1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG CÔNG NGHỆ MỚI KỸ THUẬT NUÔI GIUN QUẾ

201 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 201
Dung lượng 10,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC TT NỘI DUNG TRANG 1 Bài 1 1: Khái quát về nghề nuôi giun quế 3 2 Bài 1 2: Đặc điểm hình thái, cấu tạo và sinh lý của giun quế 15 3 Bài 1 – 3: Sự sinh trưởng, phát triển và sinh sản của giun quế 36 4 Bài 2 – 1: Chuồng trại nuôi giun quế 47 5 Bài 2 – 2: Giống và công tác chọn giống 73 6 Bài 2 – 3: Thức ăn và chế biến thức ăn cho giun quế 89 7 Bài 2 – 4: Nuôi dưỡng chăm sóc giun quế 134 8 Bài 3 – 1: Các sản phẩm từ giun quế 172 9 Bài 3 – 2: Phân giun quế 203 MÔ ĐUN 01 ĐẶC ĐIỂM CỦA GIUN QUẾ MÃ BÀI HỌC BH 01MĐ 01 Tªn bµi häc KHÁI QUÁT VỀ NGHỀ NUÔI GIUN QUẾ Thêi gian (giê) LT 02 THTL 0 TS 02 MỤC TIÊU Sau khi học xong bài này, học viên có thể: Trình bày khái quát về lịch sử, tình hình chăn nuôi giun và lợi ích của giun quế. NỘI DUNG 1. Lịch sử nghề nuôi giun quế Lịch sử của loài người gắn liền với lịch sử đấu tranh không ngừng với thiên nhiên. Con người luôn luôn phấn đấu vươn lên để chế ngự thiên nhiên. Tổ tiên của chúng ta đã thuần hóa hàng loạt động vật hoang dã để biến chúng trở thành những loài vật nuôi trong gia đình như: trâu, bò, ngựa, dê, lợn, gà, chó, mèo…. Con voi khổng lồ cũng đã được con người thuần dưỡng. Người ta băng qua sa mạc khô nóng trên lưng những con lạc đà. Thổ dân phương bắc đã dùng tuần lộc hoặc các đàn chó để kéo xe trượt trên băng… Con người đã nhìn thấy biết bao nguồn lợi từ các loài động vật nên họ tìm cách nuôi chúng. Rất nhiều loài gia súc hiện nay đều xuất phát từ những loài hoang dã. Qua hàng nghìn, hàng trăm năm, con người đã thuần dưỡng chúng thành vật nuôi. Người dân Mông Cổ sống bằng nghề chăn nuôi cừu. Ở Úc người ta nuôi đà điểu trong những trang trại lớn. Tại Việt Nam, có những nơi cả làng nuôi rắn như ở xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Hàng loạt các loài cá đã được con người thả nuôi. Nguồn lợi này vô cùng to lớn. Phong trào nuôi tôm sú, tôm hùm, cá mú, cá sấu, sò, nghêu, ngao… ngày càng phát triển. Người đầu tiên nghĩ ra việc nuôi giun quế là một anh gù với một cái bướu trên lưng. Mặc cảm với dị tật của mình, anh chỉ loanh quanh trong vườn nhà. Anh nghĩ ra việc đào giun dế để bán cho người đi câu cá. Không ngờ việc đó lại phát tài. Người tới mua giun rất đông, anh đào không kịp. Chính vì vậy, anh mới nghĩ tới việc tổ chức nuôi giun. Nghề nuôi giun có lẽ được khởi sự từ đây. Hugh Carter là người khai sinh và phát triển nghề nuôi giun đầu tiên. Vào năm 1947, ông bắt đầu nuôi giun trong một quan tài cũ. Sau 25 năm, Carter đã có thể cung cấp 15 triệu con giun cho các cửa hàng săn bắt và câu cá. Vào cuối năm 1976, doanh thu của hoạt động kỳ lạ này vượt trên 4,5 tỷ quan Pháp chỉ ở California. Ở Mỹ, người tiên phong nuôi giun là các nhà kinh doanh, họ phát hiện ra giun chính là mồi câu hiệu nghiệm nhất. Riêng ở Mỹ, từ năm 1973 đã có tới 33 triệu rưỡi người xin đăng ký cấp thẻ đi câu. Do đó, các nhà nuôi giun đã nhanh chóng thu được nguồn lợi kếch xù. Cùng với thời gian, người ta càng đánh giá cao về giun quế: công dụng truyền thống là làm mồi câu tuyệt vời cho cá và là “người quét dọn thế giới”, sau đó con người nhận thấy ngoài các công dụng trên thì chúng còn được sử dụng vào các công việc khác như: xử lý rác thải, làm thực phẩm, làm mỹ phẩm và làm dược phẩm. Tại Việt Nam, sự phát hiện thật là bất ngờ và may mắn. Do một lần đi ngang qua khu chứa rác của Hà Nội, thấy cả một núi rác khổng lồ cứ ngày một cao dần lên. Thời đó thông tin chưa nhiều nên mọi người nghĩ phải có một con vật nào đó có thể ngốn hết đống rác này. Kỳ vọng này được đặt vào con giun. Cũng có nhiều nhóm chuyên gia đi sâu nghiên cứu về giun quế. Đứng đầu là GS.TSKH. Thái Trần Bái, nhóm của ông đã có công trình nghiên cứu rất sâu về giun quế. Ông hiểu rất rõ về giun quế Việt Nam. Tuy nhiên, hướng nghiên cứu của ông chủ yếu tập trung vào phân loại, hình thái và phân bố của các loài giun quế. Thử nghiệm được tiến hành trên nhiều loại đất, các loại thùng nuôi khác nhau nhưng chưa thành công. Sau đó, nhóm GS.TS Nguyễn Lân Hùng đã nuôi thử nghiệm thành công và phổ biến khắp nơi. Cuốn sách “Kỹ thuật nuôi giun quế” (Nhà xuất bản Giáo dục, 1986) đã kịp thời được xuất bản phục vụ nhân dân. Tuy nhiên, do kinh tế nông hộ chưa được quan tâm đúng mức nên việc nuôi giun quế còn nhiều hạn chế. Tới nay, khi người dân hoàn toàn làm chủ các hoạt động sản xuất của mình thì việc đưa giun quế vào cơ cấu sản xuất là vấn đề nên làm. Luống nuôi giun sẽ là cái xưởng sản xuất ra đạm động vật để phục vụ cho các loại vật nuôi trong gia đình. 2. Tình hình nuôi giun quế ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam 2.1. Tình hình nuôi giun quế ở các nước trên thế giới Việc nuôi giun quế đã được tiến hành ngay từ năm 1952 ở nhiều nước như: Mỹ, Canada, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc…. Rất nhiều hiệp hội nuôi giun quế được hình thành tại các quốc gia này. Con giun còn là sự quan tâm của một số chính phủ, thậm chí một số tổ chức liên quốc gia cũng ra đời để chuyên kinh doanh con giun này. Năm 1981, hội thảo quốc tế đầu tiên về giun đã được tiến hành ở Luân Đôn. Hội thảo quốc tế lần 2 tiến hành ở Ý vào tháng 385 485 để trao đổi về các kỹ thuật nuôi và sử dụng giun quế. Ở các nước, người ta đã triển khai công nghiệp nuôi giun quế ở quy mô lớn và gia đình về kỹ thuật nuôi chủ yếu trong hộp gỗ kín và nuôi trong các ngăn hở. Nhật Bản là nước tiêu thụ giun hàng đầu thế giới: Họ dùng giun quế làm một phần nguyên liệu chế biến mỹ phẩm, thức ăn cho thủy hải sản, gia súc, gia cầm. Đặc biệt dùng thịt giun làm bánh bích quy dinh dưỡng cho người rất được ưa chuộng. Ở Philippin, sản lượng nuôi giun cả nước đạt 5 tấntháng. 2.2. Tình hình nuôi giun ở Việt Nam Ở nước ta hiện nay nghề nuôi giun đang phổ biến rộng rãi trong nhân dân vì nó mang lại nhiều lợi ích, phù hợp với mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ, vừa giải quyết được tình trạng ô nhiễm chất thải của vật nuôi, vừa giải quyết được nhu cầu phân bón cho ngành nông nghiệp. Ở nước ta hiện nay mô hình nuôi giun đã có sự chuyển biến đáng kể, từ mô hình nuôi đơn giản trên một diện tích nhỏ trước kia thì giờ đây trở thành ngành chăn nuôi công nghiệp với quy mô rộng lớn và nhiều mô hình kết hợp (giun và thỏ, giun và bò, giun và lươn, giun và cá, heo và giun, giun và tôm…) Tuy giun mới được thuần hóa và đưa vào sử dụng nhưng qua thực tế sinh trưởng và phát triển đã tỏ ra rất thích ứng với mọi vùng khí hậu nước ta, nhất là các tỉnh phía Nam, giun có thể sinh sản quanh năm. Trên địa bàn TP.HCM nghề nuôi giun quế mới bắt đầu hình thành từ năm 1998 nhưng chỉ sau 1 năm đã phát triển nhanh với khoảng 60 hộ nuôi từ nhỏ lẻ đến quy mô trang trại. Có thể nói nghề nuôi giun đang phát triển nhanh vì rất có triển vọng trong tương lai, vì đây không chỉ là một nghề đơn thuần mang lại thu nhập cao mà còn gắn kết với nhiều vấn đề khác như xử lý chất thải trong chăn nuôi, rác hữu cơ làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường. 3. Lợi ích to lớn của giun quế 3.1. Giun mang lại thu nhập đáng kể cho người chăn nuôi Lúc đầu, giun quế chỉ là mặt hàng mồi câu hấp dẫn. Khi người ta đã tổ chức nuôi được với tốc độ tăng đàn rất nhanh và đem lại nguồn lợi không nhỏ cho một số người nghèo ở Mỹ. Khởi sự họ chỉ bỏ ra 20 đô la. Sau vài năm, doanh thu của họ đã lên tới 400500.000 đô la. Với lợi nhuận thu được thì ngày càng có nhiều người tham gia vào chăn nuôi giun. Nghể nuôi giun đã trở thành một nghề thu nhập chính của nhiều người. Theo nghiên cứu một số tác giả thì hiệu quả kinh tế trên 100m2 trong 3 tháng như sau: Bảng 1.1.1 Khoản mục Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền I. Chi phí 1000 đồng 23853,21 1. Chi phí cơ bản 289,21 2. Chi phí con giống 762,5 3. Thức ăn 1680 4. Công lao động 112,5 II. Doanh thu 26670 1. Giun thương phẩm Kg 7.000 30 21000 2. Phân giun Kg 6.300 0.9 5670 III. Thu nhập 1000 đồng 23861,79 IV. Lợi nhuận Lần 8,35 V. Tỷ suất LNCP 1000 đồng 23929,29 VI. Tỷ suất CPLN Lần 8,39 Nguồn: Phạm Ngọc Diệp và CTV, 2005. Như vậy, trong 3 tháng nuôi với diện tích là 100m2 thì doanh thu của chủ đầu tư đạt được là hơn 26 triệu đồng, trong khi chi phí bỏ ra là 2,8 triệu, lợi nhuận đạt được là hơn 23 triệu. 