1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu Kinh tế học vi mô bài giảng 5 doc

18 591 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những ứng dụng của phân tích độ thỏa dụng: Trợ cấp so với Trợ giá
Tác giả Dennis McCornac, Đặng Văn Thanh, Trần Hoàng Thị, Nguyễn Quý Tâm, Trần Thị Hiếu Hạnh
Chuyên ngành Kinh tế học vi mô
Thể loại Bài giảng
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 180 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều ta muốn xác định là tác động đối với người tiêu dùng; hành vi của họ sẽ thay đổi như thế nào theo từng loại chương trình.. Giả sử chính phủ áp dụng một chương trình trợ giá đơn vị ở

Trang 1

KINH TẾ HỌC VI MÔ

BÀI GIẢNG 5 NHỮNG ỨNG DỤNG CỦA PHÂN TÍCH ĐỘ THỎA DỤNG Trợ cấp so với Trợ giá

Tác Giả: Dennis McCornac, Ðặng Văn Thanh, Trần Hoàng Thị, Nguyễn Quý Tâm, Trần Thị Hiếu Hạnh, FETP, Fulbright Economics Teaching Program

Ta thường thấy cuộc tranh luận về chính sách công khi chính phủ muốn khuyến khích việc tiêu dùng một món hàng là nên cho hẳn người

ta khoản trợ cấp (bằng đô la hoặc bằng những cơ chế như tem phiếu lương thực) hay là nên trợ giá món hàng đó

Ví dụ, chính phủ có thể hạ giá món hàng cho người tiêu dùng bằng cách bồi hoàn cho họ (trực tiếp hoặc gián tiếp) một phần giá mua Như vậy món hàng $2, người tiêu dùng có thể chỉ tốn $1, nếu như chính phủ quyết định trợ giá món hàng 50% Vậy nếu một người xài 50 đơn

vị, chính phủ chi ra $50 Một khả năng khác là đơn giản đưa cho người

đó $50 Trong trường hợp nào thì chi phí đối với chính phủ cũng như nhau

Điều ta muốn xác định là tác động đối với người tiêu dùng; hành vi của

họ sẽ thay đổi như thế nào theo từng loại chương trình

Điều đầu tiên ta phải mô tả là chi phí của một chương trình trợ giá Hãy xem xét ví dụ đơn giản sau đây

Trang 3

Giả sử một người có thu nhập I = $3 và PX = $1 Như vậy người này phải ở đâu đó trên đường giới hạn ngân sách ban đầu (không thể hiện đường đẳng dụng) Giả sử chính phủ áp dụng một chương trình trợ giá đơn vị ở mức $0,50/đơn vị – đối với người tiêu dùng giá sẽ giảm từ một đô la xuống 50 xu (và như vậy đường giới hạn ngân sách của người này sẽ xoay như biểu diễn ở trên)

Như mô tả trên đồ thị, sau khi chương trình trợ giá được áp dụng, người này xài 2 đơn vị X

Giờ đây người tiêu dùng tiêu bao nhiêu vào món hàng này? Với giá 50

xu một đơn vị, người này đã tiêu $1 (như vậy cô ta còn $2 để tiêu vào tất cả mọi thứ khác) Nếu không có chương trình trợ giá thì để mua hai đơn vị cô ta sẽ phải tốn $2, và chỉ còn $1 để tiêu vào AOGs (tất cả mọi thứ khác)

Chính phủ chi bao nhiêu? Với 50 xu một đơn vị, chính phủ tốn $1.

Đường mang tên “chi phí trợ giá nếu người này tiêu dùng hai đơn vị” trên đồ thị mô tả điều này – đó là khoảng cách theo chiều đứng giữa đường giới hạn ngân sách ban đầu và đường giới hạn ngân sách “sau-trợ giá”

Đây là cách ta đọc chi phí chương trình – đó là khoảng cách thẳng đứng giữa hai đường giới hạn ngân sách Và bởi vì trục Y bây giờ được

đo lường bằng đô la, ta có thể đọc chi phí bằng đô la của chương trình

So sánh các Chương trình

Bây giờ giả sử chính phủ quyết định sẽ đơn giản chuyển tiền cho các

cá nhân – đúng số tiền mà mỗi người nhận được với chương trình trợ giá đơn vị Điều gì sẽ xảy ra?

