1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Tài liệu Cổ phần hóa trong các doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam ppt

42 498 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cổ Phần Hóa Trong Các Doanh Nghiệp Nhà Nước Tại Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Tài liệu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 318 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Luật doanh nghiệp 2005, doanh nghiệp được định nghĩa: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kýkinh doanh theo quy định của

Trang 1

MỤC LỤC

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 3

I.Doanh nghiệp 3

1.Khái niệm: 3

2.Phân loại: 5

2.1 Theo nguồn gốc sở hữu 5

2.2.Căn cứ vào tư cách pháp lý của doanh nghiệp 10

2.Đặc điểm của cổ phần hóa 12

3.Nội dung của cổ phần hóa 13

3.1 Mục tiêu cổ phần hóa 13

3.2.Nguyên tắc cổ phần hóa 14

3.3.Nội dung cổ phần hóa 15

III.Nhân tố ảnh hưởng đến cổ phần hóa 19

1.Chính sách vĩ mô của nhà nước và sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ 19

2.Sự tồn tại, hoạt động và phát triển của thị trường tài chính 19

3.Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, trang thiết bị máy móc và công nghệ của doanh nghiệp 20

4.Tư tưởng, tâm lý và quyền lợi của những người liên quan 20

1.2.Đối với nhà nước 29

1.3.Đối với người lao động 30

2.2.1.Nguyên nhân từ phía chính quyền, Nhà nước: 32

2.2.2.Nguyên nhân từ phía doanh nghiệp: 34

I.Đổi mới tổ chức chỉ đạo thực hiện quá trình cổ phần hoá DNNN 35

1.Xác định đối tượng thực hiện CPH: 35

2.Xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch CPH doanh nghiệp Nhà nước 36

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Đây vừa là cơ hộivừa là thách thức đối với vấn đề phát triển kinh tế của đất nước Thực tế cho thấy,chúng ta đã thu được nhiều thành tựu đáng khích lệ Tuy nhiên, nền kinh tế thịtrường này vẫn còn phải đối diện với những khó khăn, thử thách và bất ổn

Một trong khó khăn và bất ổn đó là sự yếu kém và làm việc không hiệu quảcủa các khu vực nhà nước nói chung và của các doanh nghiệp nhà nước nói riêng.Khi cơ chế thay đổi, các khuyết điểm này bộc lộ rõ ràng và các doanh nghiệp nhànước lâm vào tình trạng sa sút, khủng hoảng

Nhận thức được vấn đề đó, Đảng và Nhà nước ta đã có một số biện phápnhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế Nhà nước, trong đó có cácDoanh nghiệp nhà nước Và một trong những giải pháp quan trọng đó là tiến hành

cổ phần hóa doanh nghiệp nhà Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước là một chủtrương của Đảng và Nhà nước ta nhằm huy động thêm nguồn vốn của xã hội vàosản xuất kinh doanh, tạo động lực mạnh mẽ, cơ chế quản lý năng động nhằm sửdụng hiệu quả nguồn vốn của Nhà nước cung cấp cũng như toàn xã hội, nhằm tăngsức cạnh tranh của các doanh nghiệp trên trường quốc tế Cổ phần hóa doanhnghiệp Nhà nước là một nhu cầu, một thực tế khách quan trong quá trình xây dựngnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Các công ty cổ phần sẽ là loạihình doanh nghiệp phổ biến do thu hút được nguồn vốn rộng rãi trong xã hội, táchđược quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn trong sản xuất kinh doanh

Chính vì vậy việc nghiên cứu về cổ phần hoá trong thời điểm hiện nay tuykhông phải là mới mẻ nhưng lại rất cần thiết Thông qua việc tìm hiều nội dung củachính sách cổ phần hoá và các vấn đề có liên quan, chúng ta sẽ có những đánh giákhách quan hơn về hiệu quả cũng như những khó khăn hạn chế của cổ phần hoá, từ

đó có thể đưa ra một số giải pháp nhằm tháo gỡ những hạn chế đó

Trang 3

Nhận thấy tính quan trọng và cấp thiết của vấn đề cổ phần hóa các doanh

nghiệp Nhà nước, em chọn đề tài: “Vấn đề cổ phần hóa trong các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam”

Đề án gồm 3 phần:

Chương I: Cơ sở lý luận về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Chương II: Thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam Chương III: Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình cổ phần hóa các

Trang 4

có chức năng chủ yếu là hoạt động kinh doanh Trong điều kiện kinh tế thị trường,doanh nghiệp là chủ thể chủ yếu của quan hệ pháp luật kinh doanh Tồn tại nhiềuquan điểm khác nhau về doanh nghiệp.

