nâng cao chất lượng bổ sung, rủi ro thanh toán xuất khẩu, phát triển dịch vụ môi giới, kế toán chi phí sản xuất, phát triển mô hình tmđt, phát triển dịch vụ bổ sung
Trang 1DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang 2DANH MỤC SƠ ĐỒ HÌNH VẼ
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Trong nền kinh tế, thép là vật tư chiến lược không thể thiếu của ngành côngnghiệp, xây dựng và quốc phòng Nó có vai trò hết sức quan trọng trong sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Khi Việt Nam thực hiện hội nhậpngày càng sâu và rộng vào kinh tế thế giới thì ngành thép vẫn đóng vai trò làngành kinh tế trụ cột cho sự phát triển của nước ta
Từ năm 2006 trở đi, do tác động của chính sách mở cửa và hội nhập nền kinh
tế, Việt Nam trở thành địa chỉ tiềm năng thu hút nhiều dự án đầu tư của nướcngoài Theo đó nhu cầu về thép xây dựng cũng như thép nguyên liệu dùng trongcác ngành khác công nghiệp khác tăng mạnh Trong một vài năm gần đây, nhucầu thép của Việt Nam đều tăng ở mức hai con số mỗi năm Đáp ứng mức tăng
ấy, sản lượng sản xuất thép của doanh nghiệp trong nước tăng theo từng năm.Tuy nhiên thực trạng gần đây cho thấy đối với ngành thép, cung vẫn chưa đủ cầu.Sản xuất thép trong nước vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu thép xây dựng trongnước Còn với ngành đóng tàu thì dường như nhập khẩu hoàn toàn thép nguyênliệu do trình độ kỹ thuật trong nước không đáp ứng yêu cầu về chất lượng.Khoảng 80% phôi cho hoạt động sản xuất ngành thép phải nhập từ nước ngoài Như vậy, ngành thép của nước ta chịu ảnh hưởng rất lớn của thép nhập khẩu.Việc nhập khẩu này không chỉ ảnh hưởng đến riêng ngành thép mà còn ảnhhưởng tới các ngành công nghiệp khác hay nói cách khác sự phát triển của ngànhthép ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế Hiện nay hoạt động nhập khẩu nói chung
và nhập khẩu thép nói riêng chịu tác động của rất nhiều yếu tố, trong đó yếu tốtác động mạnh nhất là tỷ giá hối đoái Sự thay đổi của tỷ giá có thể khuyến khíchhoặc hạn chế hoạt động nhập khẩu
Trong vài năm trở lại đây, tình hình tỷ giá thay đổi thất thường và khó dựđoán Năm 2008 được giới phân tích tài chính coi là “năm bất ổn của tỷ giá” vớinhững biến động tỷ giá rất phức tạp Chỉ trong năm 2008, biên độ tỷ giá đượcđiều chỉnh 5 lần, mật độ chưa từng có trong lịch sử Năm 2009, tỷ giá VNĐ/USDtiếp tục tăng, đặc biệt là sau khi NHNN thực hiện nới rộng tỷ giá lên 5% Tỷ giátiếp tục tăng vào năm 2010, đỉnh điểm vào dịp cuối năm 2010, tỷ giá tăng lên đếngần 22000 VNĐ/USD, gần kịch mức sàn cho phép Sang đến những tháng đầunăm 2011, tỷ giá giao dịch ở mức 21000 VNĐ/USD trên thị trường tự do Cónhiều nguyên nhân dẫn đến sự biến động mạnh của tỷ giá, có thể kể đến là do sựmất cân đối giữa cung và cầu ngoại tệ, tâm lý găm ngoại tệ và các chính sách
Trang 5kinh tế của Chính Phủ… Sự biến động này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt độngnhập khẩu.
Trong thời gian tới, tỷ giá có xu hướng vẫn giữ ở mức cao, đồng tiền ViệtNam vẫn mất giá Điều này làm cho giá hàng nhập khẩu tăng, hạn chế nhập khẩu.Tuy nhiên, mặt hàng thép nhập khẩu rất cần cho sản xuất và cho các ngành côngnhiệp khác trong nước nên Chính Phủ cần có những biện pháp cụ thể nhằm hạnchế ảnh hưởng của biến động tỷ giá, tạo thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu mặthàng này Vì vậy, em chọn nghiên cứu về giải pháp hạn chế tác động của biếnđộng tỷ giá đến hoạt động nhập khẩu thép Do thời gian nghiên cứu ngắn, thêmnữa kiến thức thực tế còn hạn chế nên không thể nghiên cứu cùng lúc nhiều công
ty Trong qua trình nghiên cứu, để hiểu rõ hơn các vấn đề về tỷ giá cũng như tácđộng của tỷ giá đến hoạt động nhập khẩu thép, em xin lấy công ty cổ phầnthương mại Hiệp Hương, cũng là một trong những công ty nhập khẩu mặt hàngthép xây dựng lớn của Việt Nam làm ví dụ minh họa
Vì các lý do như trên nên em chọn đề tài: “Hạn chế tác động của biến động
tỷ giá đến hoạt động nhập khẩu các sản phẩm thép xây dựng Lấy ví dụ tạo công ty cổ phần thương mại Hiệp Hương” để tập trung nghiên cứu Hi vọng đề
tài của em có thể đưa ra một số đóng góp hữu ích cho Nhà nước và doanh nghiệptrong việc hạn chế tác động của tỷ giá đến hoạt động nhập khẩu thép
1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài
Để đi đúng hướng nghiên cứu của đề tài, các câu hỏi nghiên cứu đặt trong đềtài bao gồm:
- Sự biến động của tỷ giá hối đoái mà cụ thể là tỷ giá giữa VNĐ và USD cóảnh hưởng như thế nào đến hoạt động nhập khẩu các sản phẩm thép xây dựng nóichung và của công ty cổ phần thương mại HIệp Hương nói riêng?
- Các biện pháp hạn chế tác động mà Nhà nước và doanh nghiệp đã áp dụng?Còn những tồn tại nào chưa được giải quyết trong các biện pháp đó?
- Đề xuất, kiến nghị đối với Nhà nước, đối với hiệp hội thép và đối với công
ty cổ phần thương mại Hiệp Hương nhằm hạn chế những tác động tiêu cực củabiến động tỷ giá đến hoạt động nhập khẩu thép vào Việt Nam?
Đề tài nghiên cứu về tác động của biến động tỷ giá với hiệu quả của hoạtđộng nhập khẩu các sản phẩm thép, tìm hiểu thực trạng việc đối phó với tìnhtrạng biến động tỷ giá của các công ty nhập khẩu Từ đó đưa ra các giải pháp vềphía Nhà nước cũng như về phía doanh nghiệp, hiệp hội thép nhằm hạn chế tácđộng tiêu cực của biến động tỷ giá đến hoạt động nhập khẩu thép
Trang 61.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu biến động của tỷ giá và tác động của sự biến động tỷ giáđến hoạt động nhập khẩu thép xây dựng mà cụ thể là của công ty cổ phần thươngmại Hiệp Hương Do đó mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm:
- Về phía doanh nghiệp: làm rõ tác động của tỷ giá đến hoạt động nhậpkhẩu của công ty như thế nào, từ đó kiến nghị một số biện pháp giúp công ty hạnchế rủi ro do biến động tỷ giá mang lại, cũng như giúp công ty có những chiếnlược kinh doanh đúng đắn trong thời gian tới
- Về phía Nhà nước: đề tài không chỉ nghiên cứu tác động của tình hìnhbiến động tỷ giá của một công ty nói riêng mà còn nghiên cứu trên phạm vi củacác doanh nghiệp nhập khẩu thép cũng như các doanh nghiệp nhập khẩu nóichung Cho nên các kết quả nghiên cứu có tầm vĩ mô, giúp Nhà nước có thể vậndụng trong việc hoàn thiện chính sách tỷ giá hối đoái, sao cho chính sách đó cólợi cho phát triển kinh tế và đặc biệt là cho hoạt động nhập khẩu
1.4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Chủ đề về tỷ giá là một đề tài rộng nhưng do thời gian và năng lực nghiên cứucòn hạn chế nên em xin giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài của mình như sau:
- Về mặt lý luận: đề tài chỉ tập trung nghiên cứu sự biến động của tỷ giá
và tác động của biến động tỷ giá đến hoạt động nhập khẩu của các doanh nghiệpvào Việt Nam, từ đó có các biện pháp nhằm hạn chế sự ảnh hưởng của biến động
tỷ giá đến hoạt động nhập khẩu của các doanh nghiệp Một lưu ý nữa là trên thịtrường có nhiều loại tỷ giá khác nhau nhưng đề tài chỉ tập trung nghiên cứu sựbiến động của tỷ giá VNĐ/USD, từ đó khái quát và đưa ra nhận xét cho các cácloại tỷ giá nói chung
- Về mặt thực tiễn: đề tài nghiên cứu cụ thể tác động của biến động tỷ giáđến hoạt động nhập khẩu của công ty cổ phần thương mại Hiệp Hương
- Về phạm vi ngành: đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tác động của biếnđộng tỷ giá đến hoạt động nhập khẩu của ngành thép
- Về mặt hàng: đề tài chỉ nghiên cứu các vấn đề xoay quanh các sản phẩmthép nhập khẩu, mà cụ thể hơn nữa là mặt hàng thép xây dựng nhập khẩu
- Về thời gian: đề tài nghiên cứu biến động tỷ giá từ năm 2008 đến đầunăm 2011, từ đó đưa ra các biện pháp hạn chế tác động của sự biến động này đếnhoạt động nhập khẩu các sản phẩm thép trong những năm tiếp theo
Trang 71.5 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, danh mục bảng biểu, danh
mục sơ đồ hình vẽ, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì kết cấu luận vănbao gồm 4 chương:
Chương I: Tổng quan nghiên cứu đề tài.
Nội dung chương này chủ yếu nêu lý do chọn đề tài, các mục tiêu nghiên cứucũng như các giới hạn phạm vi nghiên cứu một cách cụ thể
Chương II: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về ảnh hưởng của biến động tỷ giá đến hoạt động nhập khẩu các sản phẩm thép xây dựng của doanh nghiệp.
