Arnstein 1969 46 Bảng 2.2: Các thang bậc về sự tham gia của người dân dành cho các Bảng 2.3: Các hình thức của sự tham gia phối hợp từ các giác độ 48 Bảng 3.1: Các nhóm chủ thể tham gia
Trang 1NGUYỄN THỊ ƢNG
QUẢN LÝ XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY
(Qua nghiên cứu chương trình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Thanh Hóa)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI - 2021
Trang 2NGUYỄN THỊ ƢNG
QUẢN LÝ XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY
(Qua nghiên cứu chương trình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Thanh Hóa)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: XÃ HỘI HỌC
Trang 3Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu nghiên cứu do tôi thu thập khách quan Kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực, qua nhiều lần đi khảo sát tại địa phương chọn mẫu nghiên cứu, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Ƣng
Trang 4MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ
1.1 Nghiên cứu về nông thôn mới ở một số nước trên thế giới và ở
2.1 Một số khái niệm - công cụ tiếp cận nghiên cứu của đề tài 31
2.3 Một số quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quản lý xã hội
2.4 Kinh nghiệm quản lý xã hội và xây dựng nông thôn mới ở một số
2.5 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội, chương trình xây dựng nông
Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ XÃ HỘI TRONG XÂY DỰNG
3.4 Mục tiêu và kết quả quản lý xã hội trong xây dựng nông thôn mới 109
Chương 4: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
XÃ HỘI TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở TỈNH
4.1 Quản lý xã hội ở nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở tỉnh
4.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý xã hội
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ NGHIÊN CỨU ĐÃ
Trang 6Bảng 2.1: Tám nấc thang mô tả mức độ tham gia của người dân trong
lý thuyết sự tham gia của Sherry R Arnstein (1969) 46 Bảng 2.2: Các thang bậc về sự tham gia của người dân dành cho các
Bảng 2.3: Các hình thức của sự tham gia phối hợp từ các giác độ 48 Bảng 3.1: Các nhóm chủ thể tham gia QLXH xây dựng nông thôn mới
Bảng 3.4: Tương quan giữa các hoạt động tham gia XDNTM với độ
Bảng 3.5: Mức độ chủ động trong quản lý xây dựng nông thôn mới 81 Bảng 3.6: Tương quan mức độ chủ động tham gia quản lý các hoạt
động XDNTM với giới tính, mức sống của các chủ thể (Tỷ
Bảng 3.10: Vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong nắm bắt và tuyên
truyền chỉ thị, nghị quyết, chính sách pháp luật về XDNTM 89 Bảng 3.11: Vai trò của các chủ thể ngoài HTCT cơ sở trong nắm bắt,
tuyên truyền chỉ thị, nghị quyết, chính sách và pháp luật
Trang 7Bảng 3.15: Vai trò của các chủ thể QLXH trong huy động, quản lý và
Bảng 3.16: Vai trò của các chủ thể trong tổ chức, điều hành thực hiện
Bảng 3.17: Tương quan vai trò tích cực của các chủ thể trong tổ chức, điều
hành thực hiện XDNTM với giới tính và mức sống (Tỷ lệ %) 100 Bảng 3.18: Mức độ thành công trong khâu kiểm tra, giám sát, xử lý vi
Trang 8Bản đồ 2.1: Các đơn vị hành chính tỉnh Thanh Hóa 66 Biểu đồ 3.1: Hiệu quả QLXH trong thực hiện khảo sát nhu cầu, xây
Biểu đồ 3.2: Vai trò tích cực của các chủ thể trong kiểm tra, giám sát,
xử lý vi phạm và phản hồi điều chỉnh quá trình XDNTM 101 Biểu đồ 3.3: Vai trò của hệ thống các văn bản pháp luật, chính sách, nội
quy của cấp ủy, chính quyền các cấp trong quản lý
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, quản lý nói chung và quản lý ở khu vực nông thôn nói riêng có
cơ chế tổng quát: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; nhằm đề cao ýchí của các cơ quan nhà nước và tinh thần thượng tôn pháp luật; cũng như tính tự quản,
sự tham gia của cộng đồng dân cư Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy
ở khu vực nông thôn Việt Nam, đang nổi lên mối quan hệ thiếu bền chặt, thậm chí
là xung đột: giữa quản lý nhà nước (QLNN) và tự quản của cộng đồng; giữa các chủ thểnhư hệ thống chính trị (HTCT); doanh nghiệp, tổ chức xã hội và các nhóm dân cư…trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển của cộng đồng/địa phương Từ những vấn đềnan giải trong thực hiện phương thức QLNN và tự quản ở khu vực nông thôn Việt Namnhư vừa nêu, đặt ra một phương thức quản lý mới, đó là: quản lý xã hội (QLXH) Đây làphương thức quản lý có sự kết hợp biện chứng giữa QLNN và tự quản của cộng độngnhằm đáp ứng những yêu cầu đặt ra trong bối cảnh đổi mới, phát triển đất nước hiện nay.Thông qua việc đẩy mạnh hiện thực hóa phương thức QLXH, có thể phát huy đượcnhững yếu tố tích cực; đồng thời hạn chế được những hạn chế, bất cập của hoạt độngQLNN và tự quản của cộng đồng
Một trong những nhiệm vụ cốt lõi của Việt Nam hiện nay là phải xử lý cóhiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế - thực hiện tiến bộ công bằng xã hội -giải quyết, kiểm soát và quản lý các vấn đề xã hội Muốn vậy, không thể thiếu đượcgiải pháp cần phải chủ động trong thực hiện QLXH Tuy nhiên, thực tế cho thấy,Việt Nam còn chậm đổi mới, thiếu nhất quan trong tư duy nhận thức và hành động
về QLXH Đồng thời, chưa xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyềncác cấp trong thực hiện QLXH Không những vậy, nguồn lực, công nghệ đáp ứngyêu cầu QLXH còn nhiều bất cập Đặc biệt, chưa xây dựng được hệ thống lý luậnkhoa học mang tính chỉnh thể, đồng bộ về QLXH
Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đòi hỏi hoạt động QLXH ở ViệtNam phải phù hợp với xu thế chung của thời đại Mặt khác, kinh nghiệm phát triểnkinh tế - xã hội (KT-XH) ở Việt Nam thời gian qua cho thấy, không thể bỏ qua vaitrò của cơ chế chính sách, các đặc điểm về văn hóa-xã hội trong QLXH Tình hình
đó đòi hỏi phải tập trung phân tích những yếu tố tác động đến QLXH đang trở nênhết sức cấp thiết, đặc biệt ở khu vực nông thôn Các nguyên lý QLXH phải đượcvận dụng trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, một xã hội dựa trên phát triển nềnnông nghiệp là chủ yếu đang tiến hành công nghiệp hóa và hiện đại hóa (CNH-
Trang 10HĐH), trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; dưới sự tác động sâusắc của cuộc Cách mạng Công nhiệp lần thứ tư - hay còn gọi là Cuộc cách mạngCông nghiệp 4.0 [54].
Cùng với giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới (XDNTM) là mộttrong hai chương trình mục tiêu quốc gia ở Việt Nam hiện nay Việc thực hiệnchương trình XDNTM đã tạo bước đột phá trong phát triển khu vực "tam nông",nâng cao đời sống cho người dân khu vực nông thôn Bài học kinh nghiệm, lý luận
và khoa học trong thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia XDNTM ở Việt Namcho thấy rõ, nơi nào biết quán triệt và vận dụng sáng tạo phương châm "Đảng lãnhđạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ" một cách hài hòa, biết tăng cường sự chủđộng tham gia tích cực của người dân trong XDNTM theo hướng thực hiện tốt dânchủ ở cơ sở, với khẩu hiệu "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởngthành quả đổi mới" thì ở đó các thành tựu mang tính: toàn diện, hài hòa, tổng thể vàbền vững được thể hiện rõ trên tất cả các tiêu chí về XDNTM Ngược lại, những địaphương nào trong quá trình XDNTM, quá nhấn mạnh đến ý chí của các cơ quanchức năng, của HTCT; người dân tham gia một cách thụ động hoặc mang tính hìnhthức; thậm chí bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa thành tích, tư duy nhiệm kỳ, lợi íchnhóm…thì ở địa phương đó tình trạng nợ đọng vốn huy động cho XDNTM giatăng; cơ sở hạ tầng khang trang nhưng đời sống của người dân lại chưa tương xứng;kinh tế có thể phát triển nhưng ô nhiễm môi trường tự nhiên - xã hội cũng gia tăng;bên cạnh đó, chất lượng của HTCT cấp cơ sở; sự đồng thuận xã hội lại chưa tươngxứng với yêu cầu đặt ra Để tiếp cận tổng thể, bao trùm những vấn đề như vừa nêucần phải tiếp cận QLXH ở khu vực nông thôn [145]
Từ thực tiễn XDNTM ở tỉnh Thanh Hóa cho thấy, có thể là địa bàn phù hợp choviệc tiến hành khảo sát, nhằm đưa ra các bằng chứng liên quan đến QLXH ở nông thônViệt Nam Theo số liệu của Ban chỉ đạo XDNTM tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2011-
2015 có 180/573 xã đạt chuẩn NTM, 02 huyện đạt chuẩn NTM, 51 thôn/bản đạt chuẩnNTM được các huyện công nhận Bình quân trong toàn tỉnh, mỗi xã đạt 13 tiêu chí Để
có được những thành công như vừa nêu, tỉnh Thanh Hóa đã mạnh dạn, sáng tạo là tiếnhành triển khai đồng loạt XDNTM ở tất cả các xã, không thực hiện xã điểm; tiến hành
tổ chức lấy ý kiến nhân dân; thực hiện theo tinh thần: "lấy của dân lo cho dân" Đồngthời, phát huy dân chủ, công khai, minh bạch trong huy động và sử dụng nguồn lực đểtạo sự tin tưởng, đồng thuận của nhân dân, phát huy cho được vai trò chủ thể của ngườidân và cộng đồng trong việc tham gia XDNTM [158]
Trang 11Tuy nhiên, qúa trình triển khai những chủ trương, chính sách của Đảng vàChính phủ về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa chothấy: Một số tổ chức Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội chưa nhậnthức đầy đủ vai trò, vị trí của nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Một số địa phương
đã triển khai xây dựng nông thôn mới nhưng quyền làm chủ của nông dân bị viphạm Thành quả xây dựng nông thôn mới chưa thực sự được bảo vệ để giữ sự pháttriển bền vững trong xã hội Đồng thời, vấn đề môi trường nông thôn một số xã đãđược công nhận đạt chuẩn NTM nhưng chưa đạt tiêu chí bền vững, như lĩnh vựcmôi trường Không những vậy, mức độ phân hóa xã hội, chênh lệch về mức sốnggiữa các hộ gia đình, địa phương và vùng miền ở khu vực nông thôn đang tăng…Từnhững thành công và hạn chế XDNTM ở tỉnh Thanh Hóa đặt ra yêu cầu phải tiếpcận chương trình này ở góc độ QLXH
Để có cơ sở khoa học mang tính lý thuyết và dựa trên bằng chứng cho nhữngvấn đề vừa nêu trên, rất cần phải tiến hành nghiên cứu chủ đề QLXH ở nông thônViệt Nam thông qua nghiên cứu chương trình XDNTM ở tỉnh Thanh Hóa Từ
những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: " Quản lý xã hội ở nông thôn Việt Nam hiện nay (Qua nghiên cứu chương trình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Thanh Hóa)"
là đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành xã hội học.
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về QLXH ở nông thôn; mô tả, nhận diện nhữngbiểu hiện cơ bản nhất của quản lý xã hội ở nông thôn thông qua thực tiễn xây dựngnông thôn mới ở tỉnh Thanh Hóa Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm phát huyvai trò của QLXH trong xây dựng nông thôn mới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ sau:
+ Hệ thống hóa, phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến vaitrò QLXH; vận dụng một số lý thuyết xã hội học trong nghiên cứu QLXH thông qua hoạtđộng XDNTM
+ Nhận diện những biểu hiện cơ bản nhất của QLXH ở nông thôn (chủ thể,đối tượng, công cụ, mục tiêu, kết quả và hạn chế ) thông qua việc nghiên cứu chươngtrình XDNTM ở tỉnh Thanh Hóa
+ Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động QLXH trong chương trình XDNTM ở tỉnh Thanh Hóa
Trang 12+ Đề xuất giải pháp mang tính định hướng nhằm phát huy vai trò của phươngthức QLXH ở nông thôn nói chung và trong XDNTM nói riêng.