Quan điểm nhà tổ chức: doanh nghiệp là một tổng thể các phương tiện, máy móc thiết bị và con người được tổ chức lại nhằm đạt một mục đích

Quan điểm lợi nhuận: doanh nghiệp là một tổ chức sản xuất Thông qua đó,trong khuôn khổ một tài sản nhất định, người ta kết hợp nhiều yếu tố sản xuất khácnhau, nhằm tạo ra những sản phẩm và dịch vụ để bán trên thị trường và thu khoảnchênh lệch giữa giá thành và giá bán sản phẩm

Quan điểm chức năng: doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh nhằmthực hiện một, một số, hoặc tất cả các công đoạn trong quá trình đầu tư từ sản xuấtđến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện các dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi

Quan điểm lý thuyết hệ thống: doanh nghiệp là một bộ phận hợp thành trong

hệ thống kinh tế, mỗi đơn vị trong hệ thống đó phải chịu sự tác động tương hỗ lẫnnhau, phải tuân thủ những điều kiện hoạt động mà nhà nước đặt ra cho hệ thốngkinh tế đó nhằm phục vụ cho mục đích tiêu dùng của xã hội

Theo Luật doanh nghiệp 2005, doanh nghiệp được định nghĩa: Doanh nghiệp

là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kýkinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt độngkinh doanh

Nhìn chung, các quan điểm chỉ là cách diễn đạt, xem xét trên các góc độ khácnhau Doanh nghiệp có những đặc điểm pháp lý cơ bản sau đây:

Thứ nhất, Là tổ chức kinh tế, có tư cách chủ thể pháp lý độc lập;

Thứ hai, Doanh nghiệp được xác lập tư cách (thành lập và đăng ký kinh

doanh) theo thủ tục do pháp luật quy định;

Thứ ba, Có nghề nghiệp kinh doanh.

Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp với tính chất là thực thể kinh tế - xãhội, là cơ sở thực tiễn cho sự ra đời và phát triển của pháp luật về doanh nghiệp

Trang 5

2 Phân loại:

Có nhiều tiêu chí để phân loại doanh nghiệp Dưới đây là 2 tiêu chí phân loạihay được sử dụng

2.1. Theo nguồn gốc sở hữu

Phân loại doanh nghiệp theo nguồn gốc sở hữu, doanh nghiệp được chia rathành các loại hình doanh nghiệp sau:

2.1.1 Doanh nghiệp nhà nước:

Hiện nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về doanh nghiệp nhà nước Cóngười cho rằng doanh nghiệp nhà nước là các xí nghiệp công làm nhiệm vụ sựnghiệp (cảnh sát, cứu hoả, y tế, giáo dục ) Có quan niệm lại cho rằng: doanhnghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chứcquản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mụctiêu kinh tế-xã hội do nhà nước giao

Tại Việt Nam, theo điều 1 Luật doanh nghiệp nhà nước số 14/2003/QH11được Quốc hội khóa 11 thông qua 26/11/2003: Doanh nghiệp nhà nước là tổ chứckinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối,được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty tráchnhiệm hữu hạn Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có quyền và nghĩa

vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi sốvốn do doanh nghiệp quản lý Doanh nghiệp nhà nước có tên gọi, con dấu riêng và

có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam

Doanh nghiệp Nhà nước là một trong những loại hình doanh nghiệp Do vậy,doanh nghiệp Nhà nước mang đặc điểm chung của doanh nghiệp và các loại hìnhdoanh nghiệp khác

Một là, chức năng kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước bao gồm: sản

xuất-cung ứng trao đổi, hợp tác và tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá dịch vụ

Hai là, doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân Tư cách pháp nhân của

doanh nghiệp nhà nước là điều kiện cơ bản quyết định sự tồn tại của doanh nghiệpnhà nước trong hệ thống kinh tế quốc dân Tư cách pháp nhân của doanh nghiệp

Trang 6

nhà nước đòi hỏi doanh nghiệp nhà nước phải tự chịu trách nhiệm về quản lý, vềnghĩa vụ tài chính trong việc thanh toán những khoản công nợ khi doanh nghiệpphá sản hay giải thể Với tư cách là một pháp nhân độc lập, doanh nghiệp nhà nước

có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuấtkinh doanh Tư cách này tạo cho doanh nghiệp nhà nước địa vị pháp lý để đảm bảođộc lập tự chủ

Ba là, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước cũng chịu

sự chi phối và tác động của môi trường kinh tế

Ngoài ta, doanh nghiệp nhà nước còn có những đặc điểm khác biệt so với cácloại hình doanh nghiệp khác Đó là:

Một là, doanh nghiệp nhà nước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền trực tiếp

ra quyết định thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nướcgiao Như vậy doanh nghiệp nhà nước không chỉ được thành lập để thực hiện cáchoạt động kinh doanh (nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế) mà còn để thực hiệncác hoạt động công ích (nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội) Các loại hình doanhnghiệp khác không phải do nhà nước thành lập mà chỉ được nhà nước cho phépthành lập trên cơ sở đơn xin thành lập của các chủ thể kinh doanh

Hai là, doanh nghiệp nhà nước do nhà nước tổ chức quản lý Nhà nước tổ

chức bộ máy quản lý các doanh nghiệp nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng;nhà nước bổ nhiệm các cán bộ chủ chốt của doanh nghiệp, phê duyệt chiến lược,quy hoạch, kế hoạch dài hạn hay trung hạn của doanh nghiệp

Ba là, tài sản của doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận tài sản của nhà

nước Doanh nghiệp nhà nước do nhà nước đầu tư vốn thành lập nên nó thuộc sởhữu nhà nước Doanh nghiệp nhà nước là một chủ thể kinh doanh không có quyền

sở hữu đối với tài sản mà chỉ là chủ quản lý và tiến hành hoạt động kinh doanh trên

số tài sản của nhà nước Trong khi đó, các chủ thể kinh doanh khác đều là chủ sởhữu với tài sản kinh doanh của họ

Trang 7

Căn cứ vào Luật doanh nghiệp 2005, khái niệm doanh nghiệp tư nhân đượcnêu như sau: Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tựchịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanhnghiệp.

Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp tư nhân nước ta đã được định vị từ năm 1990 khi Luật Doanhnghiệp tư nhân và Luật Công ty được ban hành Sau khi Luật Doanh nghiệp 1999

ra đời, doanh nghiệp tư nhân có bước phát triển khá nhanh Luật Doanh nghiệp

2005 đã đặt doanh nghiệp tư nhân lên một vị thế mới: bình đẳng trong kinh doanhvới doanh nghiệp nhà nước

Công ty hợp danh là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây:

- Phải có ít nhất hai thành viên hợp danh; ngoài các thành viên hợp danh còn

có thành viên góp vốn

- Thành viên hợp danh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn và uy tín nghềnghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa

vụ của công ty (Trách nhiệm vô hạn )

- Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trongphạm vi số vốn đã góp vào công ty

- Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân

- Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào

Như vậy, công ty hợp danh có hai loại: Công ty hợp danh mà tất cả các thànhviên đều là thành viên hợp danh và công ty hợp danh có cả thành viên hợp danh vàthành viên góp vốn

2.1.4 Công ty trách nhiệm hữu hạn

Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp, trong đó:

 Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản kháccủa doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp;

Trang 8

 Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tạiĐiều 32 của Luật Doanh nghiệp.

 Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quánăm mươi

Có 2 loại công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH)

Các nhà đầu tư trở thành những cổ đông chính thức của công ty khi thực hiệnmua các cổ phần do công ty phát hành Cổ đông được quyền tham gia quản lý,kiểm soát, điều hành công ty thông qua việc bầu cử và ứng cử vào các vị trí trongBan quản lý, Ban kiểm soát và Ban điều hành Ngoài ra, cổ đông còn được quyềnhưởng các khoản lợi nhuận do công ty tạo ra cũng như chịu lỗ tương ứng với mức

Giá trị mỗi cổ phiếu gọi là mệnh giá cổ phiếu Một cổ phiếu có thể phản ánhmệnh giá của một hay nhiều cổ phần Việc góp vốn vào công ty được thực hiệnbằng việc mua cổ phần Mỗi cổ đông có thể mua nhiều cổ phần

Một đặc điểm về vốn của công ty Cổ phần nữa là sự linh hoạt trong việcchuyển nhượng, mua bán những cổ phiếu tự do Như vậy sẽ chẳng khó khăn gì cho

Trang 9

những người muốn rút vốn kinh doanh hay muốn tham gia kinh doanh thêm trongcông ty Cổ phần Nghĩa là việc chuyển từ sở hữu này sang sở hữu khác diễn ra rấtmau lẹ mà công ty vẫn có thể hoạt động bình thường.

- Về thành viên

Thành viên của công ty cổ phần thường là rất đông nhưng khi thành lập vàtrong suốt quá trình hoạt động ít nhất phải có ba thành viên tham gia công ty cổphần Đối tượng có thể là cá nhân hoặc tổ chức

- Về trách nhiệm

Công ty cổ phần chịu trách nhiệm bằng tài sản của công ty Các cổ đôngchịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn đã góp vàocông ty (đến hết giá trị cổ phần mà họ sở hữu)

- Về tư cách pháp nhân

Công ty cổ phần là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấpGiấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Vì vậy, công ty cổ phần được hưởng quychế pháp lý của Nhà nước, có tư cách bên nguyên để kiện các pháp nhân khác đồngthời cũng có thể bị các pháp nhân khác kiện

- Về phát hành chứng khoán

Công ty cổ phần có quyền phát hành các loại chứng khoán để huy động vốn

Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở

hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành Chứng khoán được thểhiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm cácloại sau đây: Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua cổ phần, chứngquyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoánhoặc chỉ số chứng khoán

Là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập hoặc nhà đầu tư nướcngoài hợp tác với một bên hoặc nhiều bên Việt Nam thành lập tại Việt Nam Doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam được thành lập và hoạt động theoLuật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 12.11.1996, Nghị định số 10/1998/NĐ -

Trang 10

CP ngày 23.1.1998 của Chính phủ và nhiều văn bản pháp lí khác Chính phủ ViệtNam bảo đảm thực hiện ổn định, lâu dài chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài tạiViệt Nam, khuyến khích và dành ưu đãi đặc biệt đối với các dự án đầu tư thuộcdanh mục các dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư và danh mục các địa bàn khuyếnkhích đầu tư Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có đủ tư cách pháp nhân,hoạt động tuân theo pháp luật của Việt Nam và không bị quốc hữu hoá.

