Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần phải xem xét xung quanh dạy và học của học sinh Tiểu học ở Việt Nam Với mong muốn tìm hiểu thực tế những gì còn tồn tại trong vấn đề làm việc
Trang 1UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: “Thực trạng kỹ năng làm việc nhóm của học sinh trường Tiểu học
Phú Hòa 3, thành phố Thủ Dầu Một”.
- Sinh viên thực hiện:
- Người hướng dẫn: TS Đỗ Thị Nga
4 Kết quả nghiên cứu:
Báo cáo kết quả đề tài: “Thực trạng kĩ năng làm việc nhóm của học sinh trường Tiểu học Phú Hòa 3, thành phố Thủ Dầu Một”
Trang 25 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng đề tài
Tìm ra những giải pháp nâng cao kỹ năng làm việc nhóm thiết thực góp phần nâng cao hiệu quả làm việc nhóm của học sinh trường Tiểu học Phú Hòa 3, thành phố Thủ Dầu Một
6.Công bố khoa học của HS từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ họ tên tác giả,
nhan đề và các yếu tố về xuất bản nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả nghiên cứu (nếu có):
Sinh viên chịu trách nhiệm chính
thực hiện đề tài
(ký, họ và tên)
Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực
hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):
………
………
………
………
Ngày tháng năm 2017
Xác nhận của lãnh đạo khoa
(ký, họ và tên)
Người hướng dẫn
(ký, họ và tên)
Trang 3UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THÔNG TIN VỀ SV CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I SƠ LƯỢC VỀ HS:
Họ và tên: Lê Thị Kiều
Sinh ngày: 09 tháng 02 năm 1995
Nơi sinh: Tân Uyên _ Bình Dương
Lớp: D13TH03 Khóa: 2013-2017
Khoa: Sư phạm
Địa chỉ liên hệ: Thủ Dầu Một, Bình Dương
Điện thoại: 0976608662 Email: lekieu0902@gmail.com
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của HS từ năm thứ 1 đến năm đang học):
Trang 5TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHOA SƯ PHẠM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
, ngày tháng năm
Kính gửi: Ban tổ chức Giải thưởng “Tài năng khoa
học trẻ Đại học Thủ Dầu Một”
Tên tôi (chúng tôi) là: Lê Thị Kiều Sinh ngày 09 tháng 02 năm 1995
Sinh viên năm thứ: 4/Tổng số năm đào tạo: 4
Lớp, khoa : D13TH03 – Sư Phạm
Ngành học : Giáo dục Tiểu Học
Thông tin cá nhân của sinh viên chịu trách nhiệm chính:
Địa chỉ liên hệ : Số nhà 68, tồ ấp 1, xã Tân Định, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
Số điện thoại (cố định, di động): 0976608662
Địa chỉ email: lekieu0902@gmail.com
Tôi (chúng tôi) làm đơn này kính đề nghị Ban tổ chức cho tôi (chúng tôi) được gửi đề tài nghiên cứu khoa học để tham gia xét Giải thưởng “Tài năng khoa học trẻ Đại học Thủ Dầu Một”năm 2017
Tên đề tài: “Thực trạng kỹ năng làm việc nhóm của học sinh trường Tiểu học
Phú Hòa 3, thành phố Thủ Dầu Một”
Tôi (chúng tôi) xin cam đoan đây là đề tài do tôi (chúng tôi) thực hiện dưới sự
hướng dẫn của TS Đỗ Thị Nga; đề tài này chưa được trao bất kỳ một giải thưởng nào khác tại thời điểm nộp hồ sơ và không phải là luận văn, đồ án tốt nghiệp
Nếu sai, tôi (chúng tôi) xin chịu trách nhiệm trước khoa và Nhà trường
Xác nhận của lãnh đạo khoa Người làm đơn
(ký, họ và tên) (Sinh viên chịu trách nhiệm
chính thực hiện đề tài
ký và ghi rõ họ tên)
Trang 6Trong những năm qua, công cuộc cải cách nền giáo dục nước nhà và việc đổi mới phương pháp dạy và học diễn ra mạnh mẽ Điều đó mang lại cho nền giáp dục nước nhà một bộ mặt mới và thể hiện chủ trương đường lối đúng đắn của nhà nước ta Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần phải xem xét xung quanh dạy và học của học sinh Tiểu học ở Việt Nam
Với mong muốn tìm hiểu thực tế những gì còn tồn tại trong vấn đề làm việc nhóm của học sinh tiểu học, hy vọng đóng góp một phần nhỏ bé của mình để giúp các
em học sinh tiểu học nâng cao hiệu quả học tập nhóm của mình.Thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học này, chúng tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo trường Đại học Thủ Dầu Một đã tạo mọi điều kiện về vật chất, tài liệu tham khảo, kinh phí giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu tại lớp, thư viện, khoa,
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, chúng tôi xin chân thành cảm ơn cô
Đỗ Thị Nga, cô là người đã trực tiếp hướng dẫn, đóng góp ý kiến, tìm ra những sai sót, tận tâm chỉ bảo và định hướng cho chúng tôi trong suốt quá trình tìm hiểu, thực hiện
và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của Ban Giám Hiệu, giáo viên chủ nhiệm và học sinh trường Tiểu học Phú Hòa 3, thành phố Thủ Dầu Một cùng hợp tác, giúp đỡ chúng tôi thu thập số liệu, thông tin trong suốt khoảng thời gian tìm hiểu tại trường
Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các anh chị, các bạn HS tại Khoa
Sư phạm trường Đại học Thủ Dầu Một đã nhiệt tình giúp đỡ cho chúng tôi trong quá trình triển khai các làm việc nghiên cứu đề tài
Cuối cùng, chúng tôi xin chia sẻ thành quả đạt được ngày hôm nay với những người thân yêu trong gia đình của chúng tôi đã có những đóng góp ý kiến quý báu cho sự thành công của đề tài mà chúng tôi đã hoàn thành trong suốt khoảng thời gian gần 9 tháng qua
Một lần nữa chúng tôi xin chân thành được cảm ơn!
Bình Dương, ngày tháng năm 2017
SV chịu trách nhiệm chính thực hiện đề tài
Trang 7MỤC LỤC
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích của nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ của đề tài 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 2
6 Giả thuyết khoa học 3
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC 4
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4
1.2 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 6
1.2.1 Khái niệm kỹ năng 6
1.2.2 Khái niệm nhóm 9
1.2.2.1 Sự hình thành và phát triển nhóm 11
1.2.2.2 Phân loại nhóm làm việc 13
1.2.3 Khái niệm kỹ năng làm việc nhóm trong học tập 19
1.3 Đặc điểm, nguyên tắc và yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề làm việc nhóm có
hiệu quả 34
1.3.1 Đặc điểm của làm việc nhóm 23
1.3.2 Nguyên tắc làm việc nhóm 24
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề làm việc nhóm có hiệu quả 25
1.4 Những đặc điểm tâm lý cơ bản của học sinh lứa tuổi tiểu học 29
1.4.1 Đặc điểm sinh lý 29
1.4.2 Đặc điểm tâm lý của HS tiểu học 30
1.4.2.1 Đặc điểm nhận thức 30
1.4.2.2 Đặc điểm xúc cảm và tình cảm 31
Chương 2: THỰC TRẠNG LÀM VIỆC NHÓM CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC PHÚ HÒA 3, THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT 33
2.1 Sơ lược về khách thể nghiên cứu 33
2.1.1 Sơ lược tình hình nhà trường 33
Trang 82.1.2 Phương pháp học tập được sử dụng ở trườngTiểu học Phú Hòa 3 34
2.1.3 Mô tả công cụ nghiên cứu 35
2.2 Thực trạng làm việc nhóm của học sinh trường Tiểu học Phú Hòa 3, Thành phố Thủ Dầu Một 37
2.2.1 Thực trạng mức độ nhận thức, quan niệm của học sinh trường Tiểu học Phú Hòa 3, thành phố Thủ Dầu Một về làm việc theo nhóm 37
2.2.2 Thực trạng nhận thức các lợi ích của làm việc nhóm trong học tập của học sinh 38
2.2.3 Thực trạng vấn đề làm việc nhóm của học sinh trường Tiểu học Phú Hòa 3 40
2.2.4 Thực trạng kỹ năng làm việc nhóm 49
2.2.5 Thực trạng các điều kiện khác: chủ đề học tập nhóm, cơ sở vật chất - phương tiện kỹ thuật, sự hướng dẫn, đánh giá của giáo viên… 62
2.3 Đánh giá tổng quát thực trạng làm việc nhóm của học sinh trường Tiểu học Phú Hòa 3, thành phố Thủ Dầu Một 63
2.3.1 Mặt tích cực của việc làm việc nhóm ở học sinh trường Tiểu học Phú Hòa 3, thành phố Thủ Dầu Một 63
2.3.2.Mặt hạn chế của việc làm việc nhóm ở học sinh trường Tiểu học Phú Hòa 3, thành phố Thủ Dầu Một 64
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế trên 66
2.3.3.1 Nguyên nhân khách quan: 66
2.3.2 Nguyên nhân chủ quan: 67
2.4 Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả kỹ năng làm việc nhóm của học sinh, trường Tiểu học Phú Hòa 3, TP Thủ Dầu Một 68
2.4.1 Các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả kỹ năng làm việc nhóm của học sinh, trường Tiểu học Phú Hòa 3, TP Thủ Dầu Một 68
2.4.1.1 Giải pháp dành cho giáo viên 68
2.4.1.2.Giải pháp dành cho học sinh 76
Kết luận 80
Kiến nghị 82
Tài liệu tham khảo 83
Phụ lục 85
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 1: Thực trạng mức độ nhận thức, quan niệm của học sinh về làm việc
theo nhóm
37
Bảng 2: Lợi ích của làm việc nhóm trong học tập 38
Bảng 3: Mức độ ưa thích làm việc nhóm của học sinh 40
Bảng 4: Mức độ thường xuyên làm việc nhóm của học sinh trường Tiểu học
Bảng 7: Phương pháp thống nhất của học sinh 44
Bảng 9: Thực trạng ý thức của thành viên nhóm 47
Bảng 10: Thực trạng nhận thức về nhiệm vụ lớn nhất của nhóm trưởng 48
Bảng 11: Tổng hợp đánh giá mức độ thực hiện các kỹ năng LVN của học
sinh trường Tiểu học Phú Hòa 3, thành phố Thủ Dầu Một
49
Bảng 12: Mức độ cần thiết của kỹ năng lập kế hoạch nhóm 50
Bảng 13: Bảng mức độ cần thiết của kỹ năng xây dựng nội quy làm việc
nhóm
51
Bảng 14: Mức độ cần thiết của kỹ năng phân công nhiệm vụ rõ ràng, hợp lý 52
Bảng 15: Mức độ cần thiết của kỹ năng thảo luận, trao đổi 53
Bảng 16: Mức độ cần thiết của kỹ năng nghiên cứu tài liệu 54
Bảng 17: Mức độ cần thiết của kỹ năng chia sẻ trách nhiệm 55
Bảng 18: Mức độ cần thiết của kỹ năng lắng nghe 56
Bảng 19: Mức độ cần thiết của kỹ năng chia sẻ thông tin 57
Bảng 20: Mức độ cần thiết của kỹ năng giải quyết xung đột 59
Bảng 21: Mức độ cần thiết của kỹ năng tự kiểm tra – đánh giá làm việc
nhóm
60
Bảng 22: Tổng hợp kết quả điều tra mức độ quan tâm của giáo viên tới việc
rèn luyện các kỹ năng làm việc nhóm cho học sinh
67
Trang 11BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Thực trạng nhận thức về lợi ích của việc thảo luận nhóm 40 Biểu đồ 2: Mức độ ưa thích làm việc nhóm của học sinh trường Tiểu học