Nội dung củ chương này bao gồm các vấn đề cơ bản về tỷ giá hối đoái vàhoạt động nhập khẩu, nêu tổng quan tình hình các khách thể nghiên cứu củanhững công trình trước đã có Ngoài ra còn một nội dung quan trọng không thểthiếu trong chương 2 đó là phân định nội dung vấn đề nghiên cứu của đề tài Nộidung này nêu lên sự khác biệt so với các nghiên cứu đã có, góp phần xác định rõcác nội dung mà đề tài nghiên cứu
Chương III: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng tác động của sự biến động tỷ giá đến hoạt động nhập khẩu các sản phẩm thép xây dựng của công ty cổ phần thương mại Hiệp Hương
Đây là chương trình bày các phương pháp hệ nghiên cứu vấn đề, tổng hợpcác kết quả điều tra, phỏng vấn, đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng củacác nhân tố môi trường đến hoạt động nhập khẩu thép
Chương IV:Các kết luận và đề xuất về giải pháp hạn chế ảnh hưởng của biến động tỷ giá đến nhập khẩu các sản phẩm thép xây dựng của doanh nghiệp.
Đây là chương kết thúc của đề tài Nội dung của chương này là đưa ra các kếtluận và phát hiện qua nghiên cứu, đưa ra dự báo triển vọng phát triển của ngànhthép, của chính phủ và của công ty trong giai đoạn tới, từ đó đề xuất các giảipháp hạn chế tác động tiêu cực của biến động tỷ giá đến hoạt động nhập khẩuthép nói chung
Mặc dù đã nỗ lực tìm hiểu thông tin xung quanh vấn đề nghiên cứu, cùng vớinhững kiến thức tích lũy trong quá trình học tập cũng như kiến thức thực tế,nhưng do hạn chế về thời gian thực tập và kinh nghiệm thực tế nên đề tài khôngtránh khỏi còn nhiều thiếu sót Vì vậy em rất mong nhận được sự đóng góp ýkiến của các thầy cô và các bạn để đề tài này được hoàn thiện hơn
Trang 8CHƯƠNG 2: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ ĐẾN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU CÁC
SẢN PHẨM THÉP XÂY DỰNG CỦA DOANH NGHIỆP.
2.1 Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản
2.1.1 Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là một vấn đề phức tạp, là một trong những công cụ cơ bảncủa Nhà nước trong quản lý và điều hành vĩ mô Nó đang là một chủ đề được tranhluận nhiều và sôi nổi vào bậc nhất của kinh tế học Cho đến nay, đã có rất nhiều lýthuyết giải thích sự hình thành và biến động của tỷ giá Do vậy, có rất nhiều nhàkinh tế đưa ra những khái niệm khác nhau về tỷ giá hối đoái Mỗi khái niệm đềuphản ánh một khía cạnh khác nhau của TGHĐ Để thống nhất với các nội dungnghiên cứu ở các phần sau, em xin xem xét khái niệm tỷ giá hối đoái theo quan điểmkinh tế học: TGHĐ là một phạm trù kinh tế quan trọng trong hoạt động thương mạiquốc tế, là công cụ đo giá trị tương đối giữa các đồng tiền và là phương tiện cạnhtranh hữu hiệu giữa các quốc gia trong thương mại, đầu tư quốc tế(2)
Về bản chất, TGHĐ là một loại giá cả Do đó, cũng như các loại giá cả kháctrong nền kinh tế, tỷ giá được xác định bởi quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trườngngoại hối
2.1.2 Ngoại hối và thị trường ngoại hối
2.1.2.1 Ngoại hối
Ngoại hối là đồng tiền của nước ngoài tồn tại trong một nước khác Ví dụ ởViệt Nam các đồng tiền được gọi là ngoại hối như: Đô la Mỹ, Yên Nhật, EURO,…Đồng tiền chỉ được gọi là ngoại hối khi đồng tiền đó được tiêu dùng, sử dụng ngoàibiên giới nước phát hành ra nó
Ngoại hối được phân ra 2 loại: ngoại tệ mạnh và ngoại tệ bình thường Ngoại
tệ mạnh là ngoại tệ được phát hành ở những nước có nền kinh tế mạnh và
có khả năng chuyển đổi cao và nhiều quốc gia sử dụng chung trong tích lũy, tiêudùng và thanh toán trong thương mại quốc tế… Ví dụ như USD, EURO, JPY…
2.1.2.2 Thị trường ngoại hối
Thị trường ngoại hối là nơi diễn ra sự trao đổi của các đồng tiền nước ngoài haynói một cách khác là nơi diễn ra sự mua và bán các đồng tiền của các nước khácnhau trên thế giới
Thị trường ngoại hối có đặc tính hết sức riêng biệt, đó là tính toàn cầu Thịtrường này ẩn chứa nhiều rủi ro Một trong những chức năng chủ yếu của thị trườngnày là cho phép các tổ chức kinh tế quản lý được rủi ro hối đoái do biến động rủi rongoại hối gây ra
(2) Trích trang 203 sách kinh tế học vĩ mô, nhà xuất bản giáo dục, năm 2006
Trang 92.1.3 Cán cân thanh toán quốc tế
CCTT quốc tế là một bản đối chiếu giữa khoản tiền thu được từ nướcngoài với các khoản tiền trả cho nước ngoài của một quốc gia trong một thời kỳnhất định
2.1.4 Hoạt động nhập khẩu
2.1.4.1 Khái niệm
Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của hoạt động ngoại thương, làmột trong hai hoạt động cơ bản cấu thành nên hoạt động ngoại thương
Có thể hiểu nhập khẩu là quá trình mua hàng hóa và dịch vụ nước ngoài
để phục vụ cho nhu cầu trong nước
Nhập khẩu phụ thuộc vào thu nhập của người cư trú trong nước, vào tỷ giáhối đoái Thu nhập của người dân trong nước càng cao, thì nhu cầu của hàng đốivới hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu càng cao TGHĐ tăng, thì giá hàng nhập khẩutính bằng nội tệ trở nên cao hơn, do đó nhu cầu nhập khẩu giảm đi và ngược lại,TGHĐ giảm thì nhập khẩu có xu hướng tăng lên
2.1.4.2 Vai trò của hoạt động nhập khẩu
Nhập khẩu cung cấp những mặt hàng mà trong nước còn thiếu hoặc chưathể sản xuất được, đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng
Nhập khẩu hàng hoá tạo ra nguồn hàng đầu vào cho các ngành, công tysản xuất, chế biến trong nước
Hoạt động nhập khẩu giúp cho các công ty trong nước có điều kiện cọ sátvới các doanh nghiệp nước ngoài, nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp
Hoạt động nhập khẩu là cầu nối thông suốt nền kinh tế thị trường trong vàngoài nước với nhau, tạo điều kiện cho phân công lao động và hợp tác quốc tếngày càng sâu rộng hơn
Đối với các công ty thương mại, nhập khẩu là một mắt xích quan trọngtrong hoạt động sản xuất kinh doanh Hoạt động kinh doanh nhập khẩu có hiệuquả sẽ mang lại lợi nhuận cho công ty, giúp cho công ty có thể đầu tư kinh doanhvào các lĩnh vực khác, mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh
2.2 Một số lý thuyết về tỷ giá hối đoái
2.2.1 Sự hình thành tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối
Cầu về tiền trên thị trường ngoại hối
- Có cầu về tiền của nước A trên thị trường ngoại hối khi dân cư từ cácnước khác mua các sản phẩm được sản xuất ra từ nước A
- Một nước xuất khẩu càng nhiều thì cầu về tiền của nước đó trên thịtrường ngoại hối càng lớn
Trang 10- Đường cầu về một loại tiền là hàm TGHĐ của nó, dốc xuống phía bênphải Điều này cho thấy TGHĐ càng cao thì hàng hóa nước đó càng trở nên đắthơn với những người nước ngoài và càng ít hàng hóa xuất khẩu hơn.
Cung về tiền trên thị trường ngoại hối
- Tiền của một nước được cung ứng ra các thị trường ngoại tệ quốc
tế khi người dân trong nước mua hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra
ở các nước khác
- Một nước nhập khẩu càng nhiều thì đồng tiền của nước ấy sẽđược đưa vào thị trường quốc tế càng nhiều
- Đường cung về tiền là một hàm của TGHĐ của nó, dốc lên trên
về phía phải Điều đó cho thấy TGHĐ càng cao thì hàng hóa nước ngoài càng rẻ
và hàng hóa ngoại được nhập khẩu vào nước ấy càng nhiều
Hình 2.2.2: Đồ thị đường cung tiền (VNĐ)
* Cân bằng cung – cầu và sự hình thành tỷ giá
- TGHĐ được xác định chủ yếu thông qua các lực lượng thị trường củacung và cầu tiền
- Bất kỳ nhân tố nào làm tăng cầu về một đồng tiền trên thị trường ngoạihối hoặc làm giảm cung của nó đều có xu hướng làm cho TGHĐ của nó tăng lên
Và ngược lại, bất kỳ nhân tố nào tác động làm giảm cầu về một đồng tiền haylàm tăng cung về đồng tiền ấy trên thị trường ngoại hối sẽ làm cho TGHĐ củađồng tiền đó giảm
- Giao điểm giữa đường cung và đường cầu một đồng tiền nào đó chỉ ramức TGHĐ cân bằng Tại đó mức cung và cầu về một đồng tiền là bằng nhau
Hình 2.2.1: Đồ thị đường cầu tiền (VNĐ)
Trang 11- Tương tác của cung – cầu trên thị trường ngoại hối là nhân tố cơ bản,nhân tố bên trong hay theo các nhà kinh tế học quan niệm là nhân tố nội sinh xácđịnh TGHĐ cân bằng.