2.2 Căn cứ vào tư cách pháp lý của doanh nghiệp

Doanh nghiệp được chia thành:

• Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân

• Doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân

Theo luật dân sự năm 2005, pháp nhân là một tổ chức có đầy đủ các điều kiệnsau:

Quyền và nghĩa vụ khi có tư cách pháp nhân:

• Pháp nhân có năng lực pháp luật dân sự kể từ thời điểm pháp nhân đượcthành lập

• Người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền củapháp nhân nhân danh trong quan hệ dân sự

• Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình về việcthực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiệnnhân danh pháp nhân

Trang 11

• Một tổ chức có tư cách pháp nhân thì tổ chức đó có năng lực hành vipháp luật dân sự, được xác lập các quan hệ giao dịch dân sự một cáchđộc lập

Như vậy, doanh nghiệp có tư cách pháp nhân bao gồm các quyền và nghĩa vụnhư luật dân sự quy định

II Cổ phần hóa

1. Khái niệm cổ phần hóa và cổ phần hóa DNNN

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một trong những hướng quan trọngcủa quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước – bộ phận không thể thiếu trongthành phần kinh tế nhà nước Trong đổi mới kinh tế, một vấn đề lớn được đặt ra làphải phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất và từng bước xây dựng quan hệ sảnxuất mới phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất Để giải phóng lực lượng sảnxuất, tất yếu phải phát triển mạnh mẽ nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, xóa

bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang cơ chế thị trường và xây dựngthể chế kinh tế thị trường, đa dạng hóa các hình thức sở hữu, trong đó kinh tế nhànước đóng vai trò chủ đạo Muốn vậy, phải đổi mới mạnh mẽ các doanh nghiệpnhà nước Theo hướng đó, sau nhiều năm tìm tòi và thử nghiệm trong thực tế,

Đảng ta đã lựa chọn cổ phần hóa như một phương thức có hiệu quả để đổi mới các doanh nghiệp nhà nước như các Nghị quyết 3 và Nghị quyết 9 của Ban Chấp

hành Trung ương khóa IX đã chỉ rõ

Thuật ngữ CPH xuất hiện ở Việt Nam cuối những năm 1980 đầu những năm

1990, gắn với công cuộc cải cách DNNN Cho đến nay, dường như mọi người mặcnhiên sử dụng thuật ngữ CPH, mà chưa quan tâm nhiều tới việc định nghĩa hay đưa

ra 1 khái niệm đầy đủ cho thuật ngữ này Không chỉ ở Việt Nam mà ngay trên thếgiới cũng chưa thấy có học giả hay nhà nghiên cứu khoa học nào đưa ra khái niệm

về CPH

Cổ phần hoá là quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu, biến doanh nghiệp một

chủ thành doanh nghiệp của nhiều chủ, tức là chuyển từ hình thức sở hữu đơn nhấtsang sở hữu chung thông qua chuyển một phần tài sản cho người khác, cổ phần hoá

có thể áp dụng với tất cả các doanh nghiệp thuộc sở hữu của một chủ duy nhất Vì

Trang 12

thế doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài đều có thể cổ phần hoá và cổ phần hóa là một nội dung của tư nhânhóa.

Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là việc chuyển doanh nghiệp mà chủ sởhữu là Nhà nước (doanh nghiệp đơn sở hữu) thành công ty cổ phần (doanh nghiệp

đa sở hữu), chuyển doanh nghiệp từ chỗ hoạt động theo Luật doanh nghiệp Nhànước sang hoạt động theo các quy định về công ty cổ phần trong Luật Doanhnghiệp

Xét về mặt hình thức, thì cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là việc Nhànước bán một phần hay toàn bộ giá trị tài sản của mình cho các cá nhân hay tổ chứckinh tế trong hoặc ngoài nước, hoặc bán trực tiếp cho cán bộ, công nhân của chínhdoanh nghiệp Nhà nước thông qua đấu thầu công khai , hay thông qua thị trườngchứng khoán để hình thành lên các Công ty TNHH hay Công ty Cổ phần

Về thực chất, cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước là phương thức thực hiện

xã hội hóa sở hữu, chuyển hình thái kinh doanh một chủ sở hữu Nhà nước thànhcông ty cổ phần với nhiều chủ sở hữu để tạo ra một mô hình doanh nghiệp phù hợpvới nền kinh tế thị trường đáp ứng được yêu cầu của kinh doanh hiện đại

2 Đặc điểm của cổ phần hóa

Như vậy, cái cốt lõi của quá trình Cổ phần hoá là vấn đề sở hữu và quyền sởhữu Còn Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là chuyển đổi sở hữu trong doanhnghiệp Nhà nước Sở hữu theo quan niệm của chủ nghĩa Mác là quan hệ giữa laođộng với những điều kiện khách quan của lao động, đây là một phạm trù cơ bảnbao trùm của quan hệ sản xuất, nó phản ánh lao động tổng thể của con người vànhững mối quan hệ của họ trong việc chiếm hữu những điều kiện khách quan phục

vụ cho lợi ích của con người và sự phát triển xã hội

Thông qua việc phân tích mối quan hệ bản chất của sở hữu ta thấy hiện rõ hainội dung cơ bản của sở hữu là: sở hữu xã hội và chiếm hữu tư nhân Trong đó sởhữu xã hội dùng để chỉ quan hệ lao động trừu tượng với toàn bộ các điều kiệnkhách quan trực tiếp của lao động Giữa sở hữu xã hội và chiếm hữu tư nhân có

Trang 13

mối quan hệ biện chứng, vừa thống nhất vừa tách biệt Sở hữu xã hội có hình tháivận động là giá trị mà sự biểu hiện của nó chủ yếu dưới hình thức tiền tệ, cònchiếm hữu tư nhân luôn được thực hiện dưới dạng hoạt động cụ thể, có ích trong hệthống phân công lao động xã hội mà sản phẩm của nó thể hiện dưới dạng một hànghoá hay một loại dịch vụ nhất định.