3.2. Giun làm thức ăn đạm cao, có chất lượng cao để nuôi gia súc, gia cầm và thủy sản. Giun có hàm lượng đạm 53,5%65,1%, chất béo 4,4%17,38%, chất đường bột 11%17%, chất khoáng 7,8%23%, với 2820 loại acid amin trong đó có 8 loại acid amin cần thiết cho người và 12 loại acid amin cần thiết cho gia súc gia cầm, hàm lượng dinh dưỡng, năng lượng hữu hiệu tương đương bột cá. Trong giun có nhiều vitamin D và nhiều Ca, P. Vì vậy giun làm thức ăn đạm chất lượng cao và giàu các chất dinh dưỡng khác, có thể thay thế bột cá, làm chất bổ sung cho thức ăn nuôi gia cầm, gia súc và các loại thủy sản quý. Ngoài ra, trong cơ thể giun còn có các loại kích thích tố tăng trưởng thiên nhiên cần thiết cho động vật. Sở dĩ dùng giun làm thức ăn cho chăn nuôi, nhất là nuôi trồng thủy sản tốt như vậy là do trong thức ăn có giun không những giàu acid amin đầy đủ, hội đủ 10 loại acid amin cần thiết cho cá và thủy sản ăn khỏe, nâng cao hiệu suất sử dụng thức ăn. Dùng giun thay bột cá không những giá rẻ, mà còn tăng chất lượng thịt, thủy sản, ăn ngon. 3.3. Giun làm thực phẩm cho người và sản xuất mỹ phẩm Giun có hàm lượng protein cao, giàu nguyên tố vi lượng tương tự thịt thỏ, ít chất béo chứng tỏ giun có giá trị dinh dưỡng cao, tốt cho sức khỏe. Càng ngày càng có nhiều nước trên thế giới dùng giun để chế biến thức ăn cho người. Thậm chí đó là những món ăn phổ biến và cao cấp của họ. Ở Nhật, có tới 200 loại thực phẩm chế biến từ giun. Ở Đài Loan, có 20 món ăn làm từ giun. Ở Italia người ta dùng giun làm pate. Ở Mỹ có những quán đặc biệt chuyên bán các món ăn từ giun. Ở Hàn Quốc có món cháo giun rất phổ biến. Ở Úc giun làm bánh và tráng ốp lết với trứng như ta chế biến món chả rươi. Nhiều nước khác cũng có nhiều cách chế biến giun thành các loại thức ăn quý phái. Hiện nay, cũng có nhiều đồ hộp thực phẩm làm bằng giun bán ra thị trường. Giun còn được sử dụng rộng rãi làm nguyên liệu để sản xuất mỹ phẩm, là mặt hàng ngày càng có nhu cầu lớn trên thị trường quốc tế. 3.4. Giun có tác dụng chữa bệnh Ở các nước Châu Á, giun được sử dụng làm thuốc từ rất sớm. Các dữ liệu ghi chép về vấn đề này có từ năm 1340. Ở Ấn Độ dùng giun để chữa bệnh phong thấp của người dân Nanticoke. Ở Thái Lan, nhân dân dùng giun để chữa bệnh chảy mũi, chữa bệnh phụ nữ suy nhược sau khi sinh. Ở Lào và Thái Lan người dân dùng giun để chữa bệnh đậu mùa. Ở Việt Nam, theo “Dược học cổ truyền” của Giáo sư Bác sỹ Trần Văn Kỳ thì giun quế có thể chế biến bào chế để trị các bệnh như: viêm khớp cấp sưng nóng đau, sốt co giật (ở trẻ em), sạn tiết niệu, hen suyễn, cao huyết áp, chứng mề đây, bệnh tinh thần phân liệt, chứng động kinh do chấn thương, bệnh mất ngủ… Trong giun có hàm lượng acid béo không no cao, acid béo no thấp đặc biệt có hàm lượng rất cao vê acid linoleic có tác dụng kháng ung thư, giảm huyết áp, phòng sơ vữa động mạch…. Trong giun có nhiều Selenium (Se) là một nguyên tố không thể thiếu của cơ thể người. Se là chất duy trì sự sống, nếu thiếu sẽ phát sinh nhiều bệnh tật. Se có tác dụng phòng trị 40 loại bệnh như ung thư, tim mạch, xơ vữa mạch máu, viêm gan, loét dạ dày, viêm đường ruột, hen suyễn, thấp khớp, viêm họng, cao huyết áp, tiểu đường, bất dục….Vì vậy, dùng giun làm thực phẩm hoặc thức ăn chăn nuôi sẽ mang lại hiệu quả tốt đối với người và vật nuôi. Ở những vùng thiếu Se, vận dụng khả năng làm giàu Se của giun, dùng giun, phân giun để nuôi gia súc, trồng lương thực, rau, có thể là một hướng tốt để giải quyết tình trạng thiếu Se đối với người và gia súc. Trong giun có hàm lượng Zn rất cao, rất có lợi cho sức khỏe con người. Zn là một trong những nguyên tố cần thiết quan trọng nhất của cơ thể, là thành phần của 200 loại men trong cơ thể, có tác dụng công năng sinh lý, sinh hóa quan trọng. Thiếu Zn, trẻ em biếng ăn, tóc thưa, chậm lớn, thị giác và thính giác có biểu hiện không bình thường, sức đề kháng kém, trí nhớ kém, ngủ kém và khứu giác bất thường. Trong giun còn có các men: EFE (Earthworm fibrinolytic enzyme) có tác dụng trực tiếp hòa tan sợi huyết và cục máu đông. Lumbrokinase có thể kích hoạt plasmogen thành plasmin là loại thuốc chữa nghẽn mạch lý tưởng. Chất Metallothionenin có tác dụng về dự trữ, vận chuyển, trao đổi chất của nguyên tố vi lượng, kích thích bức xạ điện ly, khử gốc tự do và độc hại kim loại… 3.5. Phân giun làm thức ăn cho gia súc, gia cầm, thủy sản, cải tạo đất và làm phân hữu cơ sạch, chất lượng cao Phân giun có hàm lượng dinh dưỡng cao là thức ăn giàu khoáng cho gia súc, gia cầm. Các chất dẫn xuất không đạm và protein cao tương ứng 13,96% và 6,23%. Phân giun không có mùi hôi thối, không mốc, có thể giữ lâu ngày trong túi nilông là loại phân sạch thiên nhiên quí giá để bón cho hoa, cây cảnh, rau quả theo công nghệ nông nghiệp sạch. 3.6. Giun bảo vệ môi trường sinh thái 3.6.1. Xử lý chất hữu cơ, làm sạch môi trường Nhờ vào bộ máy tiêu hóa phi thường, nên giun sống trong đất tiêu thụ một lượng lớn nguồn thức ăn là chất thải hữu cơ và phân gia súc. Tác dụng phân giải chất hữu cơ của giun chỉ đứng sau vi sinh vật. Giun là loại động vật siêng năng, cần mẫn, ngày đêm hoạt động trong vòng tuần hoàn vật chất của giới tự nhiên, được coi là “vệ sĩ bảo vệ cân bằng hệ sinh thái”. Giun đào hang, xới xáo đất, nuốt đất và chất hữu cơ, tạo điều kiện tốt cho hoạt động của vi sinh vật. Giun có sức tiêu hóa lớn, một tấn giun có thể tiêu hủy được 70 80 tấn rác hữu cơ, một tấn giun sử dụng được 50 tấn phân gia súc. Các nước trên thế giới đã lợi dụng công năng đặc thù này của giun để xử lý chất thải sinh hoạt hoặc rác thải hữu cơ. Sau khi xử lý rác thải, phân giun dùng để bón ruộng giảm bớt sử dụng phân hóa học. Đồng ruộng nhờ tác dụng của giun, kết cấu đất được cải thiện, cây phát triển tốt, chống sâu bệnh tốt hơn, giảm bớt dùng thuốc, nhờ đó bảo vệ được môi trường. Để xử lý tốt rác thải sinh hoạt, chỉ cần phân loại rác tốt, giữ nhiệt độ đống rác 00C 300C, có đủ độ ẩm cần thiết, giun hoạt động tốt, hiệu quả xử lý chất thải khá cao. Trong nước bị ô nhiễm, được nuôi giun nước, sau khi giun sinh đẻ nhiều cũng làm sạch môi trường nước. Nuôi giun trong gia đình vừa xử lý được rác thải, vừa có phân giun bón hoa, cây cảnh. Nhiều nước đã sử dụng giun để xử lý rác thải, làm sạch môi trường có hiệu quả tốt. Một công ty ở California ở Mỹ nuôi 500 triệu giun, hàng ngày xử lý 2.000 tấn rác. Ở Nhật, những nhà máy hàng năm sản xuất 10.000 tấn giấy với 45.000 tấn phế thải, đã sử dụng giun để xử lý, sản xuất được 2.000 tấn giun khô, 15.000 tấn phân giun. Ở các vườn cây lâu năm nhiệt đới, hàng năm lượng cành lá rụng 5,0 15 tấnha, sử dụng giun để phân hủy, đã cải tạo, nâng cao độ phì của đất. 3.6.2. Nuôi giun góp phần phát triển nông nghiệp sinh thái gia đình, nâng cao hệ số sử dụng năng lượng thức ăn. Tuần hoàn nông nghiệp sinh thái gia đình như trồng lương thực để nuôi gà, dùng phân gà nuôi lợn, phân lợn sản xuất khí sinh học, bã khí sinh học nuôi nấm, các phụ phế phẩm và bã của nấm lại dùng làm phân bón cho cây lương thực. Tuy vậy, đó mới chỉ là chuỗi tuần hoàn đơn giản của nông nghiệp sinh thái gia đình khi chưa nuôi giun. Nếu trong vòng tuần hoàn đó, bổ sung thêm một khâu mắt xích nuôi giun thì vòng tuần hoàn đó đã tăng được giá trị (với 3 lần năng lượng thức ăn được động vật nuôi sử dụng) lương thực nuôi gà, nuôi lợn khí sinh học bã nuôi nấm nuôi giun nuôi gia súc, nuôi gia cầm phân gia súc, gia cầm nuôi giun phân giun bón cây lương thực. Vòng tuần hoàn sinh thái đơn giản đã được phức tạp hóa, nâng cao được tổng hiệu suất năng lượng, tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn về kinh tế. TUẦN HOÀN NÔNG NGHIỆP SINH THÁI GIA ĐÌNH

