ những người thất nghiệp Thất nghiệp là một yếu tố nguy cơ dẫn đến nhiều hành vi sai lệch khác nhau, trong đó có lạm dụng ma túy Mỗi lần cai nghiện tại gia đình, cộng đồng hoặc từ các trung tâm cai nghiện trở về, người nghiện hầu như chẳng còn gì ngoài hai bàn tay trắng Trong thời gian nghiện hút, họ bán hoặc cầm
cố tất cả những gì mình có Sức khỏe người nghiện sau nhiều năm nghiện hút, chích, mắc nhiều bệnh, bây giờ họ phải chịu thêm sự hành hạ của các bệnh
mới khi ngừng sử dụng ma túy nên sức khỏe suy sụp khó có thể có được việc làm có thu nhập đảm bảo cho cuộc sống bản thân và gia đình gười nghiện thường kêu ca buồn chán khi ở nhà vì không có việc làm, mệt mỏi, ăn không ngon, ngủ không đẫy giấc Khi không có việc làm ổn định hoặc thu nhập thấp không đảm bảo cuộc sống của bản thân và gia đình thì con người ta trở nên chán chường, bi quan và rất dễ sa vào tái nghiện Không có việc làm dẫn đến
một mặt là người nghiện có nhiều thời gian rỗi, có cơ hội giao du với những người bạn cũ, mặt khác, làm tăng thêm tính lười nhác của người nghiện, giảm quyết tâm cai nghiện ma túy
Những người nghiện sau khi được cai trở về với cộng đồng trong tình
trạng không có việc làm rất dễ trở lại với ma túy " hàn cư vi bất thiện", vì thất nghiệp, người nghiện lang bạt "nay đây mai đó", trở lại những điểm tiêm chích xưa, gặp bạn nghiện cũ, thấy những hình ảnh hết sức quen thuộc làm cho cảm giác thèm muốn trào dâng… Tái nghiện chỉ còn là ngày một ngày hai
Việc làm là một nhân tố khá quan trọng cho người nghiện tái hòa nhập
cộng đồng và đoạn tuyệt với ma túy "Kết quả điều tra khảo sát người nghiện cho thấy nguyên nhân tái nghiện tập trung cao nhất vào lý do người nghiện sau cai không có việc làm nên tái nghiện (chiếm 39,4%), sau đó là không có
sự quản lý, hỗ trợ (chiếm 21,7%), còn lại tập trung vào hai nguyên nhân khác:
Trang 25S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
do mua ma túy ngoài thị trường quá dễ (chiếm 20,7%) và bị kỳ thị bởi cộng đồng (chiếm 17,2%)
Nguyên nhân dẫn tới người nghiện sau cai không tìm được việc làm, trước hết là do họ bị hạn chế về mặt thể chất và cả tâm lý Mặc dù được điều
trị tại các trung tâm, song sự suy yếu về sức khỏe, biến đổi về hình thức, phong thái vẫn còn biểu hiện rõ nét khiến cho người nghiện sau cai bất lợi khi
đi xin việc Mặt khác, ngành nghề đào tạo tại các trung tâm hiện nay tính khả thi không cao, dạy nghề mang tính đồng loạt, đa số người nghiện không thể ứng dụng những nghề được đào tạo sau khi trở về cộng đồng (ví dụ: nghề đan lát không áp dụng được khi đối tượng nghiện sống ở trung tâm của thành phố
lớn như à ội…) Bên cạnh đó, người nghiện ma túy bị kỳ thị rất lớn bởi người tuyển dụng và bị cạnh tranh gay gắt từ phía những người được đào tạo
tại các trung tâm, cơ sở dạy nghề bên ngoài… gười sau cai nghiện còn gặp
trở ngại do kém năng động, thiếu tự tin thậm chí là tự ti khi tiếp xúc, trả lời
chỉ còn cách là loại bỏ vùng khoái cảm trong não bộ ó là điều không thể!