Việc vạch ra tính chất của sở hữu là một việc vô cùng quan trọng để hiểu được

sự vận động của nó trong nền kinh tế thị trường Sự tách biệt giữa hai mặt của sởhữu là một quá trình lịch sử góp phần cho sự ra đời, sự phát triển của thị trườngchứng khoán và của công ty Cổ phần

Cổ phần hóa nói chung có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa ở các nước phát triển là kết

quả của quá trình phát triển lực lượng sản xuất đã vượt quá tầm của sở hữu tư nhân,đòi hỏi phải mở rộng quan hệ sở hữu

Thứ hai, các doanh nghiệp được lựa chọn cổ phần là các doanh nghiệp đã tồn

tại và phát triển trong cơ chế thị trường, cạnh tranh

Thứ ba, các doanh nghiệp cổ phần hóa ở các nước nói chung là tổ chức và hoạt

động nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân vàtuân theo quy luật thị trường

Thứ tư, lý do thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp ở các nước phát triển là

chuyển từ giai đoạn tập trung tư bản sang giai đoạn tập trung vốn xã hội (trong và

ngoài doanh nghiệp) để nâng cao chất lượng và quy mô sản xuất trong cạnh tranh

3 Nội dung của cổ phần hóa

3.1. Mục tiêu cổ phần hóa

Cổ phần hoá luôn được Đảng và Nhà nước xác định là việc chuyển cácdoanh nghiệp Nhà nước thành các Công ty cổ phần nhằm thực hiện các mục tiêu:

Chuyển một phần sở hữu Nhà nước sang sở hữu hỗn hợp

Huy động vốn của toàn xã hội

Tạo điều kiện để người lao động trở thành người chủ thực sự trong doanh nghiệp

Trang 14

Thay đổi phương thức quản lý trong doanh nghiệp

3.2 Nguyên tắc cổ phần hóa

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước phải dựa trên các quan điểm, nguyên tắc

cơ bản sau:

Một là, việc lựa chọn doanh nghiệp để chuyển thành công ty cổ phần cần được

đặt trong chương trình tổng thể đổi mới khu vực kinh tế nhà nước và sắp xếp lạidoanh nghiệp

Hai là, Việc lựa chọn doanh nghiệp để tiến hành cổ phần hóa thuộc thẩm

quyền và chức năng của nhà nước với tư cách là người sở hữu chứ không phải tùythuộc vào ý kiến của giám đốc và tập thể lao động trong doanh nghiệp Nguyên tắcnày được đưa ra làm cơ sở cho cơ quan chủ quản nhà nước phân loại các doanhnghiệp do mình quản lý để thực hiện cổ phần hóa

Ba là, Dựa trên bảng cân đối tài sản và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp, xác định các mục tiêu chủ yếu và cụ thể đối với từng doanhnghiệp được lựa chọn cổ phần hóa

Nếu nhằm mục đích thu hồi vốn đầu tư vào lĩnh vực khác thì điều kiện doanhlợi ít được chú ý hơn bảng cân đối tài sản

Nếu nhằm mục đích huy động vốn để nhà nước tiếp tục kinh doanh thì điềukiện về sinh lợi nhất là điều kiện về kinh doanh cần được quan tâm hơn

Nếu nhằm mục tiêu tạo điều kiện để người lao động thực sự làm chủ doanhnghiệp thì nhà nước cần chú ý mức thu nhập của công nhân có khả năng mua cổphần dưới dạng trả góp cũng như tỷ trọng vốn tự có trong tổng số vốn pháp địnhcủa doanh nghiệp

Bốn là, mọi tài sản của doanh nghiệp đều thuộc sở hữu nhà nước trừ quỹ phúc

lợi xã hội của tập thể là phần tiền lương không chia để lại cho cán bộ công nhânviên trong công ty cùng hưởng Phần vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước thựcchất là phần lợi nhuận và quỹ khấu hao được nhà nước cho phép giữ lại để tái sảnxuất mở rộng nên tất yếu là thuộc về nhà nước và trở thành vốn cổ phần của Nhànước trong công ty cổ phần sẽ được hình thành

Trang 15

Năm là, Việc xác định giá trị của doanh nghiệp cần chú ý đến cả 2 yếu tố cấu

thành: giá trị hữu hình và giá giá trị vô hình Trên cơ sở xem xét đầy đủ hai yếu tốcấu thành này cần lựa chọn phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp phù hợpnhất