3 Đối tƣợng, phạm vi, địa bàn, thời gian, khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu trong luận án: QLXH ở nông thôn trong chương trìnhxây dựng nông thôn mới
- Phạm vi nghiên cứu của luận án: Nhận diện QLXH ở nông thôn thông qua xây dựng nông thôn mới ở Thanh Hóa
- Địa bàn nghiên cứu của luận án: 6 xã đại diện cho 3 mức độ/kết quả khácnhau thuộc 3 vùng Đồng bằng, Trung du và Miền núi trong XDNTM trên địa bàntỉnh Thanh Hóa
- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2016 - 2019
- Khách thể nghiên cứu: 600 người dân trong cộng đồng: bao gồm những đạidiện: các nhóm dân cư, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, đội ngũ cán bộ trực tiếp tham gia và hưởng lợi chính sách XDNTM
4 Câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Thứ nhất: Quản lý xã hội ở nông thôn trong XDNTM có những đặc điểm gì
cần quan tâm?
Thứ hai: QLXH ở nông thôn được thể hiện như thế nào trong XDNTM? Thứ ba: Nhân tố nào đóng vai trò quyết định của phương thức QLXH ở nông thôn
thông qua XDNTM?
Thứ tư: Có những giải pháp nào để nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý xã hội
trong xây dựng nông thôn mới?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Phương thức QLXH trong XDNTM có đặc điểm: sự đa dạng
các nhóm chủ thể quản lý; phong phú về công cụ quản lý; với nhiều nội dung/đốitượng quản lý khác nhau và hướng đến mục tiêu phát triển bao trùm
Giả thuyết 2: Việc thực hiện phương thức QLXH ở nông thôn đóng vai trò
quan trọng đối với sự thành công của chương trình XDNTM theo hướng bền vững
Giả thuyết 3: Năng lực, trách nhiệm, tinh thần đổi mới sáng tạo và trách
nhiệm của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở có ảnh hưởng quyết định đối với việc thực hiệnphương thức QLXH ở nông thôn thông qua chương trình XDNTM
Giả thuyết 4: Có nhiều giải pháp để tăng cường vai trò của phương thức
QLXH trong XDNTM, trong đó quan trọng nhất chính là vấn đề tư duy, tầm nhìncách làm và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở
Trang 134.3 Khung phân tích
Nhìn vào khung phân tích của luận án có thể diễn giải như sau:
Biến độc lập: Các nhóm chủ thể quản lý xã hội/các nội dung quản lý xã hội;
các công cụ quản lý xã hội/các mục tiêu quản lý xã hội
Biến phụ thuộc: Mức độ hoàn thành của 19 tiêu chí/tính đồng bộ/tính bền
vững/ sự hài lòng
Biến trung gian: Môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội ở tỉnh
Thanh Hóa; quan điểm chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước về quản lý xãhội và xây dựng nông thôn mới
Môi trường kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội
tỉnh Thanh Hóa
+ Mức độhoàn thànhChủ thể
Quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước
về QLXH và xây dựng nông thôn mới
Sơ đồ 1: Khung phân tích
Nguồn: Nghiên cứu sinh xây dựng
5 Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu cụ thể và phương pháp
xử lý, phân tích thông tin
Trang 14vật biện chứng lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối, pháp luật củaĐảng và Nhà nước; các lý thuyết xã hội học có liên quan làm cơ sở lý luận để phântích QLXH ở nông thôn từ trường hợp cụ thể: XDNTM.
Trang 15- Phương pháp nghiên cứu cụ thể + Phương pháp nghiên cứu định tính
Phân tích các công trình nghiên cứu, các tài liệu, văn bản sách báo trong vàngoài nước đã nghiên cứu về QLXH và chương trình XDNTM Phương pháp nàygiúp có những thông tin tổng quát về vấn đề nghiên cứu, trên cơ sở đánh giá nhữngđóng góp, những hạn chế của các nghiên cứu đã có, trên cơ sở đó kế thừa và nghiêncứu những vấn đề mà các nghiên cứu trước không đề cập Với mục đích xác địnhnhững khoảng trống về lý luận và thực tiễn có liên quan cũng như giúp xác định cácchỉ báo, biến số Đồng thời phát hiện ra những khía cạnh mới chưa được nghiên cứuhoặc chưa được phân tích sâu ở những nghiên cứu trước đây về vấn đề này
+ Phương pháp nghiên cứu định lượng: Phương pháp này được thực hiện
nhằm đo lường mối quan hệ giữa các biến số thông qua việc xử lý, phân tích các kết quảthu được từ nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra xã hội học thông quacông cụ nghiên cứu là bảng hỏi nhằm thu thập thông tin
Thanh Hóa có 27 đơn vị hành chính, trong đó gồm 2 thành phố, 2 thị xã và
24 huyện, với 637 đơn vị cơ sở được chia thành 573 xã, 35 phường và 29 thị trấn,trong đó có 220 xã miền núi; 3 vùng địa lý, hành chính rõ rệt là đồng bằng, trung du
và miền núi Trên cơ sở đó nghiên cứu sinh chọn ngẫu nhiên có chủ đích 3 huyện và
6 xã theo các tiêu chí: 2 xã đồng bằng; 2 xã thuộc trung du; 2 xã miền núi; Trong đó
có 3 xã đã hoàn thành XDNTM, 1 xã mới thực hiện được dưới 15 tiêu chí; 1 xã thựchiện được 15 tiêu chí và 1 xã đạt 18 tiêu chí [154]
Tổng số bảng hỏi mà đề tài thực hiện: 600 bảng hỏi/6 xã của 3 huyện Như vậy, mỗi xã sẽ là 100 bảng hỏi
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu tiến hành phương pháp chọn
mẫu ngẫu nhiên phân chùm nhiều giai đoạn, với dung lượng mẫu là 600 mẫu
- Bước 1: Lập danh sách các huyện trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, chọn mẫuhướng đích lấy ra 3 huyện theo yêu cầu: huyện đồng bằng; huyện trung du và huyệnmiền núi Đó là các huyện: Hoằng Hóa, Vĩnh Lộc và Thường Xuân
- Bước 2: Lập danh sách các xã trong 3 huyện, chọn ngẫu nhiên đơn giản mỗihuyện lấy ra 2 xã trong danh sách (01 xã đã đạt chuẩn nông thôn mới và 01 xã chưađạt chuẩn nông thôn mới) Bao gồm các xã Hoằng Đại, Hoằng Đồng của huyệnHoằng Hóa; xã Vĩnh Khang, Vĩnh Yên của huyện Vĩnh Lộc; xã Ngọc Phụng, BátMọt của huyện Thường Xuân Đồng thời, lập danh sách các thôn trong 2 xã đượcxác định, chọn ngẫu nhiên danh sách các thôn của xã, lấy 2 thôn đưa vào danh
Trang 16sách khảo sát Trong danh sách các hộ gia đình của thôn, mỗi thôn sẽ chọn ngẫunhiên 50 hộ gia đình để đưa vào danh sách khảo sát Như vậy, trên địa bàn tỉnhThanh Hóa có 3 huyện, 6 xã và 12 thôn với 600 người dân/hộ gia đình được xácđịnh để khảo sát định lượng.
- Bước 3: Lên danh sách tổng số có 600 người dân/hộ gia đình trên địa bàn nông thôn tỉnh Thanh Hóa được chọn vào mẫu khảo sát
- Bước 4: Tiến hành khảo sát lấy thông tin, với sự tham gia của 12 cộng tác
viên là các cán bộ thuộc Đoàn Thanh niên của 6 xã Mặc dù danh sách được xác
định 600 đối tượng để lấy thông tin, tuy nhiên vì nhiều lý do khách quan và chủ quan, thực tế tổng số phiếu thu về là 510 phiếu, trong đó có 494 phiếu hợp lệ.
- Bước 5: nhập dữ liệu và phân tích các đặc điểm nhân khẩu - xã hội của mẫukhảo sát Tổng số phiếu hợp lệ trên địa bàn thuộc diện khảo sát là 494 người thuộc cácnhóm dân cư, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cán bộ trực tiếp tham gia và hưởng lợi chínhsách XDNTM
Xét về tương quan độ tuổi: Phiếu điều tra chia thành 5 nhóm tuổi khác nhau:
Dưới 30 tuổi; từ 31 đến 39 tuổi; từ 40 đến 49; từ 50 đến 59 và từ 60 tuổi trở lên Kếtquả khảo sát cho thấy trong số 494 người được khảo sát có 447 người tham gia trảlời về đội tuổi của mình (chiếm 90,5%) Trong đó: nhóm tuổi dưới 30 có 99 người(chiếm 20,0%); nhóm tuổi từ 31 đến 39 có 188 người (chiếm 38,1%); nhóm tuổi từ
40 đến 49 có 50 người (chiếm 10,1%); nhóm tuổi từ 50 đến 59 có 86 người (chiếm17,4%); nhóm tuổi từ 60 trở lên có 24 người (chiếm 4,9%) Như vậy, độ tuổi củanhóm đối tượng được khảo sát khá phong phú và đa dạng, tuy nhiên tập trung nhiềuhơn cả ở nhóm tuổi từ 31 đến 39
Xét về tương quan giới tính: Phiếu khảo sát cho biết tỷ lệ giới tính của các
đối tượng tham gia trả lời như sau: có 202 người là nam giới (chiếm 40,4%); trongkhi đó nữ giới có 292 người (chiếm 59,6%) Như vậy, số đối tượng được khảo sát là
nữ chiếm tỷ lệ cao hơn so với nam giới
Xét về tương quan thành phần dân tộc: Phiếu điều tra phân chia số người
thành 2 nhóm thành phần dân tộc là nhóm thành phần dân tộc chiếm đa số (dân tộckinh) và nhóm thành phần các dân tộc thiểu số (khác) Qua khảo sát, số người thamgia trả lời thuộc thành phần dân tộc Kinh có 369 người (chiếm 74,7%) và 125 ngườithuộc dân tộc thiểu số (chiếm 25,3%)
Xét về tương quan trình độ học vấn: Phiếu điều tra chia thành 5 nhóm trình
độ học vấn Kết quả điều tra cụ thể như sau: có 478 người trả lời trình độ học vấn
Trang 17chiếm 96,8%; số người không trả lời trình độ học vấn của mình là 16 người chiếm3,2% Trong số những người tham gia trả lời về trình độ học vấn của mình có 5người có trình độ tiểu học trở xuống (chiếm 1,0%); số người có trình độ trung học
cơ sở chiếm 14% (69 người); số người có trình độ phổ thông trung học chiếm27,3% (135 người); số người có trình độ trung cấp chiếm 23,9% (118 người); sốngười có trình độ cao đẳng/đại học trở lên chiếm 30,6% (151 người) Xét về cơ cấuhọc vấn của nhóm đối tượng được điều tra cho thấy, phần lớn các chủ thể đều cótrình độ học vấn ở mức khá và trung bình, trong đó số người có trình độ trung cấp
và cao đẳng/đại học trở lên chiếm tỷ lệ khá cao ở địa bàn thuộc các xã nông thôn(30,6% trình độ cao đẳng/đại học và 23,9% trình độ trung cấp) Kết quả trên chothấy, mặt bằng trình độ nhận thức của người dân thuộc địa bàn điều tra khá tốt Đây
là điều kiện tốt để thực hiện các chính sách quản lý về XDNTM
Xét mối tương quan về tôn giáo: Trong số đối tượng được khảo sát có 474 người