Hình 2.2.3: Đồ thị biểu hiện mối quan hệ cung và cầu trên thị trường ngoại hối
giữa VNĐ và USD2.2.2 Các chính sách điều hành tỷ giá hối đoái
Chính sách TGHĐ là một hệ thống các công cụ dùng để tác động vàocung- cầu ngoại tệ trên thị trường, từ đó giúp điều chỉnh tỷ giá nhằm đạt đượcnhững mục tiêu cần thiết
Về cơ bản, chính sách TGHĐ tập trung vào 2 vấn đề:
- Lựa chọn chế độ tỷ giá
- Điều chỉnh TGHĐ
Chế độ tỷ giá là các loại hình tỷ giá được các quốc gia áp dụng, lựa chọnbao gồm các quy tắc xác định phương thức mua bán ngoại tệ giữa các thể nhânhay pháp nhân trên thị trường
Các loại chế độ tỷ giá bao gồm:
2.2.2.1 Chế độ TGHĐ cố định
Chế độ TGHĐ cố định là một chế độ TGHĐ được Nhà nước tuyên bố sẽduy trì tỷ giá giữa đồng nội tệ và một đồng ngoại tệ nào đó hoặc với một rổ cácđồng ngoại tệ nào đó
Đặc trưng của chế độ TGHĐ cố định như sau:
- Về cơ bản những lực cung – cầu vẫn tồn tại trên thị trường ngoại tệ vàchi phối số lượng cung, cầu ngoại tệ trên thị trường
- Nhà nước cam kết sẽ duy trì TGHĐ ở một mức độ cố định nào đó bằngcách: nếu cung trên thị trường lớn hơn cầu ở mức tỷ giá cố định đó thì Nhà nước
sẽ đảm bảo mua hết lượng dư cung ngoại tệ Nếu cung trên thị trường nhỏ hơn
Trang 12cầu ở mức tỷ giá cố định đó thì Nhà nước sẽ đảm bảo cung cấp (bán ra) mộtlượng ngoại tệ bằng với lượng dư cầu Nhà nước sẽ thực hiện hoạt động mua, bánlượng dư cung hay cầu đó với tư cách như là người mua bán cuối cùng hay chính
là người điều phối
- Những dự báo về thay đổi tỷ giá trên thị trường là bằng không (ngoại trừnhững trường hợp đặc biệt khi thị trường dự báo là Chính Phủ sẽ thay đổi mức tỷgiá cố định)
TGHĐ cố định tạo cho các doanh nghiệp có cơ sở để lập kế hoạch và tínhtoán giá, thúc đẩy đầu tư và thương mại quốc tế Tuy nhiên TGHĐ cố định tạo ra
sự hạn chế đối với chính sách tiền tệ trong nước do TGHĐ cố định không khuyếnkhích sự luân chuyển vốn vào hay ra khỏi quốc gia Quan điểm này cho rằng nếuvốn chảy vào quá nhiều sẽ gây ra lạm phát, còn nếu vốn chảy ra quá nhiều sẽ dẫnđến cạn kiệt nguồn dự trữ quốc tế của quốc gia Cơ chế TGHĐ cố định trực tiếpđặt ra sự tuân thủ đối với chính sách tiền tệ có thể được coi là phù hợp trong tìnhhuống các công cụ tài chính và thị trường tài chính phát triển đủ mức cho vậnhành của chính sách tiền tệ hoạt động theo cơ chế thị trường
TGHĐ cố định nếu trong trường hợp thiếu tin cậy sẽ bị ảnh hưởng rất lớncủa đầu cơ Điều này có thể dẫn tới sự phá vỡ hoàn toàn sự ổn định tiền tệ hayảnh hưởng đến dự trữ ngoại hối Duy trì chính sách TGHĐ cố định đòi hỏi Nhànước phải luôn sẵn sàng can tiệp vào thị trường ngoại hối để đảm bảo mức tỷ giá
cố định
2.2.2.2 Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi
Chế độ TGHĐ thả nổi là một chế độ mà trong đó TGHĐ được xác định vàvận động một cách tự do theo quy luật thị trường, trực tiếp là theo quy luật cung-cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối Đặc trưng của chế độ TGHĐ thả nổi là:
- TGHĐ được xác định và thay đổi hoàn toàn phụ thuộc vào tình hìnhcung-cầu ngoại tệ trên thị trường
- Nhà nước hoàn toàn không có bất kỳ một tuyên bố, một cam kết nào vềviệc chỉ đạo hay điều hành tỷ giá
- Nhà nước không có bất kỳ sự can thiệp trực tiếp nào vào thị trườngngoại tệ
TGHĐ trong cơ chế này được hình thành trên cơ sở cung – cầu ngoại tệtrên thị trường theo nguyên tắc: qua cơ chế thị trường thì các nguồn lực đượcphân bổ một cách thành công và hiệu quả Nếu thị trường hoạt động hiệu quả thìvới cơ chế tỷ giá thả nổi, những người đầu cơ thu lợi nhuận sẽ không có cơ hội.Cung – cầu ngoại tệ sẽ được tự cân bằng trên thị trường Nhà nước sẽ không phải
có trách nhiệm hay không cần thiết phải can thiệp vào thị trường ngoại hối mà
Trang 13chỉ chủ yếu thực hiện theo yêu cầu của khách hàng Nhìn chung thị trương trongnước sẽ không bị ảnh hưởng bới các luồng vốn từ bên ngoài.
Những quốc gia chủ trương thả nổi TGHĐ cho rằng nếu áp dụng cơ chếnày thị trường ngoại hối sẽ có tính minh bạch cao, thị trường hoạt động hiệu quả
và hơn nữa thị trường phải đề nó tự điều chỉnh
Bên cạnh đó, chế độ TGHĐ thả nổi vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý: thitrường luôn có rủi ro và méo mó, do vậy sẽ không bao giờ đạt ddowcj hiệu quảnhư mong đợi, nhiều khi dẫn đến mức tỷ giá không phù hợp Khuynh hướng tỷgiá trong tương lai sẽ không chắc chắn, gây khó khăn cho việc lập kế hoạch vàtính toán giá cả của doanh nghiệp
2.2.2.3 Chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt
Chế độ TGHĐ linh hoạt là một chế độ TGHĐ có sự kết hợp giữa hai chế
độ TGHĐ ở trên Trong đó, TGHĐ sẽ được xác định trên thị trường theo quy luậtcung – cầu ngoại tệ, Chính Phủ chỉ can thiệp vào thị trường khi TGHĐ có nhữngbiến động mạnh Đặc trưng của chế độ tỷ giá này như sau:
- TGHĐ được xác định và thay đổi tùy thuộc vào tình hình cung – cầungoại tệ trên thị trường
- Nhà nước tuyên bố một mức biến động cho phép đối với tỷ giá và chỉcan thiệp vào thị trường với tư cách người mua bán cuối cùng khi tỷ giá trên thịtrường có những biến động mạnh vượt mức cho phép này Cách thức thườngthấy ở các nước hiện nay là xác định một mức TGHĐ chính thức và một biên độdao động Nếu TGHĐ trên thị trường dao động vượt quá biên độ cho phép này
so với tỷ giá chính thức thì một tuyên bố can thiệp chính thức của Nhà nước sẽđược thực hiện để duy trì sự chênh lệch giữa tỷ giá trên thị trường và tỷ giá chínhthức vẫn chỉ nằm trong biên độ cho phép
- Nếu tình hình kinh tế có những mức thay đổi lớn thì mức TGHĐ cũngnhư biên độ cho phép cũng thường được Nhà nước xác định và công bố lại Chế
độ TGHĐ thả nổi có sự quản lý của Nhà nước được coi là chế độ tỷ giá thích hợpvới cơ chế thị trường hiện nay Vì chế độ tỷ giá này cho phép chúng ta thực hiệnmột chính sách tiền tệ độc lập, vừa theo quy luật cung cầu thị trường, vừa pháthuy vai trò quản lý, điều tiết linh hoạt của Nhà nước để đạt được các mục tiêuphát triển kinh tế
2.2.2.4 Chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
Chính sách tỷ giá ở VN trong thời gian qua:
Từ năm 2000, cơ chế điều hành TGHĐ của VN điều chỉnh từ chỗ công bố
tỷ giá chính thức theo tín hiệu thị trường với từng khoảng thời gian có hiệu lựctương đối dài, sang cơ chế công bố tỷgiá theo động thái hàng ngày của thị trường
Trang 14ngoại tệ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thực hiện tốt chính sách điều hành tỷgiá theo định hướng của Chính phủ: vừa theo thị trường, vừa có can thiệp khi cầnthiết Việc điều chỉnh này đã tác động rất tích cực đối với thị trường tiền tệ Tỷgiá giữa các ngoại tệ với VNĐ đã được duy trì tương đối ổn định trong nhiềunăm, theo 3chế độ chủ yếu là:
* Chế độ tỷ giá cố định trước khủng hoảng tài chính châu Á (trước năm1997)
* Chế độ tỷ giá cố định với biên độ dao động giai đoạn 1997-1999
* Chế độ tỷ giá linh hoạt từ sau năm 1999
Tỷ giá giữa VNĐ và các ngoại tệ ở Việt Nam đã có tính thị trường, nhưngcòn hạn chế Từ 1996 đến 2006, VNĐ đã được điều chỉnh theo hướng hạ giáVNĐ liên tục Tuy nhiên, VNĐ vẫn có những biểu hiện được đánh giá cao hơnthực tế Đầu năm 2007 cho đến nay, VNĐ có xu hướng lên giá liên tục do 2nguyên nhân chính:
- Nguồn cung ngoại tệ từ nước ngoài vào Việt Nam tăng mạnh và ứ đọngtại các NHTM
- Trên thế giới, đồng USD liên tục xuống giá kéo dài
Đến hết quý I năm 2008, tỷ giá VNĐ/USD tiếp tục có chiều hướng giảm.Tuy nhiên, mức giảm của tỷ giá hay sự lên giá của tiền đồng VN vẫn chưa đủ lớn
để giúp nền kinh tế kiềm chế lạm phát Hiện nay, VN theo đuổi chính sách tỷ giálinh hoạt, với biên độ dao động chưa đáng kể, chưa đủ thích ứng với môi trườngbên ngoài
Chính sách tỷ giá hiện nay đã ảnh hưởng hạn chế nhất định đối với nền kinh tế.Nếu mở rộng biên độ dao động, làm cho tỷ giá linh hoạt hơn, đồng thời mở rộngcác thành phần tham gia vào việc xác định tỷ giá, thì tính thị trường của tỷ giá sẽcao hơn sẽ góp phần gia tăng hiệu quả kiềm chế lạm phát trong tình hình hiệnnay
2.2.3 Các nhân tố tác động đến tỷ giá hối đoái
Sự hình thành TGHĐ là quá trình tác động của nhiều yếu tố chủ quan vàkhách quan
2.2.3.1.Tình hình cán cân thanh toán.