Trên đồ thị ta có thể dễ dàng biểu diễn điều này bởi vì đó chỉ là sự dịch chuyển đường giới hạn ngân sách ban đầu ra ngoài $1 – người này sẽ trả giá một đô la nhưng giờ đây có $4 thu nhập

Điều này có thể mô tả như sau:

Trang 4

Lượng hàng hoá X

Như bạn có thể thấy trên đồ thị chi phí của hai chương trình là như nhau –trợ giá của chương trình đơn vị là $1 (như hình vẽ) và chi phí của chương trình chuyển giao là $1 Chương trình sau dịch chuyển

đường giới hạn ngân sách ban đầu (3,3) ra ngoài, tới đường giới hạn ngân sách mới (4,4).

Như ta dự kiến, người này tiêu dùng ít X hơn bởi vì cô ta phải trả giá cao hơn (một đô la thay vì 50 xu) nhưng lưu ý rằng cô ta ở trên đường đẳng dụng cao hơn

Như vậy có sự đánh đổi Nếu muốn làm cho người ta càng sung sướng càng tốt thì chỉ việc chuyển tiền thẳng cho họ Nếu ta quan tâm hơn đến việc họ tiêu dùng hàng X thì thực hiện chương trình trợ giá đơn vị

Tất nhiên, điều này có ý nghĩa về mặt chính sách công Người tiêu dùng thường quan tâm nhiều hơn đến việc chuyển tiền thẳng (an sinh

xã hội hay giảm thuế); nhưng người sản xuất lại quan tâm nhiều hơn đến trợ giá đơn vị

Trang 5

Tóm tắt

Để tóm tắt cách dùng công cụ đường đẳng dụng này, hãy xem xét đồ thị sau đây:

AB là đường giới hạn ngân sách ban đầu

AE là đường giới hạn ngân sách với chương trình trợ giá đơn vị

CD là đường giới hạn ngân sách với chương trình chuyển tiền

Với chương trình trợ giá đơn vị, người này đạt đường đẳng dụng U2 Mũi tên biểu diễn chi phí bằng đô la của chương trình

Với chương trình trợ cấp tiền mặt, người này có thể đạt đường đẳng dụng U3 Cô ta tiêu dùng ít X hơn (ít hơn trong chương trình trợ giá đơn vị) nhưng lại sung sướng hơn bởi vì U3>U2

Đường Cung Lao động

Thông thường, những đường cung ta dùng để phân tích thường bẹt hoặc dốc lên Đường cung lao động cũng thường như vậy Tuy nhiên,

có thể có đường cung lao động cong ngược Điều đó nghĩa là gì? Nghĩa

là số lượng cung lao động trên thực tế lại giảm đi khi tiền lương tăng lên

Theo trực giác, dễ nhận biết là điều này đúng Nếu ai đó tăng tiền lương của tôi lên $500 một giờ, tôi có thể sẽ làm nhiều giờ hơn trong

Trang 6

mỗi tuần Tuy nhiên, nếu ai đó tăng tiền lương của tôi lên một triệu đô

la một giờ, tôi sẽ chỉ làm một hoặc hai giờ một năm (hoặc có thể là mãi mãi)

Như vậy, có thể vẽ đồ thị có hình dáng như sau:

Khi tiền lương đi từ W1 tới W2, người này tăng số lượng cung lao động

từ L1 tới L2 Tuy nhiên, cuối cùng người này giảm số lượng lao động muốn làm, ngay cả ở mức lương W3 cao hơn nhiều, cô này cũng chỉ làm như ở mức L2

Ta có thể giải thích hành vi này như thế nào?

Ta có thể giải thích bằng cách xem xét đồ thị lao động/ nghỉ ngơi?

Đồ thị Lao động – Nghỉ ngơi

Ta có thể dùng phân tích đường đẳng dụng để xem xét quyết định cung lao động Ta bắt đầu bằng cách thừa nhận chúng ta có thể làm hai điều với thời giờ của mình: làm việc hoặc nghỉ ngơi Ta có thể đặt những điều này trong bất

cứ khoảng thời gian nào chúng ta muốn, giả sử một tuần

Về lý thuyết ta có thể xài 168 giờ nghỉ ngơi trong một tuần (24 giờ một ngày trong 7 ngày) Hay ta có thể làm việc cùng số thời gian

đó – giả sử ta có thể được trả $10 một giờ Thu

Trang 7

nhập tối đa ta có thể kiếm được trong một tuần là bao nhiêu? $1.680

Độ dốc đường ngân sách của ta là bao nhiêu?