chỉ có những ai thật sự có ý chí cao và với sự giúp đỡ tận tình của cộng đồng, thì mới mong thắng được chính sự thèm khát ấy
Trang 26S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Tóm lại, để cai nghiện được hoàn toàn đòi hỏi phải có sự kết hợp nỗ
lực, ý chí quyết tâm của bản thân người nghiện với sự hỗ trợ cần thiết của gia đình, cộng đồng, xã hội để chống lại các yếu tố gây nên nghiện và tái nghiện Chính vì vậy, hỗ trợ giúp tạo việc làm cho người sau cai nghiện từ bỏ được
ma túy, không tái nghiện vừa là giải pháp có ý nghĩa kinh tế - xã hội, nhân văn sâu sắc, vừa là một thách thức lớn cho người cai nghiện và công tác quản lý sau cai
1.1.3 Tác h ại của nghiện và tái nghiện ma túy tới kinh tế - xã hội
hưởng nặng nề đến sức khỏe của người nghiện, khiến họ bị suy giảm mạnh
mẽ khả năng lao động sản xuất, tuy không làm ra của cải vật chất hoặc làm ra
ít nhưng tiền tiêu dùng cho ma túy luôn được họ khai thác từ gia đình hoặc thông qua những hành vi phạm tội
khiến gia đình người nghiện bị điêu đứng về kinh tế: người nghiện lần lượt đem tiền bạc, của cải trong gia đình đi đổi lấy ma túy, đẩy đời sống gia đình
đi vào đổ vỡ, mâu thuẫn, xung đột sâu sắc và bần cùng
nền kinh tế của đất nước Theo thống kê của Bộ ao động - hương binh và
Xã hội thì đến cuối năm 2014 cả nước có khoảng 120 000 người nghiện có hồ
sơ quản lý, nếu trung bình một ngày người nghiện dùng hai tép heroin (mỗi tép giá 500 000 đ) thì một năm tổng số người nghiện đã tiêu tốn khoảng 60 tỷ đồng Khi số lượng người nghiện trên tái nghiện thì số tiền tiêu phí sẽ lớn hơn
rất nhiều goài ra, hàng năm ngân sách nhà nước phải chi hàng trăm tỷ đồng cho công tác cai nghiện phục hồi, phòng chống tái nghiện, trả lương cho đội ngũ cán bộ làm công tác phòng chống tệ nạn ma túy, chưa kể tiền của gia đình
Trang 27S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
người nghiện đóng góp hêm vào đó, nghiện và tái nghiện ma túy làm tổn
thất một nguồn nhân lực rất lớn cho phát triển kinh tế vì đại đa số người nghiện, tái nghiện đều trong độ tuổi lao động và còn rất trẻ hư vậy, thiệt hại
về kinh tế do tái nghiện ma túy gây ra không chỉ dừng lại ở các con số kể trên
Nghiện ma túy gắn liền với bệnh tật, nghiện ma túy đồng nghĩa là thân tàn ma dại, sức khỏe bị suy kiệt, người nghiện chỉ có tuổi thọ trung bình là 40
tuổi, trong khi tuổi thọ bình quân của người bình thường là 75 tuổi Vì thế sẽ
là lãng phí nguồn nhân lực, sức lực lớn của cả xã hội, nếu như không tổ chức cai nghiện, hỗ trợ tạo việc làm giúp người sau cai nghiện tái hòa nhập cộng đồng, phòng ngừa tái nghiện cho gần hai trăm ngàn người nghiện, trong đó chiếm tới 80% là thanh niên
Nghiện ma túy gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới an ninh, trật tự an toàn
xã hội, làm gia tăng và lây lan rộng các căn bệnh xã hội nguy hiểm như HIV/AIDS, ảnh hưởng đến văn hóa, đạo đức, lối sống, thuần phong mỹ tục,
bản sắc và giá trị văn hóa của dân tộc Nghiện ma túy có mối quan hệ liên đới
với rất nhiều loại tệ nạn và tội phạm xã hội khác: khoảng 85% người nghiện
ma túy có tiền án, tiền sự, 40% các vụ trọng án là do người nghiện ma túy gây
ra Thông qua các vấn đề xã hội cũng như việc giải quyết các vấn đề đó có thể đánh giá khả năng điều hành đất nước của Chính phủ và tình hình chính trị ổn định của đất nước đó Không loại trừ nguy cơ các thế lực thù địch, phản động
lợi dụng vấn đề ma túy để công kích sự nghiệp cách mạng của nước ta
1.2 Việc làm và hỗ trợ việc làm đối với người sau cai nghiện
1.2.1 M ột số vấn đề chung về việc làm, tạo việc làm trong nền kinh tế thị trường
1.2.1.1.Khái niệm việc làm và tạo việc làm mới
Trang 28S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Việc làm là một phạm trù thuộc quyền con người, quyền có việc làm đã được quy định trong hệ thống pháp luật quốc tế