Cán cân thanh toán quốc gia có thể rơi vào một trong ba trạng thái sau: cânbằng, thặng dư hay thâm hụt Cán cân thanh toán có ảnh hưởng trực tiếp đếnTGHĐ Do vậy nếu CCTT quốc tế dương thì TGHĐ có chiều giảm xuống vàngược lại nếu CCTT quốc tế âm thì TGHĐ có xu hướng tăng
2.2.3.2 Mức độ tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế.
Trang 15- Mức độ tăng trưởng hay suy giảm GDP thực tế của một nước so với nướckhác trong điều kiện các yếu tố khác không đổi sẽ làm tăng hay giảm nhu cầu vềhàng hóa, dịch vụ nhập khẩu Do đó sẽ làm cho nhu cầu ngoại hối để thanh toánhàng nhập khẩu sẽ tăng lên hay giảm xuống tương ứng từ đó tác động đến cung -cầu về ngoại tệ, làm cho TGHĐ của đồng tiền trong nước với đồng tiền nướcngoài giảm đi hoặc tăng lên.
2.2.3.3 Sự chênh lệch lạm phát của đồng tiền quốc gia giữa các nước.
- Mức chênh lệch lạm phát của hai nước cũng ảnh hưởng đến sự biến độngcủa tỷ giá Giả sử trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh, năng suất lao động củahai nước tương đương như nhau, cơ chế quản lý ngoại hối tự do, khi đó tỷ giábiến động phụ thuộc vào mức chênh lệch lạm phát của hai đồng tiền Nước nào
có mức độ lạm phát lớn hơn thì đồng tiền của nước đó bị mất giá so với đồng tiềnnước còn lại
Chênh lệch lạm phát dựa vào thuyết ngang giá sức mua của đồng tiền PPP.Theo thuyết này, mức giá của một nước tăng lên tương đối so với mức tăng giácủa nước khác trong dài hạn sẽ làm cho đồng tiền của nước đó giảm giá và ngượclại Như vậy, yếu tố chênh lệch lạm phát chỉ có ảnh hưởng đến biến động của tỷgiá trong dài hạn Việc nghiên cứu yếu tố này để làm cơ sở dự đoán biến độngcủa tỷ giá trong ngắn hạn sẽ đem lại kết quả không đáng tin cậy
2.2.3.4 Mức chênh lệch về lãi suất giữa các nước
Lãi suất là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với số tiền vay trong một khoảnthời gian nhất định Lãi suất tác động rất lớn đến TGHĐ Thật vậy, nếu lãi suấttrong nước cao hơn lãi suất ngoại tệ hay lãi suất trên thị trường thế giới sẽ thu hútdòng vốn trên thị trường quốc tế chảy vào trong nước hay sẽ làm gia tăng sựchuyển hóa lượng ngoại tệ trong nước sang đồng nội tệ để hưởng lãi suất cao.Ngược lại, nếu lãi suất trong nước thấp hơn lãi suất trên thị trường quốc tế thì sẽlàm cho đồng ngoại tệ lên giá và đồng nội tệ mất giá
Nhìn chung, TGHĐ biến động tăng hoặc giảm là do tác động của nhiều yếu
tố khác nhau Do đó, để có một mức tỷ giá phù hợp cho từng thời kỳ, chúng tacần phải xác định được các yếu tố chủ quan, khách quan; trực tiếp và gián tiếptác động lên tỷ giá Trên cơ sở đó, mà đưa ra những quyết định chính sách đúngđắn trong việc điều hành tỷ giá nhằm đạt các mục tiêu kinh tế cụ thể
2.2.4 Các phương pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoái
2.2.4.1 Chính sách lãi suất( lãi suất tái chiết khấu)
Đây là biện pháp được sử dụng để điều chỉnh TGHĐ trên thị trường KhiTGHĐ có sự biến động bất lợi, vượt ra khỏi mức độ có thể chấp nhận được(thường là tăng quá mức), thông qua NHTW, các chính phủ thực hiện điều chỉnh
Trang 16lãi suất tái chiết khấu tăng(lãi suất cho vay tăng và lãi tiền gửi tăng) Kết quả làvốn ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ chuyển dịch vào trong nước để thu lãicao hơn Từ đó cung về ngoại tệ tăng, nhu cầu về ngoại tệ giảm, làm cho TGHĐkhông có cơ hội tăng lên nữa.
Tuy nhiên, chính sách chiết khấu chỉ có ý nghĩa nhất định đối với TGHĐ
vì lãi suất và tỷ giá có mối tác động qua lại chứ không phải mối quan hệ nhânquả Lãi suất không phải nhân tố duy nhất quyết định sự vận động giữa vốn giữacác nước Lãi suất biến động do tác động của mối quan hệ cung – cầu của vốncho vay Lãi suất có thể biến động trong phạm vi tỷ suất lợi nhuận bình quân vàtrong tình hình đặc biệt có thể vượt quá tỷ suất lợi nhuận liên quan Còn TGHĐthì do quan hệ cung – cầu về ngoại hối quyết định, mà quan hệ này lại do CCTTthặng dư hay thâm hụt quy định Như vậy, nhân tố hình thành lãi suất và tỷ giá làkhông giống nhau, do đó mà biến động lãi suất không nhất thiết dẫn đến sự củaTGHĐ Lãi suất lên cao có thể thu hút vốn ngắn hạn của nước ngoài chảy vào,nhưng khi tình hình kinh tế chính trị, kinh tế và tiền tệ trong nước không ổn địnhthì không nhất thiết thực hiện được bởi vì đối với vốn nước ngoài vấn đề đặt rađầu tiên là đảm bảo sự an toàn cho số vốn chứ không phải là vấn đề thu được lãinhiều Như vậy, chính sách lãi suất tái chiết khấu cũng chỉ có ảnh hưởng nhấtđịnh và có hạn đối với TGHĐ Nếu tình hình tiền tệ của các nước đều như nhauthì phương hướng đầu tư ngắn hạn vẫn hướng vào những nước có lãi suất cao
Do vậy hiện nay chính sách lãi suất tái chiết khấu vẫn có ý nghĩa của nó Điềukiện để thực hiện chính sách này là phải có một thị trường vốn đủ mạnh, linhhoạt và tự do
2.2.4.2 Chính sách hối đoái
Đây là biện pháp trực tiếp mà NHTW tác động đến TGHĐ Thông qua các
tổ chức kinh doanh ngoại hối, Nhà nước đã chủ động tác động vào cung – cầungoại tệ bằng việc mua bán vàng và ngoại tệ để điều chỉnh tỷ giá Khi tỷ giá ởmức cao (tức là đồng nội tệ giảm giá) tới mức làm ảnh hưởng xấu đến các hoạtđộng kinh tế trong nước cũng như hoạt động kinh tế đối ngoại NHTW sẽ bánngoại tệ để thu nội tệ về Khi đó cung về ngoại tệ tăng, tác động làm cho tỷ giágiảm Ngược lại, khi TGHĐ giảm, NHTW sẽ mua ngoại tệ vào, tức là kích thíchcầu ngoại hối khi cung chưa kịp biến động để nâng TGHĐ lên mức hợp lý
Ảnh hưởng của chính sách hối đoái Việc áp dụng chính sách hối đoáithường dẫn đến những phản ứng trái ngược nhau của các doanh nghiệp trong vàngoài nước, bắt nguồn chủ yếu từ lợi ich kinh tế Những mâu thuẫn này thườngxuyên xảy ra giữa nhà NK và XK Nhà NK muốn hạ thấp tỷ giá xuống, còn nhà
XK muốn nâng tỷ giá lên cao Mâu thuẫn này xảy ra giữa các nươc với nhau vì tỷ
Trang 17giá của một nước nâng lên thì sẽ hạn chế XK hàng hóa của nước khác nhưng lạikhuyến khích việc xuất khẩu vốn của nước khác, làm cho CCTM và CCTT củanước ngoài với các nước thự hiện chính sách hối đoái này bị thiệt hại.
Để thực hiện chính sách hối đoái một cách có hiệu quả, một trong nhữngđiều không thể thiếu được là đòi hỏi NHTW phải có dự trữ ngoại tệ thật dồi dào
để có thể can thiệp vào thị trường khi cần thiết, tức là phải xây dựng quỹ bình ổnngoại hối Chính sách này chỉ có tác dụng tạm thời và hạn chế sự biến động của
tỷ giá chứ không thể làm thay đổi được tình hình tỷ giá trong nước Nếu tỷ giágiảm sút do CCTT quốc tế hay lạm phát, NHTW áp dụng chính sách hối đoái làtung tiền tệ ra bán thì sẽ làm cho dự trữ ngoại tệ càng căng thẳng, tình hình thâmhụt càng nghiêm trọng hơn Do vậy TGHĐ càng bị giảm sút
2.2.4.3 Lập quỹ bình ổn hối đoái
Chính phủ lập ra quỹ riêng nhằm củ động can thiệp kịp thời vào thị trườngtiền tệ khi tỷ giá biến động vượt xa so với mức Nhà nước cho phép
Quỹ bình ổn hối đoái được hình thành bằng những cách dưới đây:
+ Phát hành trái phiếu kho bạc bằng đồng tiền quốc gia Khi ngoại tệnhiều thì sử dụng quỹ này để mua ngoại tệ nhằm hạn chế mức độ mất giá củangoại tệ Ngược lại, trong trường hợp vốn vay chạy ra ngoài, quỹ ngoại tệ tungngoại tệ bán ra nhằm ngăn chặn sự tăng giá ngoại tệ
+ Sử dụng vàng để lập quỹ: khi CCTT quốc tế bị thâm hụt, quỹ dự trữ hốiđoái sẽ đưa vàng ra bán và thu ngoại tệ về để cân bằng CCTT Trường hợp khingoại tệ vào nhiều, quỹ này tung vàng ra bán để thu đồng tiền quốc gia, mua ngoại tệnhằm duy trì sự ổn định của TGHĐ
2.3 Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu của những công trình năm trước
Những công trình nghiên cứu trước về tỷ giá hối đoái như:
1 TS Lê Quốc Lý chủ biên, “Tỷ giá hối đoái, những vấn đề lý luận và thực tiễn điều hành ở Việt Nam”, Nhà xuất bản Thống Kê, 2004 Đề tài này trình bày khá chi
tiết về các lý thuyết cơ bản về tỷ giá hối đoái, đưa ra được lựa chọn chính sáchTGHĐ của Việt Nam và kinh nghiệm của một số nước trong việc vận dụng chính
Trang 18sách TGHĐ Đồng thời cuốn sách cũng đưa ra được các dự báo về tỷ giá và vị thếcủa Việt Nam trên trường quốc tế đến năm 2030.
