Xuất nhập khẩu là một trong những hình thức chử yếu của kinh tế đối ngoại,đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là quốc gia đang phát triển như nước ta, ngoại thươngcó tác dụng rất lớn, rất qua
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA THƯƠNG MẠI – DU LỊCH – MARKETING
LỚP 28 – KHOÁ 33 ÏÏÏo0oÒÒÒ
Huỳnh Khang Duy
Hoàng Lê Nhật Quỳnh
Võ Thị Phương Trang
Vũ Hoàng Mạnh Tuấn Trần Chí Vương
Trang 2MỤC LỤC
Lời mở đầu trang 3 Chương 1: Vai trò của xuất nhập khẩu: 4-9 1.1 Điều hòa quá trình tái sản xuất xã hội 4-6 1.1.1 Tạo vốn cho quá trình mở rộng vốn đầu tư trong nước: 4 1.1.2 Chuyển hóa giá trị sử dụng làm thay đổi cơ cấu vật chất của tổng sản
phẩm 4-5
1.1.3 Góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế bằng việc tạo môi trường
thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh 5-6
1.2 Phát huy lợi thế so sánh của nền kinh tế 7-8 1.3 Thúc đẩy Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa, mở rộng thị trường 8-9 Chương 2: Thực trạng xuất nhập khẩu của Việt Nam từ 2001 tới nay 9-16 2.1 Tình hình xuất nhập khẩu chung ở Việt Nam giai đoạn 2001-2008 9-12
8-12
2.1.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam
giai đọan 2001-2008 9
a Nhân tố khách quan 9
b Nhân tố chủ quan 9 2.1.2 Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2008 10-12
a Giá trị và tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu 10
b Các mặt hàng xuất nhập khẩu chủ yếu 10-11
c Các thị trường xuất nhập khẩu chủ yếu 11
d Xuất khẩu theo khu vực kinh tế và theo nhóm hàng 11-12
e Tình trạng nhập siêu 12
2.2 Những thành tựu đạt được 12-13 2.2.1 Về quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu 12 2.2.2 Về chuyển dịch cơ cấu hành hóa xuất khẩu 12-13 2.2.3 Về chuyển dịch cơ cấu thị trường xuất khẩu 13 2.3 Mặt hạn chế và các giải pháp khắc phục 14-16 2.3.1 Những mặt hạn chế 14-15 2.3.2 Giải pháp khắc phục 15-16 Chương 3: Phương hướng đẩy mạnh xuất nhập khẩu 16-21 3.1 Điều chỉnh chiến lược vào cơ cấu xuất nhập khẩu 16-19 3.2 Quảng bá thương hiệu tăng sức cạnh tranh 19-20
3.3 Phát triển khoa học công nghệ và mở rộng thị trường 20-21
Trang 3Xuất nhập khẩu là một trong những hình thức chử yếu của kinh tế đối ngoại,đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là quốc gia đang phát triển như nước ta, ngoại thương
có tác dụng rất lớn, rất quan trọng Việc mở rộng giao lưu kinh tế thế giới sẽ mởrộng thị trường xuất nhập khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tiếp thu được khoahọc công nghệ tiên tiến, những kinh nghiệm quý báu của các nước kinh tế phát triển
và tạo được môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế Tuy nhiên, mỗi quốc gia cónhững đặc điểm về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội rất riêng biệt… Do đó cần phảinhận rõ tầm quan trọng của xuất nhập khẩu, tình hình thực tế về ngoại thương củanước ta để đề ra những giải pháp, chiến lược thích hợp để phát triển hội nhập kinh tế.Bên cạnh đó, việc trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia đem đến nhiều thuận lợinhưng cũng không ít khó khăn, thử thách
Nhằm hiểu biết rõ hơn về vấn đề kinh tế trên, nhóm thuyết trình xin chọn đề
tài “Xuất nhập khẩu của Việt Nam từ 2001 tới nay, thực trạng và giải pháp” Đề
tài này rất rộng và mang tính thời sự, tuy nhiên do hiểu biết của nhóm thuyết trìnhcòn hạn chế nên chúng em chỉ xin đóng góp một phần nhỏ hiểu biết của mình
Trang 4Chương 1: VAI TRÒ CỦA XUẤT NHẬP KHẤU
1.1 Điều hòa quá trình tái sản xuất xã hội:
Với tư cách là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, ngoại thương có những vai trò quan trọng:
1.1.1 Tạo vốn cho quá trình mở rộng vốn đầu tư trong nước:
Một trong những vai trò quan trọng nhất của xuất nhập khẩu nói riêng và kinh tế đối ngoại nói chung là thông qua hoạt động buôn bán trao đổi với nước ngoài
để tạo vốn cần thiết cho sự nghiệp phát triển của đất nước Việc tạo vốn và sử dụng nguồn vốn đó có hiệu quả trở thành mối quan tâm và ưu tiên hàng đầu đầu trong thời
kì đầu công nghiệp hóa nói chung và trong chính sách kinh tế đối ngoại nói riêng
Trong bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay, không một quốc gia nào lại đặt hy vọng vào việc thực hiện công nghiệp hóa chỉ bằng vốn của bản thân Quá trình công nghiệp hóa ở nước ta không những đòi hỏi các khoản vốn và đầu tư hiện có, mà còn đòi hỏi nhiều khoản đầu tư mới và lớn mà khả năng trong nước không đủ đáp ứng Tuy nhiên, cần xác định những mục tiêu hợp lý, thực tế, không quá tham vọng
Bên cạnh đó, một mặt quan trọng về vốn là hiệu quả sử dụng của nó Có thể nói, tạo vốn và sử dụng vốn có hiệu quả trở thành yếu tố có tác động mạnh nhất tới quá trình tăng trưởng kinh tế kém phát triển như nước ta ở giai đoạn đầu công nghiệphóa
1.1.2 Chuyển hóa giá trị sử dụng làm thay đổi cơ cấu vật chất của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân được sản xuất trong nước và thích ứng chúng với nhu cầu của tiêu dùng và tích lũy.
Tiêu dùng là mục đích của sản xuất Tiêu dùng với tư cách là một yếu tố của quá trình tái sản xuất xã hội, vừa chịu sự tác động quyết định của sản xuất, nhưng đồng thời cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sản xuất Tiêu dùng chính là quá trình táisản xuất sức lao động, yếu tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất Không đảm bảo thỏa mãn những yêu cầu đến một mức độ cần thiết thì không thể tái sản xuất đầy
đủ về số luợng và chất lượng lao động cho quá trình sản xuất mới
Vai trò của xuất nhập khẩu đối với việc chuyển hóa giá trị sử dụng làm thay đổi cơ cấu vật chất của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân được sản xuất trong nước và thích ứng chúng với nhu cầu của tiêu dùng và tích lũy
Xuất nhập khẩu nhập khẩu những tư liệu sản xuất mới cần thiết để phục vụ cho việc sản xuất hàng hóa tiêu dùng trong nước
Trang 5Xuất nhập khẩu trực tiếp nhập khẩu hàng hóa tiêu dùng mà trong nước chưa sản xuất hoặc sản xuất chưa đủ Đây là một hoạt động quan trọng của xuất nhập khẩu
để phục vụ cho tiêu dùng, thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng đa dạng của nhân dân, nhưng hoàn toàn không thể bị động với đòi hỏi của tiêu dùng, mà phải tác động mạnh mẽ đến tiêu dùng đặc biệt là cơ cấu tiêu dùng trong xã hội, làm cho nó thích ứng với tìnhtrạng cụ thể của cơ cấu sản xuất
Mở rộng buôn bán với nước ngoài đã làm cho tình trạng tiêu dùng của xã hội
có nhiều biến đổi quan trọng Sự thay đổi đó đặt ra những yêu cầu cao hơn cả về số lượng và chất lượng, kiểu, mốt, thẩm mỹ của hàng tiêu dùng Điều đó một mặt thúc
ép việc sản xuất trong nước muốn phát triển phải đáp ứng đầy đủ nhu cầu ngày vàng cao của người tiêu dùng, nếu không sẽ không cạnh tranh được với hàng ngoại Mặt khác xuất nhập khẩu có thể và cần phải đóng vai trò quan trọng trong việc hướng người tiêu dùng vào những đòi hỏi hợp lý đối với thị trường, phù hợp với chính sách tiêu dùng trong một giai đoạn nhất định Phải bằng nhiều biện pháp trong đó quan trọng là biện pháp giá cả để điều tiết những đòi hỏi vượt quá khả năng của nền kinh tế
1.1.3 Góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế bằng việc tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh.