Trang 1

TỔNG CỤC DẠY NGHỀ

VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC DẠY NGHỀ

TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG CÔNG NGHỆ MỚI

KỸ THUẬT NUÔI GIUN QUẾ

(Dùng bồi dưỡng nâng cao năng lực cho GVDN)

Hà Nội, năm 2009

Trang 2

MỤC LỤC

1 Bài 1 - 1: Khái quát về nghề nuôi giun quế 3

2 Bài 1 - 2: Đặc điểm hình thái, cấu tạo và sinh lý của

5 Bài 2 – 2: Giống và công tác chọn giống 73

6 Bài 2 – 3: Thức ăn và chế biến thức ăn cho giun quế 89

7 Bài 2 – 4: Nuôi dưỡng chăm sóc giun quế 134

Trang 3

MÔ ĐUN 01 ĐẶC ĐIỂM CỦA GIUN QUẾ

Trang 4

MÃ BÀI HỌC

BH 01-MĐ 01

Tªn bµi häc KHÁI QUÁT VỀ NGHỀ NUÔI GIUN QUẾ

Thêi gian (giê)

LT02

TH/TL0

TS02

MỤC TIÊU

Sau khi học xong bài này, học viên có thể: Trình bày khái quát về lịch sử,

tình hình chăn nuôi giun và lợi ích của giun quế

NỘI DUNG

1 Lịch sử nghề nuôi giun quế

Lịch sử của loài người gắn liền với lịch sử đấu tranh không ngừng vớithiên nhiên Con người luôn luôn phấn đấu vươn lên để chế ngự thiên nhiên Tổtiên của chúng ta đã thuần hóa hàng loạt động vật hoang dã để biến chúng trởthành những loài vật nuôi trong gia đình như: trâu, bò, ngựa, dê, lợn, gà, chó,mèo… Con voi khổng lồ cũng đã được con người thuần dưỡng Người ta băngqua sa mạc khô nóng trên lưng những con lạc đà Thổ dân phương bắc đã dùngtuần lộc hoặc các đàn chó để kéo xe trượt trên băng…

Con người đã nhìn thấy biết bao nguồn lợi từ các loài động vật nên họ tìmcách nuôi chúng Rất nhiều loài gia súc hiện nay đều xuất phát từ những loàihoang dã Qua hàng nghìn, hàng trăm năm, con người đã thuần dưỡng chúngthành vật nuôi Người dân Mông Cổ sống bằng nghề chăn nuôi cừu Ở Úc người

ta nuôi đà điểu trong những trang trại lớn Tại Việt Nam, có những nơi cả làngnuôi rắn như ở xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc

Hàng loạt các loài cá đã được con người thả nuôi Nguồn lợi này vô cùng

to lớn Phong trào nuôi tôm sú, tôm hùm, cá mú, cá sấu, sò, nghêu, ngao… ngàycàng phát triển

Người đầu tiên nghĩ ra việc nuôi giun quế là một anh gù với một cái bướutrên lưng Mặc cảm với dị tật của mình, anh chỉ loanh quanh trong vườn nhà.Anh nghĩ ra việc đào giun dế để bán cho người đi câu cá Không ngờ việc đó lại

Trang 5

phát tài Người tới mua giun rất đông, anh đào không kịp Chính vì vậy, anh mớinghĩ tới việc tổ chức nuôi giun Nghề nuôi giun có lẽ được khởi sự từ đây.

Hugh Carter là người khai sinh và phát triển nghề nuôi giun đầu tiên Vàonăm 1947, ông bắt đầu nuôi giun trong một quan tài cũ Sau 25 năm, Carter đã

có thể cung cấp 15 triệu con giun cho các cửa hàng săn bắt và câu cá Vào cuốinăm 1976, doanh thu của hoạt động kỳ lạ này vượt trên 4,5 tỷ quan Pháp chỉ ởCalifornia

Ở Mỹ, người tiên phong nuôi giun là các nhà kinh doanh, họ phát hiện ragiun chính là mồi câu hiệu nghiệm nhất Riêng ở Mỹ, từ năm 1973 đã có tới 33triệu rưỡi người xin đăng ký cấp thẻ đi câu Do đó, các nhà nuôi giun đã nhanhchóng thu được nguồn lợi kếch xù

Cùng với thời gian, người ta càng đánh giá cao về giun quế: công dụngtruyền thống là làm mồi câu tuyệt vời cho cá và là “người quét dọn thế giới”, sau

đó con người nhận thấy ngoài các công dụng trên thì chúng còn được sử dụngvào các công việc khác như: xử lý rác thải, làm thực phẩm, làm mỹ phẩm và làmdược phẩm

Tại Việt Nam, sự phát hiện thật là bất ngờ và may mắn Do một lần đingang qua khu chứa rác của Hà Nội, thấy cả một núi rác khổng lồ cứ ngày mộtcao dần lên Thời đó thông tin chưa nhiều nên mọi người nghĩ phải có một convật nào đó có thể ngốn hết đống rác này Kỳ vọng này được đặt vào con giun

Cũng có nhiều nhóm chuyên gia đi sâu nghiên cứu về giun quế Đứng đầu

là GS.TSKH Thái Trần Bái, nhóm của ông đã có công trình nghiên cứu rất sâu

về giun quế Ông hiểu rất rõ về giun quế Việt Nam Tuy nhiên, hướng nghiêncứu của ông chủ yếu tập trung vào phân loại, hình thái và phân bố của các loàigiun quế Thử nghiệm được tiến hành trên nhiều loại đất, các loại thùng nuôikhác nhau nhưng chưa thành công Sau đó, nhóm GS.TS Nguyễn Lân Hùng đãnuôi thử nghiệm thành công và phổ biến khắp nơi Cuốn sách “Kỹ thuật nuôigiun quế” (Nhà xuất bản Giáo dục, 1986) đã kịp thời được xuất bản phục vụnhân dân Tuy nhiên, do kinh tế nông hộ chưa được quan tâm đúng mức nênviệc nuôi giun quế còn nhiều hạn chế Tới nay, khi người dân hoàn toàn làm chủ

Trang 6

các hoạt động sản xuất của mình thì việc đưa giun quế vào cơ cấu sản xuất làvấn đề nên làm Luống nuôi giun sẽ là cái xưởng sản xuất ra đạm động vật đểphục vụ cho các loại vật nuôi trong gia đình.

2 Tình hình nuôi giun quế ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam

2.1 Tình hình nuôi giun quế ở các nước trên thế giới

Việc nuôi giun quế đã được tiến hành ngay từ năm 1952 ở nhiều nướcnhư: Mỹ, Canada, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc… Rất nhiều hiệp hội nuôi giunquế được hình thành tại các quốc gia này Con giun còn là sự quan tâm của một

số chính phủ, thậm chí một số tổ chức liên quốc gia cũng ra đời để chuyên kinhdoanh con giun này

Năm 1981, hội thảo quốc tế đầu tiên về giun đã được tiến hành ở LuânĐôn Hội thảo quốc tế lần 2 tiến hành ở Ý vào tháng 3/85 - 4/85 để trao đổi vềcác kỹ thuật nuôi và sử dụng giun quế

Ở các nước, người ta đã triển khai công nghiệp nuôi giun quế ở quy môlớn và gia đình về kỹ thuật nuôi chủ yếu trong hộp gỗ kín và nuôi trong các ngănhở

Nhật Bản là nước tiêu thụ giun hàng đầu thế giới: Họ dùng giun quế làmmột phần nguyên liệu chế biến mỹ phẩm, thức ăn cho thủy hải sản, gia súc, giacầm Đặc biệt dùng thịt giun làm bánh bích quy dinh dưỡng cho người rất được

ưa chuộng

Ở Philippin, sản lượng nuôi giun cả nước đạt 5 tấn/tháng

2.2 Tình hình nuôi giun ở Việt Nam

Ở nước ta hiện nay nghề nuôi giun đang phổ biến rộng rãi trong nhân dân

vì nó mang lại nhiều lợi ích, phù hợp với mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ, vừa giảiquyết được tình trạng ô nhiễm chất thải của vật nuôi, vừa giải quyết được nhucầu phân bón cho ngành nông nghiệp

Ở nước ta hiện nay mô hình nuôi giun đã có sự chuyển biến đáng kể, từ

mô hình nuôi đơn giản trên một diện tích nhỏ trước kia thì giờ đây trở thành

Trang 7

ngành chăn nuôi công nghiệp với quy mô rộng lớn và nhiều mô hình kết hợp(giun và thỏ, giun và bò, giun và lươn, giun và cá, heo và giun, giun và tôm…)

Tuy giun mới được thuần hóa và đưa vào sử dụng nhưng qua thực tế sinhtrưởng và phát triển đã tỏ ra rất thích ứng với mọi vùng khí hậu nước ta, nhất làcác tỉnh phía Nam, giun có thể sinh sản quanh năm

Trên địa bàn TP.HCM nghề nuôi giun quế mới bắt đầu hình thành từ năm

1998 nhưng chỉ sau 1 năm đã phát triển nhanh với khoảng 60 hộ nuôi từ nhỏ lẻđến quy mô trang trại

Có thể nói nghề nuôi giun đang phát triển nhanh vì rất có triển vọng trongtương lai, vì đây không chỉ là một nghề đơn thuần mang lại thu nhập cao mà còngắn kết với nhiều vấn đề khác như xử lý chất thải trong chăn nuôi, rác hữu cơlàm giảm thiểu ô nhiễm môi trường

3 Lợi ích to lớn của giun quế

3.1 Giun mang lại thu nhập đáng kể cho người chăn nuôi

Lúc đầu, giun quế chỉ là mặt hàng mồi câu hấp dẫn Khi người ta đã tổchức nuôi được với tốc độ tăng đàn rất nhanh và đem lại nguồn lợi không nhỏcho một số người nghèo ở Mỹ Khởi sự họ chỉ bỏ ra 20 đô la Sau vài năm,doanh thu của họ đã lên tới 400-500.000 đô la

Với lợi nhuận thu được thì ngày càng có nhiều người tham gia vào chănnuôi giun Nghể nuôi giun đã trở thành một nghề thu nhập chính của nhiềungười

Theo nghiên cứu một số tác giả thì hiệu quả kinh tế trên 100m2 trong 3tháng như sau:

Trang 8

Bảng 1.1.1Khoản mục Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền

3.2 Giun làm thức ăn đạm cao, có chất lượng cao để nuôi gia súc, gia cầm và thủy sản.

Giun có hàm lượng đạm 53,5%-65,1%, chất béo 4,4%-17,38%, chấtđường bột 11%-17%, chất khoáng 7,8%-23%, với 28-20 loại acid amin trong đó

có 8 loại acid amin cần thiết cho người và 12 loại acid amin cần thiết cho gia súcgia cầm, hàm lượng dinh dưỡng, năng lượng hữu hiệu tương đương bột cá.Trong giun có nhiều vitamin D và nhiều Ca, P Vì vậy giun làm thức ăn đạm chất

Trang 9

lượng cao và giàu các chất dinh dưỡng khác, có thể thay thế bột cá, làm chất bổsung cho thức ăn nuôi gia cầm, gia súc và các loại thủy sản quý.