Việc làm là một phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế, xã
hội và nhân khẩu; nó thuộc loại những vấn đề chủ yếu nhất của toàn bộ đời
sống xã hội Khái niệm việc làm và khái niệm lao động liên quan chặt chẽ
với nhau, nhưng không hoàn toàn giống nhau Việc làm thể hiện mối quan
hệ của con người với những chỗ làm việc cụ thể, là những giới hạn xã hội
cần thiết trong đó lao động diễn ra, đồng thời nó là điều kiện cần thiết để
thỏa mãn nhu cầu xã hội về lao động, là nội dung chính của hoạt động con người Về giác độ kinh tế, việc làm thể hiện mối tương quan giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, giữa yếu tố con người và yếu tố vật chất trong quá trình sản xuất Việc làm gắn với quá trình tăng thu nhập, giảm sự nghèo khổ
của người lao động, đồng thời không đi ngược lại với lợi ích cộng đồng mà pháp luật quy định Nói cách khác, việc làm là những công việc, là những
hoạt động có ích, không bị pháp luật cấm và mang lại thu nhập cho bản thân
hoặc tạo điều kiện để tăng thu nhập cho các thành viên trong gia đình, đồng
thời góp phần cho xã hội
hư vậy, theo khái niệm trên có hai yếu tố là thu nhập và không bị pháp luật cấm là hai điều kiện cần và đủ để được thừa nhận là việc làm Ý nghĩa luật pháp - xã hội của khái niệm này là ở chỗ nó xóa bỏ sự phân biệt đối
xử lao động giữa các thành phần kinh tế, động viên mọi tổ chức, cá nhân tạo
việc làm cho người lao động ồng thời cũng thể hiện đặc trưng của Nhà nước pháp quyền, khuyến khích mọi người làm những việc không bị pháp
luật cấm
Trang 29S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Tạo việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào làm việc để
tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu thị trường [1]
Vấn đề tạo việc làm cho người lao động là một vấn đề rất phức tạp nhưng rất cần thiết cho mỗi quốc gia, mỗi địa phương phải luôn quan tâm
Việc tạo việc làm cho người lao động chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác nhau Vì vậy khi xem xét để đưa chính sách tạo việc làm cho người lao động cần phải quan tâm đến nhiều nhân tố
Thị trường lao động chỉ có thể được hình thành khi người lao động và người sử dụng lao động gặp gỡ trao đổi đi đến nhất trí vấn đề sử dụng sức lao động Do vậy vấn đề tạo việc làm phải được nhìn nhận ở cả người lao động và người sử dụng lao động đồng thời không thể không kể đến vai trò của Nhà nước gười sử dụng lao động là người chủ yếu tạo ra chỗ làm việc cho người lao động, bao gồm các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong và ngoài nước ể
có quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động phải có
những điều kiện nhất định ó là người sử dụng lao động cần phải có vốn, công nghệ, kinh nghiệm, thị trường tiêu thụ,… Còn người lao động phải có
sức khỏe, trình độ, chuyên môn, kinh nghiệp phù hợp với công việc của mình
ể có việc làm, được trả công theo ý muốn của mình thì người lao động
phải học hỏi, trau dồi kiến thức cho mình để theo kịp sự tiến bộ của khoa học
kỹ thuật goài ra người lao động phải luôn tự đi tìm việc làm phù hợp với mình để đem lại thu nhập cho gia đình rong vấn đề này, hà nước có vai trò
quản lý quan hệ lao động bằng các chính sách khuyến khích động viên nhằm đem lại lợi ích cho cả 2 bên hà nước tạo điều kiện thuận lợi cho cả người lao động và người sử dụng lao động để họ phát huy tối đa năng lực của mình
goài ra hà nước cũng đã ra các chiến lược đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo phân bổ nguồn nhân lực một cách hợp lý Vì vậy, khi
Trang 30S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
nghiên cứu tạo việc làm cần chú ý đến vấn đề đầu tư của nhà nước cũng như khu vực tư nhân để tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động
* Vai trò
Giải quyết việc làm đối với lao động thể hiện ở những vai trò chủ yếu sau đây