học sinh
61
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước phát triển đề ra nhu cầu cấp thiết cho nền giáo dục Việt Nam trong việc nâng cao chất lượng và bồi dưỡng nhân tài Song song với việc nâng cao chất lượng đào tạo thì học sinh cần phải năng động và sáng tạo trong làm việc cũng như học tập Hơn thế nữa học sinh cần có những kĩ năng trong quá trình học tập và làm việc Một trong những kĩ năng quan trọng của học sinh tiểu học đó là kĩ năng làm việc nhóm
Hiện nay, làm việc nhóm vừa là một yêu cầu, vừa là một phương pháp học được khuyến khích áp dụng rộng rãi, nhất là đối với học sinh tiểu học Trong xu thế hội nhập của đất nước, vai trò của phương pháp học này càng trở nên quan trọng hơn trong việc góp phần nâng cao hiệu quả học tập của người học nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung
Phương pháp học tập này đã được nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học nghiên cứu, đề cập tới các công trình nghiên cứu của mình và đã đem lại những đóng góp to lớn với những thành tựu đáng kể, giúp học sinh tìm thấy niềm đam mê, hứng thú và chủ động hơn trong quá trình học tập, tích lũy kiến thức, nâng cao chất lượng giáo dục
và đào tạo
Trên thế giới hiện nay đang diễn ra những chuyển biến trong lĩnh vực giáo dục
Xu hướng giáo dục đang phát triển với mục tiêu: đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp phát huy tính tích cực, chủ động cũng như khả năng tự hoc, tự nghiên cứu của người học
Như vậy, trong thời đại mới, khi khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, làm việc theo nhóm là yêu cầu quan trọng, cần thiết được đặt ra đối với tất cả mọi
người“Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng kết hợp làm việc cá nhân với làm việc nhóm và phát huy khả năng của từng cá nhân trên cơ sở làm việc theo nhóm”[2;
90] Đặc biệt đối với học sinh tiểu học, làm việc nhóm là một trong các phương pháp học tập hiệu quả để qua đó rèn cho học sinh tiểu học khả năng giao lưu, chia sẻ làm nền tảng để hòa nhập vào môi trường học tập sau này, mặt khác làm việc nhóm các thành viên phát huy được sự tự giác, xóa đi mặc cảm, rụt rè, trao đổi một cách cởi mở
và thẳng thắng những ý tưởng, kiến nghị của mình với những thành viên khác Với yêu cầu đổi mới phương pháp học theo hướng tăng cường tính chủ động, tích cực, tự làm
Trang 13việc, tự tìm tòi, khám phá chân lý khoa học của người học nhằm phát triển tri thức và các kĩ năng thiết thực cho người học thì phương pháp thảo luận nhóm chiếm một vị trí
đặc biệt quan trọng, “Phương pháp Xemina - thảo luận nhóm là một phương pháp hữu hiệu để trao đổi những kinh nghiệm, hiểu biết về các vấn đề học tập, để cọ xát các thông tin mà người học đã có để kiến thức dạy học biến thành sở hữu của người học”[2-100] Thảo luận nhóm trong và ngoài giờ học sẽ là một phần bổ sung quan
trọng cho các bài giảng, giúp học sinh nắm vững các khái niệm và áp dụng vào các tình huống cần đến các kỹ năng đào sâu suy nghĩ
Nhưng hiện nay thực trạng làm việc nhóm ở học sinh tiểu học còn mang tính chung chung hoặc chỉ có thể áp dụng cho những đối tượng cụ thể, với những môn học riêng lẻ
Xuất phát từ những vấn đề trên nên nhóm tôi chọn đề tài “Thực trạng làm việc
nhóm của học sinh trường Tiểu học Phú Hòa 3, thành phố Thủ Dầu Một ” để phần
nào có thể khái quát về tình trạng làm việc nhóm ở học sinh tiểu học, đặc biệt là học sinh trường Tiểu học Phú Hòa 3, thành phố Thủ Dầu Một Từ đó đề xuất những biện pháp làm việc nhóm tốt nhất giúp các em đạt hiệu quả cao trong việc học tập
2 Mục đích của nghiên cứu
Tìm hiểu về thực trạng làm việc nhóm của học sinh trường Tiểu học Phú Hòa 3
từ đó đề xuất các biện pháp giúp nâng cao hiệu quả làm việc nhóm của học sinh
3 Nhiệm vụ của đề tài
- Khảo sát thực trạng kỹ năng làm viêc nhóm của học sinh trường Tiểu học Phú Hòa 3,thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
- Đề xuất các biện pháp thực tế và kiến nghị để nâng cao kỹ năng làm việc nhóm cho học sinh
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp điều tra giáo dục
- Phương pháp toán học thống kê
5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Thực trạng làm việc nhóm ở học sinh trường Tiểu học Phú
Hòa 3
Trang 14- Khách thể: Học sinh trường Tiểu học Phú Hòa 3, thành phố Thủ Dầu Một
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Thời gian: 6 tháng
+ Không gian: trường Tiểu học Phú Hòa 3
+ Lĩnh vực: vấn đề làm việc nhóm ở học sinh trường Tiểu học Phú Hòa 3 + Mẫu nghiên cứu: Do hạn chế về thời gian, kinh phí nên nhóm chúng tôi chỉ khảo sát 106 em học sinh lớp 5
- Khu vực: trường Tiểu học Phú Hòa 3, thành phố Thủ Dầu Một
6 Giả thuyết khoa học
Hiện nay ở trường Tiểu học Phú Hòa 3, làm việc nhóm là một phương pháp khá phổ biến đối với học sinh tiểu học nhưng do khả năng tiếp cận và áp dụng của các em còn hạn chế nên làm việc nhóm chưa mang lại hiệu quả cao Nếu học sinh nhận thức được tầm quan trọng của việc làm việc nhóm và biết cách để làm việc nhóm hiệu quả đồng thời giáo viên trang bị các phương pháp hợp lý trong vấn đề làm việc nhóm thì các em sẽ tiếp thu bài học tốt hơn, khả năng sáng tạo cao, và phát triển những kỹ năng cần thiết
7 Cấu trúc của đề tài
Phần mở đầu
Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc tổ chức làm việc nhóm của học sinh tiểu học Chương 2: Thực trạng làm việc nhóm của học sinh trường Tiểu học Phú Hòa 3, thành phố Thủ Dầu Một
Phần kết luận và kiến nghị
Trang 15NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM CỦA
HỌC SINH TIỂU HỌC 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Con người là một sinh vật xã hội, điều đó có nghĩa là chúng ta không thể sống
và làm việc một mình Ngay từ khi sinh ra, chúng ta đã gắn mình với một nhóm cơ bản nhất: Gia đình Sau đó khi lớn hơn, bước vào nhà trường chúng ta sẽ có những người bạn và nếu phù hợp sẽ tạo thành các nhóm bạn
Bản thân chúng ta với năng lực và tính cách sẽ có những ảnh hưởng lên nhóm,
đồng thời cũng chịu những tác động của bạn bè cả về điều tốt lẫn xấu: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” Nhờ các làm việc trong nhóm, chúng ta vừa phát triển những
kỹ năng cá nhân, thu nạp những kiến thức, kinh nghiệm cho bản thân, đồng thời góp phần vào các làm việc đem lại những giá trị về vật chất và tinh thần cho tập thể, cộng
đồng Ngay từ xưa, ông bà ta cũng có câu: “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao” vì vậy để đạt được kết quả học tập cao nhất thì học sinh cần phải
hợp tác, giúp đỡ và cùng nhau làm việc
Chính vì vậy mà vấn đề làm việc nhóm được quan tâm trong môi trường giáo dục hiện nay,đặc biệt là ở cấp tiểu học.Vì nhận ra tầm quan trọng đó mà vấn đề làm việc nhóm đã được đề cập rất nhiều trong các bản NCKH, sách báo, tạp chí…
Liên quan đến vấn đề này đã có nhiều đề tài khoa học của các giảng viên và các bạn học sinh:
Luận văn Thạc sỹ “KN LVN trong học tập của học sinh Trường Đại học Sài Gòn” của tác giả Lê Ngọc Huyền và đề tài nghiên cứu khoa học “Vấn đề làm việc nhóm của học sinh khoa Kinh tế - Luật” của nhóm học sinh KT28 “Làm việc theo nhóm - một phương pháp học tập phát huy sức mạnh tập thể” của Phạm Thị Huyền,
luận văn Thạc sĩ của Lê Tấn Huỳnh Cẩm Giang Tác giả đã chỉ ra rằng: hiệu quả của hoạt động nhóm trong học tập là không thể phủ nhận, nhưng không phải sinh viên nào cũng đạt kết quả cao khi học và làm việc theo nhóm, thậm chí ít hiệu quả hơn so với làm việc cá nhân Vì chất lượng hoạt động nhóm còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: môi trường học tập, vốn sống, kinh nghiệm, trình độ nhận thức và kiến thức về hoạt động nhóm cảu bản thân sinh viên, song quan trọng nhất là phải có kỹ năng làm việc nhóm
Trang 16“ Khảo sát và đánh giá một số KN tương tác trong tổ chức của học sinh khoa
Sư phạm trường Đại học Tiền Giang” (2006) Luận văn Thạc sĩ của Kiều Ngọc Quý
“Tổ chức học tập hợp tác nhằm nâng cao hiệu quả phương pháp dạy học theo nhóm”
(2009) cũng đã chỉ ra rằng: các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng hoạt động nhóm gồm có yếu tố khách quan và chủ quan, song yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất thuộc về chính bản thân sinh viên, cụ thể là cách học của sinh viên vfa sinh viê cũng chưa tích cực tham gia hoạt động nhóm, sinh viên chưa có ý thức rèn luyện Về phía giáo viên, yếu tố được sinh viên lựa chọn ảnh hưởng nhiều đến kỹ năng hoạt động nhóm là giá viên và sinh viên ít có cơ hội tiếp xúc trong và ngoài giờ học, Về phía nhà trường, sinh viên cho rằng hoạt động ngoại khóa có ảnh hưởng đến việc hình thành kỹ năng hoạt động nhóm Bên cạnh đó, tác giả có đề ra những giải pháp như nhà trường nên có cách
bố trí phòng hoc hợp lý, bàn ghế có thể di chuyển được, các thiết bị phương tiện dạy học đầy đủ, hiện đại, tài liệu đa dạng và phong phú Ngoài ra đoàn thanh niên nhà trường nên tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa, tổ chức các cuộc thi về chuyên môn, năng lực sư phạm giữa các lớp, qua đó giúp sinh viên có cơ hội trau dồi, rèn luyện các
kỹ năng của mình Đối với giáo viên, nên thường xuyên tham gia các lớp tập huấn, nâng cao trình độ chuyên môn, giáo viên tích cực hơn nữa trong việc đổi mới phương pháp dạy học, thường xuyên tổ chức dạy học theo nhóm, quan tâm hơn nữa đến việc rèn luyện, bồi dưỡng cho ính viên về các kỹ năng làm việc nhóm Sinh viên cần nhận thức đúng đắn về kỹ năng hoạt động nhóm trong học tập, hiểu rõ được vai trò và tác dụng của kỹ năng hoạt động nhóm, thường xuyên tích lũy kinh nghiệm, vận dụng các
kỹ năng hoạt động nhóm linh hoạt và sáng tạo trong quá trình học tập
Trong bộ sách cẩm nang dành cho nhà quản lý của tác giả Michael Magiin có