Đó là mức tiền lương – điều này hoàn toàn hợp

lý bởi vì chi phí của nghỉ ngơi là tiền lương mất

đi của tôi Nếu tôi nằm trên giường trong một giờ, tôi bỏ mất $10 – đó là chi phí cho sự nghỉ ngơi của tôi

Thứ nhất, ta hãy xem xét tác động của tăng lương Hai điều xảy ra khi lương tăng Một là chi phí nghỉ ngơi giờ đây cao hơn Nhớ rằng chi phí để có nghỉ ngơi chỉ đơn giản là cái mà tôi từ

bỏ – trong mô hình này là tiền lương Như vậy, nếu chi phí nghỉ ngơi cao hơn tôi sẽ xài nó ít hơn (ứng dụng đơn giản của định luật cầu); xài

ít nghỉ ngơi hơn nghĩa là tôi làm việc nhiều hơn

Thứ hai, nếu tiền lương tăng lên, thu nhập của tôi cũng tăng lên đối với mọi số lượng giờ lao động Trong mô hình này ta công nhận nghỉ ngơi là một hàng hóa Và chắc hẳn đó là hàng hóa thông thường Vậy điều gì xảy ra với hàng hóa thông thường khi thu nhập của ta tăng lên? Ta tiêu dùng nhiều món hàng đó hơn Nếu

Trang 8

ta xài nhiều nghỉ ngơi hơn nghĩa là ta làm việc

ít hơn

Như vậy giá tăng có hai tác động với hàm ý trái ngược nhau Lương cao hơn làm cho chi phí của nghỉ ngơi cao hơn, do vậy tôi sẽ xài ít

đi, nhưng thu nhập của tôi cao hơn, tôi lại muốn xài nhiều nghỉ ngơi hơn Liệu tôi làm việc nhiều hơn, ít hơn hay như trước, tất cả tùy thuộc vào tác động nào là lớn nhất Ta có thể

mô tả một phần điều này trên đồ thị sau

Tác động thứ nhất là điều chúng ta gọi là tác động thay thế – chi phí nghỉ ngơi cao hơn

nghĩa là tôi thay thế nghỉ ngơi bằng lao động

Tác động thứ hai được gọi là tác động thu nhập – khi thu nhập của tôi tăng lên, tôi muốn

tiêu dùng nhiều hơn một món hàng thông thường

Trong đồ thị bên trên, khi ta đi từ W1 sang W2, tác động thay thế lớn hơn tác động thu nhập Làm sao chúng ta biết được? Bởi vì giờ đây tôi làm việc nhiều hơn – trên đồ thị, ta đọc số lượng lao động từ phải sang trái, như vậy khi

đi từ L1 sang L2 nghĩa là tôi làm việc nhiều hơn (và như vậy xài ít nghỉ ngơi hơn)

Trang 9

Trong khoảng W2 đến W3, hai tác động này bằng nhau, nghĩa là chúng cân bằng lẫn nhau bởi vì với lương cao hơn, W3, tôi chỉ làm việc như khi lương là W2

Như vậy để tóm tắt: Khi lương tăng, thì:

Nếu SE > IE (tác động thay thế > tác động thu nhập), ta làm việc nhiều hơn.

Nếu SE = IE (tác động thay thế = tác động thu nhập), ta làm việc như cũ

Nếu SE < IE (tác động thay thế < tác động thu nhập), ta làm việc ít hơn.

Mô hình tiêu dùng theo thời gian

Khi ta so sánh tiêu dùng của một cá nhân với thu nhập của người đó

thì một trong những vấn đề khó khăn là người ta không chỉ xét thu

nhập hiện tại của mình khi quyết định tiêu dùng Thực ra, ta thường

quan sát thấy là các cá nhân có khuynh hướng dàn đều tiêu dùng của họ

Người ta dàn đều tiêu dùng của họ bằng cách nào? Bằng cách vay và

cho vay Khi thu nhập tương đối cao, người ta tiết kiệm, và khi thu nhập thấp, người ta có khuynh hướng vay mượn (hay rút bớt tiết kiệm) Sự tồn tại của thị trường vốn cho phép các cá nhân tách biệt quyết định sản xuất khỏi quyết định tiêu dùng