Ngoài ra, trong cơ thể giun còn có các loại kích thích tố tăng trưởng thiênnhiên cần thiết cho động vật

Sở dĩ dùng giun làm thức ăn cho chăn nuôi, nhất là nuôi trồng thủy sản tốtnhư vậy là do trong thức ăn có giun không những giàu acid amin đầy đủ, hội đủ

10 loại acid amin cần thiết cho cá và thủy sản ăn khỏe, nâng cao hiệu suất sửdụng thức ăn Dùng giun thay bột cá không những giá rẻ, mà còn tăng chấtlượng thịt, thủy sản, ăn ngon

3.3 Giun làm thực phẩm cho người và sản xuất mỹ phẩm

Giun có hàm lượng protein cao, giàu nguyên tố vi lượng tương tự thịt thỏ,

ít chất béo chứng tỏ giun có giá trị dinh dưỡng cao, tốt cho sức khỏe Càng ngàycàng có nhiều nước trên thế giới dùng giun để chế biến thức ăn cho người Thậmchí đó là những món ăn phổ biến và cao cấp của họ

- Ở Nhật, có tới 200 loại thực phẩm chế biến từ giun

- Ở Đài Loan, có 20 món ăn làm từ giun

- Ở Italia người ta dùng giun làm pate

- Ở Mỹ có những quán đặc biệt chuyên bán các món ăn từ giun

- Ở Hàn Quốc có món cháo giun rất phổ biến

- Ở Úc giun làm bánh và tráng ốp - lết với trứng như ta chế biến món chảrươi

Nhiều nước khác cũng có nhiều cách chế biến giun thành các loại thức ănquý phái Hiện nay, cũng có nhiều đồ hộp thực phẩm làm bằng giun bán ra thịtrường

Giun còn được sử dụng rộng rãi làm nguyên liệu để sản xuất mỹ phẩm, làmặt hàng ngày càng có nhu cầu lớn trên thị trường quốc tế

3.4 Giun có tác dụng chữa bệnh

Trang 10

- Ở các nước Châu Á, giun được sử dụng làm thuốc từ rất sớm Các dữliệu ghi chép về vấn đề này có từ năm 1340.

- Ở Ấn Độ dùng giun để chữa bệnh phong thấp của người dân Nanticoke

- Ở Thái Lan, nhân dân dùng giun để chữa bệnh chảy mũi, chữa bệnh phụ

nữ suy nhược sau khi sinh

- Ở Lào và Thái Lan người dân dùng giun để chữa bệnh đậu mùa

- Ở Việt Nam, theo “Dược học cổ truyền” của Giáo sư Bác sỹ Trần Văn

Kỳ thì giun quế có thể chế biến bào chế để trị các bệnh như: viêm khớp cấp sưngnóng đau, sốt co giật (ở trẻ em), sạn tiết niệu, hen suyễn, cao huyết áp, chứng mềđây, bệnh tinh thần phân liệt, chứng động kinh do chấn thương, bệnh mất ngủ…

Trong giun có hàm lượng acid béo không no cao, acid béo no thấp đặcbiệt có hàm lượng rất cao vê acid linoleic có tác dụng kháng ung thư, giảmhuyết áp, phòng sơ vữa động mạch…

Trong giun có nhiều Selenium (Se) là một nguyên tố không thể thiếu của

cơ thể người Se là chất duy trì sự sống, nếu thiếu sẽ phát sinh nhiều bệnh tật Se

có tác dụng phòng trị 40 loại bệnh như ung thư, tim mạch, xơ vữa mạch máu,viêm gan, loét dạ dày, viêm đường ruột, hen suyễn, thấp khớp, viêm họng, caohuyết áp, tiểu đường, bất dục….Vì vậy, dùng giun làm thực phẩm hoặc thức ănchăn nuôi sẽ mang lại hiệu quả tốt đối với người và vật nuôi Ở những vùngthiếu Se, vận dụng khả năng làm giàu Se của giun, dùng giun, phân giun để nuôigia súc, trồng lương thực, rau, có thể là một hướng tốt để giải quyết tình trạngthiếu Se đối với người và gia súc

Trong giun có hàm lượng Zn rất cao, rất có lợi cho sức khỏe con người

Zn là một trong những nguyên tố cần thiết quan trọng nhất của cơ thể, là thànhphần của 200 loại men trong cơ thể, có tác dụng công năng sinh lý, sinh hóaquan trọng Thiếu Zn, trẻ em biếng ăn, tóc thưa, chậm lớn, thị giác và thính giác

có biểu hiện không bình thường, sức đề kháng kém, trí nhớ kém, ngủ kém vàkhứu giác bất thường

Trang 11

Trong giun còn có các men: EFE (Earthworm fibrinolytic enzyme) có tácdụng trực tiếp hòa tan sợi huyết và cục máu đông Lumbrokinase có thể kíchhoạt plasmogen thành plasmin là loại thuốc chữa nghẽn mạch lý tưởng ChấtMetallothionenin có tác dụng về dự trữ, vận chuyển, trao đổi chất của nguyên tố

vi lượng, kích thích bức xạ điện ly, khử gốc tự do và độc hại kim loại…

3.5 Phân giun làm thức ăn cho gia súc, gia cầm, thủy sản, cải tạo đất và làm phân hữu cơ sạch, chất lượng cao

Phân giun có hàm lượng dinh dưỡng cao là thức ăn giàu khoáng cho giasúc, gia cầm Các chất dẫn xuất không đạm và protein cao tương ứng 13,96% và6,23%

Phân giun không có mùi hôi thối, không mốc, có thể giữ lâu ngày trongtúi nilông là loại phân sạch thiên nhiên quí giá để bón cho hoa, cây cảnh, rau quảtheo công nghệ nông nghiệp sạch

3.6 Giun bảo vệ môi trường sinh thái

3.6.1 Xử lý chất hữu cơ, làm sạch môi trường

Nhờ vào bộ máy tiêu hóa phi thường, nên giun sống trong đất tiêu thụ mộtlượng lớn nguồn thức ăn là chất thải hữu cơ và phân gia súc Tác dụng phân giảichất hữu cơ của giun chỉ đứng sau vi sinh vật Giun là loại động vật siêng năng,cần mẫn, ngày đêm hoạt động trong vòng tuần hoàn vật chất của giới tự nhiên,được coi là “vệ sĩ bảo vệ cân bằng hệ sinh thái” Giun đào hang, xới xáo đất,nuốt đất và chất hữu cơ, tạo điều kiện tốt cho hoạt động của vi sinh vật

Giun có sức tiêu hóa lớn, một tấn giun có thể tiêu hủy được 70 - 80 tấnrác hữu cơ, một tấn giun sử dụng được 50 tấn phân gia súc Các nước trên thếgiới đã lợi dụng công năng đặc thù này của giun để xử lý chất thải sinh hoạthoặc rác thải hữu cơ Sau khi xử lý rác thải, phân giun dùng để bón ruộng giảmbớt sử dụng phân hóa học Đồng ruộng nhờ tác dụng của giun, kết cấu đất đượccải thiện, cây phát triển tốt, chống sâu bệnh tốt hơn, giảm bớt dùng thuốc, nhờ

đó bảo vệ được môi trường

Trang 12

Để xử lý tốt rác thải sinh hoạt, chỉ cần phân loại rác tốt, giữ nhiệt độ đốngrác 00C - 300C, có đủ độ ẩm cần thiết, giun hoạt động tốt, hiệu quả xử lý chấtthải khá cao.

Trong nước bị ô nhiễm, được nuôi giun nước, sau khi giun sinh đẻ nhiềucũng làm sạch môi trường nước

Nuôi giun trong gia đình vừa xử lý được rác thải, vừa có phân giun bónhoa, cây cảnh

Nhiều nước đã sử dụng giun để xử lý rác thải, làm sạch môi trường cóhiệu quả tốt Một công ty ở California ở Mỹ nuôi 500 triệu giun, hàng ngày xử

lý 2.000 tấn rác Ở Nhật, những nhà máy hàng năm sản xuất 10.000 tấn giấy với45.000 tấn phế thải, đã sử dụng giun để xử lý, sản xuất được 2.000 tấn giun khô,15.000 tấn phân giun Ở các vườn cây lâu năm nhiệt đới, hàng năm lượng cành

lá rụng 5,0 - 15 tấn/ha, sử dụng giun để phân hủy, đã cải tạo, nâng cao độ phìcủa đất

3.6.2 Nuôi giun góp phần phát triển nông nghiệp sinh thái gia đình, nâng cao

hệ số sử dụng năng lượng thức ăn.

Tuần hoàn nông nghiệp sinh thái gia đình như trồng lương thực để nuôi

gà, dùng phân gà nuôi lợn, phân lợn sản xuất khí sinh học, bã khí sinh học nuôinấm, các phụ phế phẩm và bã của nấm lại dùng làm phân bón cho cây lươngthực Tuy vậy, đó mới chỉ là chuỗi tuần hoàn đơn giản của nông nghiệp sinh tháigia đình khi chưa nuôi giun Nếu trong vòng tuần hoàn đó, bổ sung thêm mộtkhâu mắt xích nuôi giun thì vòng tuần hoàn đó đã tăng được giá trị (với 3 lầnnăng lượng thức ăn được động vật nuôi sử dụng) lương thực nuôi gà, nuôilợn khí sinh học bã nuôi nấm nuôi giun nuôi gia súc, nuôigia cầm phân gia súc, gia cầm nuôi giun phân giun bón cây lươngthực Vòng tuần hoàn sinh thái đơn giản đã được phức tạp hóa, nâng cao đượctổng hiệu suất năng lượng, tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn về kinh tế

Trang 13

TUẦN HOÀN NÔNG NGHIỆP SINH THÁI GIA ĐÌNH

3.7 Giun làm mồi câu cá

Câu cá là một loại hoạt động thể dục nhàn rỗi, được thế giới ưa chuộng.Hàng năm, ở Nhật có 20% số người ưa đi câu, mỗi năm cần 300 tấn giun Vàomùa đông, người ta còn câu trong nhà, chứng tỏ hoạt động này rất hấp dẫn ởNhật Ở Trung Quốc, hàng năm cũng tiêu tốn trên 1000 tấn giun để làm mồi câu

Giun có hình dạng, màu sắc, cử động, mùi vị hấp dẫn khẩu vị cá nên được

sử dụng làm mồi câu cá rất tốt

3.8 Là loài sinh vật chỉ thị môi trường

Việc nghiên cứu giun làm sinh vật chỉ thị môi trường đã được tiến hànhnghiên cứu từ thập kỷ 50 của thế kỷ 20 Trong hệ sinh thái nông nghiệp, việc sửdụng nhiều phân hóa học, thuốc hóa học trong thời gian dài cùng với rác thải vànước thải đô thị - công nghiệp ngày càng nhiều, làm cho đất bị ô nhiễm ngày