trả lời về tôn giáo của mình (chiếm 96,0%), trong đó số người theo Phật giáo chiếm1,8% (9 người); số người theo Thiên chúa giáo chiếm 1,6% (8 người); số người khôngtheo tôn giáo chiếm 89,5% (442 người); số người theo các tôn giáo khác chiếm 3,0%(15 người) Số người không công khai thành phần tôn giáo của mình chiếm 4% (20người) Như vậy thấy rằng, trong nhóm đối tượng được khảo sát có sự phong phú vềthành phần tôn giáo, điều này phần nào tác động đến việc triển khai và thực hiện côngtác QLXH trong quá trình XDNTM trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Xét về tương quan mức sống của gia đình so với mặt bằng trong xã hội hoặc thôn/xóm: Có 269 người tham gia trả lời có mức sống trung bình (chiếm 54,5%); có
141 người gia đình có mức sống khá (chiếm 28,5%); mức sống cận nghèo có 36người (chiếm 7,3%); mức sống giàu có 11 người (chiếm 2,2%) và mức sống nghèo có 16người (chiếm 3,2%) Như vậy có thể thấy, phần lớn những hộ dân trên địa bàn điều tra cómức sống trung bình và khá, đây là điều kiện thuận lợi để huy động các nguồn lực trongtham gia XDNTM và phát huy vai trò QLXH trong XDNTM ở Thanh Hóa
Xét về tương quan nghề nghiệp chính của các chủ thể điều tra: Phiếu điều tra
đưa ra 10 nhóm nghề nghiệp chính Kết quả điều tra cho thấy, phần lớn các đốitượng được điều tra là nông dân (chiếm 42,7%); số người được điều tra là lao động
tự do chiếm 12,3%; số người là cán bộ thôn, xã chiếm 16,2%; cán bộ hưu trí chiếm2,0%; số cán bộ thoát ly chiếm 5,1%; số người là công nhân chiếm 4,9%; số ngườilàm buôn bán, dịch vụ chiếm 3,0%; số người là chủ các doanh nghiệp chiếm 1,9%
Trang 18và 8,7% số người thuộc các ngành nghề khác Kết quả trên cho thấy ngoài bộ phậnchủ yếu là nông dân, các lực lượng khác chiếm tỷ lệ khá cao, đó là những thuận lợi
về trong công tác tuyên, phổ biến các chính sách về XDNT Đồng thời, thời pháthuy trách nhiệm của các lực lượng trong tham gia quản lý XDNTM trên địa bàn tỉnhThanh Hóa
Về tương quan tham gia các tổ chức chính trị - xã hội: Kết quả điều tra cho
thấy, phần lớn những người được điều tra đều tham gia vào các tổ chức chính trị
-xã hội trên địa phương Trong đó những người được khảo sát tham gia nhiều nhất làHội phụ nữ chiếm 33,6%; Tổ chức Đảng chiếm 20,6%; Đoàn thanh niên chiếm10,1%; Công đoàn chiếm 6,5%; Hội nông dân chiếm 5,9%; Cựu chiến binh chiếm3,6%; không tham gia tổ chức nào chiếm 8,3% Kết quả trên cho thấy ý thức quầnchúng, ý thức chính trị của người dân trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa khá tốt, là điềukiện thuận lợi trong thực hiện quản lý XDNTM ở Thanh Hóa
Xét tương quan khu vực sinh sống: Trong số 494 người được khảo sát có 473
người trả lời khu vực sinh sống của gia đình (chiếm 95,7%) Trong đó, có 37,7% sốngười sinh sống ở các xã đồng bằng; có 19.6% số người sinh sống ở các xã trungdu; có 38,5% số người sinh sống ở các xã miền núi Có thể thấy, phần lớn số ngườiđược khảo sát chủ yếu sinh sống tập trung ở khu vực đồng bằng và miền núi
Xét tương quan chủ thể chính trong mối liên hệ với XDNTM: Phiếu điều tra
phân chia thành 13 nhóm chủ thể tham gia và quá trình XDNTM Trong số nhữngngười được khảo sát có mặt ở tất cả các nhóm chủ thể đưa ra Tuy nhiên, nhóm chủthể tập trung nhiều nhất bao gồm nhóm chủ thể là cá nhân người dân (44,5%); nhómchủ thể là các hộ gia đình (27,1%); nhóm chủ thể là cấp ủy Đảng (5,3%); nhóm chủthể chính quyền (4,9%) còn lại cá nhóm chủ thể khác phân bố rải rác
Xét tương quan về mức độ thực hiện thành công XDNTM: Phiếu điều tra
phân chia thành 3 nhóm theo mức độ thực hiện XDNTM: Nhóm 1 đã hoàn thànhXDNTM chiếm 44.3%; nhóm thực hiện từ 15 đến 18 tiêu chí XDNTM chiếm29.6%; nhóm thực hiện dưới 15 tiêu chí XDNTM chiếm 26.10%
+ Phương pháp thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu cá nhân
* Thảo luận nhóm: Sau khi có những phân tích sơ bộ từ số liệu điều tra định
lượng, nghiên cứu sinh tiến hành thực hiện các cuộc thảo luận nhóm đối với người dân vàcán bộ cấp xã dựa trên bảng hướng dẫn thảo luận nhóm Mục đích là nhằm thu thậpthông tin bổ sung cho những phát hiện từ nghiên cứu định lượng, làm sâu sắc cho kết quảnghiên cứu định lượng, phát hiện ra những vấn đề mới nảy sinh
Trang 19trong quá trình thu thập thông tin định lượng đối với người dân và cán bộ liên quanđến QLXH trong XDNTM Tổng số lượng mà nghiên cứu sinh tiến hành thảo luậnnhóm, nhằm lấy thông tin phục vụ luận án: 6 cuộc.
Cụ thể: 3 cuộc thảo luận nhóm đối với người dân trong cộng đồng được xác
lập trên địa bàn 3/6 xã đã tiến hành khảo sát định lượng, mỗi cuộc có từ 5-7 ngườidân tham gia Tổng số là 18 người dân đã tham gia thảo luận nhóm; 3 cuộc thảoluận nhóm đối với cán bộ xã/thôn trên địa bàn 3/6 xã đã tiến hành khảo sát địnhlượng, mỗi cuộc có từ 5-7 cán bộ xã/thôn tham gia Tổng số là 19 cán bộ xã/thôn đãtham gia thảo luận nhóm
* Phỏng vấn sâu: Sau khi có những phân tích sơ bộ từ số liệu điều tra định
lượng Tiến hành phỏng vấn sâu đối với người dân và cán bộ cấp xã dựa trên bảng hướngdẫn phỏng vấn sâu Mục đích nhằm thu thập thông tin bổ sung cho những phát hiện từnghiên cứu định lượng, giải thích kết quả của nghiên cứu định lượng, phát hiện ra nhữngvấn đề mới nảy sinh trong quá trình trao đổi với người dân, cán bộ xã/thôn Ngoài ra làmsáng tỏ những vấn đề mà nghiên ở định lượng chưa lượng hóa được Tổng số lượng mànghiên cứu sinh tiến hành phỏng vấn sâu nhằm lấy thông tin phục vụ luận án: 24 cán bộ
và người dân Cụ thể:
Phỏng vấn sâu: 12 người dân tại 6/6 xã đã từng tiến hành khảo sát định lượng.Phỏng vấn sâu: 12 cán bộ thôn/xã tại 6/6 xã đã từng tiến hành khảo sát định lượng
5.2 Phương pháp xử lý, phân tích thông tin
Những thông tin định tính thu được, được tác giả sử dụng phần mềm NVIVO16.0 để phân tích Những thông tin định lượng bằng bảng hỏi được xử lý bởi phầnmềm SPSS 20.0 Để đảm bảo độ tin cậy, các bảng hỏi thiếu thông tin khoảng 25%
số lượng câu hỏi trở lên bị loại bỏ và không nhập vào cơ sở dữ liệu Do đó, có 16phiếu không đảm bảo yêu cầu đã được loại bỏ ở bước nhập dữ liệu thông tin, tổng
số phiếu đáp ứng yêu cầu là 494.
Quá trình xử lý và viết kết quả sẽ kết hợp phân tính định tính và định lượng,phối hợp các nguồn thông tin, dữ liệu Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật phân tích thôngtin định lượng: 1) Phân tích tần suất; 2) Phân tích tương quan (crosstabs)
6 Điểm mới, ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Điểm mới
1 Thực hiện chuyên đề nghiên cứu xã hội học nông thôn mà cụ thể là tậptrung tìm hiểu, nhận diện vấn đề QLXH trong XDNTM mang tính hệ thống, chỉnhthể (đối tượng, khái niệm, phương pháp nghiên cứu, lý thuyết…)
Trang 202 Nhấn mạnh việc xem xét, phân tích đánh giá vai trò, sự tác động củaphương thức QLXH trong XDNTM trên cả hai phương diện: thúc đẩy và rào cản; thànhcông và hạn chế; dựa trên các bằng chứng cụ thể và được dẫn dắt bởi lý thuyết khoa học
và khung phân tích
3 Phát hiện ra tính chất tương tác xã hội và hành động xã hội giữa các chủthể liên quan đến QLXH ở nông thôn (nhóm chủ thể thuộc HTCT cấp cơ sở và nhómkhông thuộc HTCT cấp cơ sở; nhóm tham gia QLXH và nhóm xã hội hưởng lợiXDNTM; quản lý nhà nước và QLXH trong XDNTM…)
1 Góp phần hệ thống hóa và làm sáng rõ những luận cứ khoa học cho việc xác lập và phát triển chủ đề nghiên cứu về QLXH từ góc độ xã hội học
2 Góp phần xác lập mối quan hệ biện chứng giữa quản lý xã hội ở nông thôn
và xây dựng nôn thôn mới
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 3: Nhận diện quản lý xã hội trong xây dựng nông thôn mới
Chương 4: Các nhân tố ảnh hưởng và giải pháp quản lý xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Thanh Hóa
Trang 21Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ XÃ HỘI
VÀ CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1 NGHIÊN CỨU VỀ NÔNG THÔN MỚI Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
1.1.1 Nghiên cứu nông thôn, xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới
Xây dựng nông thôn mới nói riêng và phát triển khu vực: nông nghiệp, nôngdân và nông thôn là một vấn đề quan trọng đã được nhiều nước trên thế giới quantâm Đặc biệt là các quốc gia có cùng hoàn cảnh tương đồng với Việt Nam, như:Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc, Lào… Đáng chú ý là các nghiên cứu
về XDNTM ở Trung Quốc và ở Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào Đây là nhữngquốc gia có sự tương đồng về bối cảnh chính trị, kinh tế - xã hội với Việt Nam
Luận án tiến sĩ của tác giả Bun-ThoongChít-ma-ni (2011), Đảng Nhân dân
Cách mạng Lào lãnh đạo XDNTM trong giai đoạn hiện nay Trong đó, tác giải
Luận án nêu đặc điểm của nông thôn Lào, qua phương thức Đảng Nhân dân Cáchmạng Lào lãnh đạo xây dựng NTM; rút ra những kinh nghiệm, đề xuất một số giảipháp có tính đặc thù, khả thi nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Nhân dânCách mạng Lào trong việc xây dựng NTM hiện nay [169, tr.36-40]
Tại Trung Quốc, theo xu hướng này có thể kể đến các nghiên cứu của Trác
Vệ Hoa (2008), "Lý luận và thực tiễn cải cách và phát triển nông thôn Trung Quốc
30 năm" Bài viết của tác giả khẳng định: Cần phải ra sức thúc đẩy cải cách sáng
tạo, tăng cường xây dựng chế độ ở nông thôn, tạo động lực lớn mạnh và sự bảo đảm