- Việc làm đối với lao động động có vai trò quan trọng, nếu giải quyết
tốt việc làm cho lao động sẽ tạo điều kiện và là cơ sở để triển khai các chính sách xã hội như: văn hóa, giáo dục, y tế… góp phần đảm bảo an toàn và ổn định xã hội
- iải quyết việc làm cho lao động có mục tiêu hướng vào toàn dụng lao động ở , chống thất nghiệp và khắc phục tình trạng thiếu việc làm đảm bảo thu nhập goài ra việc làm với lao động còn gắn với công cuộc xóa đói giảm nghèo ở khu vực
- Khi giải quyết được việc làm cho lao động sẽ có điều kiện nâng cao mức sống của người dân, đây là điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế , là điều kiện quan trọng hình thành nguồn nhân lực có chất lượng cao cung cấp cho nền kinh tế quốc dân:
- ạo việc làm, nâng cao mức sống của cư dân là điều kiện quan trọng
để ổn định xã hội, phát triển kinh tế xã hội:
- ạo việc làm mới góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động:
- ạo việc làm mới làm cho việc khai thác và sử dụng nguồn lực khan
hiếm có hiệu quả hơn
* Ý nghĩa của giải quyết việc làm
Việc làm là vấn đề vừa mang ý nghĩa kinh tế vừa là vấn đề xã hội, chính trị:
Trang 31S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
của việc giải quyết tốt vấn đề việc làm cũng chính là hiệu quả của sản xuất
Giải quyết tốt được vấn đề việc làm thì mới đảm bảo được sản xuất phát triển, kinh tế mới đi lên ồng thời, kinh tế phát triển cũng sẽ tạo điều kiện để giải quyết tốt vấn đề việc làm
được các tiêu cực xã hội, giữ vững được kỷ cương, nề nếp xã hội
một thời điểm nào đó, vấn đề này sẽ vượt ra thành vấn đề chính trị, bởi vì vấn
đề kinh tế luôn gắn liền với chính trị: kinh tế không phát triển thì chính trị sẽ không ổn định
làm được coi là quan hệ có liên quan trực tiếp với quan hệ lao động và đóng vai trò quyết định cho việc hình thành, phát triển và ổn định của quan hệ lao động ồng thời, chế định pháp lý về việc làm là một trong những chế định quan trọng
của pháp luật lao động, làm tiền đề để xác lập các chế định pháp luật khác Hay nói một cách khác, không có việc làm thì không có quan hệ lao động, cũng có nghĩa là không có những yếu tố khác làm nên nội dung của quan hệ lao động
rong điều kiện kinh tế thị trường, mối quan hệ giữa lao động - việc làm có những biểu hiện rất phức tạp Một mặt, lao động có xu hướng gắn kết
chặt chẽ với việc làm, mặt khác lại có xu hướng tách rời khỏi việc làm Từ đó
tạo nên sự khác biệt về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, giữa các nhóm trong một tầng lớp dân cư
Việc làm không chỉ là hoạt động để kiếm sống mà còn là hoạt động sáng tạo nhằm phục vụ xã hội, thông qua lao động hoàn thiện nhân cách con người cả về vật chất lẫn tinh thần Việc làm là yêu cầu chính đáng của con
Trang 32S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
người, tách con người ra khỏi lao động chẳng khác gì thủ tiêu sự tồn tại của con người, phá vỡ động lực bên trong của xã hội
Việc làm và giải quyết việc làm là một tiêu chí quan trọng thể hiện sức
mạnh của một nền kinh tế Thực hiện tốt chính sách việc làm, khắc phục tình
trạng thất nghiệp và sử dụng có hiệu quả nguồn lao động xã hội sẽ có tác
dụng tích cực đến quá trình ổn định và phát triển kinh tế
1.2.2 N ội dung hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện của Nhà nước
hà nước là cơ quan quyền lực tối cao, có vai trò đầu não trong tổ chức các hoạt động liên quan đến công tác phòng, chống ma túy, cụ thể trong hỗ
trợ tạo việc làm cho đối tượng sau cai nghiện ma túy, biểu hiện ở một số công
việc cụ thể như:
- hà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp
lý điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến việc hỗ trợ tạo việc làm cho đối tượng sau cai nghiện ma túy
- hà nước thiết lập và chỉ đạo các cơ quan chức năng, nhất là hệ thống