Cây trồng

Nuôi gia cầm

Nuôi thủy đặc sản Nuôi lợn

Lương thực, thức ăn

Khí sinh học

Nuôi bò,

Nuôi giun Nuôi nấm ăn

Trang 14

càng nghiêm trọng Sau thời gian nghiên cứu nhiều năm, các nhà khoa học đãphát hiện giun là một loài sinh vật chỉ thị tốt về môi trường thổ nhưỡng

Nghiên cứu độc lý của giun chứng minh rằng, kim loại nặng có tác dụng

ức chế hoạt lực izoenzyme của men peroxidase Đất bị ô nhiễm kim loại nặnglàm cơ thể giun bị sưng tấy, nổi u, có thể làm cho niêm mạc của đường ruột xuấthuyết, đồng thời tế bào thượng bì của niêm mạc đường ruột co lại hoặc bị lởloét Dùng kính hiển vi điện tử quan sát tế bào thượng bì niêm mạc đường ruộtcủa giun sống trong đất bị ô nhiễm kim loại nặng cho thấy hàng loạt triệu chứngphát bệnh, mức độ phát bệnh cao hay thấp tùy thuộc vào mức độ ô nhiễm kimloại nặng hay thấp Vì vậy, có thể dùng giun để đánh giá mức độ ô nhiễm củakim loại

3.9 Sử dụng để thực tập trong trường học

Sử dụng giun để thực tập trong nhà trường có lợi là:

- Không làm cạn kiệt nguồn thức ăn cho động vật có xương sống khác (vì

sử dụng nhiều giun cũng không làm mất cân bằng nguồi thức ăn trong tự nhiên)

- Dùng giun để thực tập không phụ thuộc vào thời tiết, đảm bảo quanh năm

có thể lấy mẫu

- Cơ thể giun tương đối lớn, quan sát trực quan thuận lợi

- Thu thập, bảo quản tiêu bản không gây hại cho thầy giáo, học sinh, thaotác an toàn

Nuôi giun hàng hóa có thể trở thành một nghề rất có triển vọng trongnông dân Giun và phân giun có thị trường tiêu thụ với nhu cầu ổn định, trướchết là nông dân nuôi giun để sử dụng làm thức ăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản

và cũng có thể sử dụng giun để tự chế biến thành các món ăn giàu đạm ngay tạigia đình, góp phần chống suy dinh dưỡng cho dân cư nông thôn Vốn đầu tưnuôi giun rất thấp Đất nuôi giun có thể tận dụng trong vườn nhà Thức ăn đểnuôi giun chủ yếu là phân và rác hữu cơ, rất dồi dào và rẻ tiền, vì vậy giá thànhsản xuất giun và phân giun rất thấp, nếu sản xuất hàng hóa để bán thì giá bángiun tươi thương phẩm, phân giun sẽ thu được lợi nhuận đáng kể Nuôi giun ít

Trang 15

bệnh, ít rủi ro, kỹ thuật đơn giản, dễ làm, sớm có thu nhập Nghề nuôi giun sẽ làmột nghề góp phần thiết thực để xóa đói giảm nghèo trong nông thôn, kể cảvùng sâu, vùng xa.

Trang 16

Mã bài học

1-2

Tên bài học ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, CẤU TẠO VÀ SINH LÝ CỦA

GIUN QUẾ

Thời gian (giờ)

LT05

TH/TL05

TS10

MỤC TIÊU

Sau khi học xong bài này, học viên có thể:

- Phân tích được những đặc điểm hình thái, cấu tạo và sinh lý của giun quế

- Nhận biết được các cơ quan bên ngoài và bên trong cơ thể giun quế

Giun thuộc nhóm giun ăn phân, thường sống trong môi trường có nhiềuchất hữu cơ đang phân hủy, trong tự nhiên ít tồn tại với quần thể lớn và không

có khả năng cải tạo đất trực tiếp như một số loài giun địa phương như giun hổsống trong đất Giun quế là một trong những giống giun đã được thuần hóa,nhập nội và đưa vào nuôi công nghiệp Là loài giun mắn đẻ, xuất hiện rải rác ởvùng nhiệt đới, dễ bắt bằng tay, dễ thu hoạch Được sử dụng rộng rãi trong việc

xử lý chất thải ở Phillippines, Australia… và một số nước khác (Gurrero, 1983;Edwards, 1995)

Chúng phân bố ở nhiều quốc gia như: Việt Nam, Ấn Độ, Indonesia, Úc,Phillipines, Đài Loan, Hawaii, Madagascar, Samoa…

2 Phân loại

Trang 17

Giun rất phong phú về giống loài, chúng có kích thước và màu sắc khácnhau Tùy nhóm, tùy kích thước của cơ thể có thể biến động từ 0.5 mm (hệAcoloso Matidae) đến 3m (Megascolides Autralis) Số đốt cũng có thay đổinhiều từ 7 - 8 đốt đến hàng trăm đốt… Tuy nhiên, mọi loài đều có đặc điểm cấutạo sinh học và sinh lý tương tự như nhau theo hướng thích nghi đặc biệt với đờisống đào bới trong đất ẩm, trong phân gia súc cũ và hoạt động trong điều kiệnkhông có chiếu sáng, đó là đặc điểm để phân biệt từng loài Màu sắc biểu hiện rabên ngoài là do sắc tố nằm trong biểu mô, còn màu đỏ là màu của Hemoglobin.

Hiện nay trên thế giới có khoảng 3.000 loài đã được định loại Chúngđược phân thành 3 nhóm chính chủ yếu dựa trên 2 yếu tố chính: Tập tính ăn vàtạo chất thải

- Epeigeic (Eisenia foetida, Eudrilus eugenie nigerian), PerionyxExcavatus etc.)

- Aneceic (Polypheretima elongata, Lampito maruti etc.)

- Endogeic (Pentoscolex sps Eutopeius sps Drawida sps etc.)

2.1 Nhóm Epeigeic

Còn được gọi là giun đỏ hay giun ăn phân, tập tính ăn của chúng thường

là trên bề mặt đất với tất cả các loại chất hữu cơ, xác và chất thải động vật.Chúng phân huỷ chất hữu cơ nhưng không có vai trò cải tạo đất

Chính những tập tính ăn tạp như vậy nên nhóm giun này thường thì cungcấp đạm rất cao, bên cạnh đó vì chúng thường sống trên bề mặt đất nên tiếp xúcvới rất nhiều kẻ thù, vì thế mà trong cơ thể giun chứa hàm lượng enzym rất cao

Đây là nhóm giun dùng để làm thức ăn cho gia súc, gia cầm, thủy sản Bên cạnh đó, ngày nay ở các nước tiên tiến trên thế giới như Canada, Mỹ, Úc,Nhật người ta sử dụng nhóm giun này để xử lý chất thải nông nghiệp và côngnghiệp nhằm tránh gây ô nhiễm môi trường

Nhóm này bao gồm các loài Eisenia foetida, Eudrilus eugenie (nigerian),Perionyx excavatus

2.2 Nhóm Aneceic

Trang 18

Còn được gọi là giun đào đất và sống theo hàng thẳng đứng trong lòngđất, có khi đào hang sâu trong lòng đất cả 3m Chúng ăn cả chất hữu cơ vàkhoáng chất trong đất, sau đó thải phân trên khắp hang chúng đi Vào ban đêmchúng lên trên mặt đất để ăn và bắt cặp, chúng có quai hàm rất lớn và nghiền náttất cả các chất thải hữu cơ Vì thế chúng rất có lợi cho việc cải tạo đất, bên cạnh

đó, vì nhóm giun này rất lớn nên người ta còn sử dụng làm mồi câu cá

Nhóm này bao gồm các loài Lumbricus, Polypheretima elongata, Lampitomaruti

2.3 Nhóm Endogeic

Đây là giống giun có tập tính ăn các khoáng chất trong đất hơn là chấthữu cơ, chúng di chuyển hàng ngang trong đất vì thế chúng không có tác dụngtrong phân hủy chất hữu cơ và thường xuyên di chuyển từ nơi này đến nơi khác.Giống giun này cũng dùng để xử lý đất nhưng không tốt bằng Aneceic

Nhóm này bao gồm các loài Pentoscolex sps Eutopeius sps Drawidasps

Trên thế giới tồn tại hàng ngàn giống giun, nhưng có ý nghĩa cho sản xuấttập trung chỉ có 7 loài

Mỹ là nước nuôi giun sớm và mạnh nhất, hiện nay cũng chỉ có 4 loài Úcchỉ có 2 loài nuôi chính thức

Theo các tác giả Thái Trần Bái và Đỗ Văn Nhượng (1985), ở Việt Nam có

6 họ giun Họ Megascolecidae có tới 97 loài trong số 110 loài của các họ giunđất Trong họ này có giống Pheretima có 88 loài hiện sống ở nhiều vùng trongnước ta Trong số này có loài Perionyx Excavatus thường sống trên mặt đất, nơi

ẩm ướt, có nhiều phân và rác mục và là đối tượng có thể nuôi nhốt sản xuất tậptrung

Trang 19

Hình 1.2.1 Giun quế (Perionyx excavatus)

Phân loại:

- Ngành: Annelides (ngành giun đốt)

- Phân ngành: Clitellata (phân ngành có đai)

- Lớp: Olygochaeta (lớp giun ít tơ)

- Họ: Megascocidae (họ cự dẫn)

- Chi: Pheretima

- Loài: Perionyx excavatus (giun Quế)

3 Hình thái bên ngoài của giun quế

Hình 1.2.2 Hình thái bên ngoài của giun quế

Cơ thể giun có hình trụ, dài hơi dẹp, phần đầu và đuôi hơi nhọn, cơ thểthon dài phân thành nhiều đốt, bên trong cũng phân đốt tương ứng gọi là xoangthân Các loài giun khác nhau có số lượng đốt khác nhau, thay đổi từ 110 - 180

Trang 20

đốt Các đốt thường đồng nhất, một số có ít đốt phần phía trước khác các đốt cònlại về số lượng chùm tơ và hình dạng của tơ Khi di chuyển, các đốt co duỗi kếthợp các lông tơ phía bên dưới các đốt bám vào cơ chất đẩy cơ thể di chuyển mộtcách dễ dàng.