về chế độ cho phát triển nhịp nhàng kinh tế, xã hội thành thị và nông thôn Xâydựng chế độ có tính căn bản, tính toàn cục, tính lâu dài, có ý nghĩa to lớn và sâu xađối với việc thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển nông thôn, thúc đẩy hiện đạihóa nông nghiệp đặc sắc Trung Quốc Ra sức phát triển nền nông nghiệp hiện đại,nâng cao hiệu quả đầu ra đất đai, hiệu quả sử dụng tài nguyên và năng suất lao độngcủa nông nghiệp, tăng cường năng lực chống chọi rủi ro, năng lực cạnh tranh quốc
tế, năng lực phát triển bền vững của nông nghiệp [187]
Khi nghiên cứu về vấn đề XDNTM ở các nước Trung Quốc, Hàn Quốc, NhậtBản… bên cạnh các tác giả là người nước ngoài còn có thể kể đến các tác giả làngười Việt Nam Những nghiên cứu này có đặc điểm chung là đặt trong mối liên hệ,bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể áp dụng:
Trang 22Nguyễn Xuân Cường (2009), "Nông thôn Trung Quốc - chặng đường 30 năm
cải cách" Tác giả khẳng định: cải cách nông thôn đã mở màn cho tiến trình cải cách
mở cửa của Trung Quốc Qua 30 năm, đất nước Trung Quốc không ngừng tìm tòi, thửnghiệm, phát triển nông thôn và đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện Tuynhiên, "tam nông" vẫn là khâu yếu trong tiến trình cải cách của Trung Quốc Hiện nay,Trung Quốc coi xây dựng nông thôn xã hội chủ nghĩa (XHCN) là nhiệm vụ chiến lược,
là khởi điểm cho tiến trình cải cách giai đoạn mới ở Trung Quốc [188]
Khánh Phương (2017), "Xây dựng NTM - kinh nghiệm của một số nước
châu Á" Tác giả khẳng định: Xây dựng NTM luôn là vấn đề được quan tâm ở tất cả
các nước và tùy theo điều kiện của mỗi nước để có cách giải quyết hiệu quả Kinhnghiệm phát triển NTM của một số quốc gia trên thế giới mà Việt Nam có thể thamkhảo đó là: Nhật Bản - coi trọng phát triển khoa học - kỹ thuật nông nghiệp; TháiLan - phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân; Hàn Quốc -phong trào có phong trào "Cộng đồng Mới" [189, tr.211]
Hoàng Bá Thịnh (2016), "Xây dựng NTM ở Hàn Quốc và Việt Nam" Tácgiả viết: Ở Hàn Quốc, từ những năm 1970 đã tiến hành phong trào Saemaul Undong(Làng mới) Từ đó, Hàn Quốc đã đạt được những thành tựu vô cùng ấn tượng, cósức lan tỏa và ảnh hưởng quốc tế Chương trình XDNTM ở Việt Nam diễn ra trong
5 năm trở lại đây và có những thành công bước đầu Bài viết phân tích, so sánhnhững điểm tương đồng và khác biệt giữa phong trào Làng mới của Hàn Quốc vàchương trình xây dựng NTM của Việt Nam, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm có thểvận dụng vào thực hiện Chương trình NTM trong những năm tiếp theo ở Việt Nam[143, tr.3-11]
Nguyễn Thành Lợi (2013), "Xây dựng NTM của Nhật Bản và một số gợi ýcho Việt Nam" Tác giả liệt kê các giai đoạn XDNTM ở Nhật Bản thành 3 giaiđoạn Trong phong trào xây dựng làng xã ở Nhật Bản, nổi tiếng nhất và có ảnhhưởng lớn nhất đến các nước châu Á là phong trào "mỗi làng một sản phẩm"doGiáo sư Hiramatsu Morihiko, Chủ tịch tỉnh Oita khởi xướng năm 1979 [206]
Hồ Quế Hậu (2014), "So sánh XDNTM giữa ba nước Trung Quốc - Hàn Quốc
- Việt Nam" Tác giả bài viết khẳng định: nếu Hàn Quốc thực thi XDNTM theo mô
hình chính sách mềm và từ dưới lên, nhà nước chỉ có định hướng chung và trong tổ chức
thực hiện quan tâm nhiều đến vai trò đóng góp nguồn lực, công sức, sáng kiến, quản lý
của người dân và cơ sở thì Trung Quốc, Việt Nam thực hiện mô hình chính sách cứng và
từ trên xuống; chủ yếu phát huy thế mạnh của sự định hướng chiến
Trang 23lược, quản lý, nguồn lực tập trung thống nhất từ phía Nhà nước từ cấp trung ươngxuống bằng các tiêu chí, chỉ tiêu, chuẩn mực, chế độ, thủ tục cụ thể [45, tr.202-204].
Phạm Đi (2015), "Chương trình "Chấn hưng nông thôn" của Nhật Bản và bài
học kinh nghiệm đối với Việt Nam", Tác giả viết: Chính phủ Nhật Bản chủ trương
vận động chương trình "Chấn hưng nông thôn", kèm theo đó là nhiều giải pháp,cách làm khác nhau trong từng giai đoạn nhằm giải quyết vấn đề nảy sinh trong tiếntrình công nghiệp hóa (CNH), đô thị hóa mà cụ thể là chênh lệch nông thôn - đô thịngày càng gay gắt, từng bước phát triển hài hòa nông thôn - đô thị [191, tr.68]
Tuấn Anh (2012), "Kinh nghiệm XDNTM ở một số nước trên thế giới" Tác
giả cho rằng: Phát triển ngành nông nghiệp để xây dựng một NTM trong giai đoạnhiện nay, từ các góc cạnh khác nhau, đang là mối quan tâm chung của cả cộng đồngthế giới Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới về vấn đề này là bài học bổ íchcho Việt Nam chúng ta Cường quốc kinh tế số một thế giới - nước Mỹ: phát triểnngành "kinh doanh nông nghiệp" Nhật Bản: "Mỗi làng một sản phẩm" Hàn Quốc:Phong trào Làng mới Thái Lan: sự trợ giúp mạnh mẽ của nhà nước [192]
Ngoài ra có thể kể đến tác giả trong và ngoài nước như:
Nguyễn Thị Bích Phương, Đặng Thị Thanh Thủy (2015), "Huy động sự thamgia và giám sát của cộng đồng trong XDNTM của Hàn Quốc - Bài học chính sáchcho Việt Nam" [193]; Yuen, Samson (2014), "China's new rural land reform?Assessment and prospects" [171]; Neil Argent, Thomas Measham (2014), "Newrural economies: Introduction to the special themed issue" [172]; Open fields:Parvin, Alastair (2013) "The new rural design revolution" [173]; Jia'en, Pan; Jie, Du(2011), "The social economy of new rural reconstruction" [175]; Zhao Yanan SunQingzhu (2011), "Research on the construction about evaluation index system onnew rural service system of fitness for all" [176]; Yi Wu (2011), "Research on thetransference of the surplus rural labor in new rural construction" [177]; Li Junfeng,Niu Jiangao (2011), "Study on the demand of agricultural science and technology innew rural construction" [178]; Lei Fang, XiaoMei Zhang (2011), "Comparison andresearch on new rural community management patterns of shan dong province"[179]; Zhao, Li (2011), "Understanding the new rural co-operative movement:towards rebuilding civil society in China" [180]'; M.Ortiz-Miranda, Dionisio;Moreno-Perez, Olga (2010), "Innovative strategies of agricultural cooperatives inthe framework of the new rural development paradigms: the case of the Region ofValencia (Spain)" [181]; Huang Hui (2009), "The strategy, model and culture sense
of informatization during the process of new rural construction" [182]
Trang 241.1.2 Một số xu hướng nghiên cứu về xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Chủ đề nghiên cứu khoa học về XDNTM ở Việt Nam mới được bắt đầu khiĐảng ta có chủ trương xây dựng Đề án "Chương trình mục tiêu quốc gia về xâydựng NTM" Chủ đề này đã thu hút được sự quan tâm của nhiều ngành khoa học: xãhội học, chính trị học, kinh tế học, triết học, xây dựng Đảng… theo các hướngnghiên cứu như sau:
Thứ nhất, nhóm các nghiên cứu tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản của
chương trình XDNTM ở Việt Nam phải kể đến các tác giả:
Trần Minh Yến (2013), Xây dựng NTM-Khảo sát và đánh giá Tác giả đã
khẳng định: XDNTM là một chương trình quốc gia rộng lớn được triển khai trênphạm vi cả nước Sau thời gian thực hiện thí điểm, chương trình đã đạt được một sốkết quả nhất định Song, vẫn cần phải có sự khảo sát, đánh giá nghiêm túc để gópphần giải đáp một số hạn chế được đặt ra [164]
Luận án Tiến sĩ Kinh tế của Nguyễn Thị Huệ (2014), Việc làm cho lao động
nông nghiệp trong quá trình XDNTM ở thủ đô Hà Nội, Luận án Tiến sĩ Kinh tế; Bùi
Tất Thắng (2011), "Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong XDNTM", Tạp chí Xã
hội học, số 3; Nguyễn Ngọc Hà (2012), "Đặc điểm kinh tế vùng và những vấn đề
đặt ra trong XDNTM", Tạp chí Lý luận chính trị, số 2; Trần Tiến Khai (2015), Phát
triển nông thôn bền vững cho Việt Nam: Nhìn từ lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế,
Nxb Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Hoàng Mỹ Hạnh (2015),
Đẩy mạnh chương trình XDNTM ở Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Quản lý kinh tế, Đại
học Quốc gia Hà Nội…[76; 136]
Thứ hai, từ hướng tiếp cận triết học, xây dựng Đảng nhóm các nghiên cứu
hướng đến phân tích làm rõ mối quan hệ giữa XDNTM và lĩnh vực chính trị:
Tác giả Đào Thanh Lưỡng (2018), Các Tỉnh ủy ở vùng đồng bằng sông
Hồng lãnh đạo XDNTM giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sĩ Xây dựng Đảng và
chính quyền Nhà nước, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Hà Nội Nội
dung luận án tập trung nghiên cứu: NTM, xây dựng NTM; những đặc trưng củaNTM; đặc điểm, tầm quan trọng của xây dựng NTM ở vùng đồng bằng sông Hồng
và phương thức xây dựng NTM ở vùng này; làm rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụlãnh đạo XDNTM của các Tỉnh ủy ở vùng đồng bằng sông Hồng
Thứ ba, ở góc độ tiếp cận tổng hợp nhóm các nghiên cứu tập trung vào phân
tích đánh giá kết quả thực hiện các mô hình XDNTM:
Trang 25Theo xu hướng này có thể kể đến Hồ Xuân Hùng (2017), "Hoàn thiện môhình NTM ở nước ta đến năm 2020" Tác giả cho rằng: để khắc phục những khókhăn, tồn tại, cần tiến hành tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương(NQTW) khóa X về "nông nghiệp, nông dân, nông thôn", định hướng rõ mục tiêutổng quát và mục tiêu cụ thể cho xây dựng NTM đến năm 2030 và có chương trình,nội dung đào tạo về xây dựng NTM cho cán bộ của Đảng và Nhà nước ở các cấptrong hệ thống trường Đảng Bên cạnh đó, cần tạo điều kiện để các tổ chức và cánhân tiếp tục nghiên cứu một số đề tài khoa học phục vụ kịp thời cho quá trình xâydựng NTM [194].