Xuất nhập khẩu ra đời là kết quả của sản xuất phát triển, đồng thời xuất nhập khẩu lại là một tiền đề cho sự phát triển của sản xuất.Sản xuất có phát triển thì xã hộimới giàu có Nhưng muốn sản xuất phát triển thì cần giải quyết các nhân tố cần thiết cho quá trình đó Đó là việc đảm bảo các yếu tố đầu vào, đầu ra của sản xuấ, tạo tập thị trường cho sản xuất phát triển
Trong nền kinh tế kém phát triển như nước ta, nền kinh tế mất cân đối nghiêmtrọng, việc buôn bán với nước ngoài đưa đến những thay đổi cơ cấu sản phẩm xã hội
có lợi cho quá trình phát triển
Sự phát triển của xuất nhập khẩu làm cho đất đai lao động của nước ta được
sử dụng triệt để hơn để sản xuất các sản phẩm nhiệt đới như gạo, cao su, cà phê, chè,dầu dừa… để xuất khẩu Nhờ xuất nhập khẩu mà các nước “thoát khỏi tình trạng các tiềm năng không được khai thác”
Khái niệm nhập khẩu dẫn đến sự phát triển bao gồm các yếu tố thúc đẩy nhất định đối với một số ngành công nghiệp vốn không có cơ hội phát triển nào khác Ví
dụ, khi phát triển công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm xuất khẩu sẽ tạo ra nhu cầu cho sự phát triển của ngành công nghiệp sản xuất thiết bị chế biến Việc cung cấp cơ sở hạ tầng – đường bộ, đường sắt, cầu cảng, năng lượng, thông tin liên lạc – cho ngành công nghiệp xuất khẩu có thể làm giảm chi phí và còn mở cơ hội phát triển cho các ngành công nghiệp khác
Trang 6Sự phát triển của xuất nhập khẩu có quan hệ đến thuế tức là phần thu nhập không nhỏ của chính phủ từ việc xuất khẩu, nhập khẩu (dưới dạng thuế hay lợi nhuận) được dùng để tài trợ cho sự phát triển của các ngành khác.
Ví dụ:
Khu vực sản xuất xã hội
Sản xuất trong nước
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Cơ cấu cuối cùng của sản phẩm XH
I Nông nghiệp, lâm nghiệp
1200
1000200
1600
100500100400500
600
4605090
300
25050
400
502004010100
100
502030
600
450150
600
100350505050
1000
8907040
1500
1200300
1800
150650110440450
Ví dụ này chứng tỏ thông qua việc xuất nhập khẩu, bằng việc xuất đi những sản phẩm dưới dạng nguyên liệu, sản phẩm tiêu dùng công nghiệp nhẹ, nông nghiệp
và nhập khẩu chủ yếu máy móc, thiết bị và nguyên liệu cho sản xuất, cơ cấu sản phẩm
xã hội đã thay đổi theo hướng thuận lợi cho quá trình phát triển sản xuất tiếp theo của nền kinh tế Để phát triển, cơ cấu nước ta cần phải tiếp tục đổi mới, chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa Trong quá trình đó, xuất nhập khẩu không chỉ tạo rathị trường bên ngoài rộng lớn để mua và bán những gì sản xuất trong nước cần mà còn thông qua xuất nhập khẩu mở rộng thị trường trong nước
Trang 7Đối với các quốc gia, việc giải quyết việc làm cho người dân là hết sức khó khăn Nếu chỉ phát triển nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong nước, không có xuất nhập khẩu hỗ trợ thì sẽ không thu hút được nhiều lao động Đưa lao động tham gia vào phân công lao động quốc tế là lối thoát lớn nhất để giải quyết vấn đề thất nghiệp của các quốc gia hiện nay.