cơ quan về phòng chống ma túy từ trung ương đến địa phương, cơ sở nâng cao hiệu lực quản lý, điều hành các hoạt động quản lý sau cai, hỗ trợ tạo việc làm cho đối tượng sau cai nghiện ma túy
- hà nước thiết lập và tăng cường hợp tác với các nước, các tổ chức trong khu vực và toàn cầu nhằm thực hiện luật pháp quốc tế, góp phần kiểm soát và phòng chống ma túy trong nước có hiệu quả, hỗ trợ thực hiện công tác
quản lý sau cai, hỗ trợ tạo việc làm cho đối tượng sau cai nghiện ma túy
- hà nước có biện pháp tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức xã hội và các cấp tăng cường phối hợp hoạt động có hiệu quả nhằm phòng chống ngăn
chặn tệ nạn ma túy ở từng địa phương, đơn vị, trường học
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hà nước có vai trò rất quan trọng đối với quá trình giải quyết việc làm hà nước vừa là
chủ sử dụng một tỷ lệ lớn lao động của xã hội, vừa là chủ thể quản lý, điều
Trang 33S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
tiết cung - cầu nguồn lao động trên thị trường lao động toàn quốc Bằng hành lang pháp lý và các biện pháp kích cầu, các chương trình dự án, các chính sách phát triển kinh tế xã hội, các chương trình hỗ trợ việc làm, xóa đói, giảm nghèo, dân số - kế hoạch hóa gia đình, đào tạo nghề, xuất khẩu lao động, xây
dựng các công trình then chốt, liên doanh, liên kết với nước ngoài,… đặc biệt
là chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hà nước đã điều tiết tạo chỗ làm việc và giải quyết việc làm cho người lao động
Những mối quan hệ trên đây cho thấy hà nước có thể thực hiện nhiều hình thức trong hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện
chế, chính sách và công cụ để tạo ra điều kiện cho sự ổn định và phát triển việc làm iều 14 và 15 Bộ luật ao động xác định hà nước định chỉ tiêu việc làm
mới trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm và nhiều năm, tạo điều
kiện cần thiết, như hỗ trợ tài chính, cho vay vốn hoặc giảm miễn thuế và áp dụng các biện pháp khuyến khích khác để người lao động, trong đó có người sau cai nghiện giúp họ có khả năng tự giải quyết việc làm Nhất là các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế có điều kiện phát triển nhiều ngành nghề
mới, tạo việc làm cho nhiều người lao động là người sau cai nghiện ma túy
Mục tiêu đặt ra là không chỉ có hà nước, mà mỗi doanh nghiệp, mỗi gia đình, mỗi người lao động là người sau cai nghiện phải tự thân vận động để
tạo việc làm Doanh nghiệp và người sử dụng lao động được hà nước tạo điều kiện và cơ chế hữu hiệu để phát triển sản xuất, kinh doanh ghĩa là thông qua đó hà nước cũng có một phần trách nhiệm quan trọng nhằm giải quyết việc làm cho người lao động ến lượt mình, người có khả năng lao động phải chủ động sáng tạo, để sử dụng quyền lao động, tự tạo ra việc làm,
tự tìm việc làm với sự giúp đỡ của hà nước khi cần thiết
giải quyết việc làm trình Quốc hội chương trình và quỹ quốc gia về việc làm;
Trang 34S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập chương trình và quỹ giải quyết việc làm của địa phương trình ội đồng nhân dân cùng cấp quyết định Các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, các đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm tham gia thực hiện các chương trình và quỹ giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện
làm, nhằm tư vấn cho người tìm việc hoặc tìm nhân công, giúp giới thiệu, cung ứng và tuyển lao động, thu thập và cung ứng thông tin về thị trường lao động, tổ chức cơ sở dạy nghề xã hội Các sở ao động - hương binh và Xã
hội, các đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội được thiết lập tổ chức dịch vụ
việc làm, tuân theo sự thống nhất quản lý nhà nước theo hệ thống ngành Lao động - hương binh và Xã hội
Thứ tư, hà nước có vai trò và trách nhiệm hoàn thiện các quan hệ thị