Ta có thể mở rộng mô hình đường đẳng dụng để giải thích hiện tượng này

Để bắt đầu phân tích ta hãy làm một số giả định đơn giản hóa mà sau này có thể bỏ bớt Thứ nhất, giả sử một người chỉ xem xét thu nhập năm nay và năm tới của mình Giả định này có thể dễ dàng mở rộng

về sau Thứ hai, giả sử tôi có thể vay và cho vay với cùng một lãi suất Thứ ba, giả sử tôi có được thu nhập của mình vào đầu năm

Một khi ta biết thu nhập của cá nhân trong năm một và năm hai, ta có thể xây dựng đuờng giới hạn ngân sách Ta sẽ đặt gì trên trục X và trục Y; ta đang vẽ đồ thị tiêu dùng trong năm một (trên trục X) và tiêu dùng trong năm hai (trên trục Y)

Giả sử I1= $10.000 và I2ø = 20.000 Điều này cho ta đường giới hạn ngân sách sau:

Trang 10

Các giá trị gốc từ đâu mà ra? Đầu tiên, hãy xem tiêu dùng trong năm hai Tung độ gốc nghĩa là số tiền tôi có thể tiêu trong năm hai nếu không tiêu trong năm một Trong trường hợp đó, tôi sẽ để dành toàn

bộ thu nhập của mình và đầu tư nó với lãi suất 10% Nếu làm như vậy, tôi sẽ có thu nhập năm hai $20.000 cộng với thu nhập năm một

$10.000 cộng với lãi kiếm được trong năm một $1.000 – bằng

$31.000

Giá trị gốc của tiêu dùng trong năm một từ đâu mà ra? Cách diễn giải

kinh tế của tung độ gốc là số tiền tôi có thể tiêu trong năm một nếu không tiêu gì cả trong trong năm hai Điều này nghĩa là bây giờ tôi sẽ vay tối đa và hoàn trả trong năm hai – khi tôi nhận thu nhập $20.000

Bây giờ tôi có thể vay bao nhiêu nếu thu nhập tương lai là $20.000?

Đó sẽ là $18.181,82 ; lãi của khoản vay đó là $1.818,18 Như vậy

$18.181,82 + $1.818,18 = $20.000

Hẳn anh chị sẽ nhận ra rằng $18.181,82 chỉ là hiện giá của $20.000 sau một năm với lãi suất 10%:

Số tiền tôi có thể vay cộng với thu nhập hiện tại của tôi là giá trị gốc

$28.181,82

Độ dốc đường ngân sách được quyết định bởi lãi suất Với mỗi đồng đô

la tôi tiêu trong năm một, tôi bỏ đi bao nhiêu trong năm hai? Câu trả lời là $1,1 – đó đơn giản là 1 + lãi

Trang 11

Ý nghĩa của điều này là đối với tôi, một đô la trong tương lai (một năm sau) hiện chỉ đáng giá 91 xu Hay cũng diễn tả hệt điều này theo cách khác thì một đô la hôm nay đáng giá $1,1 sau một năm

Về trực giác, những gì ta đang trình bày là, khi tôi vay tiền để tiêu bây giờ, nghĩa là tôi đang tiêu một phần trong thu nhập tương lai của tôi – đây chính là điều người ta làm khi đang đi học (thu nhập hiện tại thấp, thu nhập tương lai cao) Nếu bây giờ tôi cho vay tiền (tiết kiệm bằng cách để tiền trong ngân hàng), nghĩa là tôi đang chuyển cái có thể đã

là tiêu dùng hiện tại thành tiêu dùng tương lai

Khi tôi có thể vay hay cho vay, nghĩa là một thị trường vốn đang hiện hữu, thị trường này tách biệt thu nhập và những quyết định tiêu dùng của tôi theo thời gian.

Người này đang vay hay cho vay?

Cô ta đang vay $5.000 năm nay Việc này cho phép cô ta tăng tiêu dùng trong năm một – lưu ý, mặc

dù thu nhập của cô chỉ là $10.000,

cô ta đang tiêu $15.000 Nhưng hẳn nhiên điều này ảnh hưởng tới

số tiền cô có thể tiêu trong năm

hai – giờ đây cô ta có thể tiêu tối đa bao nhiêu trong năm hai?