Đốt đầu tiên gọi là thùy trước miệng Nó có tác dụng như một chiếc nêm

để đào bới hay bám chặt khi bò tới Vành tơ xung quanh cơ thể, thùy trướcmiệng, tuyến dưới da tiết chất nhầy bôi trơn… đều giúp giun thích nghi cuộcsống đào bới và chui luồn trong đất

Các bộ phận lồi cảm giác (anten, xúc biện, sợi quanh miệng ) trên đầu vàchi bên bị tiêu giảm

Trên cơ thể giun đã trưởng thành về sinh dục thường thấy 1 cái vòng códạng như thiếc nhẫn, đây là đai sinh dục Đai sinh dục thể hiện rất rõ ở giai đoạnsinh sản, thường là ở khoảng ngày thứ 30 (trong chu kỳ đời sống)

Màu sắc: tùy theo tuổi, giun mới nở có màu trắng, giun con có màu hồngnhạt, giun trưởng thành và già có màu đỏ đến mận chín đậm ở mặt lưng màunhạt dần về phía bụng, bên ngoài cơ thể có một lớp kitin mỏng chứa sắc tố do đókhi ra ánh sáng cơ thể chúng thường phát dạ quang màu xanh tím, có đường kẻdưới bụng màu nhạt hoặc sáng ở gần vành miệng

Kích thước: giun nhỏ dài khoảng 3 cm, tiết diện thân 0,2 cm Giun trungbình dài khoảng 3 - 10 cm, tiết diện thân 0,2 - 0,5 cm Giun lớn dài trên 10 cm,tiết diện thân khoảng 0,5 cm Chiều dài cơ thể dao động trung bình 100 - 180

mm, đường kính 5 - 6 mm

4 Cấu tạo cơ thể giun quế

Trang 21

Hình1.2.3 Hình thái cấu tạo giun quế (nhìn phía bụng)

Hình 1.2.4 Sơ đồ cắt ngang qua cơ thể giun quế

Trang 22

Cơ thể giun gồm 2 lớp: lớp ngoài là thành cơ thể, bên trong là ruột, giữa 2lớp chứa dịch lỏng gọi là thể dịch xoang

4.1 Thành cơ thể

Mô bì tạo thành tầng cuticun trong suốt bao ngoài Xen lẫn các tế bào mô

bì có các tuyến và tế bào cảm giác Tế bào tuyến tiết lớp nhầy bao quanh cơ thể,

có khi bám đầy vụn đất tạo thành vỏ tách khỏi tầng cutium hoặc hình thành đaisinh dục Ở vùng tạo đai có hai loại tế bào tuyến: tế bào hạt lớn hình thành lớp

vỏ ngoài của đai, sau này thành vỏ kén và tế bào hạt bé hình thành chất dinhdưỡng cho phôi

Tế bào cảm giác có lông, có thể tập trung thành nhú cảm giác

4.2 Bao cơ

Bao cơ của giun có lớp cơ vòng ở ngoài và lớp cơ dọc ở trong Bao cơdồn dịch thể xoang về phía trước để ép các vụn đất nên các cơ rất phát triển Tếbào cơ có sợi cơ phân bố đều trong chất nguyên sinh hoặc chỉ phân bố ở vànhđai

Các tế bào cơ trong mỗi lớp cũng có thể sắp xếp thành các bó cơ, đơn vị

có tổng hiệu suất hoạt động cao hơn Quá trình phân hóa bao cơ thành từngchùm cơ rõ hơn ở giun quế Phía trong bao cơ là thể xoang, được giới hạn bằng

mô bì thể xoang Trong thể xoang có dịch thể xoang chứa các thành phần tế bào,trong đó có tế bào thực bào và tế bào thể xoang

Dịch thể xoang có thể dồn từ đốt này sang đốt khác, hoặc dồn ra ngoàiqua lỗ lưng Vách đốt có thể phát triển hoặc tiêu giảm ở từng phần của cơ thể.Hiện tượng này liên quan tới cách di chuyển Giun sống chui rúc trong đất sốngnhờ sự điều chỉnh áp suất từng phần của dịch thể xoang và sóng nhu động cơdọc cơ thể

Trang 23

Hình 1.2.5 Sơ đồ di chuyển của giun bằng nhu động cơ vòng và cơ dọc, dồn

ép dịch thể xoang và tạo chỗ bám của tơ

(a) – (d) các giai đoạn liên tiếp

1 Phần đầu; 2 Tơ; III, IX, XX: số đốt ghi theo thứ tự

Mũi tên chỉ hướng di chuyển

4.3 Hệ thống tiêu hóa

Thức ăn của giun quế là các chất hữu cơ mục nát, chất thải gia súc, do đó

bộ tiêu hóa có cấu tạo thích ứng Ống tiêu hóa thẳng và phân hóa khá phức tạp

Trang 24

Giun có ống tiêu hóa khỏe nhưng không có răng, không có tuyến acid mạnh như

ở các loài động vật khác

Gồm có: lỗ miệng xoang miệng hầu thực quản mề dạ dày ruột manh tràng - trực tràng và hậu môn

Giun nuốt thức ăn bằng lỗ miệng, lỗ miệng nằm ở đỉnh đầu và hơi lệch

về phía bụng Xoang miệng: nằm ở đốt I và II, không có răng, vách xoang miệngmỏng có tác dụng tiếp nhận, giữ thức ăn và là công cụ đào bới chủ yếu của giun

- Hầu, vách hầu có tầng cơ dày kéo dài từ đốt thứ III cho đến đốt thứ V.Khi bắt thức ăn hầu thò ra và đế cơ của hầu cặp thức ăn vào ống tiêu hóa Độngtác thò ra của hầu tiến hành nhờ các cơ chằng từ hầu tới thành cơ thể Thànhlưng ở phía sau của hầu có vùng tập trung tuyến tiêu hóa đơn bào tiết menProteas

- Thực quản: nằm ở đốt thứ VI và đốt thứ VII, hai bên thực quản nhô ramột hoặc nhiều đôi có dạng hình túi, đó là tuyến Ca, có tác dụng điều tiết độ pH,

hỗ trợ các enzyme tiêu hoá hoạt động và hệ vi sinh vật hữu ích trong đường tiêuhoá tồn tại và hoạt động đồng thời cũng có tác dụng quan trọng trong việc thảikhí CO2 ra ngoài Tuyến tiêu hóa ở giun quế là tuyến moren, chằng chịt maoquản máu, nhận các ion CO3 và Ca++ thừa trong máu và tiết vào thực quản đểtrung hòa acid humic có trong thức ăn

- Mề: là bộ phận phình to của ống tiêu hoá có dạng hình túi tròn, thành mềmỏng, năng ở đốt thứ VIII, IX, X Nó có tác dụng chứa thức ăn tạm thời, làmướt và làm mềm thức ăn và cũng có tác dụng nhất định trong việc tiêu hoá mộtphần protein của thức ăn

- Dạ dày: là phần thu hẹp lại của ống tiêu hoá, nằm ở đốt thứ XI đến đốtthứ XIV, thông với ruột non, là cơ quan nghiền thức ăn, có tác dụng tiết raenzyme tiêu hoá như enzyme protease, amylase, lipase, cellulase, kitinase…

- Ruột: mô bì thể xoang bao quanh ruột chuyển thành tế bòa màu vàng(chloragogen) tham gia vào quá trình trao đổi glycogen và bài tiết Ngoài ra còn

có hiện tượng lõm thành lưng làm tăng diện tích tiêu hóa và hấp thụ thức ăn

Trang 25

- Trực tràng: có thành mỏng và hẹp, không có tác dụng tiêu hoá thức ăn

mà chỉ là nơi chứa các chất thải sau khi tiêu hoá và đẩy ra ngoài qua hậu môn

Cả cơ thể giun là một ống tiêu hóa Trong ống tiêu hóa này chứa đầy visinh vật Bản thân con giun không đủ sức chuyển hóa trực tiếp các chất hữu cơthành năng lượng mà chính những vi sinh vật có trong ống tiêu hóa đảm nhậnvai trò này

Lượng thức ăn mỗi ngày được ghi nhận là tương đương với trọng lượng cơthể nó Những vi sinh vật cộng sinh có ích trong hệ tiêu hóa theo phân ra khỏi

cơ thể giun nhưng vẫn còn hoạt động ở màng dinh dưỡng trong một thời giandài Đây là một trong những nguyên nhân làm cho phân giun có hàm lượngdinh dưỡng cao và có hiệu quả cải tạo đất tốt hơn dạng phân hữu cơ phân hủybình thường trong tự nhiên

Trang 26

Hình 1.2.6 Cấu tạo trong của hệ tiêu hóa giun quế

4.4 Hệ tuần hoàn

Giun có hệ tuần hoàn phát triển: mạch máu lưng liên hệ trực tiếp vớimạng mao quản ruột Ở phía trước mạch lưng nối tiếp với mạch bụng bằng haiđôi mạch bên

Hệ tuần hoàn có dạng ống khép kín, gồm có: hệ mạch máu trung tâm, hệmạch xung quanh ruột và vòng tuần hoàn ngoại biên Máu giun di chuyển trongmạch lưng từ sau ra phía trước và máu trong mạch bụng di chuyển ngược lại.Phía trước cơ thể mạch lưng và mạch bụng nối với nhau nhờ quai mạch phình

to, có khả năng co bóp, các “tim bên” Máu từ mạch lưng chuyển qua “tim bên”xuống mạch bụng rồi vào mao quản da và các nội quan Ngoài mạch lưng vàmạch bụng còn có mạch dưới thần kinh và mạch bên thần kinh

Hệ tuần hoàn kết hợp với hệ hô hấp thông qua mạng lưới mao mạch dưới

da tạo điều kiện trao đổi khí qua da Sau khi lấy oxy từ da về, máu qua các mạch

Trang 27

nối dưới dây thần kinh lưng để về mạch lưng Mạch lưng vốn có khả năng cobóp để vận chuyển máu.

Máu của giun quế là dịch thể màu hồng, không chứa các tế bào hồng cầu,nhưng trong huyết tương có Hemoglobin nên máu có màu đỏ

Hình 1.2.7 Hệ tuần hoàn của giun quế

1 Mạch lưng; 2 Mạch bụng; 3 Mạch dưới thần kinh

4 Mạch bên thực quản; 5 Mạch tới da; 6 Tim

7 Hầu ; 8 Dạ dày; 9 Ruột; 10 Mạng mao mạch ruột

11 Miệng; 12 Hậu môn

4.5 Hệ hô hấp

Không có cơ quan hô hấp chuyên hóa, giun hô hấp qua da và do đó thành

cơ thể luôn luôn ẩm nhờ có tuyến nhầy, dịch thể xoang hay dịch bài tiết Vì vậygiun luôn luôn sống ở nơi ẩm ướt

Sau những cơn kéo, nhiều con giun buộc phải rời bỏ hang để bò lên mặtđất Hậu quả thường dẫn đến giun chết hàng loạt, nguyên nhân là do bùn nhãotheo nước mưa vào lấp kín hang giun và bám chặt quanh cơ thể chúng sẽ cảntrở hô hấp, giun không thở được buộc phải ngoi lên mặt đất để thoát thân.Đương nhiên lúc này không còn môi trường bảo vệ nên lớp da nhanh chóng bịbong khô và nếu không may lại gặp ánh sáng ban ngày làm tổn thương sẽ trầmtrọng, giun sẽ yếu đi rất nhanh và sẽ chết hàng loạt sau đó

Trang 28

O2 trong môi trường được hòa tan vào chất nhầy trên bề mặt cơ thể giun,sau đó thấm vào hệ thống mạch máu phân nhánh li ti bên trong rồi được vậnchuyển đến các cơ quan; việc thải CO2 cũng thông qua một tiến trình tương tự.

