nâng cao chất lượng bổ sung, rủi ro thanh toán xuất khẩu, phát triển dịch vụ môi giới, kế toán chi phí sản xuất, phát triển mô hình tmđt, phát triển dịch vụ bổ sung
Trang 1CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN BÁN SẢN PHẨM THIẾT BỊ ĐIỆN GIA DỤNG TRÊN THỊ TRƯỜNG HÀ NỘI CUẢ CÔNG TY TNHH TRIỆU NGUYÊN
1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu của vấn đề phát triển hoạt động xúc tiến bán sản phẩm thiết bị điện gia dụng của công ty TNHH Triệu Nguyên trên thị trường Hà Nội
Đối với các doanh nghiệp việc xác định thị trường mục tiêu, thời cơkinh doanh và xu hướng kinh tế thị trường là một cách tốt nhất để tồn tại vàphát triển Do đó áp dụng quy trình Marketing vào sản xuất kinh doanh chophép các doanh nghiệp giải quyết vấn đề trên theo phương châm củaMarketing: "chỉ sản xuất và bán những gì thị trường cần chứ không sản xuất
và bán những gì mình có" Song trong thời đại ngày nay cái thị trường cầnthì rất nhiều người bán,đây là một vấn đề rất quan trọng để tồn tại và pháttriển trong môi trường kinh doanh có sự cạnh tranh gay gắt khi đó hoạt độngxúc tiến bán với các công cụ hữu hiệu sẽ làm cho việc tiêu thụ sản phẩmđược dễ dàng hơn đảm bảo cho nghiệp vụ tồn tại và phát triển Hoạt độngxúc tiến bán ngày càng trở nên quan trọng trong chiến lược Marketing củacông ty Theo Quy hoạch phát triển ngành thiết bị điện đến năm 2015 và
2025 đã được Bộ Công Thương phê duyệt, tổng vốn đầu tư cho phát triểnngành sản xuất thiết bị điện giai đoạn 2011-2015 khoảng 136 ngàn tỷ đồng,tăng trưởng bình quân giá trị sản xuất khoảng 17-18%/năm, phấn đấu đápứng 70% nhu cầu trong nước về các loại thiết bị đường dây,trang thiết bịđiện, 55% nhu cầu trong nước về các điện dân dụng Cũng theo quy hoạch,giai đoạn 2011-2015, tăng trưởng xuất khẩu của ngành thiết bị điện đạt 18%/năm và giai đoạn 2016-2025 đạt 15%/năm, đặc biệt, các loại dây và cáp điệnchất lượng cao có kim ngạch xuất khẩu tăng 35%/năm; tiến đến năm 2025,Việt Nam có thể sản xuất, cung ứng trọn bộ thiết bị điện trong các công trìnhđường dây điện và trạm biến áp cũng như các thiết bị điện phục vụ đời sống
Trang 2xã hội Quy hoạch cũng nhằm đưa ngành sản xuất thiết bị điện Việt Nam đạttrình độ tiên tiến trong khu vực về công nghệ sản xuất máy biến thế, động cơđiện, máy phát điện, khí cụ điện trung và cao thế, dây và cáp điện phục vụtrong nước và xuất khẩu.