trường lao động và hành lang pháp lý, buộc các chủ sử dụng lao động thực hiện đúng Bộ luật ao động nhằm bảo đảm lợi ích cho người lao động, đặc biệt là người sau cai nghiện ây là điều kiện và môi trường bảo đảm sự tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững của thị trường lao động và giải quyết việc làm
hỗ trợ tạo thêm công ăn việc làm có thu nhập cho người lao động là người sau cai nghiện ma túy
1.2.3 Các y ếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện
t ại cộng đồng
- gười sau cai nghiện muốn có cơ hội việc làm trước hết phải có ý chí, nghị lực đoạn tuyệt với quá khứ để xây dựng một cuộc sống mới
- Bản thân người sau cai nghiện phải có mong muốn tìm kiếm việc làm
để ổn định thu nhập đảm bảo cuộc sống
Trang 35S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Bên cạnh đó để đảm bảo yêu cầu tuyển dụng của công việc, người sau cai phải có thể lực, sức khỏe tốt để lao động và cống hiến
- Một điều cũng hết sức quan trọng là họ phải được đào tạo nghề phù
hợp hoàn cảnh sau khi về với cộng đồng Trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng, người sau cai rất cần có sự đồng cảm, chia sẻ từ gia đình và cộng đồng
để giúp họ thêm tự tin vượt qua mặc cảm cá nhân, tăng khả năng xin việc khi
đi phỏng vấn và thích ứng với nhu cầu về lao động của thị trường lao động
Nghiện ma túy là một hình thức nghiện đặc biệt nguy hiểm, nó không
chỉ gây nên những tổn thương về thần kinh, thể xác mà còn ảnh hưởng đến tác phong lối sống và cả nhân cách nữa ể có thể chữa trị được căn bệnh này, cũng như ngăn không cho nó xuất hiện trở lại, đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn của không những bản thân người nghiện, với những hỗ trợ cần thiết của xã hội mà còn cần cả sự nỗ lực của từng gia đình và cộng đồng
ia đình với vai trò là một tổ ấm, với tình thương và trách nhiệm cộng sự
hiểu biết cần thiết sẽ là một pháo đài không thể công phá với bất cứ tệ nạn xã hội nào chứ không chỉ riêng với ma túy Vì vậy, để thiết lập nên một hệ thống các
"tế bào xã hội" lành mạnh, đòi hỏi mỗi thành viên trong từng gia đình phải biết được vị trí và chỗ đứng của mình cũng như trách nhiệm của mình với những người xung quanh Với phương châm sống đó, gia đình người nghiện chính là nguồn động viên, an ủi lớn nhất giúp những người nghiện trong quá trình tìm
kiếm việc làm, ổn định cuộc sống và vượt qua được căn bệnh nguy hiểm này
Qua nghiên cứu cho thấy, đối với các đối tượng sau cai nghiện có gia đình yên ấm, được gia đình chăm sóc tận tình, động viên giúp đỡ, ủng hộ khuyến khích họ tìm việc làm thì hiệu quả chống tái nghiện lớn hơn rất nhiều các đối tượng có gia đình không hạnh phúc gười sau cai nghiện mang trong mình rất nhiều nỗi mặc cảm, tủi hổ Vì vậy, biết thông cảm, động viên họ
Trang 36S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
đúng lúc, đúng chỗ chính là một biện pháp rất tốt để cho họ vượt qua thử thách sau cai nghiện
Hầu hết các gia đình Việt am đều có người là thành viên của một trong các tổ chức xã hội như ội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Hội người cao
tuổi, oàn thanh niên, ội nông dân… kể cả các gia đình có người thân nghiện ma túy Vì vậy, các tổ chức xã hội đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện tuyên truyền giáo dục trong hội viên về phòng ngừa ma
túy, tư vấn hướng nghiệp, đào tạo dạy nghề, giới thiệu việc làm để phòng
chống tái nghiện Thông qua hoạt động của hội, đoàn thể vận động công nhân viên chức tham gia phòng, chống ma túy, hỗ trợ việc làm cho người sau cai nghiện từ gia đình và từ tổ chức của mình
Xây dựng các câu lạc bộ phòng ngừa ma túy, tư vấn hướng nghiệp và giáo dục dạy nghề để thu hút hội viên tham gia với nội dung, hình thức phong phú, thiết thực, góp phần ngăn chặn tệ nạn xã hội Dựa vào tôn chỉ hoạt động