Trang 12

Sau khi hoàn trả khoản vay $5.000 cộng lãi $500, cô ta sẽ có $14.500

để tiêu Sau đây là ví dụ về một người tiết kiệm:

Người này tiết kiệm $2.000 trong năm một Với lãi suất là 10%, cô ta

sẽ kiếm được $200 lãi để tiêu dùng năm sau Do vậy, tiêu dùng trong năm hai của cô sẽ là $22.200 – số tiền có được từ $20.000 thu nhập,

$2.000 tiết kiệm trong năm một,

và $200 lãi

Điểm quan trọng phải nhấn mạnh lại là sự hiện diện của những thị trường vốn (nơi ta có thể vay hay cho vay) làm tách biệt sản xuất (thu nhập) của chúng ta khỏi tiêu dùng Một khi tôi biết thu nhập của tôi trong một giai đoạn hai năm (hay hai giai đoạn), tôi có thể lựa chọn mô hình tiêu dùng ở bất cứ đâu trên đường giới hạn ngân sách ban đầu

Những thay đổi về lãi suất

Một điều khác với phân tích đường đẳng dụng bình thường là cách

Trang 13

thức đuờng giới hạn ngân sách thay đổi ứng với giá của tiêu dùng (tức lãi suất)

Giả sử lãi suất bỗng tăng lên đến 20% Điều gì xảy ra trên đồ thị của ta?

Nhớ rằng ta luôn có thể tiêu xài đúng cái ta sản xuất (thu nhập);

do vậy, bất cứ đường giới hạn ngân sách nào cũng phải đi qua những điểm này – thực vậy, bất cứ đường giới hạn ngân sách nào cũng sẽ xoay quanh điểm đó

Điều này được mô tả như sau đối với lãi suất tăng lên 20%:

Ta tính giá trị tung độ gốc đúng như cách đã dùng ở trên ngoại trừ bây giờ ta dùng lãi suất 20% (hay 0,20) Như vậy nếu ta tiết kiệm $10.000 trong năm một, ta sẽ có $32.000 để tiêu trong năm hai, tức $20.000 thu nhập, $10.000 tiết kiệm, và $2.000 lãi Tương tự, ta có thể vay nhiều nhất trong năm một là $16.667 (tức $20.000/1,2), như vậy ta

có thể tiêu nhiều nhất trong năm một là $26.667

Trang 14

Tác động của tăng lãi suất đối với người vay

Câu trả lời cho điều này được thể hiện rõ ràng trên đồ thị:

Như anh chị có thể lập tức thấy rằng cô ta không thể vay $5.000 được nữa Vì vậy, cô ta sẽ vay ít hơn – điều đó là rõ, còn ít hơn bao nhiêu thì tùy vào ý muốn của cô ta

Trong trường hợp này, cả tác động thu nhập (thu nhập thấp hơn) và tác động thay thế (giá cao hơn, tức lãi suất) đều tác động cùng chiều Điều này sẽ không đúng đối với người vay nếu lãi suất giảm xuống – anh chị có thể thấy tại sao không?

Cũng lưu ý rằng người này rõ ràng bị thiệt hại bởi vì lãi suất tăng lên

Tác động của tăng lãi suất đối với người tiết kiệm

Xét tác động của việc lãi suất tăng lên 20% đối với người tiết kiệm (ở trên); như anh chị thấy, ý nghĩa khá mơ hồ

Trang 15

Trong đồ thị trên, ta thấy rằng người tiêu dùng tiết kiệm hơn (cô ta hạ thấp tiêu dùng của mình trong năm một) Tuy nhiên, rất có thể là điểm cân bằng của cô ta, tức điểm mà cô tối đa hóa độ thỏa dụng, nằm trên đường giới hạn ngân sách có độ dốc lớn hơn khiến cô tiết kiệm ít hơn Điều này có thể bằng cách nào?

Hãy xét hai tác động mà ta có Tác động thay thế, lãi suất tăng sẽ

cho cô ta động cơ để tiết kiệm hơn (nghĩa là chi phí của việc tiêu dùng

hôm nay cao hơn) Tuy nhiên, tác động thu nhập (lưu ý trên đồ thị

ta thấy cô ta rõ ràng là sung sướng hơn) cho cô ta động cơ để tiêu dùng nhiều hơn cho hôm nay (tức tiết kiệm ít hơn) Vì vậy, hai tác động có hướng ngược chiều

Chỉ

số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng được coi là thước đo giá sinh hoạt Những chỉ số này được dùng rộng rãi để phân tích kinh tế trong cả khu vực tư và công Ví dụ, mức giá mà tại đó các công ty trao đổi hàng hóa với nhau

Ngày đăng: 12/12/2013, 18:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị Lao động – Nghỉ ngơi - Tài liệu Kinh tế học vi mô bài giảng 5 doc
th ị Lao động – Nghỉ ngơi (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w