1.2 Phát huy lợi thế so sánh của nền kinh tế:
Lợi thế tuyệt đối:
Adam Smith trong lý thuyết phân công lao động quốc tế đã chỉ ra rằng: các quốc gia có những điều kiện sản xuất khác nhau, do đó những lợi thế cũng khác nhau ( chi phí sản xuất khác nhau) trong sản xuất các loại sản phẩm Đó là lợi thế tuyệt đối
Adam Smith cho rằng một nước có lợi thế tự nhiên hay do nỗ lực của nước
đó Mỗi quốc gia nên chuyên môn hóa sản xuất loại sản phẩm mà mình có lợi thế tuyệt đối ( chi phí sản xuất thấp hơn), rồi trao đổi sản phẩm của mình với các quốc giakhác thì tất cả các quốc gia đều có lợi Tổng của cải vật chất của các quốc gia dẽ tăng lên
Lợi thế so sánh ( lợi thế tương đối):
David Ricardo đã hoàn chỉnh thuyết phân công lao động quốc tế của Adam Smith bằng nguyên tắc lợi thế tương đối Một quốc gia cho dù không có lợi thế tuyệt đối về các sản phẩm so với một quốc gia khác nhưng vẫn có lợi thế tương đối ( lợi thế
so sánh) trong thương mại quốc tế Do đó mỗi quốc gia nên chuyên môn hóa sản phẩm mà mình có lợi thế tương đối rồi trao đổi sản phẩm cho nhau thì cả hai quốc gia đều có lợi hơn
Phát huy lợi thế so sánh của nền kinh tế nhờ xuất nhập khẩu:
Các nước có lợi thế về các điều kiện tự nhiên như khí hậu và tự nhiên Điều kiện tự nhiên đóng vai trò quyết định trong việc sản xuất có hiệu quả nhiều sản phẩm như cà phê, chè, cao su, dừa, các loại trái, nông sản, lâm sản, thủy sản…các loại khoáng sản
Lợi thế có được do sự phát triển của công nghệ và sự lành nghề (nhờ chuyên môn hóa) Nhờ sự chuyên môn hóa, các nước có thể gia tăng hiệu quả lao độngdo:
Người lao động sẽ lành nghề hơn do họ lặp lại cùng một thao tác nhiều lần
Người lao động không mất thời gian chuyển từ việc sản xuất sản phẩm này sang sản phẩm khác
Do làm một công việc lâu dài, người lao động sẽ nảy sinh các phương pháp làm việc tốt hơn
Trang 8Sản phẩm Việt Nam Hàn Quốc
Ta thấy Việt Nam sản xuất gạo hiệu quả hơn Hàn Quốc, còn Hàn Quốc thì lại
có lợi thế tuyệt đối so với Việt Nam trong sản xuất vải Như vậy, Việt Nam sẽ chuyên môn hóa sản xuất lúa mì còn Hàn Quốc sẽ chuyên môn hóa sản xuất vải sau đó đem trao đổi cho nhau: Việt Nam xuất khẩu gạo, nhập khẩu vải còn Hàn Quốc nhập khẩu gạo, xuất khẩu vải
Lợi thế về công nghệ: khả năng chế tạo các sản phẩm đồng nhất có tính hiệu quả cao hơn, tức là ít tốn đầu vào hơn cho một đơn vị sản xuất đầu ra
Ví dụ: Nhật Bản là nước phải nhập khẩu than và sắt, hai thành phần quan trọng trong sản xuất thép Nhưng nhờ có quy trình chế biến thép tiết kiệm được nguyên liệu và laođộng nên các nhà sản xuất thép Nhật Bản rất thành công trong cạnh tranh trên thị trường
Ngay cả các quốc gia không có lợi thế tuyệt đối nào vẫn có lợi khi thôngqua con đường trao đổi, mua bán quốc tế
Ví dụ:
Giả sử mội giờ công lao động: Việt Nam sản xuất được 5 giạ gạo, Trung Quốc sản xuất được 9 giạ gạo Trong khi đó, 1 giờ công lao động ở Trung Quốc sản xuất được 10 mét vải thì ở Việt Nam chỉ sản xuất được 4 mét