Vũ Hoàng Quang (2014), "Đánh giá tác động của các chính sách XDNTM ởViệt Nam" Trong nghiên cứu, tác giả đã tập trung luận giải về cách tiếp cận vàphương pháp đánh giá tác động của các chính sách xây dựng NTM; Phân tích, đánhgiá tác động tích cực, tiêu cực của các chính sách xây dựng NTM đến đối tượnghưởng lợi ở Việt Nam những năm qua; bên cạnh đó đề xuất bổ sung, hoàn thiện cácchính sách xây dựng NTM phù hợp với điều kiện Việt Nam đến năm 2020 [115]
Ngoài ra có thể kể đến các tác giả: Nguyễn Quang Thuấn (2011), ''Vấn đề
XDNTM ở Việt Nam'', Tạp chí Xã hội học, (3); Phùng Đức Hiệp (2011), ''Tăng cường quản lý nhà nước trong XDNTM'', Tạp chí Quản lý Nhà nước, (1); Nguyễn Đức Truyến (2013), Tổng kết và xây dựng mô hình phát triển KT-XH NTM, kết hợp
truyền thống làng xã Việt Nam với văn minh thời đại-Tổng kết mô hình kinh tế nông
hộ Trường cán bộ Quản lý Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2; Đỗ Thái Đồng
(2013), Tổng kết và xây dựng mô hình phát triển KT-XH NTM, kết hợp truyền thống
làng xã Việt Nam với văn minh thời đại-Phát triển nông thôn Trường cán bộ Quản
lý Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2; Lê Ngọc Hùng (2016), Thực trạng và
giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính an sinh xã hội trong XDNTM Đề tài
cấp Nhà nước [35; 50; 145; 149]
Thứ tư, bằng phương pháp tiếp cận xã hội học, có nhóm các nghiên cứu tập
trung phân tích làm rõ vấn đề dân chủ, vai trò, sự tham gia và phương thức tham giacủa các chủ thể trong XDNTM, đặc biệt là người nông dân:
Đầu tiên phải kể đến tác giả Tô Duy Hợp (2012), ''Mở rộng dân chủ đồngthời phải tạo điều kiện để người dân thực hiện quyền dân chủ trong XDNTM'',http://www.vanhoanghean.com.vn/v; tác giả Nguyễn Xuân Thắng (2013), ''Tráchnhiệm xã hội và vai trò chủ thể của nông dân trong phát triển nông nghiệp và
XDNTM'', Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, (5); Nguyễn Thị Loan Anh (2015),
Trang 26''Để phát huy vai trò của nông dân trong phát triển kinh tế - xã hội, XDNTM'', Tạp
chí Cộng sản điện tử, www.tapchicongsan.org.vn; Nguyễn Linh Khiếu (2017), ''Vai
trò chủ thể của nông dân trong XDNTM'', Tạp chí Cộng sản điện
tử.http://www.tapchicongsan.org.vn [138; 183; 196].
Không những vậy, các nghiên cứu còn tập trung làm rõ mối quan hệ giữaXDNTM và dân chủ cơ sở, vai trò của người dân và các tổ chức xã hội trong thamgia XDNTM của từng địa bàn, khu vực, tỉnh thành Chẳng hạn, tác giả Đỗ Thị Hà
(2010), Đánh giá tình hình thực hiện chủ trương XDNTM của Nhà nước tại xã Phú
Lâm, huyện Tiên Du, Bắc Ninh, Luận văn cử nhân Kinh tế nông nghiệp Đại học
Nông nghiệp I; Nguyễn Hoài Nam (2012), Nghiên cứu sự tham gia của người dân
trong XDNTM Luận văn Thạc sĩ Kinh tế nông nghiệp, Đại học Thái Nguyên; Tác
giả Quách Thị Hương (2013), Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong XDNTM qua
thực tiễn tỉnh Hưng Yên, Luận văn Thạc sĩ Chính trị học, Đại học Quốc gia Hà Nội;
Thái Nguyên; Đại học Thái Nguyên (2014), Đánh giá thực trạng và đề xuất giải
pháp thúc đẩy sự tham gia của người dân trong XDNTM tại xã Thượng Hóa, huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên Đề tài cấp Bộ; tiếp đến có Nguyễn Đình Kiên (2014), Nghiên cứu sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng mô hình NTM tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Nxb Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên; Đỗ Thị Hồng Nhung (2014), Nghiên cứu sự tham gia của người dân trong
XDNTM tại một số xã thuộc huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, Luận văn Ths
Phát triển cộng đồng; Phạm Thị Bích Ngọc (2017), Vai trò của người Công giáo
trong XDNTM (nghiên cứu trường hợp giáo xứ Văn Hải huyện Kim Sơn tỉnh Ninh
Bình) Luận văn Thạc sĩ Xã hội học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; tác
giả Trần Tô Nhân (2016), Sự tham gia thực hiện chính sách an sinh xã hội của
người nông dân trong XDNTM (qua nghiên cứu trường hợp huyện Bảo Lâm, tỉnh
Lâm Đồng), Luận văn Thạc sĩ Xã hội học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ ChíMinh [39; 70; 80; 96; 99; 100; 104]
Thứ năm, nhóm các công trình nghiên cứu về HTCT cấp cơ sở trong
XDNTM Có thể khẳng định, cho đến nay chủ đề nghiên cứu HTCT cấp cơ sở trongXDNTM đã ít nhiều được bàn đến:
Tác giả Lương Trọng Thành và các cộng sự (2017), Nâng cao năng lực lãnh
đạo của cấp ủy, quản lý của chính quyền cấp cơ sở trong XDNTM ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, đã cung cấp những vấn đề lý luận
chung; các yếu tố ảnh hưởng, thực trạng năng lực và các giải pháp nâng cao năng
Trang 27lực lãnh đạo của cấp ủy, quản lý của chính quyền cấp xã trong XDNTM trên địa bàntỉnh Thanh Hóa; tác giả Bùi Thọ Quang (2016), ''Xây dựng NTM ở tỉnh Thái Bình -
thực trạng và giải pháp'' http://lyluanchinhtri.vn Tác giả bài viết cho biết, chương trình
XDNTM ở tỉnh Thái Bình đã đạt được những kết quả quan trọng, trở thành phong tràomạnh mẽ, rộng khắp, với sự tham gia tích cực của cả HTCT và đông đảo nhân dân trênđịa bàn tỉnh, là tiền đề để đạt mục tiêu đến năm 2020, 75% số xã đạt tiêu chí NTM;Đào Thu Huyền (2017), ''Hệ thống chính trị cấp xã tổ chức, vận động XDNTM ở tỉnh
Thái Bình-Kết quả và giải pháp'' http://lyluanchinhtri.vn/ Bài viết cho rằng: HTCT cấp
xã có vai trò, nhiệm vụ tổ chức và vận động nhân dân hiện thực hóa nghị quyết củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-
xã hội của địa phương Thời gian qua, HTCT cấp xã ở Thái Bình đã phát huy tốt vai tròcủa mình trong tổ chức thực hiện Chương trình XDNTM và đạt những kết quả quantrọng, song cũng còn những bất cập cần sớm tháo gỡ, khắc phục Tác giả Trần NhậtDuật (2017), ''Nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của cán bộ chủ chốt cấp xã trong
XDNTM ở Tây Bắc'', lyluanchinhtri.vn Bài viết khẳng định: chương trình xây dựng
NTM ở Tây Bắc sau hơn 5 năm triển khai thực hiện, đạt kết quả chưa cao, còn có biểuhiện chạy theo thành tích, phong trào, đội ngũ cán bộ xây dựng NTM chưa chuyênnghiệp, trình độ, năng lực cán bộ cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu, còn nhiều lúng túng khitriển khai thực hiện Chính vì vậy, cần có các giải pháp nâng cao năng lực chuyên môn,năng lực lãnh đạo, quản lý XDNTM cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở Tây Bắc làcần thiết [133; 183; 198]
Ngoài ra, có một số bài viết tập trung phân tích vai trò của từng chủ thể thuộcHTCT cấp cơ sở trong XDNTM Chẳng hạn, Lê Quang Toản (2014), ''Phát huy vaitrò của giai cấp nông dân trong XDNTM ở nước ta hiện nay'',
www.tapchicongsan.org.vn Tác giả cho biết, trong quá trình XDNTM mới hiện
nay, nông dân giữ vị trí là chủ thể Nhằm phát huy nhân tố con người, khơi dậy vàphát huy mọi tiềm năng của nông dân vào công cuộc xây dựng nông thôn cả về kinh
tế - văn hóa và xã hội, đồng thời bảo đảm những quyền lợi chính đáng của họ Tácgiả Hạnh Nhi (2013), ''Phát huy vai trò chủ thể của Hội Nông dân Việt Nam trong
phát triển nông nghiệp và XDNTM'', www.tapchicongsan.org.vn Tác giả cho rằng:
Việt Nam là quốc gia nông thôn, nông nghiệp và nông dân chiếm hơn 70 dân số vàhơn 50% lực lượng lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Nông dânkhông chỉ có vai trò quan trọng trong đời sống KT-XH của đất nước mà trongXDNTM hiện nay, nông dân đích thực là chủ thể của quá trình này Phùng Văn Hải
Trang 28(2015), ''Kết quả và kinh nghiệm trong lãnh đạo XDNTM ở Ba Vì (Hà Nội)'', Tạp
chí Lý luận Chính trị điện tử, www.lyluanchinhtri.vn/ Nội dung khẳng định: Đảng
bộ huyện Ba Vì đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, phát huy sức mạnh đoàn kết, đồnglòng chung tay XDNTM, với sự vào cuộc của cả HTCT, nhiều doanh nghiệp và cáctầng lớp nhân dân [210; 219]
Bên cạnh đó, theo xu hướng này còn có thể kể đến: tác giả Nguyễn Văn
Thuận (2012), Vai trò của HTCT cơ sở trong XDNTM ở Bình Dương hiện nay,
Luận văn Thạc sĩ Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh; Phạm Thị Bích Hồng (2014), HTCT cấp cơ sở trong XDNTM ở tỉnh Ninh
Bình hiện nay Luận văn Thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh; Trịnh Thị Hồng Thắm (2014), Vai trò của HTCT cấp cơ sở trong
XDNTM ở tỉnh Hưng Yên, Luận văn Thạc sĩ Chủ nghĩa xã hội khoa học, Đại học
Quốc gia Hà Nội [142; 150]
Thứ sáu, nhóm các công trình nghiên cứu về QLNN trong XDNTM:
Chủ đề nghiên cứu bàn đến QLNN trong XDNTM có thể kể đến một số
nghiên cứu của các tác giả: Huỳnh Trần Huy (2013), Quản lý nhà nước về
XDNTM-Từ thực tiễn huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn Thạc sĩ Hành
chính công, Học viện Hành chính quốc gia HCM; Nguyễn Việt Triều (2013), Quản
lý nhà nước về XDNTM ở huyện U Minh, tỉnh Cà Mau Luận văn Thạc sĩ Hành
chính công, Học viện Hành chính quốc gia HCM; Lê Tiến Hải (2014), Tăng cường
quản lý nhà nước trong quá trình XDNTM ở huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội.