Theo dự báo của BMI (Business Monitor International) một trongnhững công ty hàng đầu chuyên cung cấp các thông tin, dịch vụ tài chínhnhư các báo cáo phân tích về quốc gia, ngành kinh tế, ngành điện Việt Nam
sẽ tiếp tục tăng trưởng bình quân 13-15%/năm trong các năm tới và đạt giátrị gần 3 tỷ USD vào năm 2013 Trong năm 2011, Việt Nam hướng tới mụctiêu sản xuất trong nước sẽ phục vụ được 60% nhu cầu của thị trường
Trong thời gian thực tập tại Chi nhánh Công ty TNHH Triệu Nguyên
và thông qua phiếu điều tra, các buổi phỏng vấn trực tiếp em thấy rằng trongthời kỳ mở cửa như hiện nay thì sức cạnh tranh gia tăng và các doanh nghiệpđều gặp phải khó khăn Trong những vấn đề mà công ty tập trung nhất thìviệc phát triển hoạt động xúc tiến thương mại đối với các sản phẩm thiết bịđiện gia dụng là một vấn đề hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và pháttriển của công ty.Trang thiết bị điện sinh hoạt là một trong những sản phẩmthế mạnh và trọng tâm của công ty, do vậy chúng tôi chọn đề tài “Phát triểnhoạt động xúc tiến bán sản phẩm đồ bị điện gia dụng của công ty TNHHTriệu Nguyên trên thị trường Hà Nội” làm chuyên đề tốt nghiệp
1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề cần giải quyết trong đề tài
Nâng cao sức cạnh tranh, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, nâng cao doanh số…lànhững mục tiêu hàng đầu của các công ty Hiện nay, công ty TNHH TriệuNguyên phải đối mặt với nhiều đối thủ cạnh tranh lớn, không chỉ các công tysản xuất trong nước như:VI NA,Thống Nhất,INTIMEX Bên cạnh đó, cònrất nhiều sản phẩm cạnh tranh thay thế khác nữa
Vấn đề nghiên cứu ở đây chính là thực trạng hoạt động xúc tiến bán sảnphẩm đồ điện gia dụng của công ty TNHH Triệu Nguyên Nghiên cứu những
ưu điểm, thành công, hạn chế và nguyên nhân của chúng để từ đó có thể đưa
Trang 3ra các giải pháp nhằm phát triển hoạt động xúc tiến bán của công ty TNHHTriệu Nguyên.
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu.
Xây dựng hệ thống lý luận về phát triển hoạt động xúc tiến nhằm quảng
bá sản phẩm đồ điện gia dụng của công ty
Nghiên cứu,phân tích va đánh giá thực trạng việc quảng bá, xúc tiến sảnphẩm này của công ty TNHH Triệu Nguyên
Nhận xét và đưa ra các giải pháp nhằm phát triển hoạt động xúc tiếnbán đồ điện gia dụng của công ty TNHH Triệu Nguyên
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Địa bàn Hà Nội
Thời gian: Trong khoảng thời gian từ năm 2007-2010 và đề xuất từ2011-2015
Mặt hàng: đồ điện gia dụng
Tập khách hàng: Tập khách hàng là những người cá nhân,hộ gia đình cónhu cầu về đồ điện gia dụng trên thị trường Hà Nội
1.5 Một số khái niệm và phân định nội dung của vấn đề nghiên cứu
1.5.1 Một số khái niệm cơ bản.
1.5.1.1 khái niệm và bản chất của XTB
Xúc tiến bán là 1 yếu tố chủ chốt trong các chiến dịch marketing Chúng ta
có thể định nghĩa xúc tiến bán như sau:
Xúc tiến bán bao gồm tập hợp đa dạng các chương trình khuyến mại chủ yếu
là ngắn hạn, được thực hiện nhằm kích thích sức mua nhanh hơn hoặc caohơn đối với mỗi một sản phẩm hoặc dịch vụ của người tiêu dùng hay doanhnghiệp
( Nguồn Quản trị Marketing thương mại – Philip Kotler )
Xúc tiến bán đang đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong hỗn hợp tiếpthị, một công cụ mang tính chiến thuật cân xứng với quảng cáo nhãn hiệumang tính chiến lược và nó sẽ là một công cụ mà các nhà làm marketing
Trang 4thường xuyên cần tới để kết hợp xúc tiến bán với quảng cáo (và bán hàngtrực tiếp) để đạt được sự hoà hợp tối ưu Như vậy ta có thể hiểu xúc tiến bánhàng như sau:
Mặc dù xúc tiến bán bao gồm nhiều công cụ khác nhau như phiếu thưởng,thi đố, quà tặng …nhưng các công cụ đó đều có chung ba đặc điểm sau:
- Truyền thông: Sự truyền thông có tính xung đột nhất thời, chúng thu hút
sự chú ý và thường cung cấp thông tin để đưa người tiêu dùng đến với sảnphẩm
- Khuyến khích: Chúng kết hợp sự nhân nhượng, xui khiến, khích lệ , hỗtrợ đưa lại giá trị bổ sung cho người tiêu dùng
- Mời chào: Chúng hàm chứa lời rõ nét lời mời chào kích đẩy khách hàngnhanh hơn
(nguồn: Trang 269-GT Marketing căn bản-Trường Đại Học Marketing)