4.6 Hệ bài tiết

Hình 1.2.8 Sơ đồ phân bố cơ quan bài tiết của giun quế

1 - 3 Ba đôi vi thận hầu và ống dẫn; 4 Dạ dày; 5 Vi thận da

6 Đai sinh dục; 7 Mạch lưng; 8 Vi thận vách

9 Thực quản; 10 Hầu; 11 NãoGiun có cơ quan bài tiết là vi thận Chúng có 3 loại vi thận được xác địnhtùy theo vị trí: vi thận hầu, vi thận da và vi thận vách Có 3 đôi vi thận hầu bámtrên mặt trước của vách sau đốt IV - VI và có ống đẫn đổ vào khoang hầu Từđốt VI trở về sau vi thận da phân bố đều trên mặt trong của thành cơ thể và đổ

Trang 29

trực tiếp ra ngoài qua da Ở các đốt có đai sinh dục thì mật độ vi thận da caohơn Vi thận vách bám trên đốt từ vách trước của đốt thứ XV trở về sau Mỗi vithận vách là một hệ thống vi thận (khoảng 80 - 100 ở mỗi đốt), đổ chung vào 2ống bài tiết chạy dọc trên ruột ở hai bên đường lưng và bài tiết vào ruột Tế bàomàu vàng bám trên ống tiêu hóa cũng làm nhiệm vụ bài tiết.

Giun bài tiết trực tiếp chất thải chứa đạm dưới dạng amoniac và urea quacác cặp thận ở các đốt

4.7 Hệ thần kinh

Hình 1.2.9 Phần đầu của hệ thần kinh giun quế

1 Não; 2 Hạch dưới hầu; 3 Hạch bụng

4 Dây thần kinh trước miệng 5 Miệng

Hệ thần kinh của giun chưa phát triển nhiều, nằm sát ngay dưới lớp biểu

mô và não nằm ở đốt thứ 3 và dây thần kinh tập trung thành chuỗi chúng có các

tế bào thụ cảm cũng giúp chúng nhận biết ánh sáng, nhiệt độ, áp suất khí quyển

và những dấu hiệu của thời tiết Chúng không có mắt, mũi, tai nên các tế bào thụ

Trang 30

cảm nằm rải rác trên cơ thể phải làm thay Chúng đoán thời tiết rất giỏi, hễ cógiông bão là cả họ nhà giun ngoi lên mặt đất bỏ chạy tán loạn Do đó, ngườinuôi giun phải dè chừng trường hợp này để chủ động ngăn chặn.

Gồm hạch não, chuỗi hạch thần kinh bụng và dây thần kinh cùng với cơquan cảm giác và cung phản xạ, trong hệ thần kinh còn có một số tế bào tiết racác kích thích tố ảnh hưởng rất lớn đối với sinh sản và tái sinh sản

Khả năng ngửi của giun kém, tuy nhiên chúng phân biệt được các loạithức ăn khác nhau Trong một luống nuôi, giun cũng có thể tìm tới chỗ có thức

ăn ngon hơn Nhiều thí nghiệm chỉ ra rằng, chỉ cần bốn tiếng đồng hồ (trongđiều kiện tối và ẩm) giun sẽ tập kết đến những chỗ có thức ăn mà chúng cho làngon nhất

Trang 31

4.8 Hệ sinh dục

Hình 1.2.10 Hệ sinh dục của giun

1 Não; 2 Túi nhận tinh; 3 Tuyến tinh;

4 Phễu của ống dẫn tinh (6); 5 Tinh nang

7 Tuyến tiền liệt; 8 Tuyến trứng; 9 Ống dẫn trứng

10 Vách của túi tinh hoàn sau khi cắt (số la mã chỉ số đốt)

Giun quế là loài động vật lưỡng tính Trên mỗi con giun đều có cả bộphận sinh dục đực (tinh hoàn) và bộ phận sinh dục cái (buồng trứng) Tuy nhiên,chúng lại không có một ống dẫn giữa yếu tố đực và yếu tố cái nên muốn sinhsản chúng phải quấn lấy nhau, thụ tinh chéo để sinh sản

Tuyến sinh dục tập trung ở mốt số đốt và có hệ thống dẫn tinh riêng Từđốt thứ 18 đến đốt 22 của giun quế có một cái đai Người ta gọi là đai sinh dục,đai sinh dục có màu nhạt hơn màu cơ thể Chúng hình thành khi cơ thể giun

Trang 32

trưởng thành Ở các đốt thứ thứ 6, thứ 7 và thứ 8 có ba đôi lỗ nhận tinh mở ramặt bụng Còn ở đốt thứ 18 thì có hai lỗ đực Các bộ phận đực cái nằm xa nhau,tuy nhiên chúng đều nằm ở nửa đầu của cơ thể

Cơ quan sinh dục cái gồm: buồng trứng, ống dẫn trứng, túi nhận tinh Cơquan sinh dục đực gồm có: tinh hoàn, túi chứa tinh, ống dẫn tinh và tiến liệttuyến

Các tế bào đực hình thành trong hai cặp tinh hoàn (hình bầu dục, màuvàng nhạt) và thông với túi chứa tinh Sau khi thành thục, tế bào đực sẽ đi quaphễu dẫn tinh để tới hai lỗ đực

5 Đặc tính sinh lý của giun quế

Giun quế thường sống trên mặt đất, thích sống nơi môi trường ẩm ướt, tối,

ưa đất tới xốp có nhiều chất hữu cơ đang phân huỷ và độ pH ổn định

Giun hoạt động vào ban đêm, ban ngày chui rúc, tối ra ngoài hoạt động.Vào mùa hè thu vào 8h tối đến 4 giờ sáng hôm sau giun hoạt động ở ngoài Việctìm kiếm thức ăn, giao phối đều tiến hành trong bóng tối

Tế bào da của giun quế rất mỏng, thường xuyên tiết ra chất nhờn để bảo

vệ cơ thể và thích ứng với điều kiện chui rúc trong môi trường tối và ẩm thấp do

đó giun quế rất nhạy cảm, phản ứng mạnh với ánh sáng, nhiệt độ và biên độnhiệt độ cao, độ mặn và điều kiện khô hạn

Giun ưa môi trường yên tĩnh Nếu xung quanh có nhiều tiếng ồn, giunphát triển không tốt hoặc tháo chạy

pH: giun quế chịu được phổ pH khá rộng, từ 4 9, thích hợp nhất là 6,8 7,5 Nếu pH quá thấp chúng sẽ bỏ đi

Nhiệt độ: bình thường giun quế sống trong phạm vi nhiệt độ từ 5 30oC,nhiệt độ thích hợp nhất cho sự sinh trưởng và sinh sản của giun là 15 - 25oC ,trong điều kiện khí hậu nhiệt đới tương đối ổn định và có độ ẩm cao như điềukiện của khu vực phía Nam, chúng sinh trưởng và sinh sản rất nhanh Khi nhiệt

độ môi trường tăng quá cao (cao hơn 350C), để thích nghi, giun sẽ huy độngnăng lượng bằng cách tăng cường hô hấp, kéo theo quá trình dị hóa tăng theo, từ

Trang 33

đó tiêu tốn thức ăn cũng tăng lên do đó khi gặp nhiệt độ cao chúng sẽ bỏ đi hoặcchết dần Quá trình trên sẽ theo chiều hướng ngược lại khi nhiệt độ giảm đi ởnhiệt độ quá thấp (thấp hơn 130C) chúng sẽ ngừng hoạt động và có thể chết.Tóm lại giun có thể chết nếu nhiệt độ quá cao, quá thấp hoặc khi quá khô vànhiều ánh sáng, nhưng lại có thể tồn tại được khá lâu trong môi trường nướccung cấp đầy đủ Oxy

- Độ ẩm: nước là thành phần quan trọng chiếm 75 - 90 % khối lượng cơthể giun, với giống loài khác nhau thì ngưỡng độ ẩm thích hợp cũng khác nhau,

độ ẩm thích hợp nhất cho giun sinh trưởng và sinh sản là 60 - 70 % Độ ẩm vànhiệt độ có quan hệ lẫn nhau lên sự sinh trưởng và sinh sản của giun, trong đó

độ ẩm là một trong những nguyên nhân làm tăng hay giảm sản lượng của giun,

độ ẩm quá cao có thể làm cho kén bị thối, không nở được Giun cũng có thể chếtkhi điều kiện khô và nhiều ánh sáng, nhưng lại có thể tồn tại được lâu dài trongmôi trường nước có thổi ôxy

- Không khí: giun quế hô hấp qua da, chúng có khả năng hấp thu ôxy vàthải CO2, do đó môi trường sống của chúng đòi hỏi phải thoáng khí, lưu ý cácchất khí có hại cho giun như: Chlor (Cl2), amoniac (NH3), H2S, SO2, SO3, CH4

Theo Willis (1995) và Edward (1998) cho rằng P.excavatus không thể sống tốt

trong chất thải hữu cơ chứa nhiều NH3

B Thùc hµnh

Nhận biết cấu tạo cơ thể của giun quế

1 Mục tiêu:

- Nhận biết được cấu tạo cơ thể của giun quế

- Xác định được vị trí các cơ quan trên tiêu bản

2 Kiến thức chuyên môn cho bài thực hành

- Cấu tạo bên ngoài:

+ Hình dạng: Thân có hình trụ, dài hơi hẹp, đầu và đuôi hơi nhọn, cơ thểthon dài nối với nhau bởi các đốt

Trang 34

+ Màu sắc: Tùy theo tuổi, giun mới nở có màu trắng, giun non có màuhồng nhạt, giun trưởng thành và già có màu đỏ đến màu mận chín đậm ở mặtlưng và nhạt dần về phía bụng.