Luận văn Ths Quản lý kinh tế Đại học Kinh tế; Lý Thị Bé Luyễn (2015), Quản lý
nhà nước về XDNTM trên địa bàn huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh Luận văn Ths
Quản lý công Học viện Hành chính quốc gia; Lê Thị Thu Thảo (2015), Quản lý
nhà nước về XDNTM trên địa bàn huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam, Luận văn Ths
Quản lý công, Đại học Huế; Nguyễn Thị Bích Lệ (2017), Quản lý nhà nước về
XDNTM ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ Luận văn Ths Quản lý công Học viện
Hành chính quốc gia Hà Nội [43; 84]
1.2 NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ XÃ HỘI Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
1.2.1 Một số nghiên cứu về quản lý xã hội ở một số nước trên thế giới
Nghiên cứu về QLXH ở Trung Quốc và một số nước khác: Có thể khẳng định
Trung Quốc là một trong những quốc gia quan tâm nghiên cứu khoa học QLXHcũng như ứng dụng nó trong đời sống xã hội, cho nên có rất nhiều nghiên cứu đã đề
Trang 29cập đến vấn đề này như: Nguyễn Diệu Hương (2018), ''Thực trạng tham gia hoạch
định chính sách công của công dân Trung Quốc sau Đại hội XVIII'', Tạp chí Nghiên
cứu Trung Quốc, (1); Nguyễn Thanh Giang (2017), ''Đổi mới QLXH ở nông thôn
Trung Quốc những năm gần đây'', Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, (11); Phùng Thị
Huệ (2016), ''Tổ chức xã hội: Thành tố quan trọng trong cơ chế QLXH của Trung
Quốc'', Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, (8); Hoàng Thế Anh (2015), ''Cải cách QLXH ở Trunq Quốc: Hướng tới quản trị xã hội'', Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc,
(6); Nguyễn Minh Phương và Bùi Thu Hiền (2015), ''Quản lý phát triển xã hội của
chính quyền cơ sở ở nông thôn Trung Quốc'', Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, (4); Phùng Thị Huệ (2010), Mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của
Trung Quốc và một số nước Đông Á - kinh nghiệm và ý nghĩa với Việt Nam, Đề tài
cấp nhà nước, Viện Nghiên cứu Trung Quốc; Nguyễn Duy Dũng (2017), ''Kinhnghiệm về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở một số nước Đông Nam
Á'', Tạp chí Những vấn đề Kinh tế Chính trị Thế giới, (10); Nguyễn Minh Phương
và Bùi Thu Hiền (2015), ''Quản lý phát triển xã hội của chính quyền cơ sở ở nông
thôn Trung Quốc'', Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, (4); Nguyễn Minh Phương
(2015), ''Vai trò quản lí phát triển xã hội của chính quyền cơ sở ở Hàn Quốc và kinh
nghiệm đối với Việt Nam'', Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, (11); Phạm Ngọc
Thanh, Nguyễn Văn Thục (2014), ''Quản lý xã hội trong lĩnh vực y tế và giảm
nghèo ở Thái Lan'', Tạp chí Giáo dục Lý luận, (9); Trương Thị Hồng Hà (2010),
''Bài học phát huy vai trò của nhà nước đối với phát triển xã hội (PTXH) và quản lý
phát triển xã hội ở Thụy Điển'', Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, (11)… [11; 36; 40; 63;
64; 71; 108; 109; 132]
Có thể phân tích cụ thể hơn đối với một số nghiên cứu sau:
Trần Thị Phương Hoa (2013), ''Quản lý xã hội ở Châu Âu - hướng đến một xã
hội đồng thuận và tham dự'', http://vanhoanghean.com.vn/ trong đó tác giả viết: Xã
hội phát triển không ngừng và liên tục đặt ra thử thách cho các thành viên trong xã hội
và cho các nhà quản lý Ở châu Âu, tất cả mọi người đều được bảo đảm các quyền xã hội và được tham gia thực hiện quyền đó theo mục tiêu phát triển chung Hiện nay QLXH ở châu Âu không chỉ giới hạn trong một quốc gia mà được vận hành trong một thiết chế mang tính siêu quốc gia (supranational), ở cấp độ toàn EU Đây có thể nói là một mô hình QLXH độc nhất vô nhị hiện nay trên thế giới và đã thu được những thành công nhất định EU không chỉ đưa ra một mục tiêu chung "phát triển bền vững, thông minh và không phân biệt" thông qua "chia sẻ tri thức và trách
Trang 30nhiệm - hướng đến một xã hội không có ai bị gạt ra ngoài lề", mà còn đề ra nhữngthiết chế hành chính và tài chính cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu đó [222].
Hà Thị Hằng (2014), ''Chuyển đổi mô hình PTXH và quản lý PTXH của Trung
Quốc-Bài học đối với Việt Nam'', http://jos.hueuni.edu.vn/ Bài viết này tập trung phân
tích quá trình chuyển đổi mô hình PTXH và quản lý PTXH của Trung Quốc Từ kinh nghiệm mà Trung Quốc đạt được, tác giả bài viết đưa ra những gợi ý đối với Việt Nam trong việc xây dựng mô hình PTXH và quản lý PTXH theo hướng phân định rõ chức năng của nhà nước; kết hợp tăng trưởng kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ, công bằng
xã hội ngay trong từng giai đoạn phát triển; có sự kết hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân trong thực hiện các mục tiêu PTXH [223].
Lê Ngọc Tòng (2013), ''Đổi mới công tác QLXH ở Trung Quốc'' Tác giả khẳng
định: Quản lý xã hội ở Trung Quốc đang nổi lên trở thành vấn đề trung tâm trongchuyển đổi phương thức phát triển KT-XH theo "Quy hoạch 5 năm lần thứ 12" (2011 -2015), cho thấy, vấn đề QLXH được Đảng Cộng sản Trung Quốc đặt ra như một nhiệm
vụ quan trọng trong công tác lãnh đạo xã hội của Đảng Những kinh nghiệm về hoạtđộng QLXH ở Trung Quốc có thể nghiên cứu để vận dụng vào điều kiện của Việt Namhiện nay bởi vì giữa hai nước có rất nhiều điểm tương đồng [160]
Hoàng Thế Anh (2010), ''Phát triển xã hội ở nông thôn Trung Quốc - Nhìn từ
góc độ tư duy, chính sách của Nhà nước'', http://www.vusta.vn Xây dựng NTM
XHCN, hiện đại hoá nông nghiệp, tăng cường địa vị cơ bản của nông nghiệp trong bốicảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu nhằm thúc đẩy phát triển ổn định nông nghiệp,tăng thu nhập cho người nông dân, giữ vững sự ổn định cho xã hội nông thôn [185]
Trần Thọ Quang (2008), ''Hệ thống chính quyền cơ sở và mô hình tự quản ở
nông thôn Trung Quốc hiện nay'', http://www.tapchicongsan.org.vn/ Chính quyền
nhân dân hương trấn có chức năng trừng trị và trấn áp các hành vi vi phạm phápluật, giải quyết các mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, tăng cường quản lý trị an xãhội, tiến hành tổ chức, xây dựng kế hoạch, giám sát và điều hành các hoạt động kinh
tế trong phạm vi phụ trách, duy trì trật tự thị trường; quản lý sự nghiệp văn hóa xãhội; quản lý xây dựng trên địa bàn; chỉ đạo công tác của các ủy ban thôn [224]
Tác giả Hong Xiaoliang (2011), Định hướng đổi mới QLXH ở Trung Quốc
(Trong Kỷ yếu Hội thảo quốc tế về Quản trị biến đổi xã hội trong bối cảnh toàn cầuhóa, do Học viện CT-HC khu vực I thuộc HVCT-HCQG Hồ Chí Minh tổ chức), tácgiả viết: Quản lý xã hội có rất nhiều mục tiêu và nhiệm vụ khác nhau, không nhấtthành bất biến Đó là: duy trì trật tự xã hội, quy định hành vi xã hội, phát huy bản
Trang 31sắc cộng đồng, thúc đẩy sự hài hòa xã hội và giải quyết các xung đột xã hội, làmgiảm các mâu thuẫn xã hội, kiểm soát xung đột xã hội, làm cầu nối giữa các khácbiệt xã hội…Trong số đó, giải quyết xung đột xã hội và duy trì trật tự xã hội là mụctiêu và nhiệm vụ bao trùm của QLXH [165].
Nguyễn Minh Phương (chủ biên, 2015), Quản lý phát triển xã hội của chính
quyền cơ sở một số nước trên thế giới Cuốn sách đã tập trung trình bày về vai trò
quản lý PTXH của chính quyền cơ sở ở một số nước châu Á như: CHND TrungHoa, Vương quốc Thái Lan, Cộng hòa Philippine, Hàn Quốc, Nhật Bản; ở châu Âu:CHLB Đức, Cộng hòa Pháp, Liên bang Nga và ở Hoa Kỳ Đi sâu phân tích, chỉ ra vịtrí, vai trò và chức năng, nhiệm vụ của bộ máy chính quyền địa phương ở mỗi nước,trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò PTXH và quản lý PTXH ở mỗi nước Từthực tế và kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về vai trò của chính quyền
cơ sở trong PTXH và quản lý PTXH, tác giả đã chỉ ra một số kinh nghiệm để có thểvận dụng đối với Việt Nam như: xác định rõ vị trí, vai trò và chức năng, nhiệm vụcủa chính quyền cơ sở; phân quyền, phân cấp hợp lý các thẩm quyền cần thiết, đảmbảo quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền cơ sở; đa dạng hóa các môhình PTXH và quản lý PTXH của chính quyền cơ sở [112]
Ngoài ra, có thể đưa ra đây một số bài viết có tính chất minh họa cho việc
khẳng định: Quản lý xã hội là một nội dung đã được các nước xã hội chủ nghĩa trên
thế giới quan tâm nghiên cứu và áp dụng
Nguyễn Văn Quyết (2017), ''Một vài nét về mô hình "chủ nghĩa xã hội tựquản" của Nam Tư'' Bài viết khẳng định: Lý luận "Chủ nghĩa xã hội tự quản" (Self-managed Socialism) của Nam Tư được hình thành vào cuối thập kỷ 40 thế kỷ XX
và từng bước được bổ sung, phát triển qua các giai đoạn sau đó Mục đích của thựchành dân chủ tự quản nhằm giúp cho quần chúng lao động có khả năng trực tiếp vàthường xuyên tham gia vào QLXH mà không nhất thiết phải thông qua một chínhđảng nào Nguyên tắc hoạt động của nền dân chủ tự quản là cơ quan QLNN phảiphục tùng cơ quan tự quản xã hội Cơ quan tự quản do quần chúng lao động bầu ra,những nơi nào có liên quan đến lợi ích của công nhân (khu, tỉnh tự trị, nhà nướccộng hòa ) đều phải lập ra hội đồng công nhân Đây là hình thức mới để giai cấpcông nhân và nhân dân lao động trực tiếp tham gia vào công việc QLXH [124]
Tác giả Nguyễn Văn Chiều (2009), ''V.I.Lênin bàn về nguyên tắc tập trungdân chủ trong QLXH xã hội chủ nghĩa'' Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra nhữngluận giải để chứng minh việc áp dụng nguyên tắc tập trung dân chủ vào đời sống
Trang 32thực tiễn cụ thể của mỗi nước không thể rập khuôn, máy móc, mà đòi hỏi sự linhhoạt và sáng tạo Những tư tưởng của V.I.Lênin về nguyên tắc tập trung dân chủ cógiá trị và ý nghĩa to lớn đối với Việt Nam trong việc xây dựng Nhà nước phápquyền XHCN và QLXH một cách khoa học, hiệu quả [33].