cuốn“Thúc đẩy nhóm làm việc hiệu quả” Nội dung cuốn sách đề cập tới những vấn
đề nảy sinh trong quá trình làm việc nhóm và đã đưa ra một số phương thức đẩy mạnh
hiệu quả làm việc nhóm
Bên cạnh đó, cũng có nhiều buổi hội thảo giáo dục, đề tài nghiên cứu khoa học
và các sáng kiến kinh nghiệm nói về vấn đề này
Trong sáng kiến kinh nghiệm “Một số giải pháp thực hiện dạy học theo mô
trình trường học mới tại Việt Nam (VNEN) đạt hiệu quả” của Nguyễn Thị Phượng
đã đề cập đến một số kỹ năng giúp học sinh tiếp cận với mô hình trường tiểu học mới (VNEN), trong đó có kỹ năng làm việc nhóm
Trang 17Trong đề tài sáng kiến kinh nghiệm “Kinh nghiệm tổ chức hình thức hợp tác
nhóm trong dạy học lớp Bốn” của tác giả Mạc Thị Thùy Nhân đã đề ra một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình làm việc nhóm cho học sinh
Trong bài báo cáo triển khai chuyên đề “Một số biện pháp giúp học sinh học
tập hợp tác nhóm có hiệu quả theo mô hình trường học mới VNEN” của Lê Dõng
đã trình bày về thực trạng và giải pháp giúp học tập hợp tác nhóm có hiệu quả hơn Một số giải pháp mà Lê Dõng đã nêu ra như: cần phải thay đổi nhận thức của người dạy; có hiểu biết nhất định về phương pháp dạy học theo nhóm; có sự vận dụng linh hoạt trong dạy học; cần có sự phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên trong nhóm; bồi dưỡng kỹ năng điều hành cho nhóm trưởng; lựa chọn và bầu nhóm trưởng; quản lý học sinh trong các hoạt động học theo nhóm có hiệu quả; tạo nhu cầu cho người học; có sự phối hợp với giáo viên bộ môn và phụ huynh học sinh; thường xuyên
đánh giá, khen thưởng kịp thời
1.2 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Khái niệm kỹ năng
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về KN Những định nghĩa này thường bắt
nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của người viết
Trong lịch sử nghiên cứu các vấn đề về KN, có nhiều tác giả trong và ngoài nước đã đưa ra những quan niệm khác nhau về KN Có hai khuynh hướng cơ bản sau:
Khuynh hướng thứ nhất: xem xét KN nghiêng về mặt kỹ thuật của thao tác, của hành động hay HĐ Có các tác giả như: V.A.Kruchetxki, A.V.Petrovxki, V.S.Cudin, A.G.Covaliop, Trần Trọng Thuỷ…
V.A.Kruchetxki cho rằng “KN là phương thức thực hiện hành động đã được con người nắm vững từ trước” [5;78] Theo ông, KN được hình thành bằng con đường luyện tập, KN tạo khả năng cho con người thực hiện hành động không chỉ trong điều kiện quen thuộc mà trong cả những điều kiện đã thay đổi
V.S.Cudin và A.G.Covaliop cho rằng “KN là phương thức thực hiện hành động thích hợp với mục đích và điều kiện hành động [6;13] Theo các tác giả, kết quả của hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng hơn cả là năng lực của con người chứ không đơn giản là cứ nắm vững cách thức hành động thì đem lại kết quả tương ứng
Trang 18Khi bàn về KN, tác giả Trần Trọng Thuỷ cũng cho rằng “KN là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được các hành động tức là có kỹ thuật hành động, có KN” [7]
Khuynh hướng thứ hai: xem xét KN nghiêng về mặt năng lực hành động của con người Theo quan niệm này, KN vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt, sáng tạo và có mục đích Đại diện cho khuynh hướng này có các tác giả như N.D.Levitov, X.I.Kixegov, K.K.Platanov, G.G.Golubev, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành…
N.D.Levitov quan niệm “KN là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hành động phức tạp bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định” [8;29] Theo ông, người có KN hành động
là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả Levitov cho rằng, để hình thành KN, con người không chỉ nắm lý thuyết về hành động mà phải biết vận dụng vào thực tiễn
Các tác giả K.K.Platanov và G.G.Golubev quan niệm “KN là năng lực của người thực hiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện mới và trong những khoảng thời gian tương ứng” [9;41] Theo các tác giả, KN không mâu thuẫn với vốn tri thức mà KN được hình thành trên cơ sở của chúng
Tương tự X.I.Kixegov cho rằng “KN là khả năng thực hiện có hiệu quả hệ thống hành động phù hợp với mục đích và điều kiện thực hiện hệ thống này” [8;30] Theo ông, các KN bao giờ cũng diễn ra dưới sự kiểm tra của ý thức nhiều hay ít KN đòi hỏi việc sử dụng những kinh nghiệm đã thu được trước đây và những tri thức nhất định nào đó trong các hành động, mà thiếu những điều này thì không thể có KN
Từ điển tiếng Việt (1992) định nghĩa “KN là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [10;157]
Theo từ điển Giáo dục học “KN là khả năng thực hiện đúng hành động, LV phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy cho dù đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ” [11;220]
Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng “KN là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép” [12;6]
Trang 19Như vậy, người có KN phải nắm tri thức về hành động và có các kinh nghiệm cần thiết Song bản thân tri thức kinh nghiệm không phải là KN, muốn có KN con người phải vận dụng vốn tri thức và kinh nghiệm đó vào hành động và đạt kết quả
Khi xem xét KN cần lưu ý những điểm sau:
KN trước hết phải được hiểu là mặt kỹ thuật của hành động, KN bao giờ cũng gắn với một hành động cụ thể
Tính đúng đắn, sự thành thạo, linh hoạt, mềm dẻo là tiêu chuẩn quan trọng để xác định sự hình thành và phát triển KN Một hành động chưa thể gọi là KN nếu còn mắc nhiều lỗi và các thao tác diễn ra vụng về theo một khuôn mẫu cứng nhắc
KN không phải là cái bẩm sinh của mỗi cá nhân, đó là quá trình con người vận dụng tri thức và kinh nghiệm vào LV thực tiễn để đạt được mục đích đề ra KN là kết quả của một quá trình luyện tập
Từ những quan niệm trên ta thấy KN vừa là mặt kỹ thuật của hành động hay còn gọi là cách thức thực hiện hành động hay công việc cụ thể nào đó, vừa là biểu hiện năng lực của con người Cơ sở của KN là tri thức, kinh nghiệm đã có từ trước KN hình thành do luyện tập
Trên cơ sở những quan niệm về KN của các tác giả, chúng tôi quan niệm rằng:
KN là khả năng của con người thực hiện có kết quả một hành động nào đó trên cơ sở vận dụng những tri thức và kinh nghiệm tương ứng KN được hình thành do luyện tập
Theo K.K.Platonov và G.G.Golubev, KN hình thành qua 5 giai đoạn:
Mức 1: có KN sơ đẳng, hành động được thực hiện theo cách thử, dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm
Mức 2: biết cách thực hiện hành động nhưng không đầy đủ
Mức 3: có những KN chung nhưng còn mang tính rời rạc, riêng lẻ
Bước 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành động
Bước 2: Quan sát mẫu và làm thử mẫu
Trang 20Bước 3: Luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu, điều kiện hành động nhằm đạt được mục đích đề ra [14;32]
Mục đích là kết quả của hành động, định hướng cho hành động.Nếu chỉ dừng lại ở đây thì chưa có KN, chỉ là lý thuyết tri thức về hành động
Giai đoạn làm thử theo mẫu tiến tới hình thành KN, giúp con người đối chiếu với tri thức, tiến hành thao tác để giảm bớt sai sót trong quá trình hành động để đạt kết quả
Cuối cùng muốn có KN con người phải luyện tập Giai đoạn này, các tri thức được củng cố nhiều lần, các thao tác được ôn luyện có hệ thống, kết quả của hành động đạt được một cách chắc chắn hơn KN chỉ thực sự ổn định khi người ta hành động có kết quả trong những điều kiện khác nhau Việc luyện tập đạt được kết quả cao hay thấp phụ thuộc vào điều kiện luyện tập, đặc biệt là sự nỗ lực của cá nhân
Vấn đề hình thành KN được các tác giả trong và ngoài nước quan tâm Mỗi tác giả có những ý kiến khác nhau, song đều thống nhất KN được hình thành trong LV
Như vậy, quá trình hình thành KN là quá trình tiến hành hành động và luyện tập hành động trong thực tiễn đa dạng
1.2.2 Khái niệm nhóm
Trong xã hội loài người nhóm hình thành rất sớm Từ thời tiền sử, con người muốn tồn tại cần hình thành các nhóm Nhóm để chống thú dữ, nhóm để cùng săn bắn, xây dựng chỗ ở chống chọi với thiên nhiên…
Từ nhỏ chúng ta đã sống trong gia đình, nhóm bạn bè cùng xóm, cùng lớp học, cùng lứa tuổi…cho đến khi trưởng thành học tập và làm việc chúng ta đã vô tình hay
có ý thức tham gia vào rất nhiều nhóm Chỉ có điều chúng ta chưa tự hỏi vậy thì ta sẽ hòa mình vào nhóm như thế nào để làm việc hiệu quả nhất Và nhóm cũng đã làm gì giúp cho chúng ta và giúp nhóm hoạt động hiệu quả Do đó nghiên cứu, học tập về động thái nhóm rất quan trọng Từ đầu thế kỷ 20 đã có nhiều nghiên cứu về nhóm trong sản xuất công nghiệp, ảnh hưởng của nó tới năng suất lao động của từng người
và nhóm người cũng như tác động thay đổi hành vi, ứng xử của cá nhân Những phát hiện của các nhà xã hội học Âu - Mỹ cho thấy nhóm có tác động tích cực và cả tiêu cực đến mọi mặt hoạt động xã hội: giáo dục, sản xuất, nghiên cứu …Do đó mọi người cần được trang bị những kiến thức và kỹ năng về nhóm và làm việc nhóm
Trang 21Ngày nay, sống trong xã hội công nghiệp, mỗi cá nhân hoạt động trong một số nhóm Các tổ chức cũng tìm cách huy động tối đa khả năng làm việc và sáng tạo của các nhóm trong tổ chức của họ Các nhóm dự án được thành lập nhằm phát huy tối đa năng lực cạnh tranh trong sản xuất, sáng tạo sản phẩm mới, mẫu mã mới Người ta coi các nhóm làm việc là nhân tố cơ bản làm nên vốn nhân lực trong một tổ chức Nghiên cứu về nhóm làm việc càng trở nên quan trọng và bức thiết
Những kiến thức và hiểu biết về hoạt động nhóm do đó không những cần cho các nhà hoạt động xã hội, văn hóa, công tác thanh thiếu niên, các nhà giáo dục, nhân viên các dự án phát triển mà còn rất cần cho mọi người trong các lĩnh vực công nông nghiệp sản xuất ra của cải vật chất
Vậy nhóm là gì?