- Cấu tạo bên trong: dạ dày; ruột; tuyến tiền liệt

3 Thực hành

3.1 Điều kiện thực hành

- Địa điểm thực hành: Tại phòng thí nghiệm

- Thiết bị: máy chiếu projector

- Nguyên vật liệu và dụng cụ: Giun quế, khay nhôm, kim ghim, miếng lótcao su, kẹp, kéo

- Thời gian thực hành: 05 tiết

3.2 Trình tự thực hiện

- Kiểm tra thiết bị, dụng cụ, vật tư

- Trình tự công việc chính và yêu cầu cần thiết:

dụng cụ Yêu cầu kỹ thuật

1 Hướng dẫn lý thuyết các cơ

quan của giun

Máy chiếu projector Ngắn gọn, dễ hiểu

3 Học viên thực hiện

Đúng theo hướng dẫn, và chỉ

ra được chính xác vị trí các cơ quan

- Hướng dẫn chi tiết thực hiện các công việc

Tên công việc Hướng dẫn

Hướng dẫn lý thuyết

- Quan sát bên ngoài các cơ quan: Hình dạng, màu sắc, lỗ miệng; lỗ nhận tinh; đai sinh dục; lỗ cái

- Quan sát bên trong các cơ quan: dạ dày; ruột; tuyến tiền liệt

Làm mẫu thử - Giảng viên thực hiện thao tác trên cơ thể giun

- Học viên theo dõi

Trang 35

Học viên thực hiện - Mỗi nhóm gồm 02 học viên

- Thực hiện thao tác như sau:

- Quan sát các cơ quan bên ngoài cơ thể + Cố định giun trên tấm cao su + Để tấm cao su vào khay nhôm + Xác định được vị trí các cơ quan bên ngoài như: miệng, túi nhận tinh, đai sinh dục

- Quan sát các cơ quan bên trong cơ thể + Sau khi quan sát bên ngoài xong Dùng nhíp kéo phần da bên ngoài của giun ra

+ Dùng kéo cắt dọc theo cơ thể giun + Dùng ghim cố định phần da ra hai bên + Sau đó tiến hành quan sát và xác định được các cơ quan trên.

Quan sát kỹ cấu tạo và

vị trí các cơ quan bên ngoài trên hình vẽ trước khi quan sát trên

cơ thể giun.

2

Thao tác không đúng khi tiến hành mổ giun để quan sát các cơ quan bên trong

Sử dụng kéo không đúng kỹ thuật

Giảng viên hướng dẫn trước.

Quan sát kỹ cấu tạo và

vị trí các cơ quan bên trong trên hình vẽ trước khi quan sát trên cơ thể giun.

5 Kiểm tra và đánh giá

Cuối buổi thực hành, giảng viên kiểm tra bất kỳ một nhóm học viên nào.Sau đó nhận xét về thái độ học tập, thao tác thực hiện và kiến thức của nhữnghọc viên đó

Trang 36

Mã bài học

1-3

Tên bài học

SỰ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ SINH SẢN CỦA

GIUN QUẾ

Thời gian (giờ)

LT03

TH/TL05

TS08

MỤC TIÊU

Sau khi học xong bài này, học viên có thể:

- Phân tích được các giai đoạn sinh trưởng, phát triển và đặc tính sinh sảncủa giun quế

- Nhận biết được hình thái của giun quế qua các giai đoạn sinh trưởng

Trang 37

NỘI DUNG

A Lý thuyết

Cũng như các loài vật khác, sinh trưởng và phát triển của giun cũng tuântheo quy luật giai đoạn, nó phụ thuộc vào giống, tính biệt, điều kiện nuôi dưỡngchăm sóc quản lý và môi trường

1 Sự sinh trưởng và phát triển của giun quế

Giun sinh trưởng bằng phương thức tăng số lượng đốt thân hoặc tăng tiếtdiện đốt thân Trong quá trình sinh trưởng, thể trọng và thể tích của giun tănglên

Giun con khi mới nở nhỏ như đầu kim, màu trắng, khoảng 2 - 3mm, sau5- 7 ngày cơ thể chuyển dần sang màu đỏ và bắt đầu xuất hiện một lằn đỏ thẫmtrên lưng, dài 1 - 2 cm

Khoảng 15 - 30 ngày sau, chúng trưởng thành và bắt đầu xuất hiện đaisinh dục Khi xuất hiện đai sinh dục là lúc giun đã thành thục sinh dục và có thểbắt cặp để sinh sản

Sau 60 ngày, giun đạt 8 -10 cm (thu hoạch giun thịt lúc này là tốt nhất)

Từ 70 - 90 ngày giun bắt đầu đẻ nhưng tỷ lệ trứng nở thấp

Từ 90 ngày tuổi trở đi, giun trở thành bố mẹ hoàn chỉnh, giun đẻ rất khỏe(1 tuần đẻ 1 lần) và tỷ lệ trứng nở cao nếu giun được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt

Sau đó, cùng với thời gian, đai sinh dục thoái hóa chứng tỏ giun đã già.Trước khi giun chết, khối lượng cơ thể giảm sút Trong tự nhiên, vào mùa thu vàmùa xuân, giun tăng trưởng nhanh; vào mùa đông và mùa hè, giun tăng trưởngchậm hơn

Giun trưởng thành nặng từ 0.08 - 0.12g, giun nhỏ nặng < 0.05g

Giun có khả năng tái sinh một bộ phận nào đó bị tổn thương hoặc bị cắt

đứt Lớp Oligochaetae có thể tái sinh cả phía trước và phía sau thân của cơ thể.

Giun quế có khả năng hình thành những phần cơ thể đã bị cắt mất (Thái TrầnBái, 1978)

Trang 38

2 Sự sinh sản của giun quế

Giun quế là loài sinh vật lưỡng tính Giun trưởng thành khi được bốn tuầntuổi và bắt đầu trồi lên mặt đất để giao phối Có đai và các lỗ sinh dục nằm ởphía đầu cơ thể, chúng giao phối chéo với nhau để hình thành kén ở mỗi con.Việc thụ tinh diễn ra ở đai sinh dục và đai hình thành kén có dạng quả lê, kén dichuyển dần về phía đầu, nhận tinh dịch qua túi nhận tinh rồi rơi ra đất và thắt lại

Trong tự nhiên, chờ khi sương đêm buông xuống giun quế bò lên mặt đất

để đi tìm nhau Chúng tiến sát đến nhau theo hướng ngược chiều, châu đầu lạivới nhau, con này gối lên con kia, bụng sát bụng, đai sinh dục của con này épvào lỗ nhận tinh của con kia Lúc này cả hai đều tiết dịch nhầy để hỗ trợ choviệc “yêu nhau” Con nào cũng hoạt động như một con đực Chúng co cơ để tiếttinh dịch và đẩy tinh dịch vào túi nhận tinh của con kia Sau khi giao phốikhoảng 1 giờ, hai cá thể tách rời nhau ra và ai đi dường nấy Tinh giun sẽ nằmtrong túi nhận tinh mà không được thụ tinh ngay vì trứng chín chậm hơn vàingày, so với sự thành thục của tinh giun Lúc này, các Clitellum bắt đầu tiết ramột chất đặc biệt, dịch nhầy tiết ra tạo thành một vòng Khi vòng nhầy bong ra

nó sẽ tuột lên phía trước Lúc đi qua lỗ cái nó sẽ nhận một ít trứng chín Còn khi

đi qua cặp túi nhận tinh, nó sẽ nhận tinh giun mà “đối phương” đã “gửi” ở đó từtrước Sự thụ tinh sẽ xảy ra ngay trên vòng nhầy Vòng nhầy tuột tiếp lên phíatrước và rơi ra ngoài Lúc này, nó tự thắt hai đầu lại để thành kén Toàn bộ quátrình sinh sản diễn ra trong chiếc kén này Đây là hình thức tiến hóa nhằm chốnglại hiện tượng tự sinh sản

Giun đẻ rất khỏe Thông thường, mỗi tuần đẻ một lần và ba tuần sau kén

nở, ba tháng sau thành giun trưởng thành Lúc 6 - 8 tháng tuổi giun có độ dài tối

đa của loài mới thực sự trưởng thành về sinh dục Trong điều kiện có đầy đủthức ăn tốt, đủ ẩm (70%) có nhiệt độ môi trường thích hợp, một giun quế có thểsinh sản 800 - 1500 con cháu trong một năm Giun mẹ sống tới 12 năm và vẫn

đẻ Vì vậy, tất cả các thế hệ từ cụ, kỵ, ông, cha, cháu, chắt, chút, chít….đều đẻ.Chúng sẽ tăng đàn theo cấp số nhân, do đó khi nuôi ta rất ngạc nhiên về tốc độtăng đàn phi thương này Đây cung là tính ưu việt của giun quế Vì vậy, nhờ đặc

Trang 39

điểm này mà từ phân trâu, bò, phân gia súc ta có thể tạo ra vô vàn giun quế nguồn đạm động vật quý báu để cung cấp cho các loài vật nuôi trong gia đình.Đây là điều mà bất cứ người nuôi nào cũng phải lưu tâm.

-Trong tự nhiên sinh sản của giun biến động theo mùa trong năm rõ rệt

- Mùa thu khí trời dịu mát, kén giun nở nhiều, lượng giun non dễ thấynhiều trong đất ẩm nơi cống rãnh

- Sang mùa đông do thời tiết lạnh, số kén nở bị hạn chế, giun con ít đi,

số giun trưởng thành nhiều lên

- Sang xuân thời tiết ấm dần, độ ẩm cao, lượng giun con nở từ kén bắtđầu tăng Cả hai dạng giun con và giun lớn đều có mặt trong đất ẩm

- Sang hè, mặt trời chiếu mặt đất nóng lên và khô hạn Giun trở nên ítdần, kém linh hoạt Ở nơi khô nhất và nóng nhất trong mùa hè hầu hết bắt gặptrong tự nhiên là giun non, ngoài ra còn lại là những kén chưa nở của giun thànhthục đẻ ra trước khi chết Như vậy, cuối hè là giai đoạn suy sụp rõ rệt về hoạtđộng sống sinh sản của giun

Trang 40

Hình 1.3.1 Sự giao phối của giun quế

3 Kén giun quế

Trong quá trình phát triển của phôi, kén giun quế có vai trò rất quan trọng.Kén giun quế có dạng thon dài, một đầu tròn và đầu kia nhọn hơn, nhìngiống như hạt bông cỏ, kích thước khoảng 1 mm

Màu sắc kén cũng thay đổi theo thời gian Kén giun ban đầu lúc mới đẻ ra

có màu trắng đục, sau chuyển sang xanh nhạt, vàng ngọc trai, sau đó chuyểnthành màu xanh lục nhạt hoặc nâu nhạt rồi nâu sẫm khi kén sắp nở

Trọng lượng kén giun nặng từ 2.2 - 2.6mg, kích thước của kén là 0.85mm

x 1,6 mm Thời gian nở hoàn toàn khác nhau tùy thuộc vào điều kiện môi trường

- nhiệt độ, độ ẩm, trong điều kiện bình thường thời gian nở ra ấu giun quế của

giun Perionyx excavatus là 2 - 3 tuần… mỗi kén giun chứa từ 1 - 20 giun con.

Trứng của giun quế ít noãn hoàng, chúng dùng chất albumin trong kén làm thức

ăn Khi nhiệt độ tăng thì thời gian trung bình kén nở giảm và tỉ lệ kén nở tăng.Phôi phát triển trong kén thông qua giai đoạn ấu giun quế Khoảng từ 14 - 21ngày giun non tự cắn thủng kén để chui ra

Ngày đăng: 10/06/2021, 01:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w