1.5.1.2 Vai trò của xúc tiến bán.
XTB không chỉ kích thích tiêu thụ đối với nhà trung gian, người tiêu dùng màcòn với cả lực lượng bán hàng XTB góp phần thúc đẩy tốc độ tiêu thụ sảnphẩm công ty, từ đó gia tăng lợi nhuận
So với các công cụ xúc tiến thương mại khác như quảng cáo, PR, Marketingtrực tiếp… thì XTB tỏ ra hiệu quả hơn, nó mang lại lợi ích nhanh hơn vàmạnh mẽ hơn cho doanh nghiệp
Xúc tiến bán hàng là một hoạt động hết sức phổ biến trong lĩnh vực kinhdoanh, nó được chấp nhận rộng rãi tại các nước đang phát triển như ViệtNam.Nó thường được coi như một biện pháp hỗ trợ ngắn hạn cho hoạt độngquảng cáo và bán hàng cá nhân Tuy nhiên, vai trò và tầm quan trọng của nócòn tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể (ngành kinh doanh, loại sản phẩm,tập quán và luật pháp tại từng thị trường…)
Trang 51.5.2 PHÂN ĐỊNH NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN XÚC TIẾN BÁN
CỦA CÔNG TY KINH DOANH
1.5.2.1.Xác định mục tiêu xúc tiến bán.
Những mục tiêu xúc tiến bán được rút ra từ những mục tiêu marketing đề racho sản phẩm Những mục tiêu cụ thể của xúc tiến bán thay đổi tuỳ theo kiểuthị trường mục tiêu
Nhóm mục tiêu đối với người tiêu dùng.
Một số biện pháp khuyến mại nhằm khuyến khích người tiêu dùng dùng thửlần đầu tiếp tục mua hoặc tăng cường mua sản phẩm Những biện pháp nhưvậy sẽ thu hút được người tiêu dùng thử sản phẩm mới hay sản phẩm cảitiến, thu hút được thêm khách hàng mới, khuyến khích sử dụng lại sản phẩm,tăng khối lượng mậu dịch khuyến khích mua hàng nhiều lần hay mua thườngxuyên sản phẩm Chúng có thể thúc đẩy việc mua hàng đã qua mùa, khuyếnkhích mua hàng tuỳ hứng không chủ định và bù trừ vô hiệu hoá các hoạtđộng khuyến mại cạnh tranh
- Xúc tiến bán với việc mua hàng lần đầu Đối với sản phẩm mới thì mục tiêunày rất quan trọng, nó quyết định đến giai đoạn tiếp theo của sản phẩm Đốivới sản phẩm cũ thì nó tác động lôi kéo khách hàng sử dụngứp của công tyđồng thời làm giảm mức độ của đối thủ cạnh tranh
- Xúc tiến bán với việc tạo ra thói quen mua hàng: Đây là mục tiêu rất quantrọng và nó có tác dụng quyết định rất lớn đến việc giữ vững và ổn định thịtrường
- Xúc tiến bán với việc khuyến khích người tiêu dùng thờ ơ Mục tiêu này cótác dụng tạo thêm nhu cầu người tiêu dùng và tăng thị phần của công ty
1.5.2.2 Lựa chọn phương tiện xúc tiến bán.
Nhóm công cụ kích thích người tiêu dùng.
Các công cụ kích thích người tiêu dùng
-Mẫu hàng: là những sản phẩm hay dịch vụ được phân phát miễn phí Mẫuchào hàng có thể được đem đến tận nhà, gửi qua bưu điện, phát tại cửa hàng,
Trang 6kèm theo sản phẩm khác, hay sử dụng chúng để quảng cáo Đây là phươngthức giới thiệu sản phẩm mới có hiệu quả nhất và cũng tốn kém nhất.