Trang 37S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
của các hội mà các hội viên sẽ nhận được sự giúp đỡ về tinh thần hoặc vật
chất trong quá trình tiếp cận các dịch vụ tư vấn giới thiệu việc làm
oàn thể với tư cách là nơi tụ tập những người cùng cảnh ngộ, cùng chí hướng,cùng sở thích… chứ không phải là chính quyền với công cụ và quyền
hạn để áp chế hoặc bắt buộc vì thế nên từng thành viên trong các hội rất dễ
gần, dễ thông cảm, dễ bộc bạch được những khúc mắc, nguyên do tế nhị, bày
tỏ tâm tư nguyện vọng, nhu cầu nghề nghiệp để từ đó đoàn thể có điều kiện phân công kèm cặp giúp đỡ, tư vấn nghề nghiệp phù hợp, giới thiệu tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ đào tạo, dạy nghề, chuyển đổi nghề phù hợp từng thành viên của mình Trong hoạt động quản lý tái hòa nhập sau cai và hỗ trợ tạo
việc làm phòng chống tái nghiện thì các hội viên thuộc các đoàn thể càng phát huy được chức năng đó hông qua các sinh hoạt định kỳ của đoàn thể, các thành viên có điều kiện gặp gỡ, thu nhận thông tin về cơ hội việc làm để giúp
họ tiếp cận dịch vụ việc làm và công việc mới, ổn định cuộc sống để thực sự tái hòa nhập cộng đồng có hiệu quả và phòng ngừa tái nghiện
gười sử dụng lao động cần hợp tác tích cực trong xóa bỏ sự kỳ thị, phân biệt đối xử, phải tích cực và có trách nhiệm trong tiếp nhận lao động là người sau cai nghiện ma túy
Thực tế công tác quản lý và tạo việc làm cho những người sau cai nghiện ma túy trong thời gian qua cho thấy sự kết hợp lỏng lẻo, thiếu đồng bộ
giữa các cấp chính quyền, gia đình, cộng đồng xã hội Xã hội hóa công tác phòng chống và cai nghiện ma túy là một chủ trương đúng đắn, nhưng hiệu
quả thực thi chưa được như mong muốn guyên nhân chính là chưa tạo được
sự chuyển đổi nhận thức về trách nhiệm của cộng đồng, của các cấp ủy đảng, chính quyền và cơ quan nội chính địa phương Phân công nhiệm vụ và điều
Trang 38S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
hành cai nghiện còn phân tán, chưa khép kín, do vậy chưa phát huy hết được
sức mạnh và hiệu quả trong công tác quản lý sau cai và tạo việc làm
1.2.4 M ột số phương thức hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện tại trung tâm
Công tác hỗ trợ giải quyết việc làm thông qua lao động rèn luyện góp
phần uốn nắn nhận thức, phục hồi nhân cách của người nghiện, là những người trước đó chỉ biết phung phí tiền của vào nghiện ngập, nay đã biết lao động tạo ra sản phẩm Nhờ lao động, họ không những tự trang trải được các chi phí sinh hoạt hàng ngày ở rường, Trung tâm, nhiều người đã có dư và
gửi tiền tiết kiệm thông qua một số phương thức giải quyết việc làm như:
* Phương thức gián tiếp
- Thông qua tuyên truyền về ý nghĩa, vai trò của lao động trị liệu, sản
xuất trong điều trị cai nghiện ma túy, qua đó nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm lao động, làm việc và cống hiến cho bản thân, gia đình và xã hội
- Tham vấn và tư vấn hướng nghiệp, hướng dẫn việc làm, động viên người sau cai nghiện tự tạo việc làm; vận động các nguồn lực trong và ngoài
cộng đồng hỗ trợ vốn, đào tạo tay nghề, cung cấp việc làm, kiến thức và nhận
thức về các giá trị cuộc sống và nghề nghiệp hội nhập cộng đồng
- Giáo dục nhân cách, kỹ năng sống: công tác giáo dục đạo đức, nhân cách, ý thức pháp luật, giúp thay đổi nhận thức, hành vi của học viên, người sau cai nghiện về nghĩa vụ công dân trong lao động, tìm việc làm để đóng góp công sức xây dựng xã hội
- Dạy văn hóa, dạy nghề: các lớp dạy văn hóa dạy nghề phù hợp với trình độ học vấn, sức khỏe, hướng nghiệp và dạy nghề trực tiếp thông qua lao động sản xuất (truyền nghề) cho người sau cai nghiện, giúp chuẩn bị hành trang cho người sau cai nghiện tái hòa nhập thành công với cộng đồng
* Phương thức trực tiếp
Trang 39S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Sản xuất tự túc nâng cao chất lượng bữa ăn, như: tổ chức trồng rừng,