Sáu là, phương pháp bán cổ phần cần thực hiện công khai rõ ràng, thủ tục đơn

giản, dễ hiểu với mọi người

Bảy là, Các doanh nghiệp được lựa chọn cần giải quyết rõ ràng dứt điểm các

vấn đề tồn đọng về mặt tài chính (Vấn đề tài sản; khoản nợ phải đòi phải trả; nguồnvốn…) và lao động trước khi chuyển sang công ty cổ phần

3.3 Nội dung cổ phần hóa

Tiến trình Cổ phần hoá đã dành được sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Chínhphủ, các ban ngành và chính quyền địa phương

Nội dung của cổ phần hóa bao gồm:

• Đối tượng cổ phần hoá

• Hình thức cổ phần hoá

• Xác định giá trị doanh nghiệp

• Đối tượng mua cổ phần và cơ cấu phân chia cổ phần

3.3.1 Đối tượng cổ phần hóa:

Xuất phát từ thể chế chính trị, lịch sử, để phù hợp với hoàn cảnh và điềukiện kinh tế nước ta, đối tượng thực hiện cổ phần hoá là những doanh nghiệp Nhà

nước hội tụ đủ 3 điều kiện: có quy mô vừa và nhỏ; không thuộc diện Nhà nước giữ

100% vốn đầu tư; có phương án kinh doanh hiệu quả hoặc tuy trước mắt có khó khăn nhưng triền vọng tốt.

Trong 3 điều kiện này, điều kiện thứ 2 (doanh nghiệp không thuộc diện Nhànước giữ 100% vốn đầu tư) được coi là quan trọng nhất bởi những doanh nghiệpNhà nước giữ 100% vốn đầu tư là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước, là đòn bẩykinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định, theo đúng định hướng XHCN

Theo nghị 109/2007/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nướcthành công ty cổ phần, đối tượng cổ phần hóa đã được mở rộng thêm rất nhiều

Trang 16

Bao gồm:

♦ Công ty nhà nước độc lập thuộc các Bộ, ngành, địa phương

♦ Công ty mẹ của Tập đoàn kinh tế (sau đây gọi tắt là tập đoàn), Tổng công tynhà nước (kể cả Ngân hàng Thương mại nhà nước)

♦ Công ty mẹ trong tổ hợp công ty mẹ - công ty con

♦ Công ty thành viên hạch toán độc lập thuộc Tổng công ty do Nhà nước quyếtđịnh đầu tư và thành lập

♦ Đơn vị hạch toán phụ thuộc của công ty nhà nước độc lập, tập đoàn, tổngcông ty nhà nước, công ty mẹ, công ty thành viên hạch toán độc lập củaTổng công ty

♦ Công ty trách nhiệm hữu hạn do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

3.3.2 Hình thức cổ phần hóa

Theo nghị định 109/2007, hình thức cổ phần hóa bao gồm:

• Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành thêm cổphiếu để tăng vốn điều lệ

• Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừabán bớt một phần vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăngvốn điều lệ

• Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bántoàn bộ vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ

3.3.3 Xác định giá trị của doanh nghiệp

Xác định giá trị doanh nghiệp được hiểu và thừa nhận một cách rộng rãi làviệc: điều tra chi tiết và đánh giá các hoạt động của công ty nhằm xác định giá trịhiện hữu và tiềm năng của một doanh nghiệp

Giá trị doanh nghiệp trong quá trình cổ phần hóa là những giá trị hiện có củadoanh nghiệp bao gồm toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp trong quá trình cổphần hóa, có tính đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà người mua người bán

cổ phần đều chấp nhận được Giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp làgiá trị thực tế của doanh nghiệp sau khi đã trừ các khoản nợ phải trả

Trang 17

Giá trị doanh nghiệp bao gồm giá trị quyền sử dụng đất, giá trị vốn góp liêndoanh doanh nghiệp khác…

Giá trị thực tế doanh nghiệp cổ phần hóa không bao gồm tài sản doanh nghiệpthuê mượn, nhằm góp vốn liên doanh, liên kết các tài sản khác không phải củadoanh nghiệp

- Những tài sản không cần dùng chờ thanh lý

- Giá trị các khoản phải thu khó đòi đã được trừ vào giá trị doanh nghiệp

- Chi phí xây dựng cơ bản dở dang của những công trình đã bị đình hoãn trướcthời điểm xác định giá trị doanh nghiệp

- Các khoản đầu tư dài hạn vào doanh nghiệp khác được cơ quan thẩm quyềnquyết định chuyển cho đối tác khác

- Tài sản thuộc công trình phúc lơi được đầu tư bằng quỹ khen thưởng, từ quỹphúc lợi của doanh nghiệp và của cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp.Theo nghị định 109/2007 của Chính phủ, căn cứ xác định giá trị doanh nghiệptrong quá trình cổ phần hóa:

• Số liệu theo sổ kế toán của doanh nghiệp tại thời điểm xác định giá trị doanhnghiệp

• Tài liệu kiểm kê, phân loại và đánh giá chất lượng tài sản của doanh nghiệptại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp

• Giá thị trường của tài sản tại thời điểm tổ chức định giá

• Giá trị quyền sử dụng đất được giao, được thuê và giá trị lợi thế kinh doanhcủa doanh nghiệp

Hiện nay có ba phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp đã được công nhậnrộng rãi trên thế giới, mỗi phương pháp được áp dụng cho mỗi loại đối tượngdoanh nghiệp với mục đích đảm bảo sự hợp lý, công bằng, chính xác cho tất cả cácloại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế Đó là:

• Xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp thị trường

Trang 18

• Xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp vốn hoá thu nhập (gồm haiphương pháp thu nhập phổ biến là Vốn hoá thu nhập và Phân tích dòng tiềnchiết khấu)

• Xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp tài sản

3.3.4 Xác định đối tượng mua cổ phần và cơ cấu phân chia cổ phần

Các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, công dân Việt Nam, người Việt Namđịnh cư ở nước ngoài, người nước ngoài định cư ở Việt Nam đều có quyền mua cổphần ở các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa

Đối tượng và điều kiện mua cổ phần:

1 Các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội hoạt động theo luật pháp Việt Nam và

cá nhân người Việt Nam định cư ở trong nước (sau đây gọi tắt là nhà đầu tư trongnước) được quyền mua cổ phần của các doanh nghiệp cổ phần hoá với số lượngkhông hạn chế

2 Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, người nước ngoài hoạt độnghợp pháp tại Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài (sau đây gọi tắt lànhà đầu tư nước ngoài) được mua cổ phần của các doanh nghiệp cổ phần hoá theoquy định của pháp luật Việt Nam

Số lượng cổ phần được mua quy định cụ thể theo nghị định 44/1998 củaChính Phủ:

Loại doanh nghiệp mà Nhà nước giữ cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt: Mộtpháp nhân được mua không quá 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp; Một cánhân được mua không quá 5% tổng số cổ phần của doanh nghiệp

Loại doanh nghiệp mà Nhà nước không nắm cổ phần chi phối, cổ phần đặcbiệt: Một pháp nhân được mua không quá 20% tổng số cổ phần của doanh nghiệp;Một cá nhân được mua không quá 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp

Loại doanh nghiệp mà Nhà nước không tham gia cổ phần: Không hạn chế sốlượng cổ phần mỗi pháp nhân và cá nhân được mua nhưng phải đảm bảo số cổđông tối thiểu theo đúng quy định của Luật Công ty

Trang 19

III Nhân tố ảnh hưởng đến cổ phần hóa

Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới cổ phần hóa, nhưng có thể phân chiathành các nhóm nhân tố sau:

1 Chính sách vĩ mô của nhà nước và sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ

Chính sách vĩ mô của nhà nước có ảnh hưởng rất lớn tới tiến trình cổ phần hóadoanh nghiệp nhà nước Nó tạo ra khung pháp lý cho quá trình cổ phần hóa Dovậy, chính sách vĩ mô của nhà nước thông thoáng, thống nhất, đồng bộ sẽ tạo điềukiện rất lớn cho cổ phần hóa thành công Sự chưa ổn định trong chính sách vĩ môcủa Nhà nước về luật, thuế khóa, tiền tệ… chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro cho nhữngngười muốn đầu tư lâu dài; nhiều chính sách kinh tế ra đời chồng chéo, mâu thuẫnlẫn nhau và thay đổi đột ngột; sự đổi mới của hệ thống ngân hàng và cơ chế hoạtđộng tín dụng diễn ra chậm trễ so với đòi hỏi của cơ chế thị trường… là những yếu

tố gây bất lợi cho môi trường đầu tư trong nước và do đó gây bất lợi cho quá trình

cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Sự điều hành thiếu dứt khoát thường xuyêncủa Chính phủ và của cơ quan nhà nước cũng sẽ ảnh hưởng xấu tới quá trình cổphần hóa

2 Sự tồn tại, hoạt động và phát triển của thị trường tài chính

Thị trường tài chính trong đó có thị trường chứng khoán có vai trò rất quantrọng trong việc lưu thông cổ phiếu do đó ảnh hưởng lớn đến quá trình cổ phầnhóa Thị trường chứng khoán là trung tâm phản ánh trạng thái hoạt động của cáccông ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường Nó vừa tạo điều kiện vừa là tấmgương phản chiếu sự ra đời và hoạt động của các công ty cổ phần cũng như huyđộng vốn trên thị trường tài chính Sự thiếu vắng thị trường chứng khoán đi liềnvới nó là hệ thống pháp lý và tổ chức vận hành đã gây khó khăn và cản trở cho quátrình cổ phần hóa Đó là việc định giá doanh nghiệp để cổ phần hóa; việc phát hành

và lưu thông cổ phiếu; việc mua bán và chuyển nhượng cổ phiếu; hệ thống pháp lý

và tổ chức để đảm bảo duy trì được hoạt động của thị trường chứng khoán

Trang 20

3 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, trang thiết bị máy móc và công nghệ của doanh nghiệp

Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có ảnh hưởng trựctiếp tiến trình cổ phần hóa Những doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh cóhiệu quả có xu hướng phát triển tốt sẽ có thuận lợi trong việc cổ phần hóa Cácdoanh nghiệp nhà nước hầu hết đều có trang thiết bị máy móc cũ, công nghệ lạchậu, biên chế công kềnh, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, khả năng cạnh tranhyếu… do đó khó có thể tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp này Số doanhnghiệp có mức lợi nhuận đủ sức hấp dẫn để cổ phần hóa còn quá ít Ngay trong sốcác doanh nghiệp nhà nước có lợi nhuận cao thì phần lớn nhà nước lại chưa có ýđịnh cổ phần hóa Điều này gây cho việc lựa chọn các doanh nghiệp cổ phần hóacũng như thu hút sự hưởng ứng của đông đảo những người có vốn muốn đầu tưbằng cổ phiếu

4 Tư tưởng, tâm lý và quyền lợi của những người liên quan

Công tác tâm lý tư tưởng tâm lý được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi đồngthời giải quyết hài hòa các lợi ích của những người liên quan thì sẽ góp phần thúcđẩy tiến trình cổ phần hóa Về mặt suy nghĩ, nhiều người làm công tác lãnh đạo vàquản lý nhà nước vẫn chưa đoạn tuyệt được quan điểm coi kinh tế nhà nước là chủnghĩa xã hội và vì vậy thu hẹp khu vực này nghĩa là xa rời chủ nghĩa xã hội; là phá

vỡ cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội Đa số các giám đốc và cán bộ quản lý cònngần ngại thậm chí phản đối vì sợ chuyển từ “người chủ” thành “người làm thuê”

sẽ chịu sự đánh giá và kiểm soát của hội đồng quản trị và các cổ đông về trình độ,năng lực chuyên môn của mình Còn những người lao động thì lo sợ mất việc làm,mất biên chế nhà nước

5 Tài chính hỗ trợ, các vấn đề liên quan đến cổ phần hóa

Tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước cần có một nguồn tài chính đểgiải quyết hàng loạt các vấn đề liên quan như khoản trợ cấp cho người lao độngmất việc làm, chi phí đào tạo lại nghề mới và thời gian tìm việc, các chi phí chochính sách xã hội và bảo hiểm, các chi phí thực hiện công việc quảng cáo, tư vấn,

Trang 21

môi giới đầu tư, chi phí phát hành và các dịch vụ về buôn bán cổ phiếu Nhữngkhoản phí này thường không được bỏ qua nhưng thường rất lớn Đấy là chưa kểđến chính sách bán cổ phiếu giá thấp và tín dụng ưu đãi cho một số đối tượng nhấtđịnh để khuyến khích và thực hiện các mục tiêu xã hội, điều này sẽ làm cho khoảnphí tổn tăng lên nhiều hơn nữa Thêm vào đó là nạn tham nhũng và hối lộ sẽ lạmdụng cơ hội này để tẩu tán tài sản của nhà nước nếu thiếu sự quản lý chặt chẽ

6 Hoạt động của hệ thống kiểm toán

Hệ thống kiểm toán phát triển hoàn chỉnh sẽ góp phần thúc đẩy tiến trình cổphần hóa Hệ thống kiểm toán chưa trở thành một hoạt động phổ biến và thốngnhất sẽ gây nhiều trở ngại cho việc xác định giá trị doanh nghiệp, tình hình và triểnvọng hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp được cổ phần hóa và do

đó gây khó khăn cho việc cung cấp thông tin trung thực tin cậy cho những người cónhu cầu đầu tư bằng cổ phiếu đối với những doanh nghiệp này

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HÓA DNNN Ở VIỆT NAM

I Doanh nghiệp nhà nước Việt Nam

1 Tình hình hoạt động của các DNNN hiện nay

Theo số liệu của Bộ Tài chính, cả nước còn 1.192 DNNN vào cuối năm 2008.Nhờ Nhà nước trao cho vai trò “chủ đạo và dẫn dắt nền kinh tế” mà thời gianqua DNNN đã được hưởng nhiều đặc quyền, đặc lợi; được ưu đãi mọi thứ, từ vốn

rẻ, tài nguyên, đất đai, tài sản và quan trọng hơn cả là không phải chịu áp lực cạnhtranh Thực tế ấy cùng với tâm lý ỷ lại đã khiến hoạt động sản xuất, kinh doanh,đầu tư của nhiều DNNN kém hiệu quả, không thể hiện được vai trò dẫn dắt nềnkinh tế, nhất là trong cơn bão lạm phát, khủng hoảng tài chính trên thế giới và suygiảm kinh tế trong nước vừa qua Trong bối cảnh khó khăn chung đó, Chính phủ đãquyết tâm cao chống suy giảm, hỗ trợ cho DN nói chung, trong đó có DNNN,thông qua các gói kích thích kinh tế với kỳ vọng thành phần kinh tế chủ đạo này sẽlàm đầu tàu vực dậy các khu vực kinh tế khác

Thế nhưng, không ai có thể hài lòng với kết quả hoạt động của DNNN trongthời gian qua Cụ thể, DNNN chiếm 50% tổng vốn đầu tư từ ngân sách nhưng chỉ

Ngày đăng: 12/12/2013, 18:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w