2 PGS.TS Nguyễn Thị Quy, “Biến động tỷ giá ngoại tệ (đồng USD, EUR) và hoạt động xuất khẩu”, đề tài nghiên cứu cấp bộ, trường đại học Ngoại thương, năm
2008 Đây là đầu tài rất mới nói lên được một cách cụ thể TGHĐ ảnh hưởng đếnhoạt động ngoại thương mà Nhà nước ta đang rất quan tâm và tạo mọi điều kiện đểphát triển
3 GS.TS Lê Văn Tư và TS Nguyễn Quốc Khánh,“Một số chính sách tỷ giá hối đoái cho mục tiêu phát triển kinh tế Việt Nam”, Nhà xuất bản Thống Kê Trong cuốn
sách đã trình bày các vấn đề như: tổng luận về TGHĐ trong nền kinh tế mở, thựctrạng về việc hoạch định và thực hiện chính sách tỷ giá cho mục tiêu phát triển kinh
tế Việt Nam; Những giải pháp chủ yếu cho việc hoàn thiện chính sách tỷ giá tronggiai đoạn tới
4 TS Nguyễn Thị Thư, “ Tỷ giá hối đoái chính sách và tác động của nó đối với ngoại thương qua thực tiễn phát triển kinh tế ở một số nước”, Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia
5 Nguyễn Thị Thu Hiền, “Ảnh hưởng của sự biến động tỷ giá tới hoạt động sảnxuất kinh doanh của các công ty nhiệt điện khu vực phía Bắc”, Luận văn tốt nghiệp,năm 2009
Những công trình nghiên cứu trên đã tập hợp và khái quát hóa những vấn đề
cơ bản về tỷ giá hối đoái, tác động của tỷ giá hối đoái tới nền kinh tế, cách thứclựa chọn và điều hành tỷ giá ở Việt Nam Các tác giả đã tìm ra những biện phápnhằm hạn chế tác động tiêu cực của biến động tỷ giá tới hoạt động xuất nhậpkhẩu và đưa ra hoàn thiện chính sách trong thời gian tới Tuy nhiên, hầu hết cácnghiên cứu mới chỉ dừng lại nghiên cứu tác động của biến động tỷ giá đến hoạtđộng ngoại thương nói chung, trong đó có hoạt động nhập khẩu Chưa có đề tàinào nghiên cứu cụ thể về ảnh hưởng biến động tỷ giá đến hoạt động nhập khẩumặt hàng thép – là một mặt hàng chủ lực của Việt Nam, đặc biệt là mặt hàng thép
xây dựng Vì thế em chọn nghiên cứu đề tài: “Hạn chế tác động của biến động
tỷ giá đến hoạt động nhập khẩu các sản phẩm thép xây dựng Lấy ví dụ minh họa tại công ty cổ phần thương mại Hiệp Hương”.
2.4 Phân định nội dung vấn đề nghiên cứu của đề tài
2.4.1 Ảnh hưởng của tỷ giá đối với nền kinh tế
TGHĐ là công cụ của chính sách tiền tệ, công cụ đắc lực để Nhà nước thựchiện các chính sách kinh tế vĩ mô, thực hiện chức năng điều tiết nền kinh tế
Tỷ giá là một trong những vấn đề rất được quan tâm trong một nền kinh tế, đặcbiệt là trong nền kinh tế của các nước đang phát triển, đang từng bước hoà nhập vàonền kinh tế thế giới và tham gia vào phân công lao động quốc tế Bởi hoạt động
Trang 19thương mại quốc tế của các nước này ngày càng phát triển và đòi hỏi phải có sự tínhtoán so sánh về giá cả, tiền tệ với các nước đối tác Chính tỷ giá là một công cụ quantrọng được sử dụng trong tính toán này.
TGHĐ chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau nhưng đồng thời nó cũng tácđộng tới nhiều mặt khác nhau của nền kinh tế trong đó quan trọng nhất là tới hoạtđộng xuất nhập khẩu và đầu tư, tín dụng quốc tế
Sự biến động của TGHĐ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động ngoại thươngthông qua kênh giá cả Dựa trên TGHĐ, chúng ta có thể tính được giá xuất nhậpkhẩu của một loại hàng hoá của một nước theo tiền tệ của một nước khác Vì vậy, tỷgiá thay đổi kéo theo sự thay đổi của giá cả hàng hoá xuất nhập khẩu Chúng ta hãycùng xem xét tình huống sau Chẳng hạn khi TGHĐ tăng, đồng nội tệ mất giá Sựbiến động này có lợi cho hoạt động xuất khẩu vì giá xuất khẩu của hàng hoá và dịch
vụ của nước đó sẽ giảm đi tương đối trên thị trường nước ngoài, với điều kiện giá cảhàng hoá và dịch cụ đó giữ ở mức ổn định trên thị trường nội địa Do đó, sẽ gópphần làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ của nước đó Khi TGHĐtăng, giá cả hàng nhập khẩu sẽ đắt lên tương đối trên thị trường nội địa với điều kiệngiá nhập khẩu ổn định Chính vì vậy mà một số nước sử dụng chinh sách phá giáđồng nội tệ để hạn chế nhập khẩu
Ngoài ra, TGHĐ tăng hay giảm còn có ảnh hường không nhỏ tới dòng vốnngoại tệ lưu chuyển giữa các nước tức tới hoạt động đầu tư và tín dụng quốc tế Tuynhiên, mức độ ảnh hưởng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau
*Tác động của TGHĐ với CCTT được biểu hiện tập trung trước hết là đối vớiCCTM – nội dung chủ yếu nhất của tài khoản vãng lai Vì thế chúng ta xem xét mốiquan hệ giữa TGHĐ với CCTM nói riêng và CCTT nói chung
CCTM (xuất khẩu ròng) được xác định theo công thức:
Khả năng cạnh tranh về giá của một loại sản phẩm của một nước so với sản phẩmcùng loại sản xuất tại nước ngoài được xác định theo công thức:
Trang 20P*: giá sản phẩm nước ngoài tính theo đồng tiền nước đó.
Giả sử P và P* không đổi, khi e giảm thì (e.P) sẽ giảm Giá của sản phẩmtrong nước sẽ trở nên rẻ tương đối so với sản phẩm nước ngoài Như vậy sảnphẩm trong nước có khả năng cạnh tranh cao hơn và Xk tăng, NK giảm trongmột khoảng thời gian nào đó Khả năng cạnh tranh còn gọi là TGHĐ thực tế.Như vậy, xuất khẩu ròng phụ thuộc vào TGHĐ thực tế Khi TGHĐ thực tếtăng thì xuất khẩu ròng giảm xuống Và ngược lại khi TGHĐ thực giảm thì xuấtkhẩu ròng lại tăng lên
Chúng ta biểu thị mối quan hệ giữa TGHĐ thực tế và XK ròng như sau:
NX = NX()
Hình 2.4.1: Xuất khẩu ròng và TGHĐ thực tế
Hình trên biểu thị mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa TGHĐ thực tế và XK ròng.Lưu ý: một phần trục hoành biểu diễn giá trị âm của XK ròng vì NK có thểlớn hơn XK cho nên NX có thể có giá trị nhỏ hơn 0
*Trong điều kiện nền kinh tế mở:
` AD = C + I+ G + NX
Khi NX tăng, tổng cầu sẽ tăng lên và sản lượng cân bằng cũng tăng lên vàngược lại Mà sự thay đổi của TGHĐ danh nghĩa và TGHĐ thực tế tác động đếnCCTM, từ đó tác động đến sản lượng, việc làm và giá cả
2.4.2 Tác động của biến động tỷ giá đối với hoạt động nhập khẩu
Việt Nam ngày càng mở rộng quan hệ kinh tế với các nước trên thế giới.Đây chính là cơ hội các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường Những lợiích mà thương mại quốc tế mang lại luôn đi kèm với các rủi ro Một đặc thù dễthấy nhất của thương mại quốc tế so với thương mại nội địa là sự không chắcchắn do tỷ giá hối đoái biến động gây ra Ở Việt Nam, do các công ty kinh doanhquốc tế ở quy mô nhỏ cho nên hoạt động kinh doanh quốc tế chủ yếu là hoạtđộng xuất – nhập khẩu Sự biến động tỷ giá hối đoái ảnh hưởng tới giá cả, lợinhuận của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói chung và doanh nghiệp nhậpkhẩu nói riêng
NX ( )
O
NX
Trang 21Để thấy rõ ảnh hưởng của tỷ giá đến hoạt động nhập khẩu của doanhnghiệp, ta lấy ví dụ về một thay đổi tỷ giá cụ thể như sau:
Nhà nhập khẩu Việt Nam mua hàng hóa của nhà xuất khẩu Mỹ với số tiềntrị giá 1 triệu USD, thời hạn thanh toán hợp đồng, thời hạn thanh toán là 30 ngày(kể từ ngày nhận được chứng từ, thanh toán bằng USD) Giả sử ngày ký kết hợpđồng mua bán, tỷ giá là 20.683 VNĐ/USD (2) Nhưng đến thời điểm thanh toán(sau 30 ngày) tỷ giá có sự thay đổi, tăng lên 21.000 VNĐ/USD
Theo ước tính, số tiền nhà nhập khẩu phải chi trả nếu trả tiền ngay là:
Ngược lại, khi TGHĐ giảm tức là đồng nội tệ lên giá hơn so với đồng ngoại
tệ thì nếu vẫn giữ nguyên giá bán hàng như cũ, doanh nghiệp được hưởng lợi từkhoản chênh lệch tỷ giá đó
Như vậy, sự biến động của tỷ giá có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động nhậpkhẩu của doanh nghiệp Khi TGHĐ (giữa đồng nội tệ/đồng ngoại tệ) tăng, nhậpkhẩu có xu hướng giảm Còn khi TGHĐ giảm, nhập khẩu được khuyến khích.2.4.3 Tác động của biến động tỷ giá đến hoạt động nhập khẩu các sản phẩm thép Giống như các mặt hàng nhập khẩu khác, hoạt động nhập khẩu các sảnphẩm thép xây dựng cũng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi sự biến động của TGHĐ.TGHĐ chịu tác động của nhiều nhân tố như CCTT quốc tế, tỷ lệ lạm phát, lãisuất… đồng thời khi tỷ giá biến động thì đến lượt nó lại tác động ngược trở lại
Trang 22các yếu tố trên và gây ra khá nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp nhập khẩunói chung, cũng như các doanh nghiệp nhập khẩu thép nói riêng.