Khi nghiên cứu về “nhóm”, các tác giả đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau: Theo A V Petrovxki thì “Nhóm là một cộng đồng người thống nhất với nhau trên cơ sở một hay một số dấu hiệu chung có quan hệ với việc thực hiện LV chung và giao tiếp của họ” [2; 76]
Theo Marvin Shaw, nhà Tâm lí học phương Tây, ông cho rằng “Nhóm là cộng đồng người có từ ba người trở lên, giữa họ có sự tác động tương hỗ và ảnh hưởng lẫn nhau, tồn tại trong một thời gian nhất định, cùng nhau thực hiện LV chung” [2, ;76]
Trong cuốn Xã hội học nhập môn của J Fichter: “Nhóm là những kết hợp với nhau bởi những hành động tương hỗ dựa trên mô hình hành vi xác định”
Từ điển giản yếu Oxford của Gorden Mashall: “Nhóm là những cá nhân được xác định bởi tiêu chuẩn chính thức hoặc phi chính thức về quyền thành viên của nhóm,
họ là những người chia sẻ làm việc chung và gắn bó với nhau bởi mô hình quan hệ ổn định trong tương tác”
Theo W.King Robert (Tạp chí Giáo viên Toán – số 5/1986): Nhóm là một hiện tượng xã hội, một sự tập hợp của 2 hay trên 2 người trở lên có sự tác động lẫn nhau
Theo từ điển Tâm lý học của Vũ Dũng “Nhóm là cộng động có từ hai người trở lên, giữa các thành viên có chung lợi ích và mục đích, có sự tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình LV chung” [1; 561]
Theo Trần Hiệp: “Nhóm là một cộng đồng có từ hai người trở lên, giữa họ có một sự tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình thực hiện LV chung” [3, ;68]
Trang 22Theo Gs Trần Bá Hoành, nhóm (đội, ekip) là một tập thể nhỏ được hình thành
để thực hiện một hiệm vụ nhất định trong một khoảng thời gian nhất định
Ngoài ra còn có một số quan điểm khác về nhóm như: “Nhóm là tập hợp những
cá nhân có các KN bổ sung cho nhau, cùng nhau cam kết chịu trách nhiệm thực hiện mục tiêu chung”
Như vậy, Nhóm là tập hợp những những người có tổ chức, hợp tác và làm việc
theo những nguyên tắc nhất định, nhằm đạt tới mục tiêu và lợi ích chung
1.2.2.1 Sự hình thành và phát triển nhóm
Như con người, nhóm trải qua giai đoạn khai sinh, lớn lên, trưởng thành và kết thúc Biết được qui luật phát triển của nhóm, người phụ trách sẽ có những sách lược can thiệp phù hợp cho từng giai đoạn Các nhà ngiên cứu xác định năm giai đoạn phát
triển của nhóm là:
- Giai đoạn hình thành hay thành lập
- Giai đoạn bão tố hay hỗn loạn
- Giai đoạn ổn định hay hình thành các quy chuẩn
- Giai đoạn trưởng thành hay LV
- Giai đoạn kết thúc
Giai đoạn hình thành:
Một số người có nhu cầu và nguyện vọng giống nhau, liên kết với nhau thành một nhóm để đạt được nhu cầu hay nguyện vọng đó Họ chia sẻ cùng một mục đích và tìm cách đi tới đó
Ở giai đoạn này hai vấn đề chủ yếu là làm sao xác định được mục đích và tạo
sự đồng thuận cao của toàn nhóm về mục đích Kế đó là xác định những thành viên phù hợp nhất cho mục đích Việc khởi đầu này không dễ vì nếu cuộc tranh cãi về mục đích không đi tới đâu và kết nạp những thành viên không phù hợp thì nhóm có thể tan
rã
Trên đây là nói về các nhóm được thành lập Đối với các nhóm có sẵn thì khi có người lãnh đạo nhóm mới, sự thay đổi của nhiều thành viên hay sự thay đổi của mục đích thì nhóm cũng bàn bạc như khởi đầu lại Người lãnh đạo mới cũng phải thẩm định tình hình chung, làm quen với nhóm viên …
Trang 23Giai đoạn bão tố hay hỗn loạn
Sau giai đoạn làm quen, nhóm viên bắt đầu bộc lộ ý nghĩ và cảm xúc của mình
Va chạm khó tránh vì mỗi người một ý, với cá tính thái độ và những giá trị khác nhau… Mục đích chung tiếp tục được tranh cãi và các phương tiện để đạt tới mục đích phải chi tiết và khả thi hơn Truyền thông trong nhóm chưa suông sẻ, người ta chưa hiểu nhau đầy đủ Một số cá nhân muốn tự khẳng định có thể nổi lên với xu thế thống trị Những người này có thể được xem như lãnh đạo giả hiệu của thời kì đầu
Đây là một giai đoạn phát triển tất yếu, nhóm không nên nản lòng hay đốt cháy giai đoạn
Giai đoạn ổn định hay hình thành các quy tắc
Để làm việc có hiệu quả, nhóm viên đề ra các thủ tục làm việc như giờ giấc, phân công, xác định trách nhiệm, quyền hạn, phương thức truyền thông, cách ứng xử phù hợp… Nhóm được ổn định từ từ, bắt đầu tin tưởng lẫn nhau và khăng khít với nhau Nhóm viên sẵn sàng nghe ý kiến của người khác Những lãnh tụ tự nhiên chân chính xuất hiện để đóng góp tích cực Nhóm viên lao vào công việc, quan tâm đến lợi ích chung Họ tự hào về nhóm hơn Và khả năng giải quyết vấn đề được nâng lên Kế hoạch chung bắt đầu được bàn bạc với sự tham gia của mọi người
Giai đoạn trưởng thành và làm việc
Một khi ổn định về tổ chức, nhóm bắt đầu làm việc có hiệu quả để thực hiện kế hoạch đề ra Những mâu thuẫn giờ đây đã giảm nhiều Các nhóm viên tập trung vào vai trò và nhiệm vụ của mình Họ chí thú với mục đích chung Mọi thành viên tham gia vào việc xây dựng nhóm Các vấn đề nảy sinh được giải quyết trên cơ sở của sự đồng lòng nhất trí, có khi chưa cần đến quy tắc, luật lệ
Giai đoạn kết thúc
Mục đích đề ra cũng đến lúc hoàn thành Nhóm sinh hoạt hè sau mấy tuần vui chơi kết thúc để chuẩn bị năm học mới Ủy ban điều tra nọ phải chấm dứt nhiệm vụ đúng thời hạn Tổ lao động hoàn thành một đợt sản xuất Một HĐ đều phải kết thúc với một cuộc lượng giá để rút kinh nghiệm hay chuẩn bị cho giai đoạn mới Một nhóm
LV èo uột có thể tuyên bố giải thể bắt đầu lại với những con người mới, chương trình mới
Các giai đoạn không được phân chia một cách rạch ròi mà tiến triển theo khả năng riêng của từng nhóm
Trang 241.2.2.2 Phân loại nhóm làm việc
Từ “nhóm” có nghĩa chỉ một tập hợp từ hai người trở lên Có khi từ này dùng với nghĩa chung chỉ nhóm người rất rộng Khái niệm nhóm chúng ta dùng ở đây là nhóm tập hợp một số ngưới có mục tiêu chung, có tương tác với nhau, có xây dựng các quy tắc chung để thành viên tuân theo và các thành viên đảm nhận những vai trò rõ ràng Trong đó có thể chia nhóm thành hai loại chính: nhóm chính thức và nhóm phi chính thức
Nhóm chính thức
Nhóm chính thức - được thành lập bởi nhu cầu của tổ chức trên nhóm, có quyết
định thành lập và mục tiêu phải phù hợp với mục tiêu chung của tổ chức “ Cơ cấu chính thức biểu thị mối quan hệ xuất phát từ các vị trí, vai trò chính thức được công khai chỉ định hay bầu ra” [5; 25]
1.2.3 Khái niệm làm việc nhóm
a) Khái niệm làm việc nhóm
Theo Từ điển Tâm lý học của Vũ Dũng, làm việc của một nhóm người có những đặc điểm sau [11; 320]
- Cùng tham gia về phương diện không gian và thời gian của các thành viên tạo
ra khả năng tiếp xúc cá nhân trực tiếp giữa họ với nhau, trong đó có sự trao đổi hành động, thông tin, cũng như khả năng nhận thức lẫn nhau
- Có mục tiêu chung, trong đó kết quả làm việc được dự đoán trước phù hợp với lợi ích chung, góp phần thoả mãn những nhu cầu của mỗi thành viên
Trang 25Như vậy, chúng tôi quan niệm rằng: Làm việc nhóm là ở đó có sự tương tác qua lại giữa các thành viên Qua đó, các thành viên có cơ hội hợp tác, chia sẻ và hỗ trợ nhau nhằm đạt được mục tiêu chung của nhóm
Nhóm chỉ làm việc hữu hiệu khi:
- Mục tiêu rõ ràng đối với mọi người và được mọi người chấp nhận
- Truyền thông hai chiều, ý tưởng cũng như cảm xúc được bộc lộ
- Tiến trình lãnh đạo được chia sẻ, phân phối cho nhiều người, từ đó có sự tham gia cao
- Thủ tục lấy quyết định phù hợp với tình huống
- Trọng tâm đặt ở con người và các mối quan hệ đoàn kết giữa họ, sự đoàn kết
có được nhờ sự chấp nhận
- Khả năng giải quyết vấn đề cao
- Hiệu quả được cả nhóm đánh giá
- Có sự tương tác giữa các thành viên [8; 114]
❖ Lợi ích của làm việc nhóm
LVN là xu hướng chung của các tổ chức, doanh nghiệp, công ty trên thế giới, bởi vì:
LVN tạo điều kiện tăng năng suất và hiệu quả của công việc Nhiều nghiên cứu