Ta thấy tuy Việt Nam bất lợi về cả 2 mặt hàng nhưng do mức độ bất lợi của Việt Nam về mặt hàng gạo nhỏ hơn mặt hàng vải ( thể hiện qua bất đằng thức 4/10 < 5/9) Tương tự, mức độ lợi thế của Trung Quốc về mặt hàng vải lớn hơn mặt hàng gạo( thể hiện qua bất đẳng thức 10/4 > 5/9) Do đó, Việt Nam sẽ có lợi thế so sánh về gạocòn Trung Quốc có lợi thế so sánh về vải Mỗi nước sẽ chuyên môn hóa mặt hàng mình có lợi thế so sánh, sau đó đem trao đổi lấy mặt hàng mình bất lợi thế so sánh
1.3 Thúc đẩy Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa, mở rộng thị trường:
Vai trò quan trọng và bao quát của xuất nhập khẩu là góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đối với sựnghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, xuất nhập khẩu có nhiệm vụ tìm kiếm những đầu vào mới cho công nghiệp và tiêu thụ của những sản phẩm mà công nghiệp làm ra
Trong quá trình mở cửa nền kinh tế với thế giới bên ngoài, xuất nhập khẩu còn được sử dụng như một công cụ thúc đẩy quá trình liên kết kinh tế trong nước và
Trang 9giữa trong nước với nước ngoài Quá trình này không chỉ đơn giản là gắn kết nền kinh
tế trong nước với nền kinh tế thế giới để tranh thủ những lợi thế do ngoại thươngvà phân công lao động quốc tế mang lại, mà quan trọng hơn là dùng ngoại thương để
thúc đẩy quá trình phát triển trong nội bộ nền kinh tế quốc dân, phát triển nền kinh tế thị trường thống nhất trong nước qua các hoạt động xuất nhập khẩu, chuyển giao côngnghệ, vốn, marketing từ các công ty nước ngoài vào nước ta Qua hoạt động liên
doanh, đầu tư vốn hình thành các khu công nghiệp, thành phố lớn, khu chế biến xuất khẩu, cảng tự do buôn bán… mà hình thành nên các mối quan hệ gắn bó trên thị
trường trong nước và thị trường nước ngoài
Trong điều kiện kinh tế nước ta còn lạc hậu, cơ cấu kinh tế mang nặng tính nông nghiệp và khai khoáng, tỷ trọng hàng công nghiệp chưa lớn thì xuất khẩu tài
nguyên thiên nhiên là khó tránh khỏi, nhưng xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu thô và mức độ chế biến thấp như hiện nay là lãng phí và chóng làm cạn kiệt nguồn dự trữ Chính vì vậy cần hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô và sơ chế, khuyến khích xuất khẩu
có mức độ chế biến cao hoặc thành phẩm tiêu dùng Đó không chỉ là cách làm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên, mà còn kết hợp được tài nguyên thiên nhiên với nguồn lao động dồi dào sẵn có và góp phần nâng cao trình độ công nghệ
qua phát triển công nghiệp chế tạo và chế biến
Xuất nhập khẩu tạo môi trường thuận lợi cho việc mở rộng hàng hóa của nước
ta ra nước ngoài, giúp mở rộng thị trường
Trong xuất nhập khẩu, việc nhập khẩu các thiết bị kỹ thuật tiên tiến hiện đại, nhận chuyển giao công nghệ sẽ thúc đẩy khoa học kỹ thuật trong nước phát triển từ đógóp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa
o0o
Chương 2: THỰC TRẠNG XUẤT NHẬP KHẤU VIỆT NAM
TỪ 2001 TỚI NAY
2.1 Tình hình xuất nhập khẩu chung ở Việt Nam giai đoạn 2001-2008:
2.1.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2008
a Nhân tố khách quan:
Những biến động kinh tế, chính trị trên thế giới, Trung Quốc gia nhập WTO
b Nhân tố chủ quan:
Trang 10Việt Nam gia nhập WTO, các Hiệp định Thương mại, kết quả hoạt động xuất nhập khẩu giai đoạn 1986-2000, định hướng chiến lược phát triển Ngoại thương ViệtNam, mục tiêu chung của xuất khẩu Việt Nam thời kì 2006-2010.