1.2.2 Nghiên cứu về quản lý xã hội ở Việt Nam
Với các cách tiếp cận như sử học, kinh tế học, luật học, xã hội học, tâm lýhọc các nghiên cứu về QLXH ở Việt Nam đã được quan tâm từ những năm 80 -
90 của thế kỷ XX Trong đó phải kể đến:
Phạm Khiêm Ích (1984), ''Mấy vấn đề về QLXH và kế hoạch hóa xã hội'', Tạp
chí Xã hội học, (1); Phan Đại Doãn và Nguyễn Quang Ngọc (1994), Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội; tác
giả Tương Lai (1996), ''Tiếp cận xã hội học về tự quản đô thị", Tạp chí Xã hội học, (2); Phan Đại Doãn (1996), Quản lý xã hội nông thôn nước ta hiện nay-Một số vấn đề và
giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang
(2000), Phát triển cộng đồng-Lý thuyết và vận dụng, Nxb Văn hóa-Thông tin, Hà Nội;
Nguyễn Ngọc Khá (2001), ''Vai trò của phương pháp hệ thống trong tổ chức và
QLXH'', Tạp chí Triết học, (1); Hoàng Chí Bảo (2002), ''Về mối quan hệ giữa xã và thôn, quản lý và tự quản'', Tạp chí Xã hội học, (3); Nguyễn Huy Tính (2003), Hương
ước mới-Một phương tiện góp phần QLXH ở nông thôn Việt Nam hiện nay, Luận án
Tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Hà Nội; Nguyễn Bá Dương
(2006), ''Tính cộng đồng tự quản và vai trò của nó đối với hoạt động của các tổ chức
cộng đồng tự quản tại các khu dân cư ở nước ta hiện nay'', Tạp chí Tâm lý học, (6); Phạm Ngọc Thanh (2006), Vai trò của con người trong chính trị và QLXH, Kỷ yếu hội thảo, Nxb Bách khoa, Hà Nội; Phạm Ngọc Thanh (2007), ''Vai trò của trí thức trong QLXH'', Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông,
(9); Nguyễn Mạnh Kháng và các cộng sự (2009), Một số vấn đề lý luận về QLXH trong
những tình huống bất thường, Nxb Tư pháp, Hà Nội; Lưu Văn An (2010), Giáo trình chính trị với QLXH, Nxb Lý Chính trị-Hành chính, Hà Nội; Phạm Minh Anh (2014),
''Quản lý theo hướng tiếp cận tổng thể xã hội'', Tạp chí Lý luận chính trị, (8); Nguyễn Văn Thâm (2014), ''Một số vấn đề về QLXH đối với tình huống bất thường'', Tạp chí
Khoa học-Công nghệ Việt Nam, (6); Phạm Minh Anh (2014), ''Một số vấn đề lý luận về
quản lý tổng thể xã hội'', Tạp chí Xã hội học (3); Trần Nghị Viện (2018), ''Vai trò của hương ước trong QLXH ở nước ta'', Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (2) [1; 7; 8; 16; 21;
22; 25; 60; 74; 77; 81; 129; 130; 131; 152; 162]
Trang 33Các nghiên cứu về QLXH ở Việt Nam có thể kể đến cụ thể hơn theo một số
xu hướng sau đây:
Một là, đề cập đến những vấn đề cơ bản và lý thuyết của QLXH:
Trong đó phải kể đến cuốn sách của tác giả Đỗ Hoàng Toàn (2006), Giáo
trình QLXH Đây là cuốn giáo trình QLXH gồm 6 chương Nội dung trình bày tổng
quan về xã hội và QLXH, chủ thể QLXH, các thiết chế cơ bản và các vấn đề nhànước cần quan tâm trong QLXH, biến đổi xã hội, các nguyên tắc, phương pháp vàhình thức QLXH của nhà nước, các phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu trongQLXH [159]
Tiếp đến là tác giả Nguyễn Vũ Tiến (2007), Lý thuyết chung về QLXH Tác
giả cuốn sách đưa ra luận điểm: QLXH là hoạt động quản lý có tính chất phi nhànước, không chịu ảnh hưởng của quyền lực nhà nước hay chính phủ QLXH là cáchthức tổ chức xã hội vì mục tiêu chung [151]
Đồng tác giả Nguyễn Tất Giáp và Đỗ Văn Quân (2017), ''Các nguyên tắcQLXH và một số vấn đề đặt ra đối với QLXH ở Việt Nam'' Bài viết đã nhấn mạnh:QLXH là vấn đề được quan tâm trên cả hai phương diện: nghiên cứu khoa học vàhoạt động thực tiễn ở Việt Nam Bên cạnh những kết quả bước đầu của hoạt độngnghiên cứu và thực tiễn, QLXH ở nước ta đang đối mặt với nhiều vấn đề nan giải.Nghiên cứu QLXH ở Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra các định hướng vĩmô; các cấp độ, đối tượng của hoạt động QLXH bị phân chia, tách rời, không đượcxem xét như một chỉnh thể; QLXH được nhìn nhận mang tính một chiều Do đó,quản lý ở Việt Nam cần phải dựa trên các nguyên tắc, cấp độ và công cụ QLXHhiện đại [38]
Hai là, tập trung làm rõ vấn đề lý thuyết trong nghiên cứu QLXH:
Tô Duy Hợp (2017), ''Tiếp cận hệ thống trong QLXH nông thôn Việt Nam''.Tác giả khẳng định: Tiếp cận hệ thống (TCHT) tổng quát bao gồm 3 yếu tố: kháiniệm hệ thống, lý thuyết hệ thống và phương pháp hệ thống TCHT xã hội có đặctrưng kép: vừa là TCHT tổng quát được đặc thù hóa vào khu vực xã hội, vừa có đặcthù riêng của xã hội với tư cách là hệ thống đặc thù Từ góc nhìn hệ thống xã hộinói chung, hệ thống xã hội nông thôn nói riêng, xem xét tình trạng thống nhất mâuthuẫn biện chứng giữa 2 hệ thống QLXH: Nhà nước QLXH nông thôn và cộng đồnglàng xã tự quản đề xuất kiến nghị quan điểm định hướng và giải pháp phát triển lànhmạnh (tức là phát triển toàn diện, hài hòa và bền vững) đối với QLXH trong tiếntrình XDNTM gắn với kiến tạo đô thị mới ở Việt Nam hiện nay [56]
Trang 34Lê Ngọc Hùng (2017), ''Quản lý và quản trị xã hội từ góc độ lý thuyết hệthống'' Tác giả bài viết nhấn mạnh, nghiên cứu quản lý và quản trị xã hội cần cócách tiếp cận lý thuyết hệ thống Từ cách tiếp cận này, quản lý và quản trị xã hội làmột tiểu hệ thống thực hiện chức năng định hướng phát triển bền vững cho cả xãhội Đồng thời, quản lý và quản trị xã hội luôn hoạt động theo nguyên lý mở, hướngđích, hợp trội, đa chiều cạnh và phản trực cảm trong môi trường luôn biến đổi [67].
Cũng theo xu hướng này tác giả Nguyễn Trung Kiên và Lê Ngọc Hùng
(2012), ''Quản lý xã hội dựa vào sự tham gia: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn''.Bài viết khẳng định: QLXH bao gồm các hoạt động của các lĩnh vực xã hội từ chínhtrị, pháp luật, kinh tế, văn hóa, môi trường, đến giải trí, truyền thông Với cách hiểunày, để QLXH thành công đòi hỏi sự tham gia của toàn dân theo phương châm
"Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" bởi vì chính người dân mới là chủ thểcủa sự phát triển tổng thể xã hội [79]
Nguyễn Ngọc Khá (2001), ''Vai trò của phương pháp hệ thống trong tổ chức
và QLXH'' Bài viết cho rằng: trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽcủa khoa học, kỹ thuật và thực tiễn xã hội, cùng với xu hướng toàn cầu hoá cácquan hệ quốc tế thì việc tổ chức và quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ngàycàng trở nên đa dạng và phức tạp Trước nhu cầu ấy, phương pháp hệ thống có mộttầm quan trọng đặc biệt, nó đóng vai trò là công cụ phương pháp luận hữu hiệutrong việc tổ chức và quản lý các hệ thống xã hội [74, tr.57-59]
Tác giả Trịnh Duy Luân (2017), ''Quản lý xã hội và đô thị hóa ở Việt Nam''.Bài viết chỉ ra những đặc điểm và các vấn đề xã hội mà quá trình đô thị hóa ở ViệtNam đang đặt ra cho lĩnh vực QLXH Đó là sự phát triển đô thị theo chiều rộng vàthiếu bền vững, do định hướng thiên về các giá trị kinh tế vật chất hơn là các giá trịvăn hóa, xã hội và con người Quá trình đô thị hóa đang làm nảy sinh nhiều vấn đềnhư việc sử dụng lãng phí đất đai, vấn đề tái định cư, bảo đảm sinh kế cho nhữngngười nông dân ven đô bị mất đất; vấn đề môi trường sống của cư dân đô thị hiệnnay QLXH cần tham gia bằng tất cả các công cụ và phương tiện hiện có và hướngđến một mô hình đô thị hóa hài hòa hơn, mang nhiều tính xã hội, dân chủ và nhânvăn hơn, với mục tiêu phát triển vì con người và công bằng hơn [89]
Bốn là, theo hướng phân tích mối quan hệ giữa QLXH với tình huống bất
thường hay thông tin xã hội:
Có nghiên cứu của một số tác giả sau:
Nguyễn Hữu Để (2005), ''Thông tin xã hội và vai trò của nó trong QLXH''
Trang 35Tác giả cho rằng: Đối với QLXH, vai trò quan trọng của nó: thứ nhất, thông tin xãhội là cơ sở, điều kiện cần thiết để tiến hành QLXH: thứ hai, tùy theo chất lượng, nó
có thể đẩy nhanh hoặc làm chậm tốc độ phát triển của hệ thống xã hội và cuối cùng,quyết định sự thành công hay thất bại của cả quá trình QLXH [32]
Nguyễn Văn Thâm (2014), ''Một số vấn đề về QLXH đối với tình huống bấtthường'' Tác giả cho rằng: Việc nhận diện chính xác các tình huống bất thườngtrong thực tế, nghiên cứu các hệ lụy do chúng gây ra và đề xuất một số vấn đề vềQLXH đối với các tình huống đó là điều hết sức cần thiết, đặc biệt trong tình hìnhhiện nay [129, tr.59-64]
Nguyễn Mạnh Kháng và các cộng sự (2009), Một số vấn đề lý luận về QLXH
trong những tình huống bất thường Cuốn sách khẳng định: Nhà nước có nhiệm vụ
phải nhận diện và xử lý hàng loạt vấn đề liên quan đến hoạt động QLXH khi xuấthiện những tình huống bất thường, từ việc khắc phục, hạn chế thiệt hại, tổ chức giúp
đỡ và hỗ trợ người dân để ổn định cuộc sống và sản xuất kinh doanh, giải quyết các
hệ lụy xã hội, đến việc dự báo, phòng ngừa và các giải pháp khác nhằm ổn định vàphát triển xã hội [77]
Năm là, theo xu hướng phân tích mối quan hệ giữa QLXH với tự quản:
Có thể kể đến các nghiên cứu của: Nguyễn Ngọc Điện (2007), ''Phát triển xãhội tự quản'' Xã hội tự quản, một hình thức thể hiện của xã hội dân sự, không cầnđến vai trò của các thiết chế công, nhất là các cơ quan trấn áp; do đó, sự phát triểncủa nó có tác dụng làm giảm nhẹ gánh nặng quản lý của nhà nước đối với xã hội,đồng thời cũng là dấu hiệu của một xã hội được tổ chức tốt [201]
Trần Hồng Nhung (2017), ''Thiết chế tổ chức, quản lý ở làng, xã đồng bằng
Bắc Bộ thế kỷ XIX và những bài học kinh nghiệm'' Tác giả cho rằng, để xây dựng
bộ máy nhà nước vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế theo định hướngXHCN, không thể không xuất phát từ nền tảng cơ sở của xã hội, đó chính là làng xã
Xử lý hài hoà mối quan hệ giữa làng với nước, giữa các truyền thống tự trị, tự quảnlàng xã với chính sách quản lý của nhà nước để xây dựng nông thôn mới ở ViệtNam trong bối cảnh CNH - HĐH là một yêu cầu bức thiết…qua đó rút ra những bàihọc kinh nghiệm góp phần phát huy các giá trị tích cực, giảm thiểu các mặt tiêu cựctrong quản lý làng xã cổ truyền, phục vụ cho yêu cầu XDNTM hiện nay [203]
Sáu là, các nghiên cứu tập trung làm rõ mối quan hệ giữa pháp luật và hương
ước, quy ước, trên cơ sở đó phân tích mối quan hệ giữa QLXH và QLNN:
Trang 36Nguyễn Tâm (2017), ''Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về xây dựng, thựchiện hương ước, quy ước'' Hương ước, quy ước, hiểu theo nghĩa chung nhất, lànhững quy phạm xã hội chứa đựng các quy tắc xử sự chung do cộng đồng dân cư.Hiện nay, hương ước vẫn được duy trì tại nhiều nước, nhất là ở châu Á như: TrungQuốc, Hàn Quốc, Nhật Bản Việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước củathôn, làng trong thời gian qua đã đem lại những kết quả thiết thực đối với công tácQLXH tại cộng đồng dân cư, góp phần đưa pháp luật, chủ trương, chính sách củaNhà nước đi vào cuộc sống; nâng cao hiệu quả QLNN; giữ gìn, phát huy truyềnthống tập quán tốt đẹp của cộng đồng dân cư ở cơ sở; bài trừ các hủ tục lạc hậu;hình thành giá trị chuẩn mực xã hội phù hợp với truyền thống, bản sắc của địaphương; phát huy và mở rộng dân chủ ở cơ sở [217].