đã chứng minh rằng, làm việc theo nhóm năng suất và hiệu quả của mỗi cá nhân cao hơn hẳn năng suất và hiệu quả trung bình của mỗi cá nhân khi làm việc riêng lẻ Vì trong nhóm, khi làm việc các KN và kinh nghiệm bổ trợ lẫn nhau “Một khái niệm cho thấy nhóm không chỉ tạo dựng một môi trường để các thành viên của nhóm tham gia công tác, mà còn cung cấp một nguồn năng lượng quan trọng nhằm kích thích các thành viên nhóm tích cực hơn nữa trong những nỗ lực nhằm đạt mục đích chung Động lực nhóm là nguồn lực tinh thần chung góp phần thúc đẩy các cá nhân tham gia cống hiến Động lực nhóm, vì thế đã trở thành sự cổ vũ, khích lệ các cá nhân nỗ lực nhiều hơn nữa Nó có giá trị to lớn hơn những giá trị của cá nhân hợp thành, nó gắn liền với danh dự tập thể và các cá nhân sẵn sàng tận dụng mọi khả năng đóng góp của mình vì
lợi ích của cả nhóm” [4; 254)]
LVN có thể giảm được một số nhân sự, khâu trung gian nên linh hoạt hơn Vì linh hoạt nên tổ chức dễ thay đổi để đối phó với thay đổi của môi trường, nắm bắt cơ hội và giảm thiểu nguy cơ Nhóm có thể tạo ra môi trường làm việc mà các kiến thức
Trang 26và kinh nghiệm của các cá nhân bổ trợ cho nhau, các quyết định đưa ra toàn diện và phù hợp hơn
Nhóm làm việc có đủ khả năng hoàn thành một dự án hoàn chỉnh trong khi mỗi
cá nhân chỉ có thể hoàn thành một phần việc Nhóm có thể tận dụng những gì tốt nhất của mỗi cá nhân trong công tác chuyên môn và cả ngoài chuyên môn Các thành viên
tự rút ra những gì tốt nhất để học hỏi lẫn nhau, cải thiện thái độ và ứng xử của mình.” Một điều chúng ta cần chú ý, hành vi của một thành viên trong nhóm luôn chịu ảnh hưởng của những đánh giá và những hành vi của các thành viên khác Động lực nhóm, nói cách khác còn là một hình thức tác động khi các nhóm viên hành xử dựa trên tiêu chuẩn chung của nhóm Xét ở mặt tiêu cực, động lực nhóm có thể là sức ép đối vối một cá nhân Xét ở mặt tích cực, động lực nhóm chính là một bộ phận quan trọng giúp các thành viên nhóm liên kết, gắn bó với nhau và thúc đẩy tinh thần đoàn kết Theo các nhà xã hội học, động lực nhóm chịu ảnh hưởng của nhóm, khi có nhiều hay ít thành viên, mức độ liên kết gắn bó của các thành viên nhóm, thái độ của các thành viên nhóm dành cho nhau và dành cho mục đích chung của nhóm, sức ép từ bên ngoài tác động đến nhóm Nhìn chung, động lực nhóm còn khuyến khích các thành viên có trách nhiệm trung thành với những qui định ( tiêu chí) của nhóm Vì tác động của động lực nhóm rất quan trọng đối với các thành viên nhóm, nên các nhà quản lý, các tổ chức, các cơ quan cần tìm ra các phương pháp tiếp cận nhóm khích lệ tinh thần hợp tác của các thành viên, tạo nên một khối thống nhất về mặt định hướng giá trị chung của mỗi thành viên” [4; 154]
Nhóm làm việc hiệu quả là nhóm hội tụ một số đặc điểm cơ bản như các thành viên hiểu rõ lý do tồn tại của nhóm; các nguyên tắc và quy chế được thảo luận, đồng thuận; thông tin trong nhóm thông đạt; các thành viên hỗ trợ nhau; có những quy tắc kiểm tra, đánh giá, khen thưởng rõ ràng
Để có những đặc điểm trên nhóm phải giữ giá trị căn bản của nhóm, lấy đó làm định hướng LV của mình chứ không phải là thi hành theo chỉ thị cấp trên Các nhiệm
vụ của cá nhân và nhóm được nêu rõ bằng các mục tiêu
Nhóm phải phối hợp lẫn nhau, sáng tạo Tuy nhiên những đặc điểm trên không phải là có ngay mà phải hình thành xây dựng dần dần trong các giai đoạn phát triển của nhóm Tác động tới sự làm việc hiệu quả của nhóm là các yêu tố bối cảnh, quy mô nhóm, …
Trang 27b) Làm việc nhóm trong học tập
Khi nghiên cứu về làm việc nhóm trong học tập, có các định nghĩa sau:
- A.T Francisco (1993): làm việc nhóm trong học tập là một phương pháp học tập mà theo phương pháp đó học viên trong nhóm trao đổi, giúp đỡ và hợp tác với nhau trong học tập Người học trao đổi ý tưởng và kiến thức với các thành viên khác của nhóm…các thành viên tham gia tích cực và hợp tác với nhau để lĩnh hội kiến thức
và kỹ năng mới [23]
- Theo Slavin “nhóm học tập là một nhóm nhỏ bao gồm năm bảy học sinh…Sau khi GV hướng dẫn, nêu ra mục đích của đề tài và phân phát các tài liệu…sau khi đọc tài liệu và thay nhau đặt câu hỏi để bạn trả lời, cả nhóm đưa ra ý kiến và nhận định về nội dung và mục đích của đề tài” [12; 384]
- Làm việc nhóm trong học tập là hình thức người học cùng nhau hợp tác trong nhóm để hoàn thành công việc chung Học tập theo nhóm không đơn thuần là chia người học thành từng nhóm để cùng giải quyết một câu hỏi khó mà một học sinh bình thường không thể giải quyết được, mà người học phải cùng nhau hợp tác trong học tập
để hoàn thành công việc chung
Như vậy, qua quan điểm của các tác giả về làm việc nhóm trong học tập, có thể thấy “Làm việc nhóm trong học tập cũng là hình thức học hợp tác” Học hợp tác (Cooperative Learning) là một quan điểm học tập rất phổ biến và đem lại hiệu quả giáo dục cao Quan điểm học tập này yêu cầu sự tham gia, đóng góp trực tiếp của người học vào quá trình học tập, đồng thời yêu cầu họ phải làm việc cùng nhau để đạt được kết quả học tập chung
Học hợp tác theo David Johnson và Roger Johnson (1999) phải hội đủ các yếu
tố sau [14; 115]:
a Sự phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực: các thành viên trong nhóm phải cùng nhau làm việc để hoàn thành mục tiêu chung Yếu tố này giúp các thành viên hiểu rằng đóng góp của mỗi cá nhân là một trong những yếu tố góp phần làm nên thành công của nhóm Mỗi người phải có trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ được giao
để cả nhóm hoàn thành nhiệm vụ chung Kết quả học tập của cả nhóm là công sức đóng góp của mỗi thành viên Mỗi thành viên không chỉ hoàn thành nhiệm vụ của mình mà còn phải tham gia giúp đỡ các thành viên khác để cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ chung của nhóm “Sự phụ thuộc lẫn nhau” tồn tại khi các thành viên trong
Trang 28nhóm gắn kết với nhau theo kiểu một cá nhân không thể thành công khi các thành viên khác thất bại Trong thực tế, khi yếu tố này không tồn tại, các thành viên trong nhóm không có cảm giác rằng họ đang làm việc chung, nên dễ dẫn đến cạnh tranh hay làm việc riêng lẻ Ngoài ra, “sự phụ thuộc” này còn giúp các thành viên biết quan tâm đến
ý kiến của nhau nhiều hơn và giao tiếp hiệu quả hơn Nếu một người trong nhóm không hoàn thành trách nhiệm của mình, cả nhóm phải cùng chịu trách nhiệm
b Sự tiếp xúc trực tiếp thúc đẩy sự hợp tác: giúp đỡ nhau học tập, ủng hộ những thành công và cố gắng của nhau Các thành viên trong nhóm phải gặp nhau thường xuyên để thảo luận nhiệm vụ chung của nhóm Trong các buổi thảo luận này, mọi người khuyến khích, động viên nhau cùng tham gia, cùng chia sẻ, giúp nhau cải thiện kết quả học tập hoặc tìm ra các nguồn tài liệu cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ chung Đây là cơ hội để các thành viên tiếp xúc với nhau nhiều hơn, lắng nghe người khác và đóng góp ý kiến của mình
c Trách nhiệm với tư cách “tôi” và tư cách “chúng ta”: mỗi thành viên phấn đấu cho mình và nhóm Mỗi cá nhân phải hiểu họ được tính điểm dựa trên đóng góp của mình cho nhóm, điều này giúp các thành viên chia đều trách nhiệm cùng nhau mà không đùn đẩy trách nhiệm cho nhau Khi các thành viên có trách nhiệm với nhau, họ
sẽ cùng nhau tạo nên động lực khuyến khích nhau học tốt hơn Mỗi thành viên trong nhóm chỉ được công nhận khi có đóng góp cho nhóm Khi thành tích cá nhân được nhóm công nhận, họ sẽ nỗ lực hơn và phấn đấu nhiều hơn cho thành công chung của nhóm
d Các KN trong nhóm nhỏ: bao gồm KN giao tiếp và KN học nhóm như cách trình bày một quan điểm, biết chia sẻ nguồn thông tin, tài liệu hay thuyết phục người khác hòa giải các ý kiến bất đồng, cùng nhau đưa ra quyết định và giải quyết vấn đề chung của nhóm Để đạt được lợi ích khi học nhóm, người học buộc phải có những
KN này Nhiều nghiên cứu cho thấy khi người học có đủ các KN trên, họ luôn có tinh thần hợp tác và sẵn sàng giúp đỡ người khác Ngược lại, khi không có KN giao tiếp thích hợp, họ thường gặp khó khăn trong quá trình làm việc chung, thiếu tự tin và luôn tạo ra những bất đồng Một trong những lý do khiến cá nhân bị đẩy ra khỏi nhóm là do
họ thiếu KN giao tiếp [50]
Những KN giúp cá nhân giao tiếp và làm việc hiệu quả trong nhóm:
* KN cá nhân
Trang 29- Nghe chủ động (nghe và góp ý kiến)
- Nhận xét công bằng
- Có trách nhiệm với hành vi của mình
- Biết phê bình, giải quyết bất đồng trên tinh thần xây dựng
* KN nhóm nhỏ