2.1.2 Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2008
a Giá trị và tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu
Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu không ổn định Năm
2001, tăng trưởng xuất nhập khẩu chỉ đạt 3,7% do tình hình kinh tế - chính trị thế giới biến động Chỉ số này đã được cải thiện vào năm 2002, và bứt phá trong hai năm2004-2005 Sau khi suy giảm nhẹ vào năm 2005, tốc độ tăng trưởng tiếp tục ở mức cao, đặc biệt năm 2007 là 28,9% cao nhất trong 7 năm của giai đoạn 2001-2007 Tốc
độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 20,5%
Năm 2007, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 109,217 tỷ USD, gấp 3,5 lần so với 31,247 tỷ USD của năm 2001
Năm 2008, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 113 tỷ USD gấp 3,62 lần so với năm 2001
NĂM
TỔNG KIM NGẠCH XUẤT KHẨU
TỈ LỆ KNXNK
XUẤT KHẨU
NHẬP KHẨU
TỈ LỆ
XK / NK (%)
11.171.451.872.22.693.493.62
15.0216.7020.1426.5032.2339.6548.3848.60
16.2119.7429.2531.9536.8844.4360.8364.40
92.784.679.882.987.489.279.575.5
Đơn vị tính: Tỷ USD ($)
b Các mặt hàng xuất nhập khẩu chủ yếu
Nhóm hàng khoáng sản, nhiên liệu:
Hàng dầu thô và than đá đã chiếm 20% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước Khối lượng xuất khẩu dầu thô chỉ tăng nhẹ trong những năm đầu của giai đoạn2001-2007 rồi giảm dần Sở dĩ có sự sụt giảm này là do các mỏ dầu cũ dần cạn kiệt trong khi công tác thăm dò và mua lại mỏ dầu mới của các nước khác không đạt nhiều tiến triển
Trang 11 Nhóm hàng nông lâm thủy sản
Trong vòng 7 năm 2001-2007 giá trị xuất khẩu các mặt hàng này đã tăng lên gần gấp 3 lần Đây là những mặt hàng chịu nền tác động của thị trường thế giới
Việc gia nhập WTO đã đặt ngành xuất khẩu nông, lâm, thỷ sản trước những thời cơ và thách thức mới
Nhóm hàng chế biến
Đây là nhóm hàng gồm nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực: dệt may, giày dép,sản phẩm cơ khí, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa, điện tử, thủ công mỹ nghệ… Có thể phân chia các mặt hàng này thành hai nhóm:
Hàng chế biến chính: thủ công mỹ nghệ, dệt may, giày dép, thực phẩm chế biến, hóa phẩm tiêu dùng, sản phẩm cơ khí – điện, vật liệu xây dựng, sản phẩm gỗ
Hàng chế biến cao: điện tử và linh kiện máy tính, phần mềm
Tóm lại, vấn đề nan giải đối với các sản phẩm chế biến dệt may, da giày, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa… là nguồn nguyên, phụ liệu phần lớn phải nhập khẩu từ nước ngoài Do vậy, giá trị gia tăng của sản phẩm xuất khẩu chưa cao, các doanh nghiệp chưa thực sự chủ động trong việc kí kết các hợp đồng Nhiều sản phẩm chế
biến còn mang tính chất gia công
c Các thị trường xuất nhập khẩu chủ yếu
Các thị trường xuất khẩu chủ yếu:
Các thị trường xuất khẩu của Việt Nam theo tứ tự là: Mỹ, EU, ASEAN, Nhật Bản, Trung Quốc, Australia Trong giai đoạn 2001-2007, kim ngạch xuất khẩu vào tất cả các thị trường trọng điểm đều tăng trưởng ấn tượng: xuất khẩu vào EU tăng 2.8lần , vào Nhật là 2.3 lần và ASEAN là 2.8 lần Đáng chú ý nhất là việc gia tăng xuất khẩu vào thị trường Mỹ
Định hướng xuất khẩu Việt Nam là đa dạng hóa thị trường, gia tăng xuất khẩusang các nước Châu Âu, Châu Mỹ và giảm xuất khẩu sang các nước Châu Á
Các thị trường nhập khẩu chủ yếu:
Các đối tác Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất đều thuộc khu vực Đông Á: Trung Quốc, Singapore, Đài Loan, Nhật Bản , Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Hồng Kông Trong chính sách về thị trường nhập khẩu, định hướng đưa ra là giảm thị trường nhập khẩu từ các nước Châu Á xuống còn 55% vào năm 2010
Các đối tác xuất khẩu chủ yếu là các thị trường có công nghệ nguồn, trong khicác đối tác nhập khẩu chủ yếu là các thị trường không có công nghệ nguồn
d Xuất khẩu theo khu vực kinh tế và theo nhóm hàng
Khu vực kinh tế:
Năm 2007 khu vực kinh tế trong nước đã nhập siêu gần 19 tỷ USD và kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu hơn 6 tỷ USD
Theo nhóm hàng:
(1) Xuất khẩu
Trang 12Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp gia tăng nhanh về giá trị
và chiếm vai trò càng quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu quốc gia Vai trò của nhóm hàng nông lâm thủy sản giảm đáng kể
(2) Nhập khẩu
Sau 5 năm từ 2001-2006 cơ cấu nhập khẩu đã có thay đổi theo hướng tăng dần tỉ trọng nhóm hàng nguyên, nhiên liệu, giảm tỉ trọng 2 nhóm hàng máy móc, thiết bị và hàng tiêu dùng
e Tình trạng nhập siêu
Nhập siêu liên tục xảy ra trong cả 2 giai đoạn 2001-2008 Ngoại trừ từ năm
2005 có giá trị nhập siêu giảm nhẹ các năm còn lại giá trị nhập siêu tăng liên tục, đặcbiệt năm 2007 vừa qua tăng gần 2.5 lần Đây là mức tăng kỉ lục trong thời gian qua
Tỷ lệ nhập siêu trên tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2007 cũng cao kỉ lục: 25.8%, caonhất trong vòng 10 năm trở lại đây Tình hình 9 tháng đầu năm 2008 đã cho thấy nhập siêu đến gần 15.8 tỷ USD bằng 32,51% kim ngạch xuất khẩu
Hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2001-2008 dù gặp không ít khó khăn nhưng vẫn đạt được những thành tựu to lớn nhiều mặt Ngay
cả những nhà hoạch định chính sách khi công bố “Chiến lược phát triển xuất nhập
khẩu 2001-2010” có lẽ cũng không thể ngờ được nhiều mục tiêu họ đề ra cho năm
2010 đã được hoàn thành, thậm chí còn vượt xa năm 2007 Bên cạnh thành công, hoạt động xuất nhập khẩu vẫn còn một số hạn chế, thậm chí rất gay gắt và cần được khắc phục kịp thời Những hạn chế như: thị trường xuất khẩu chưa đa dạng, cơ cấu xuất nhập khẩu chậm biến đổi, khu vực kinh tế trong nước hoạt động chưa hiệu quả như kì vọng, hiện tượng nhập siêu là những thách thức to lớn đối với ngành ngoại thương Việt Nam
2.2 Những thành tựu đạt được:
2.2.1 Về quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu:
Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tăng trưởng khá nhanh và vững chắc trong thời gian 2001 - 2008 Trong thời gian 2001 - 2007, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tăng với tốc độ trung bình hằng năm là 18,89%, cao hơn so với tốc độ kế hoạch
đề ra cho giai đoạn 2001 - 2005 là 16% (theo mục tiêu chiến lược xuất nhập khẩu giai đoạn 2001 - 2010) và cao hơn mức tăng trưởng 18% theo chỉ tiêu kế hoạch đề racủa xuất khẩu năm 2006 và 2007
Do tốc độ xuất khẩu hàng hóa tăng cao đã đưa quy mô xuất khẩu hàng hóatăng gấp 3,35 lần trong khoảng thời gian 7 năm qua Đây là một trong những mứctăng xuất khẩu nhanh nhất trong khu vực và trên thế giới
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa theo đầu người cũng tăng nhanh Nếu năm