Cao Anh Đô (2015), ''Mối tương quan giữa hoạt động tự quản của cộng đồng
dân cư và thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở'' Thứ nhất, hoạt động tự quản nhìn
trên bình diện thuận chiều với quyền lực nhà nước, mang ý nghĩa tích cực để phục
vụ cho lợi ích chung của đất nước thì nó mang tính chất mở rộng quyền lực nhànước Nếu hoạt động tự quản tốt, tạo những hiệu quả cao như là một sự cạnh tranhvới những căn bệnh cố hữu của nhà nước như quan liêu, trì trệ, cửa quyền, hình
thức Thứ hai, với hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư thì ít hay nhiều cũng
chính là sự mở rộng bảo trợ về mặt quyền lực chính trị, nhà nước dù ở phương diệncai quản hay tăng cường kiểm soát quyền lực thì cũng là sự chiếu cố của nhà nướcđến tay người dân cơ sở, những người được cho là "thấp cổ bé họng" trong cơ cấuthành phần xã hội [202]
Bùi Quang Dũng (2013), ''Hương ước và mấy vấn đề QLXH nông thôn hiệnnay'' Tác giả cho biết, việc nghiên cứu về các thể chế QLXH nông thôn, về mặtthực tiễn, là trực tiếp đóng góp vào quá trình xây dựng một xã hội nông thôn ổnđịnh, và vào nỗ lực đổi mới tổ chức HTCT Các thể chế QLXH truyền thống khôngnằm trong HTCT, nhưng tác dụng của nó tới đời sống chính trị, tới các quá trình xãhội đang diễn ra tại nông thôn hiện nay rất lớn [24]
Bùi Xuân Đính (2014), ''Hương ước trong QLXH nông thôn hiện nay'' Tácgiả khẳng định, hương ước là sản phẩm của làng Việt ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.Hương ước có hai hình thức thể hiện: hương ước cổ và hương ước cải lương.Hương ước xuất hiện từ giữa thế kỷ XV và tồn tại cho đến sát cuộc Cách mạngtháng Tám 1945 Trong thời kỳ phong kiến, hương ước là công cụ chính yếu đểQLXH làng Việt Ngày nay, các đặc điểm của làng truyền thống đã thay đổi căn
Trang 37bản Vì vậy, cần nghiên cứu sâu sắc những thay đổi này để có căn cứ khoa học trongviệc đề ra chính sách phát triển nông thôn, cũng như việc soạn thảo hương ước,tránh tình trạng làm "nhất loạt, chung chung", ít hiệu quả như thời gian gần đây [34,tr.193].
Trương Thị Hiền (2015), ''Pháp luật và hương ước trong QLXH nông thôn: đánhgiá từ phía người dân'' Trên cơ sở phân tích thực trạng người dân ở nông thôn thựchiện quyền được bàn bạc, quyền được giám sát, đồng thời phân tích sự tồn tại củahương ước xét từ cái nhìn của người dân và không gian pháp luật ở vùng nông thôn,Tác giả của bài viết chỉ rõ sự cần thiết tạo ra những cơ hội để có thêm sự tương tác, bổtrợ giữa hệ thống pháp luật và hương ước cũng như cần nhận diện cơ chế đích thực, conngười cụ thể từ cộng đồng đóng vai trò chủ chốt trong QLXH [48]
Phạm Hữu Nghị (2015), ''Chính sách thực hiện, áp dụng pháp luật, vận dụnghương ước trong QLXH ở nông thôn: thực trạng và những vấn đề đặt ra'' Tác giảkhẳng định: Cùng với chính sách thực hiện pháp luật, áp dụng pháp luật, Nhà nước
đã đề ra chính sách vận dụng hương ước, tập quán trong QLXH nông thôn Việcthực hiện chính sách vận dụng hương ước, tập quán có ý nghĩa như là công cụ bổsung pháp luật trong QLXH ở nông thôn [101, tr.76-89]
Bảy là, tập trung khảo sát, phân tích làm rõ vấn đề QLXH ở một khu vực, địa
phương cụ thể:
Tác giả Đặng Thị Hoa (2014), Quản lý xã hội vùng dân tộc thiểu số ở Việt
Nam trong phát triển bền vững Tác giả cuốn sách khẳng định: hiện nay, QLXH
đang đặt ra những vấn đề mới, mâu thuẫn giữa những giá trị văn hóa truyền thốngvốn đã được bảo lưu và gìn giữ từ nhiều đời với sự vận động và phát triển đi lên của
xã hội trong bối cảnh hiện đại hóa, hội nhập và phát triển những khác biệt trongQLXH truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa tộc người với phương thức quản lýhiện đại của một số tộc người ở nước ta hiện nay Đó cũng là một khoảng trốngtrong nghiên cứu khoa học xã hội, nhất là dưới góc nhìn Dân tộc học trong nhiềunăm trở lại đây [52]
Như vậy: Từ những hướng nghiên cứu về QLXH trên giúp tác giả luận án có
được những thông tin quan trọng để củng cố niềm tin vững chắc đây là một hướng
đi đúng và mang tính mới mẻ Đồng thời giúp tác giả có được tri thức, phươnghướng luận giải các vấn đề nghiên cứu và cho thấy rõ những khoảng trống củanghiên cứu về chủ đề này chính là chưa nghiên cứu về XDNTM ở góc độ QLXH, từđây tác giả tiến hành khảo sát, phân tích dựa trên bằng chứng tại một địa phương
Trang 38tiêu biểu/điển hình thông qua một công trình nghiên cứu ở cấp độ Tiến sĩ chuyênngành Xã hội học.
1.3 NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ XÃ HỘI TRONG CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Từ việc thực hiện tổng quan các xu hướng nghiên cứu về QLXH như vừa nêu
có thể khẳng định:
Những vấn đề liên quan đến QLXH là một chủ đề nghiên cứu cơ bản và quantrọng của các khoa học xã hội, trong đó có xã hội học Thực tế chủ đề này đã đượccác nhà khoa học trong nước và quốc tế quan tâm nghiên cứu và công bố tương đốinhiều trong thời gian gần đây Các nghiên cứu về QLXH đã quan tâm đến vấn đềnội hàm khái niệm, bối cảnh xã hội; chủ thể QLXH, công cụ QLXH, cách tiếp cận,mối quan hệ giữa QLXH với QLNN, tự quản, sự tham gia… Tuy nhiên, nghiên cứumang tính hệ thống vừa chuyên sâu, chuyên biệt và tiếp cận liên ngành về QLXHthông qua chương trình XDNTM - một nhiệm vụ chính trị quan trọng và cụ thể ởnông thôn Việt Nam hiện nay ở tầm luận án tiến sĩ là còn có khoảng trống
Từ những công trình có liên quan trong nước và quốc tế như vừa phân tích làđiểm tựa, những gợi ý quan trọng để tác giả tiếp tục nghiên cứu trong bối cảnh mụctiêu và nhiệm vụ của luận án chuyên ngành xã hội học Song, các công trình khoahọc chưa thực sự quan tâm nghiên cứu XDNTM trong mối quan hệ với QLXH Đặcbiệt, chưa có công trình nào được thực hiện nghiên cứu QLXH trong XDNTM ởtầm/phương thức luận án tiến sĩ xã hội học
Có thể khẳng định, cho đến nay tại Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu
nào phân tích đầy đủ, chuyên sâu, trực tiếp, dựa trên bằng chứng về chủ đề QLXHtrong XDNTM Do vậy, tác giả đi đến lựa chọn vấn đề: QLXH ở nông thôn Việt
Nam hiện nay (qua nghiên cứu chương trình XDNTM ở tỉnh Thanh Hóa) làm đề tài
nghiên cứu luận án tiến sĩ ngành Xã hội học Đề tài nghiên cứu sẽ tập trung nghiêncứu nhằm trả lời cho các câu hỏi: QLXH ở nông thôn có những nội dung gì, đượcbiểu hiện như thế nào? Vai trò của các chủ thể QLXH và công cụ QLXH trongXDNTM được thể hiện trên những phương diện nào? Những yếu tố nào đang ảnhhưởng đến phương thức QLXH ở nông thôn thông qua chương trình XDNTM? Trên
cơ sở đó đề xuất các giải pháp mang tính khả thi nhằm phát huy vai trò, hiệu quảcủa việc thực hiện phương thức QLXH trong quá trình XDNTM ở tỉnh Thanh Hóa
và cả nước nói chung
Trang 39Tiểu kết Chương 1
Từ việc thực hiện tổng quan các công trình khoa học nghiên cứu về XDNTM
và QLXH như vừa nêu có thể khẳng định, phần lớn các công trình khoa học trênđây đều tiếp cận những vấn đề cơ bản liên quan đến XDNTM và QLXH Tuy nhiên,chưa có công trình nào được thực hiện nghiên cứu nhận diện những vấn đề cơ bảncủa QLXH ở nông thôn từ cấp độ luận án tiến sĩ chuyên ngành xã hội học Đồngthời, từ những hướng nghiên cứu về NTM như đã nêu trên cho thấy, một trongnhững khoảng trống nghiên cứu về vấn đề này chính là chưa đặt chủ đề nghiên cứu:XDNTM ở một lát cắt khoa học chuyên sâu, mang tính hệ thống trong mối liên hệvới QLXH thông qua khảo sát tại một địa phương cụ thể (tỉnh Thanh Hóa) Bêncạnh đó, từ việc thực hiện tổng quan những xu hướng nghiên cứu về QLXH vàXDNTM tại một số nước trên thế giới, có thể rút ra những ý tưởng khoa học quantrọng cho việc tiến hành nghiên cứu QLXH thông qua chương trình XDNTM ở ViệtNam hiện nay
Trang 40Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM - CÔNG CỤ TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2.1.1 Khái niệm quản lý xã hội
Có nhiều cách hiểu khác nhau về QLXH, chẳng hạn: Quản lý xã hội là nhữngtác động có ý thức của con người vào xã hội nhằm sắp xếp và duy trì các phẩm chấtđặc thù của xã hội, để đáp ứng sự tồn tại và phát triển của xã hội trong tất cả cáclĩnh vực của đời sống xã hội Xem QLXH là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủđích của chủ thể QLXH lên xã hội và các khách thể có liên quan, nhằm duy trì vàPTXH theo các đặc trưng và các mục tiêu mà các chủ thể quản lý đặt ra phù hợp với
xu thế phát triển khách quan của lịch sử Trong khi đó, các tác giả khác thì cho rằng:QLXH là sự tác động liên tục, có tổ chức của các chủ thể quản lý lên các lĩnh vựccủa đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, QPAN…) và các đối tượng liênquan nhằm duy trì và phát triển xã hội theo quy luật khách quan và các đặc trưngcủa xã hội; QLXH là những tác động có ý thức của các chủ thể xã hội nhằm sắp xếp
và duy trì các phẩm chất đặc thù của xã hội, đáp ứng sự tồn tại và PTXH trong tất cảcác lĩnh vực hoạt động của nó như lao động và học tập, văn hoá, chính trị, tôn giáo
và các công tác xã hội khác; QLXH được hiểu là hoạt động của Đảng, Nhà nước vàcác tổ chức xã hội nhằm thúc đẩy HTCT xã hội vận động và phát triển nhịp nhàngbằng các biện pháp hành chính, giáo dục tư tưởng đạo đức, xây dựng các quy phạm
xã hội [1; 116; 151; 159]
Đáng chú ý là tác giả Lê Ngọc Hùng cho rằng, QLXH cần được hiểu là
"quản lý tổng thể xã hội" (societal management) chứ không phải là quản lý khíacạnh xã hội của sự phát triển (social management) Nghĩa là QLXH bao gồm cáchoạt động của các lĩnh vực: chính trị, pháp luật, kinh tế, văn hóa, môi trường, đếngiải trí, truyền thông Với cách hiểu này, để QLXH thành công đòi hỏi sự tham giacủa toàn dân theo phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dânhưởng lợi", người dân mới là chủ thể của sự phát triển tổng thể xã hội Từ đó việcnghiên cứu sự tham gia QLXH của toàn thể các tầng lớp xã hội, nhất là những nhómyếu thế trở thành một vấn đề trọng tâm của khoa học QLXH [66, tr.21]
Dù có nhiều định nghĩa khác nhau, tuy nhiên tại Việt Nam QLXH được nhấnmạnh là đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, (bất kể con đường nào đều được xây dựngtrên quan điểm của Đảng, các chủ trương đường lối chính sách, pháp luật của Nhà