Bất kỳ DN nào vay vốn bằng USD để nhập khẩu, hoặc để trả nợ đều phảichịu 2 ảnh hưởng: Thứ nhất là lãi suất đang tăng, lãi suất USD đang lên rất cao;thứ hai là tỷ giá có thể gia tăng Mặc dù Chính phủ cam kết sẽ không thả nổi,nhưng áp lực tỷ giá tăng, đồng nghĩa với DN phải trả các chi phí nợ tăng lên dotiếp tục phải bỏ tiền ra mua USD với giá cao Tỷ giá tăng, lãi suất cho vay cao,cộng thêm là giá đầu vào cho sản xuất như điện, xăng, than… tăng sẽ làm cho chiphí đầu vào của DN rất lớn, điều này dẫn đến giá bán hàng hóa tăng, hàng hóa sẽkhó bán, lợi nhuận giảm Điều này, DN một là sẽ phải thu hẹp sản xuất, hai làgiảm lợi nhuận, ba là DN sẽ có nhiều nguy cơ bị lỗ hoặc thậm chí sẽ phá sản dokhông bán được hàng
Sự thay đổi của TGHĐ tác động trực tiếp đến giá và lượng thép nhập khẩucủa các doanh nghiệp Cụ thể:
Hình 2.4.3: Lượng nhập khẩu thép từ các thị trường chính giai đoạn 2008-2010
Trang 23*Năm 2008
Năm 2008 là năm được giới phân tích tài chính coi là năm bất ổn của tỷgiá với những diễn biến phức tạp Chỉ trong năm 2008, biên độ tỷ giá được điềuchỉnh 5 lần Tình hình nhập khẩu thép của các công ty theo đó mà cũng biếnđộng theo Có thể thấy, diễn biến lượng nhập khẩu thép năm 2008 của Việt Namhoàn toàn trái ngược với năm 2007
- Trong 3 tháng đầu năm 2008, tỷ giá liên tục giảm, mức thấp nhất là 15.560VNĐ/USD Điều đó khiến cho việc nhập khẩu thép trong 3 tháng đầu năm tăngmạnh, tổng cộng 2,78 triệu tấn và bằng một nửa lượng nhập khẩu cả năm 2007
- Từ tháng 4 trở đi, do lượng hàng tồn kho lớn và tỷ giá tăng cao nênlượng nhập khẩu giảm rất mạnh trong hầu hết các tháng còn lại của năm Đặcbiệt vào tháng 6, tỷ giá tăng đột ngột lên tới 19400 VNĐ/USD
- Đến tháng 10, tỷ giá giảm và dần đi vào ổn định hơn Tỷ giá dao động trongmức từ 2- 3 %, ở mức 17.440 VNĐ/USD Kèm theo mức tỷ giá giảm hơn trước,lượng tồn kho cũng đã giảm, các doanh nghiệp đã bắt đầu tăng nhập khẩu trở lại
Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, cả năm 2008, Việt Nam đãnhập khẩu 5,7 triệu tấn sắt thép các loại với trị giá hơn 5 tỉ USD, tăng 3,36% vềlượng và 34,97% về trị giá so với năm 2007 Nhập khẩu thép tăng mạnh về giá trị
là do giá thép trong năm 2008 tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng của lượng thépnhập khẩu Về giá nhập khẩu: Năm 2007, giá thép nhập khẩu khá ổn định trongsuốt cả năm thì năm 2008 lại có sự biến động rất mạnh Trong 9 tháng đầu năm
2008, giá thép nhập khẩu liên tục tăng mạnh, lên gấp 2 lần Tháng 10 và tháng
11, giá nhập khẩu giảm dần và đến tháng 12 thì giảm gần 1 nửa về mức 699
Trang 24USD/T, thấp hơn so với đầu năm 2008 và cả cùng kỳ năm 2007 Tính chung cả năm
2008, giá thép nhập khẩu tăng trung bình 30,6%, đạt 875 USD/T Nguyên nhân củaviệc giá thép nhập khẩu tăng một phần lớn là do sự biến động của tỷ giá gây nên
*Năm 2009
Ước tính cả năm 2009, nhập khẩu thép và phôi thép đạt trên 12 triệu tấn,tăng 10,7% so với năm 2008 Trong đó, lượng phôi thép nhập về đạt 2,38 triệutấn, giảm 0,41%; lượng thép thành phẩm nhập khẩu đạt 6,7 triệu tấn, tăng 18%;thép phế liệu đạt 2,3 triệu tấn, tăng 55%; các loại thép lá được mạ, thép cuộn,thép tấm lá đen đều tăng khoảng 20% so với năm ngoái
Còn theo số liệu thống kê chính thức tháng 11/2009, Việt Nam nhập về825,18 ngàn tấn thép và phôi thép với kim ngạch 495,4 triệu USD, giảm 6,41% vềlượng và giảm 9,54% về trị giá so với tháng trước Nhưng so với cùng kỳ năm 2008lại tăng rất mạnh, tăng tới275,78% về lượng và tăng 121,59% về trị giá Tính chung
11 tháng năm 2009, cả nước ta nhập về 8,93 triệu tấn với trị giá 4,84 tỷ USD, tăng18,42% về lượng song lại giảm 23,07% về trị giá so với cùng kỳ năm 2008
*Năm 2010
- Trước đó, trong tháng 6 giá thép lao dốc và “chạm đáy” với mức giá 11triệuđồng/tấn Rồi chỉ một tháng sau giá lại trở đầu đi lên với tốc độ chóng mặt.Trong tháng 7 các nhà phân phối đẩy mạnh nhập hàng khi số lượng thép lưu kho
đã cạn Vì thế nhập hàng nhiều cũng khiến nhu cầu cùng với giá sẽ đi lên
- Tháng 8 cũng nằm ngoài dự đoán, giá thép theo đà vẫn tăng lên khi cáccông ty điều chỉnh tăng giá cao hơn từ 700 nghìn tới 1 triệu đồng/tấn
- Bước vào tháng 9 diễn biến giá cũng một lần nữa không chiều lòng những dựbáo trước đó của Hiệp hội Thép Việt Nam khi giá đã bắt đầu chững lại Việc giá thép trên thế giới biến động liên tục, thêm vào đó, thị trường trong nướcđối diện với sự cạnh tranh mạnh mẽ của thép nhập khẩu, đã “tạo sóng” giá cả trởnên phức tạp và khó dự báo hơn Chỉ sau hai tháng giá thép đã dao động với biên
độ lớn với đà đăng trên 2 triệu đồng/tấn Như vậy giá phôi thép và thép thànhphẩm trong thời gian qua liên tục biến động làm diễn biến giá trong nước của 3tháng trở lại đây trồi sụt thất thường
Nguyên nhân của sự tăng giá liên tục của mặt hàng thép như trên là do tỷgiá trong năm 2009 tăng liên tục, đặc biệt tăng mạnh trong 4 tháng đầu năm Đặcbiệt là khi NHTW thực hiện nới rộng biên độ tỷ giá lên +/- 5 %, khiến cho tỷ giátăng lên tới mức 18.000 VNĐ/USD.Trong tháng 10/2009, biến động tỷ giá lạicàng dữ dội Tỷ giá tăng từ 18.545 VNĐ/USD lên mức 19.300 VNĐ/USD, có lúcđạt đỉnh 20.673 VNĐ/USD Chính sự tăng tỷ giá liên tục này khiến cho giá thépnhập khẩu leo thang nhanh chóng như vậy Giá thép nhập tăng làm cho lượng
Trang 25thép nhập khẩu trong năm 2009 giảm mạnh Theo ước tính của Hiệp Hội ThépViệt Nam (VSA) ước tính nhập khẩu các sản phẩm thép và bán sản phẩm nhậpkhẩu vào Việt Nam trong năm nay chỉ là 10,5 triệu, giảm khoảng 15% so vớinăm 2009, tương đương 1,8 triệu tấn.