- Biết thay phiên nhau khi thảo luận
- Biết chia sẻ công việc
- Biết tham gia các quyết định dân chủ
- Biết hiểu quan điểm của người khác
- Biết phân biệt ý kiến đóng góp khác nhau của các thành viên
Đây là những KN không thể thiếu được và giúp người học thành công khi làm việc nhóm, nếu không sẽ dễ xảy ra tình trạng người học chỉ đơn giản là ngồi cạnh nhau, làm việc cá nhân chứ không cùng nhau học và làm việc hợp tác
Ngoài ra, khi hợp tác để hoàn thành mục tiêu chung mọi thành viên của nhóm cần phải:
- Tìm hiểu và tin tưởng nhau
- Trao đổi thông tin chính xác
- Cho và nhận sự giúp đỡ của nhau
- Giải quyết bất đồng trên tinh thần xây dựng
HS chỉ thật sự hợp tác cùng nhau trong học tập và thành công khi họ được dạy, trải qua quá trình luyện tập và được khuyến khích áp dụng những KN này trong học nhóm
e Đánh giá quá trình làm việc nhóm: đây là yếu tố quan trọng trong quá trình làm việc nhóm vì dựa vào đó nhóm biết được họ đang làm việc như thế nào và làm sao
để duy trì cách làm việc hiệu quả Khi các thành viên tham gia đánh giá đóng góp của
cá nhân cho làm việc chung của nhóm, nó sẽ thúc đẩy các thành viên phát huy năng lực cao hơn; khi các thành viên được đánh giá thường xuyên họ sẽ phải chú ý để giao tiếp hiệu quả hơn Ngoài ra, quá trình đánh giá nhóm còn giúp các thành viên duy trì các quan hệ làm việc hiệu quả và phát triển các KN học nhóm
Như vậy, làm việc nhóm trong học tập chỉ mang tính hợp tác khi người học tham gia vào các làm việc chung của nhóm Việc học tập của nhóm mang tính hợp tác hơn là tranh đua Mục đích học tập là lý do chính cho sự tồn tại của nhóm Công việc
Trang 30của nhóm sẽ không hoàn thành nếu không có sự đóng góp tích cực của từng cá nhân Thành viên trong nhóm phải nhận thức rằng nổ lực của mỗi cá nhân là điều kiện thiết yếu cho sự thành công của nhóm và của chính họ Vì thế họ phải dựa vào nhau, hỗ trợ nhau, cùng nhau bàn bạc trao đổi thông tin cũng như quan điểm riêng của mình và biết vận dụng các KN phân tích, tổng hợp, đánh giá để giải quyết vấn đề, hoàn thành công việc được giao
Trong học tập hợp tác, mục tiêu làm việc là chung của toàn nhóm nhưng mỗi
cá nhân được phân công một nhiệm vụ cụ thể, mỗi người đều có trách nhiệm riêng của mình LVN phải được tổ chức sao cho mỗi người đều đóng góp tích cực vào làm việc chung của nhóm Phân công nhiệm vụ phù hợp với khả năng của từng thành viên sẽ tạo điều kiện tối đa cho họ phát huy khả năng của mình, sự hoàn thiện của mỗi cá nhân
sẽ đóng góp cho thành công của nhóm Người học chỉ học tốt hơn và đạt thành tích cao hơn khi làm việc trong nhóm được tổ chức với đầy đủ các yếu tố trên
Trên cơ sở lý luận đã phân tích về nhóm, làm việc nhóm và hình thức LVN, chúng tôi xác định:
Làm việc nhóm trong học tập chính là hình thức học tập theo nhóm mà ở đó các thành viên trong nhóm phải hợp tác cùng nhau để hoàn thành nhiệm vụ học tập
LVN trong học tập chỉ đạt hiệu quả khi các thành viên trong nhóm biết:
- Xác định mục tiêu chung của nhóm
- Lắng nghe và chấp nhận người khác
- Trình bày quan điểm của mình
- Thảo luận và giải quyết vấn đề chung của nhóm
- Hợp tác và chia sẻ
1.2.4 Khái niệm kỹ năng làm việc nhóm trong học tập
a) Khái niệm kỹ năng làm việc nhóm
Chắc hẳn ai cũng đã từng tham gia vào một trò chơi đồng đội nào đó như: bóng
đá, bóng chuyền, bóng rổ, chèo thuyền, kéo co, đánh đu; các nhóm nhảy, múa, hát, đàn, Thành công của nhóm phụ thuộc vào quá trình tương tác và sự đóng góp của tất
cả các thành viên Một đội bóng thành công không có chỗ cho những kẻ lười biếng, trì trệ Một nhóm hát không thể thành công nếu có những thành viên thiếu sự nhiệt tình, hăng say và hành động “lỗi nhịp” so với nhóm Nhóm trong công việc cũng vậy, để đạt
Trang 31được thành công, không chỉ cần họ nói mà cần họ phải bắt tay với những người khác
để triển khai hành động một cách nghiêm túc
Trên thực tế có những người không hề thích thú với việc bắt tay hợp tác với người khác, không thể hòa hợp với người khác, không biết cách tạo ra các mối quan hệ tốt đẹp, thậm chí thường gặp phải những rắc rối hay xung đột với các thành viên trong nhóm vì một lẽ họ chưa có Kỹ năng làm việc nhóm
Vậy Kỹ năng làm việc nhóm là gì ?
Kỹ năng làm việc nhóm là khả năng tương tác giữa các thành viên trong một nhóm nhằm phát triển tiềm năng, năng lực của tất cả các thành viên và thúc đẩy hiệu quả công việc
b) Khái niệm kỹ năng làm việc nhóm trong học tập
KN LVN trong học tập được hình thành trước hết từ việc nhận thức đúng đắn
về LVN trong học tập, các thao tác kỹ thuật để thực hiện công việc, sau đó là phải thực hành và rèn luyện trong thực tiễn
❖ Các kỹ năng làm việc nhóm
+ Để làm việc nhóm đạt chất lượng cần đảm bảo nhiều kỹ năng Cụ thể:
- Kỹ năng lập kế hoạch làm việc nhóm: Có kỹ năng xây dựng một kế hoạch
làm việc cho nhóm một cách cụ thể, hợp lý, bao gồm: thứ tự công việc, nội dung công việc, thời gian, người chịu trách nhiệm sẽ đảm bảo cho mỗi thành viên chủ động và
có định hướng trong công việc của mình và của cả nhóm Điều này rất quan trọng, khi
có một kế hoạch hợp lí, thì tất nhiên kết quả làm việc nhóm luôn đạt được hiệu quả cao
- Kỹ năng xây dựng nội quy nhóm: Đã thành lập một nhóm học tập (hay
làm việc) dù lớn dù nhỏ đều cần thiết lập những nội quy, những nguyên tắc chung trong làm việc để mọi thành viên trong nhóm dựa vào đó mà thực hiện, đảm bảo sự quy cũ, nghiêm túc trong làm việc của nhóm và theo đó mà mọi thành viên trong nhóm luôn tuân theo nội quy và cố gắng làm việc
Trang 32- Kỹ năng phân công nhiệm vụ rõ ràng, hợp lý: (Điều này phụ thuộc vào
vai trò và khả năng chỉ đạo của nhóm trưởng) Khi công việc được phân công rõ ràng, phù hợp với năng lực và khả năng của mỗi thành viên họ sẽ ý thức được vai trò của mình, có trách nhiệm hoàn thành công việc Ngược lại, nếu phân công công việc không rõ ràng, không hợp lý, người thì phải đảm nhiệm quá nhiều việc, người lại không có việc để làm, kết quả là sự bất hợp tác sẽ tác động lớn đến chất lượng của làm việc nhóm và sản phẩm của nhóm dẫn đến kết quả làm việc nhóm sẽ không tốt
- Kỹ năng thảo luận, trao đổi: Điểm đặc trưng nổi bật nhất của làm việc
nhóm là sự hợp tác nhằm xây dựng một sản phẩm trí tuệ tập thể bằng việc thống nhất các ý kiến thông qua sự thảo luận, trao đổi giữa các thành viên trong nhóm Vì vậy đây
là một kỹ năng có vị trí rất quan trọng trong làm việc nhóm Thảo luận, trao đổi là làm việc đòi hỏi các thành viên phải tư duy và có tinh thần xây dựng ý kiến hết mình cho nhóm Để thảo luận, trao đổi có hiệu quả các thành viên trong nhóm cần có khả năng thuyết trình, diễn giải vấn đề sao cho mạch lạc, thuyết phục người nghe; khả năng đặt câu hỏi chất vấn; khả năng phản biện cũng như khả năng lắng nghe và tiếp thu ý kiến góp ý của các thành viên khác Thông qua thảo luận, trao đổi chúng ta có thể nhận biết được cách tiếp cận vấn đề, quan niệm riêng của từng thành viên, mức độ tác động lẫn nhau giữa các thành viên Kỹ năng này không chỉ giúp ta thống nhất được ý kiến mà còn giúp mỗi thành viên học hỏi lẫn nhau, giúp nhau cùng phát triển
- Kỹ năng nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu tài liệu là một kỹ năng cần
thiết trong làm việc nhóm vì các bài tập nhóm thường là những vấn đề rộng đòi hỏi HS
tự tìm tòi, nghiên cứu qua các tài liệu Muốn nghiên cứu tài liệu hiệu quả cần biết cách tìm kiếm tài liệu, biết đánh giá, chọn lọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu theo những vấn đề mình cần tìm Có kỹ năng nghiên cứu tài liệu sẽ giúp mọi thành viên trong nhóm tìm kiếm được nhiều thông tin làm phong phú hơn bài tập của nhóm và tìm ra kết qua nhanh nhất, không cần phải mắc nhiều thời gian để tìm tài liệu cũng như để học sinh tự học nhiều hơn là phải đi làm việc nhóm
- Kỹ năng chia sẻ trách nhiệm: Để cho làm việc của nhóm đạt chất
lượng và không khí làm việc trong nhóm vui vẻ, đoàn kết mọi thành viên cần phải chia
sẻ trách nhiệm với nhau và phải biết giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn Biết chia sẻ hợp