trồng các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, trồng rau xanh và chăn nuôi gia súc; tổ chức sản xuất gia công chế biến thực phẩm như: làm bánh mì, đậu tương, nước tương, sữa đậu nành, nước đá… qua đó các rung tâm có thể tự túc được rau xanh, nhu cầu thực phẩm hàng ngày, góp phần nâng cao chất lượng bữa ăn cho học viên, đồng thời rèn luyện, dạy nghề và giải quyết việc làm, tạo thêm thu nhập cho học viên
- Liên kết sản xuất, giải quyết việc làm và cải thiện đời sống thông qua các hoạt động như: tổ chức xúc tiến đầu tư, triển lãm, hội chợ trưng bày
sản phẩm do người sau cai nghiện làm ra để giới thiệu với thị trường và mở
rộng việc liên kết sản xuất, thu hút các doanh nghiệp liên kết đầu tư dạy nghề, sản xuất tại các rường, Trung tâm thuộc các ngành tiểu - thủ công nghiệp, may - thêu, chế biến hạt điều, mộc, nhựa gia dụng, gạch… và chăn nuôi, trồng trọt
- Giải quyết việc làm tại các cụm công nghiệp đặc thù được xây dựng
với đầy đủ hạ tầng kỹ thuật và khu lưu trú để thu hút các doanh nghiệp đầu tư,
ký hợp đồng thuê đất, thu hút người sau cai nghiện và người tái hòa nhập
cộng đồng vào làm việc
- Giải quyết việc làm với các Tổng đội lao động tình nguyện: để tạo cơ
sở cho việc thành lập Tổng đội lao động tình nguyện, tại các rường, Trung tâm
cần bố trí người sau cai nghiện có đủ sức khỏe tình nguyện tham gia vào các
ội lao động để thực hiện các công trình xây dựng cơ bản, phục vụ dân sinh
- ưa người sau cai nghiện đi lao động tại xí nghiệp ngoài rường, Trung tâm là một phương thức giải quyết hiệu quả việc làm cho người sau cai nghiện Với công việc và thu nhập có được giúp người sau cai nghiện xóa dần
mặc cảm tự ti khi được nhìn nhận, đánh giá cao về tinh thần lao động ây là bước chuẩn bị tốt về tâm lý cho việc tái hòa nhập cộng đồng sau này
Trang 40S ố hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.3 Kinh nghi ệm tạo việc làm cho người sau cai nghiện
1.3.1 Kinh nghi ệm tạo việc làm cho người sau cai nghiện tại Hải Phòng
Về mô hình cai nghiện ma túy, mại dâm, Hải Phòng quản lý theo mô hình hai trong một Trung tâm số 1 tại Gia Minh Thủy Nguyên, Trung tâm số
2 tại nông trường Quý Cao, xã ại Thắng (huyện Tiên Lãng), Trung tâm số 3
có tên phục hồi nhân phẩm tại đường Nguyễn Văn ới-Cát Bi Trung tâm 1,2 giáo dục đối tượng là nam giới, còn Trung tâm số 3 giáo dục đối tượng là nữ gười Hải Phòng, hay bên chuyên môn gọi các mô hình này là hai trong một
Tại Trung tâm, gồm nhiều hạng mục công trình, như: khu nhà chỉ huy điều hành và phục vụ; nhà ở sinh hoạt cho học viên; khu chợ phiên, khu nhà
học nghề, thực hành và hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, điện, nước, cùng các công trình phụ trợ khác như một khu du lịch sinh thái dần hoàn chỉnh
áp ứng yêu cầu vận hành theo quy trình khép kín từ quản lý giáo dục, chữa
bệnh đến tổ chức dạy nghề, văn hóa, lao động phục hồi sức khỏe và nhân cách
để tái hòa nhập cộng đồng, với quy mô tiếp nhận và luân chuyển trước và sau cai nghiện ma túy cho trên dưới 1000 đối tượng
Bên cạnh đó việc giúp người sau cai nghiện tiếp cận việc làm, trong quá trình cắt cơn, chữa bệnh, một số trung tâm cai nghiện tập trung trên địa bàn thành phố như rung tâm iáo dục ao động xã hội Hải Phòng, Trung tâm Giáo dục ao động số 2 tổ chức dạy nghề cho học viên theo hình thức
vừa học vừa làm, kết hợp lao động trị liệu heo đó, học viên được học nghề khâu bóng, làm vàng mã, thêu, may công nghiệp, làm gốm… Qua kết quả điều tra một số đối tượng hồi gia về tình hình việc làm của các đối tượng sau cai là không thuận lợi, chỉ có 20% đối tượng có việc làm ổn định, 32,5% có
việc làm nhưng không ổn định Các đối tượng ở thành phố, thị xã tỷ lệ có việc làm ổn định cao hơn các đối tượng ở nông thôn Tuy nhiên, ở cả hai nhóm đối