*Năm 2011
Thực tế, giá bán thép xây dựng trong nước tháng 1 đã tăng 500.000 – 1
triệu đồng/tấn so với tháng 12/2010.Giá thép biến động chủ yếu phụ thuộc vào sự
biến động giá thép phế, giá nguyên liệu, tỷ giá, lãi suất Về tỷ giá, những thángđầu năm 2011, tỷ giá ở mức cao khoảng 20.900 – 21.000 VNĐ/USD Chính vìvậy đã làm cho giá thép nhập khẩu tăng cao
Công ty cổ phần thương mại Hiệp Hương là một doanh nghiệp nhập khẩu théplớn của nước ta, cũng chịu sự ảnh hưởng của biến động TGHĐ như các doanhnghiệp khác Sự biến động của tỷ giá ảnh hưởng đến giá thép nhập khẩu, chi phíphập khẩu, cơ cấu thị trường nhập khẩu và do đó ảnh hưởng tới doanh thu và lợinhuận của doanh nghiệp Các tác động cụ thê của tỷ giá tới hoạt động kinh doanhthép nhập khẩu của công ty sẽ được nghiên cứu cụ thể ở mục 3.4.3
2.4.4 Các biện pháp của doanh nghiệp nhằm hạn chế ảnh hưởng của biến động
tỷ giá đến hoạt động nhập khẩu
2.4.4.1 Nắm bắt và dự đoán xu hướng biến động của tỷ giá
Dự đoán và đưa ra kết luận về tình hình tỷ giá mà theo đó có thể hoạch địnhđược các chiến lược kinh doanh sao cho có lợi nhất Chính vì thế cần phải nắmvững những nhân tố tác động đến giá trị của đồng nội tệ và ngoại tệ, những yếu
tố tác động đến tỷ giá Trước khi xây dựng chiến lược kinh doanh, các công tythường sử dụng cá phương pháp dự đoán sự thay đổi của tỷ giá Việc dự đoánnày thông qua:
- Sự biến động của tỷ giá dựa vào những số liệu của CCTT Khi có sự thâmhụt về CCTT, ta có thể dự đoán rằng tỷ giá trong thời gian tới có thể tăng lên vàngược lại Sự tăng (giảm) của CCTT tương ứng với sự giảm (tăng) của TGHĐ
- Dựa vào sự cân nhắc về ngang giá sức mua của đồng tiền Nó được thểhiện rằng nếu tỷ lệ lạm phát ở một nước nào đó tăng nhanh hơn so với nước khácthì đồng tiền nước đó giảm giá so với đồng tiền nước khác Do đó, sự biến độngcủa lạm phát cũng có thể dự đoán được sự biến động của tỷ giá trong thời gianđó
2.4.4.2 Áp dụng các phương pháp phòng ngừa rủi ro hối đoái bằng các công cụ
trên thị trường ngoại hối và thị trường tiền tệ.
a Phòng ngừa bằng hợp đồng tương lai
Một công ty mua một hợp đồng tiền tệ tương lai được phép nhận một hợpđồng với giá đã công bố vào một ngày nhất định Trong trường hợp công ty có
Trang 26một khoản phải trả bằng ngoại tệ trong tương lai, công ty có thể mua một hợpđồng tiền tệ trong tương lai về loại tiền tệ này Khi đó công ty sẽ cố định được sốtiền trong nước cần để trả khoản tiền phải trả Như vậy, công ty sẽ tránh được rủi
ro tỷ giá nếu giá của đồng ngoại tệ phải trả đó tăng lên Tuy nhiên, hợp đồng tiền
tệ tương lai này có thể gây hại nếu giá của đồng tiền ngoại tệ phải thanh toán đógiảm đi theo thời gian
b Phòng ngừa bằng hợp đồng kỳ hạn
Phương pháp này chủ yếu sử dụng cho các công ty lớn Theo phương phápnày, công ty nhận ngoại tệ thanh toán sẽ bán ngoại tệ trong khi công ty phải trả sẽmua ngoại tệ theo hợp đồng kỳ hạn nhằm cố định giá trị hợp đồng, tránh rủi ro do
sự thay đổi của tỷ giá Hợp đồng kỳ hạn cố định được các khoản thu hay chi trảbất luận sự biến động của tỷ giá trên thị trường nhằm giúp công ty xác định chắcchắn hiệu quả kinh doanh Nhưng nó chưa hoàn toàn thuận lợi cho công ty nếu tỷgiá biến động ngược lại với dự kiến Lúc này, không phòng ngừa rủi ro lại hơn.Hợp đồng kỳ hạn chưa phải là cách phòng ngừa chống rủi ro tốt nhất song nócũng mang lại sự an tâm cho các nhà quản lý
c Phòng ngừa thông qua thị trường tiền tệ
Đây là việc sử dụng một tình trạng thị trường tiền tệ để bù đắp một khoảnphải trả trong tương lai Trong một số trường hợp, công ty không cần có số dưtiền mặt vẫn có thể phòng ngừa được thông qua thị trường tiền tệ bằng cách vaytiền bằng đồng tiền trong nước và đầu tư ngắn hạn về ngoại tệ
2.4.4.3 Lựa chọn loại tiền thanh toán phù hợp
Để phòng tránh rủi ro hối đoái được tốt hơn, một giải pháp được các công tylựa chọn là chọn loại tiền thanh toán phù hợp cho mỗi hình thức kinh doanh.Thực tế là giá trị các đồng tiền luôn chịu ảnh hưởng bởi tình hình kinh tế, chínhtrị ở mỗi quốc gia, trong khu vực và trên thế giới Khi thực hiện hoạt động kinhdoanh của mình, công ty phải sự dụng đến nhiều loại tiền khác nhau, nhưng để cóđược đồng tiền thanh toán đem lại lợi nhuận tối đa cho công ty, đồng thời hạnchế được rủi ro của sự biến động tỷ giá, công ty phải lựa chọn loại tiền thanhtoán phù hợp
Trên đây là một số giải pháp nhằm hạn chế biến động của tỷ giá đồng thờihạn chế tác động tiêu cực của nó đến hoạt sản xuất kinh doanh Tùy theo từngtrường hợp, từng thời điểm cụ thể mà chọn biện pháp nào cho phù hợp với mỗicông ty để mang lại hiệu quả cao nhất
Kết luận: trong chương 2, nội dung chủ yếu được trình bày là một số vấn
đề lý luận cơ bản về TGHĐ như các khái niệm cơ bản, các cơ chế điều hành tỷ giá và thực trạng điều hành tỷ giá ở Việt Nam những năm gần đây Đồng thời,
Trang 27chương 2 cũng chỉ ra được sự khác biệt của đề tài nghiên cứu so với các đề tài khác Cụ thể là qua chương 2, em cũng đã phân định rõ nội dung nghiên cứu của
đề tài, bao gồm các nội dung: ảnh hưởng của biến động TGHĐ đến nền kinh tế, tác động của biến động TGHĐ đến hoạt động nhập khẩu, tới hoạt động nhập khẩu thép xây dựng và các biện pháp phòng ngăn ngừa rủi ro của biến động tỷ giá của các doanh nghiệp nhập khẩu
CHƯƠNG 3:PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ ĐẾN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU CÁC SẢN PHẨM THÉP XÂY DỰNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI HIỆP
Trang 283.1 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để tìm hiểu và đi sâu vào vấn đề nghiên cứu, trong quá trình nghiên cứu em
đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như phương pháp thu thập dữ liệu,phương pháp sử lý số liệu
3.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Thu thập dữ liệu là công đoạn đầu tiên trong quá trình phân tích hệ thống.Nhưng câu hỏi đặt ra là làm sao có được các thông tin liên quan tới mục tiêu đặt
ra với độ chính xác cao Để có được điều đó, cần sử dụng một số phương phápnhư phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp quan sát; phương pháp điềutra, phỏng vấn
Thứ nhất là phương pháp nghiên cứu tài liệu Đây là bước đầu của quá trình
phân tích vấn đề nghiên cứu và cũng là phương pháp thu thập thông tin thườngđược áp dụng Mục đích của nghiên cứu tài liệu là các kiến thức cơ bản vềTGHĐ, các tìa liệu lien quan đến chính sách tỷ giá của Việt Nam và các thông tinliên quan đến công ty cổ phần thương mại Hiệp Hương…
Thứ hai, phương pháp quan sát: là phương pháp được sử dụng khá phổ biến,
đặc biệt trong trường hợp có những thông tin mà chúng ta cần biết nhưng khóhoặc không thể thu thập được bằng các phương pháp khác và cũng chưa có tàiliệu nào kịp thời đề cập đến Hơn nữa, quan sát sẽ giúp chúng ta bổ sung và chínhxác hóa các thông tin đã thu thập được Trong luận văn, phương pháp quan sátđược sử dụng trong việc quan sát sự biến động của tỷ giá, sự biến động tươngứng của dianh thu, lợi nhuận… của doanh nghiệp…
Thứ ba, phương pháp phỏng vấn: là phương pháp thu thập thông tin rất hiệuquả và thông dụng bằng cách trực tiếp đặt các câu hỏi và ghi chép các câu trả lờicủa những người có lien quan đến vấn đề nghiên cứu Cụ thể hơn nữa là hỏi vàghi chép ý kiến của ban lãnh đạo và nhân viên trong công ty cổ phần thương mạiHiệp Hương về tác động của biến động tỷ giá đến hoạt động nhập khẩu thép củacông ty trong thời gian qua và các ứng phó của doanh nghiệp…
Thứ tư, phương pháp điều tra Phương pháp này được áp dụng khi chúng tacần phải lấy thông tin từ một số lượng lớn các đối tượng hoặc trên một phạm viđịa lý rộng Yêu cầu câu hỏi trên phiếu điều tra phải rõ ràng, dễ hiểu và đi sâuvào vấn đề nghiên cứu Phương pháp này nhằm tìm hiểu sự quan tâm, hiểu biếtcủa nhân viên công ty đến vấn đề cần nghiên cứu
3.1.2 Phương pháp phân tích dữ liệu
Nếu chúng ta chỉ thu thập thông tin mà không biết xử lý thông tin đó thìnhững thông tin thu thập được không có ý nghĩa Vì thế cần phải phân tích dữliệu đã thu thập được Phân tích dữ liệu là sử dụng các phần mềm hoặc các cách
Trang 29thống kê, kết hợp các công cụ như đồ thị, hình vẽ để minh họa nhằm tăng tínhthuyết phục.