lý trách nhiệm và thông cảm giữa các thành viên sẽ tạo động lực giúp làm việc nhóm đạt hiệu quả cao hơn
Trang 33- Kỹ năng lắng nghe một cách chủ động, tích cực: Lắng nghe một cách
hiệu quả giúp tiết kiệm thời gian, hạn chế rắc rối, thắt chặt hơn các mối quan hệ Trong làm việc nhóm, kỹ năng lắng nghe là rất cần thiết vì lắng nghe là phương pháp cơ bản
để tập hợp thông tin Mục tiêu của lắng nghe là để hiểu, học hỏi, thưởng thức, giúp đỡ,
hỗ trợ Khi một thành viên đưa ra ý kiến thì các thành viên khác cũng phải biết lắng nghe một cách rõ ràng để nhận xét và đưa ra cái kết luận cuối cùng
- Kỹ năng chia sẻ thông tin: Làm việc nhóm nghĩa là hợp tác trên cơ sở
chia sẻ kiến thức và thông tin từ nhiều người để hoàn thiện bài tập chung một cách tốt nhất Vì vậy, kỹ năng chia sẻ thông tin là rất cần thiết Trong nhóm có nhiều người chia sẻ thông tin, lượng thông tin càng nhiều, càng phong phú, là một điều kiện để sản phẩm nhóm đạt chất lượng cao Đồng thời các thông tin đó phải được các thành viên trong nhóm chọn lọc một cách kĩ càng để bài làm được tốt hơn
- Kỹ năng giải quyết xung đột: Trong một nhóm tồn tại quá nhiều cái tôi
cá nhân nên không thể tránh khỏi những xung đột gây ra sự bất hòa trong nhóm Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm Tất nhiên mâu thuẫn là động lực cho sự phát triển nhưng khi mâu thuẫn quá mức thì sẽ không tốt cho sự hợp tác trong nhóm
Vì vậy, kỹ năng giải quyết xung đột là rất quan trọng đối với làm việc nhóm, đặc biệt
là với người nhóm trưởng (vì nhóm trưởng là người chịu trách nhiệm điều hòa các mối quan hệ trong nhóm mình) Bên cạnh đó, các thành viên trong nhóm phải luôn bình tĩnh để có thể giải quyết các xung đột, làm cho các thành viên gắn kết với nhau nhiều hơn
- Kỹ năng tự kiểm tra - đánh giá làm việc của nhóm: Để làm việc nhóm
ngày càng đạt hiệu quả thì nhóm cần phải thường xuyên tự kiểm tra - đánh giá làm việc của mình để tự điều chỉnh kịp thời (nếu thấy cần thiết) Đồng thời, tự kiểm tra - đánh giá cũng là cách để phát hiện, biểu dương các thành viên tích cực, phê bình những thành viên còn thiếu ý thức nhằm tạo thêm động lực cho các thành viên trong nhóm nhiệt tình hơn với làm việc chung Sự công bằng trong đánh giá phải đặc biệt được coi trọng bởi nó là nguyên nhân chính thúc đẩy hay kìm hãm động lực làm việc của các thành viên Tự kiểm tra - đánh giá ở đây gồm 2 nội dung:
+ Tự kiểm tra - đánh giá sự tham gia làm việc nhóm của các thành viên trong nhóm
Trang 34+ Tự kiểm tra - đánh giá làm việc của nhóm (mặt tốt, mặt hạn chế nhằm có biện pháp khắc phục)
1.3 Những vấn đề cơ bản về làm việc nhóm
1.3.1 Đặc điểm của làm việc nhóm
Làm việc nhóm là một cách học đòi hỏi mỗi thành viên trong nhóm cùng thực hiện một cam kết làm việc nhất định không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên mà dựa trên sự hợp tác và phân công công việc hợp lý trong nhóm
Làm việc nhóm được biểu hiện:
+ Mọi thành viên trong nhóm đều hướng đến mục tiêu chung nhất định + Có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên
+ Có trách nhiệm, lợi ích liên tới trong sản phẩm nhóm
Nếu làm việc nhóm được tổ chức và điều khiển một cách khoa học và hợp lý
sẽ đem lại rất nhiều lợi ích Cụ thể:
- Làm việc nhóm tạo môi trường thuận lợi giúp cho học sinh có cơ hội phát biểu, trao đổi và học tập lẫn nhau, cùng nhau tiềm hiểu, phát hiện kiến thức mới Những học sinh yếu kém nay có cơ hội được học tập ở những bạn giỏi hơn và những học sinh khá, giỏi không chỉ hoàn thành nhiệm vụ vủa mình mà còn phải giúp đỡ các bạn yếu hơn hoàn thàn tốt nhiệm vụ dược giao Hình thành cho các em tinh thần tự chủ, đoàn kết, hợp tác giúp đỡ nhau trong học tập và làm việc
- Làm việc nhóm giúp học sinh phát triển năng lực xã hội Giúp học sinh phát triển kĩ năng sử dụng ngôn ngữ, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng thảo luận, kĩ năng bảo
vệ ý kiến, kĩ năng giải quyết mâu thuẫn …v v… Làm việc nhóm giúp những học sinh nhút nhát, thiếu tự tin có cơ hội phát biểu, trình bày ý kiến của mình và từ đó trở nên tự tin, năng động, mạnh dạn hơn trước tập thể
- Làm việc nhóm giúp học sinh phát triển năng lực làm việc Học sinh có
cơ hội phát huy kỹ năng sáng tạo, đánh giá, tổng hợp, phân tích, so sánh… Học sinh biết giải quyết các vấn đề tình huống, trong học tập một cách phù hợp, hiệu quả và sáng tạo và từ những vấn đề và tình huống đó học sinh sẽ rút ra được những kinh nghiệm, bài học quý giá cho bản thân
Tuy nhiên, nếu sử dụng kỹ năng làm việc nhóm không đúng cách, không phù hợp với nội dung và thiếu kỹ năng thực hiện thì có thể chỉ mang tính hình thức, gây
Trang 35mất nhiều thời gian, sản phẩm không mang tính tập thể, các cá nhân thiếu tích cực sẽ đùn đẩy cho những người năng nổ, nhiệt tình
Chính vì vậy để làm việc nhóm thực sự đem lại kết quả cao mỗi thành viên trong nhóm cần nhận thức đúng đắn về trách nhiệm của mình, cùng rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm thật hiệu quả
1.3.2 Nguyên tắc làm việc nhóm
Johnson D.W và Johnso R.T là đại diện của trường phái nguyên tắc, đã tổng kết thành “5 nguyên tắc vàng” cho làm việc nhóm và khẳng định: Bất kì một làm việc nhóm nào cũng phải đảm bảo 5 nguyên tắc này Nếu thiếu 1 trong 5 nguyên tắc thì làm việc nhóm sẽ thất bại
Nguyên tắc 1: Phụ thuộc tích cực
Nguyên tắc này cho rằng mỗi thành viên chỉ thành công khi những người bạn trong nhóm cũng thành công Môi trường có sự phụ thuộc tích cực khuyến khích người học chia sẻ kiến thức, thông tin và sự bổ trợ nhau ở mức cao nhất với mong muốn cả mình và nhóm đều hoàn thành công việc Người học phải được đặt trong một tình huống học tập mà mỗi thành viên đều tin rằng họ sẽ thành công hoặc chịu thất bại với nhau
Bốn điều kiện của nguyên tắc này là:
- Mục đích học tập cùng nhau: mỗi thành viên đều hoàn thành phần công việc được giao và kiểm tra để các thành viên khác cùng hoàn thành
- Phần thưởng hoặc điểm chung
- Phân chia công việc
- Phân chia vai trò
Nguyên tắc 2:Trách nhiệm cá nhân
Nguyên tắc thứ hai là yêu cầu trách nhiệm và phần việc cá nhân phải được phân công rõ ràng và có sự kiểm tra đánh giá với các thành viên còn lại trong nhóm Nhóm phải biết từng thành viên đang làm gì, gặp khó khăn, thuận lợi gì Nguyên tắc này đảm bảo không ai có thể làm hết mọi công việc trong khi những người khác ngồi chơi Theo quan điểm của Johnson D W và Tohnson R.T, mục đích của việc học nhóm là để rèn luyện cho mỗi cá nhân sau này thành những thành viên riêng lẻ mạnh
mẽ Những phương pháp cơ bản để đảm bảo cho nguyên tắc này là: Học nhóm nhưng
Trang 36kiểm tra cá nhân, chọn một thành viên bất kì để trả lời, một thành viên tự giải thích về phần việc của mình
Nguyên tắc 3: Tương tác tích cực trực tiếp
Nguyên tắc này đòi hỏi các thành viên trong nhóm phải có tối đa các cơ hội
để giúp đỡ, động viên, khuyến khích lẫn nhau trong quá trình làm việc Việc các thành viên trong nhóm trực tiếp làm việc cùng nhau không những thúc đẩy các làm việc học
mà còn tạo được tình đoàn kết gắn bó, tôn trọng và bình đẳng Để thực hiện nguyên tắc này, nhóm phải được sắp xếp để làm việc trực tiếp và ngồi đối diện với nhau trong một nhóm nhỏ có số lượng thành viên không quá 4
Nguyên tắc 4: Kĩ năng xã hội
Nguyên tắc này yêu cầu các thành viên phải được cung cấp các kiến thức
về kĩ năng xã hội cần thiết trước khi làm việc nhóm Theo Johnson D.W, Johnson R.T
kĩ năng xã hội không tự nhiên mà có mà phải được truyền thụ và dạy dỗ Kĩ năng lãnh đạo, đưa ra quyết định, xây dựng lòng tin, giao tiếp, xử lý xung đột, cổ vũ, động viên, nhận xét, lắng nghe, trình bày, báo cáo,…là những kiến thức xã hội mà mỗi thành viên cần phải được đào tạo để đảm bảo quá trình làm việc nhóm có hiệu quả
Nguyên tắc 5: Đánh giá rút kinh nghiệm
Nguyên tắc cuối cùng yêu cầu các thành viên phải có cơ hội thảo luận và nhận xét về quá trình làm việc của nhóm ở các nội dung sau:
▪ Nhóm đã hoàn thành mục tiêu đề ra chưa?
▪ Nhóm đã làm việc hiệu quả chưa?
▪ Mối quan hệ giữa các thành viên đã tốt chưa?
▪ Những việc gì các thành viên làm nên được lặp lại?
▪ Những việc gì không nên? Tại sao? v.v
Việc đánh giá này giúp các thành viên:
Tập trung vào việc xây dựng nhóm
Học các kĩ năng xã hội
Tạo cơ hội để mỗi thành viên có thể nhận xét và lắng nghe ý kiến của bạn
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề làm việc nhóm có hiệu quả
Lí luận và thực tiễn đã chứng minh rằng: tron làm việc nhóm có nhiều yếu
tố ảnh hưởng, có thể theo hai chiều hướng là tích cực hoặc tiêu cực Nếu xét theo chiều
Trang 37hướng tích cực, chúng tôi nhận thấy các yếu tố sau đây sẽ làm làm việc nhóm đạt hiệu
quả cao
Nhận thức đúng đắn về làm việc nhóm của học sinh
Để làm việc làm việc nhóm đạt kết quả, trước hết mọi thành viên trong nhóm cần phải hiểu rõ thế nào là làm việc nhóm, có những nhận thức đúng đắn về những ưu thế của làm việc nhóm, từ đó mới thấy được trách nhiệm của bản thân và có định hướng làm việc nhóm đạt hiệu quả Nếu các thành viên quan niệm lệch lạc về làm việc nhóm thì chắc chắn làm việc học tập nhóm đó sẽ không thể có hiệu quả và kết quả
sẽ không đạt được cái đích đã đặt ra mà nhóm đã dự định
Cơ cấu tổ chức làm việc nhóm
+ Một nhóm muốn làm việc hiệu quả cần phải có cơ cấu tổ chức chặt chẽ
Cơ cấu của nhóm gồm:
- Một nhóm trưởng có trách nhiệm tổ chức, điều hành mọi làm việc của nhóm, nhóm trưởng có thể do các thành viên trong nhóm bầu lên hoặc do giáo viên chỉ định Đồng thời người nhóm trưởng phải có đầy đủ năng lực để có thể tồ chức làm việc của nhóm một cách khách quan và hiệu quả nhất
- Một nhóm phó (nếu quy mô nhóm lớn) để thay thế, hỗ trợ nhóm trưởng khi nhóm trưởng vắng mặt và có trách nhiệm điều hành làm việc của nhóm thay cho nhóm trưởng
- Một thư ký để ghi chép nội dung, diễn biến các cuộc họp, thảo luận của nhóm, thư ký có thể được thay đổi theo từng cuộc họp nhóm hoặc cố định từ đầu đến cuối
+ Nhóm phải quy định rõ trách nhiệm cụ thể của từng vị trí trong nhóm, xây dựng mối quan hệ gắn kết giữa các thành viên trong nhóm, các thành viên còn lại trong nhóm phải luôn tích cực và chủ động tham gia giải quyết vấn đề chung của nhóm
Vai trò của người trưởng nhóm trong quá trình làm việc nhóm
Trong làm việc của một nhóm, người trưởng nhóm đóng vai trò vô cùng quan trọng, là người chịu trách nhiệm trước thầy cô, tập thể lớp về làm việc của nhóm,
là người điều hành và tổ chức công việc của nhóm, đảm bảo cho nhóm đi đúng hướng,
là người động viên thôi thúc mọi người và tháo gỡ khó khăn khi cần thiết Chính vì vậy, người trưởng nhóm sẽ góp phần quyết định thành công của một nhóm học tập
Trang 38Nếu một nhóm có người trưởng nhóm có năng lực về học tập và quản lý (kỹ năng điều hành nhóm), có lòng nhiệt tình và được các thành viên tin tưởng, yêu mến thì chắc chắn nhóm đó sẽ làm việc có chất lượng và đạt hiệu quả cao Đồng thời mọi thành viên trong nhóm bầu ra nhóm trưởng phải tuân theo theo sự sắp xếp hợp lí của nhóm trưởng, để nhóm trưởng tự tin và có thể làm việc tổ chức có hiệu quả
Các kỹ năng làm việc nhóm
Kỹ năng làm việc nhóm hiệu quả là tổng hợp của nhiều kỹ năng quan trọng như: kỹ năng lập kế hoạch làm việc nhóm, kỹ năng xây dựng nội quy nhóm, kỹ năng phân công nhiệm vụ rõ ràng, hợp lý, kỹ năng thảo luận và trao đổi, kỹ năng nghiên cứu tài liệu, kỹ năng chia sẻ trách nhiệm, kỹ năng lắng nghe một cách chủ động và tích cực, kỹ năng chia sẻ thông tin, kỹ năng giải quyết xung đột, kỹ năng tự kiểm tra đánh giá làm việc của nhóm Vì thế, muốn làm việc nhóm thành công, đạt kết quả cao trong học tập, và luôn luôn có sự hợp tác, đoàn kết lắng nghe và chia sẻ giữa các thành viên trong nhóm để hiểu nhau hơn, hỗ trợ và giúp đỡ nhau thì mỗi cá nhân trong nhóm cần chú trọng phát triển bản thân và tin tưởng, hỗ trợ lẫn nhau vì mục tiêu chung Mình vì mọi người thì mọi người sẽ vì mình Đó là yếu tố đem lại thành công và kết quả tốt trong học tập của mỗi người chúng ta
Ý thức của các thành viên khi tham gia làm việc nhóm
Làm việc nhóm nên sự hợp tác là rất quan trọng, đòi hỏi các thành viên trong nhóm phải có tinh thần tự giác, tích cực vì công việc tập thể cũng chính là việc của mình Mỗi thành viên phải ý thức được trách nhiệm của mình đối với nhóm, phải hiểu rằng mình là một mắt xích trong “cỗ máy” nhóm, một mắt xích không đảm bảo thì ảnh hưởng đến sự vận hành của cả cỗ máy Vì vậy, mỗi thành viên phải có thái độ làm việc nghiêm túc, tích cực cùng cả nhóm thực hiện mục tiêu chung một cách hiệu quả nhất
Kỹ năng làm việc nhóm
Chất lượng của một nhóm học tập phụ thuộc rất nhiều vào kỹ năng mà nhóm đó sử dụng Kỹ năng ở đây, chính là cách thức tiến hành làm việc nhóm mà nhóm sử dụng nhằm đạt mục tiêu mà nhóm đặt ra Có kỹ năng làm việc khoa học và phù hợp với điều kiện của nhóm, phù hợp với từng nội dung bài tập chắc chắn sẽ đem lại hiệu quả cho làm việc nhóm Đồng thời trong quá trình sử dụng các kỹ năng cần
Trang 39lưu ý, chúng ta không chỉ sử dụng một kỹ năng mà có thể vận dụng nhiều kỹ năng khác nhau để giải quyết bài tập
Một số các điều kiện khác
- Chủ đề thích hợp: Chủ đề phải phù hợp cho làm việc nhóm (thể hiện sự
cần thiết phải làm việc theo nhóm), học sinh có đủ những kiến thức cơ sở để thực hiện chủ đề làm việc và có năng lực để giải quyết vấn đề một cách nhanh chống Yếu tố này cũng tác động không nhỏ đến chất lượng làm việc nhóm
- Đảm bảo các điều kiện: cơ sở vật chất, phương tiện để thực hiện làm việc
nhóm như: bàn ghế, tài liệu, máy tính, mạng internet, không gian, thời gian để tiến trình làm việc nhóm không bị ngắt đoạn
- Sự hướng dẫn của giáo viên: tất nhiên học ở đại học chủ yếu là tự học, tự
nghiên cứu nhưng nếu khi giao bài tập nhóm cho HS, giáo viên có hướng dẫn về cách làm việc nhóm nhằm định hướng làm việc cho HS thì chắc chắn sẽ làm cho hiệu quả làm việc nhóm được nâng cao hơn, đặc biệt là với những khóa HS mới vào trường còn hay lúng túng nếu như có sự giúp đỡ của giáo viên thì kết quả làm việc nhóm sẽ tốt hơn rất nhiều
- Sự đánh giá và kết luận của giáo viên: cũng tác động không nhỏ đến
chất lượng làm việc nhóm Sau khi các nhóm làm việc cho ra các sản phẩm, nếu giáo viên đánh giá chi tiết mặt tốt, chưa tốt của sản phẩm, so sánh các sản phẩm của các nhóm với nhau để học sinh nhận ra được những ưu, khuyết của mình, sau đó giáo viên nêu lên kết luận (đưa ra chân lý khoa học) thì học sinh sẽ hiểu sâu sắc và nắm vững vấn đề; đồng thời HS sẽ quyết tâm hơn trong lần làm bài tiếp theo Ngược lại, nếu giáo viên không đánh giá sản phẩm và sự làm việc của học sinh sẽ khiến học sinh mất đi hứng thú và động lực làm việc và như vậy làm việc nhóm sẽ không thể có hiệu quả
- Độ lớn của nhóm: cũng được coi là một yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng
làm việc nhóm Số lượng phù hợp cho một nhóm là từ 3 đến 7 người, nếu quá ít hoặc quá nhiều người trong một nhóm đều khó phát huy được sự hợp tác của các thành viên trong giải quyết các nhiệm vụ của nhóm Nếu quá ít thì một người làm sẽ rất nhiều, còn quá nhiều thì sẽ dẫn đến tình trạng người làm hay không làm, làm cho việc làm nhóm sẽ không công bằng
Trang 40Tóm lại làm việc theo nhóm là cách thức học tập và làm việc rất hay và xoay quanh nó cũng rất nhiều điều thú vị Cách đánh giá hiệu quả của nó chịu tác động của nhiều yếu tố Trong quá trình làm việc thì cũng rất cần có một kiến thức cũng như
kinh nghiệm mới có thể có hiệu quả
1.4 Những đặc điểm tâm lý cơ bản của học sinh lứa tuổi tiểu học
Học sinh tiểu học là những thực thể hồn nhiên, tiềm ẩn những khả năng phát triển vô cùng to lớn Đồng thời, thế giới tâm hồn của các em cũng hết sức nhạy cảm và rất dễ bị tổn thương Vì thế, mọi tác động từ phía giáo viên đến học sinh không chỉ đòi hỏi khoa học cao mà còn phải đạt tới trình độ nghệ thuật Tình yêu trẻ là động lực thôi thúc giáo viên tiểu học sáng tạo, kiên nhẫn, miệt mài trong công việc Còn lòng yêu nghề giúp giáo viên khắc phục khó khăn để luôn được gần gũi, tiếp xúc với học sinh, mãi mãi giữ cho tinh thần hăng hái, trí tuệ minh mẫn, tình cảm nhạy bén để dạy cho học sinh cái mà xã hội hiện đại đòi hỏi Để xứng đáng đại diện cho trí tuệ thời
đại, người thầy phải học suốt cuộc đời
Điều 2 Luật phổ cập giáo dục Tiểu học viết: Giáo dục tiểu học là bậc học
nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm, đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ và thể chất của trẻ em, nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa Thật vậy, muốn trẻ học tập thật tốt trước tiên phải chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đi học cho trẻ em vào học lớp một, đây là bước ngoặt quan trọng
1.4.1 Đặc điểm sinh lý
Các nhà tâm lý cho rằng, thời kì trẻ 6 tuổi dến trường là thời kì thuận lợi nhất cho sự phát triển trí tuệ Ở giai đoạn này, trẻ đã có những tiền đề cần thiết: sự chín muồi đến trường về mặt tâm sinh lý, nhận thức, trí tuệ, ngôn ngữ và tâm thế… để
có thể thích nghi bước đầu với diều kiện học tập tại lớp 1
Về cơ thể, hệ thống cơ – xương của trẻ em trở nên vững chắc hơn, các cơ quan hoạt động ngày càng hoàn thiện, hoạt động tim mạch tương đối ổn định, trọng lượng não tăng lên rõ rệt 90% trọng lượng não có người lớn, những thùy trán tăng lên một cách đặc biệt và giữ vai trò lớn trong sự hình thành những chức năng cao cấp và phức tạp nhất của hoạt động tâm lý người, các quá trình thần kinh hưng phấn và ức chế cân bằng hơn Các giác quan nhận rõ được hình thù, màu sắc, âm thanh, tính chất (cứng, mềm, nóng, lạnh) của đồ vật, của cơ quan vận động phối hợp được tay chân và toàn thân giữ được thăng bằng trong cử động, dùng ngón tay, bàn tay, thao tác được một số dụng cụ đơn giản Tuy nhiên, ở thời diểm này sự phối hợp các cơ ngón tay