Các phương pháp phân tích dữ liệu trong đề tài cụ thể là tổng hợp và vẽ đồthị trên các phần mềm excel, SPSS…nhằm đưa ra các kết luận về sự biến độngcủa tỷ giá trong thời gian từ năm 2008 cho tới nay và tác động của sự biến động
đó tới hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần thương mại HiệpHương nói riêng, của ngành thép và nền kinh tế nói chung
3.2 Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng nhân tố môi trường đến
tỷ giá hối đoái3.2.1 Tình hình biến động tỷ giá VNĐ/USD trên thị trường Việt Nam từ năm
2008 đến nay
Trong giai đoạn 2008 – 2009, TGHĐ Việt Nam đã có sự biến động lớn, lúctăng lúc giảm và nó thực sự diễn biến theo tình hình kinh tế nước ta nói riêng vàtình hình kinh tế thế giới và khu vực nói chung
Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam từng bước thực hiện tự do hóa kinh tếbao gồm tự do hóa tài chính, tất yếu sẽ dẫn đến tự do hóa lãi suất, tự do hóa tỷgiá hối đoái, tự do các dòng vốn … Các bước tự do hóa tài chính này vừa tạo thời
cơ mới đồng thời cũng tạo ra nhiều thách thức như áp lực lạm phát gia tăng, biếnđộng TGHĐ và biến động lãi suất Cũng như hầu hết các nước khi mở cửa, ViệtNam có sự lựa chọn để đổi mới mình cho phù hợp với các nước khi hội nhập.Nhất là với các chính sách điều hành tỷ giá, cần có sự lựa chọn thật hợp lý đểkinh tế đất nước không đi chệch hướng phát triển mà Nhà nước ta đã định
Khủng hoảng tài chính thế giới năm 2007-2008 đã gây ra hàng loạt nhữngbiến động trên thị trường tài chính, dẫn đến suy thoái kinh tế toàn cầu Trong bốicảnh chung ấy, Việt Nam cũng không nằm ngoài sự tác động tiêu cực của suythoái kinh tế, biểu hiện là tỷ lệ lạm phát cao giai đoạn cuối năm 2007, sau đógiảm xuống và có chiều hướng chuyển thành giảm phát, GDP giảm sút, thâm hụtthương mại, rủi ro thanh khoản, thị trường ngoại tệ biến động và nguy cơ suygiảm kinh tế Đối với Việt Nam, tác động chính của những biến động kinh tếtoàn cầu thể hiện ở kim ngạch xuất nhập khẩu và các dòng vốn đầu tư nước ngoài
đổ vào Việt Nam Nguyên nhân chính là do chúng chịu tác động của tỷ giá đồngtiền hai nước
Tỷ giá VNĐ/USD trong giai đoạn 2008 đến nay đã có nhiều biến động mạnhtrên cả thị trường tự do cũng như trên thị trường chính thức Để có cái nhìn tổng quát vềnhững biến động này, em đưa ra bảng sau:
Bảng 3.2.1: Tỷ giá VNĐ/USD bình quân giai đoạn 2008-2010
2009/2008 2010/2009
Trang 30Tháng/Năm 2008 2009 2010
Số tiền (VNĐ)
Tỷ lệ (%)
Số tiền (VNĐ)
Tỷ lệ (%)
Nguồn: Cổng thông tin điện tử, Bộ tài chính
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy TGHĐ qua các năm biến động rất phứctạp Tính chung, TGHĐ có xu hướng tăng từ năm 2008 đến 2010, tuy nhiên tốc
độ tăng qua các năm là khác nhau Tốc độ tăng TGHĐ của năm 2009 so với năm
2008 là 1461 Đ/USD, tương ứng với 8,96 % lớn hơn tốc độ tăng TGHĐ của năm
2010 so với năm 2009 là 811Đ/USD, tương ứng với 4,37%
Hình 3.2.2: Biểu đồ diễn biến tỷ giá các tháng trong năm giai đoạn 2008 - 2010.
Nguồn: Cổng thông tin điện tử, Bộ Tài Chính
Nhìn vào bảng số liệu tỷ giá bình quân hàng tháng, kết hợp với đồ thị biễnbiến tỷ giá từ năm 2008 đến năm 2010, ta có thể nhận xét cụ thể về biến động tỷgiá các năm trên như sau:
Năm 2008: TGHĐ trong năm 2008 lúc tăng lúc giảm nhưng tỷ giá nhìn
chung xoay quanh giá trị 16.301VNĐ/USD và được chia làm 3 giai đoạn như sau:
*Giai đoạn 1, từ tháng 1 đến tháng 3/2008: TGHĐ có xu hướng giảm liên
tục và dao động quanh giá trị 16.000 VNĐ/USD Mức tăng giảm tỷ giá trong giai
Trang 31đoạn này tương đối hẹp, giảm từ 16.119 VNĐ ở tháng 1 xuống còn 16078 VNĐ
ở tháng 3, giảm 41 VNĐ
Nguyên nhân: Thời điểm này gần tết âm lịch nên lượng kiều hối chuyển
về nước nhiều Đồng thời do trong thời gian này, NHNN đang đẩy mạnh việckiềm chế lạm phát, sử dụng biện pháp tiền tệ thắt chặt, tăng lãi suất cơ bản từ8,25%/năm (tháng 12/2007) lên 8,75%/ năm (tháng 2/2008) NHNN không thựchiện mua ngoại tệ USD nhằm hạn chế việc bơm tiền ra lưu thông, đồng thời tăngbiên độ tỷ giá từ 0,75% lên 1% trong ngày 10/03/2008 Do đó làm cho tỷ giá giaiđoạn này liên tục giảm dưới mức sàn
* Giai đoạn 2, từ tháng 6 đến tháng 8/2008: Tỷ giá liên tục tăng, đặc biệt
tỷ giá lên tới đỉnh điểm là 19.400 VNĐ/USD vào ngày 18/06
Nguyên nhân:
- Do nhu cầu mua ngoại tệ trả các khoản nợ của doanh nghiệp xuất- nhậpkhẩu đến hạn cao
- Tăng nhập khẩu vàng do chênh lệch lớn giữa giá vàng trong nước và quốc tế
- Cung ngoại tệ thấp do NHNN không cho phép vay ngoại tệ đối với doanhnghiệp xuất khẩu (Theo quyết định số 09/2008/QĐ, NHNN không cho phép vay
để chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu, vay thực hiện dự án sản xuất xuất khẩu) Do
đó làm giảm hiện tượng doanh nghiệp xuất khẩu vay ngoại tệ bán lại trên thị trường
- Giai đoạn 3, từ tháng 9 đến tháng 12/2008: TGHĐ có lúc tăng, lúc giảmnhưng nhìn chung dao động ở mốc 16.500 VNĐ/USD
Nguyên nhân: Do các chính sách can thiệp của Nhà nước nhằm bình ổn thịtrường ngoại tệ như kiểm soát chặt các đại lý thu đổi ngoại tệ, cấm mua bán USDthông qua ngoại tệ khác để lách biên độ, cấm nhập khẩu vàng và cho phép xuấtkhẩu vàng, mua bán ngoại tệ để can thiệp thị trường thông qua các NHTM
Năm 2009: TGHĐ tương đối ổn định Tỷ giá dao động quanh giá trị 17761.
Nguyên nhân là do hiệu quả của các chính sách TGHĐ của chính phủ mang lại
Năm 2010: TGHĐ có những biến động hết sức phức tạp Nhìn vào biểu đồ
trên ta thấy tỷ giá dao động với biên độ lớn Tỷ giá đột ngột tăng mạnh vào tháng
4, tỷ giá bình quân/tháng lên tới 20.673 – là mức kỷ lục từ trước tới nay Sau đólại đột ngột giảm mạnh xuống 16.491 vào tháng 5 Sang tháng 6, tỷ giá lại tănglên 18.544 và giữ ổn định trong vòng 3 tháng Đến tháng 9, mức tỷ giá này tiếptục tăng lên 18.715 và tháng 10 là 18.932 Mức tỷ giá này giữ ổn định cho đếntháng 12/2010
Nguyên nhân:
+ Ngày 30/12/2009, với sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, NHTW chính thứcban hành thông tư hướng dẫn các tập đoàn, tổng công ty lớn của Nhà nước bán lại
Trang 32ngoại tệ cho các ngân hàng Việc bán lại ngoại tệ này được thực hiện khá nhanh, sau
đó tạo nguồn cung đáng kể, hỗ trợ các ngân hàng cải thiện trạng thái ngoại tệ rấtcăng thẳng trước đó
+ Chỉ hơn nửa tháng sau, ngày 18/01/2010, NHTW có quyết định số 74/ NHNN giảm mạnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các tổ chức tín dụng.Việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc này làm tăng nguồn vốn khoảng 500 triệu USD chocác NHTM cho vay trên thị trường
QĐ-+ NHNN tiếp tục ban hàng thông tư số 03/2010/TT-NHNN, quy định mức lãisuất tiền gửi tối đa bằng USD của tổ chức kinh tế tại tổ chức tín dụng là 1%, màtrước đó, mức lãi suất này là 4-5%/năm Do đó buộc các tổ chức xem xét việc bánngoại tệ , chuyển sang VNĐ để có lãi suất tiền gửi cao hơn Khớp với chính sáchnày, các NHTM đồng loạt tăng giá USD mua vào để thu hút nguồn ngoại tệ tiềmnăng này
+ Chênh lệch vay vốn bằng VNĐ và USD lớn khiến cho các doanh nghiệpcân nhác và chuyển dich sang vay USD
Với các chính sách trên, NHNN đã giảm sự tăng lên của đồng USD, làm cho
tỷ giá nội tệ tăng Việc nhập khẩu đầu vào cho sản xuất kinh doanh có chút thuậnlợi, đồng thòi đáp ứng được nhu cầu về USD đối với các doanh nghiệp nhập khẩu
Hình 3.2.3: Biểu đồ thể hiện sự biến động tỷ giá bình quân giai đoạn 2008-2010
Đơn vị: đồng/USD
Nguồn: Cổng thông tin điện tử của Bộ tài chính, 2011
Từ biểu đồ trên ta thấy, TGHĐ từ năm 2008 đến năm 2010 có xu hướng tăng.Trong đó tốc độ tăng của năm 2009 so với năm 2008 cao hơn tốc độ tăng củanăm 2010 so với năm 2009
Nhận xét chung:
- TGHĐ giai đoạn 2008-2010 có những diễn biến phức tạp nhưng xét chung
thì có xu hướng tăng, trong đó tốc độ tăng của năm 2009/2008 nhanh hơn tốc độtăng của năm 2010/2009