-Phiếu mua hàng: là giấy xác nhận người cầm giấy được hưởng quyền ưu đãigiảm giá khi mua một sản phẩm nhất định
-Bớt tiền: là hình thức giảm giá sau khi mua hàng chứ không phải tại cửahàng bán lẻ Người tiêu dùng gửi cho nhà sản xuất một chứng từ chứng tỏ đãmua hàng và nhà sản xuất sẽ hoàn lại một phần giá mua qua bưu điện
-Bao gói theo giá rẻ: đảm bảo cho người tiêu dùng tiết kiệm được một số tiền
so với giá bình thường của sản phẩm đã ghi trên bao gói hay nhãn hiệu
-Quà tặng: được bán với giá thấp hay cho không để khuyến khích mua mộtsản phẩm khác
-Giải thưởng ( cuộc thi, trò chơi ): là hình thức NTD có cơ may nhận đượctiền mặt, du lịch, hàng hóa do mua một thứ gì đó
-Phần thưởng cho khách hàng thường xuyên: là những giá trị bằng tiền hayhình thức khác tỷ lệ với số lần khách mua hàng
-Bảo hành sản phẩm: là công cụ quan trọng, nhất là khi NTD đã nhạy cảmhơn về chất lượng
-Liên kết khuyến mại: hai hay nhiều nhãn hiệu cùng hợp sức để phân phátphiếu mua hàng, tổ chức thi…
-Trưng bày và trình diễn tại điểm mua: có thể diễn ra tại điểm mua hay điểmbán
Các công cụ xúc tiến - thương mại
-Chiết giá: là khoản chiết khấu giá quy định trong từng trường hợp mua hàngtrong một thời kì nhất định Cách này sẽ khuyến khích đại lý mua hàng vàchấp nhận kinh doanh một mặt hàng mới mà ở điều kiện bình thường có thể
họ không mua
-Bớt tiền: là bù đắp một số tiền cho nguời bán lẻ đã đồng ý đẩy mạnh việcgiới thiệu sản phẩm của nhà sản xuất theo một cách nào đó
Trang 7-Thêm hàng hóa: là biếu thêm một số lượng hàng cho những người trung gian
đã mua một số lượng hàng nhất định hay tích cực giới thiệu sản phẩm đó
1.5.2.3 Xây dựng chương trình xúc tiến bán hàng.
Người làm marketing còn phải thông qua những quyết định nhằm xác địnhtoàn bộ chương trình xúc tiến bán Những người làm marketing ngày cànghay kết hợp một số phương tiện trong một khái niệm tổng quát về chiến dịch.Trong bối cảnh này có một số nhiệm vụ cụ thể phải thực hiện là:
Xác định mức độ kích thích.
Cần phải quyết định kích thích mạnh đến mức nào.Để đảm bảo thành côngcần có một mức độ kích thích tối thiểu.Cường độ kích thích tỉ lệ nghịch vớinhịp độ tiêu dùng.Vì vậy nhu cầu giảm càng nhiều càng kích thích mạnh Tuỳtheo doanh nghiệp và loại hàng cụ thể, trong thời gian và địa điểm thị trường
cụ thể mà có mức độ kích thích phù hợp
Xác định điều kiện tham gia.
Điều kiện tham gia cần phải được xác định rõ ràng Chỉ có những người giaonộp nắp hộp hay xi niêm phong để chứng tỏ rằng mình đã mua hàng hoá mới
có thể được nhận thưởng Các trò chơi cá cược, xổ số có thể bị cấm ở một sốkhu vực nhất định hay có thể không dành cho gia đình công nhân viên củacông ty và những người chưa đến một độ tuổi nhất định nào đó
Quyết định thời gian kéo dài của chương trình.
Người làm marketing phải quyết định thời gian kéo dài của chương trình xúctiến bán Nếu thời gian xúc tiến bán quá ngắn thì nhiều khách hàng triển vọng
sẽ không có điều kiện hưởng thụ vì trong thời gian đó có thể họ không cầnmua lập lại một sản phẩm đó Ngược lại, nếu thời gian khuyến mại quá dài thì
nó sẽ mất hết tác dụng thôi thúc phải hành động ngay Theo ý kiến của mộtnhà nghiên cứu thì tần suất tối ưu là vào khoảng 3 tuần/ quý và thời gian kéodài tối đa là bằng thời gian của chu kì mua hàng trung bình Tất nhiên, chu kìkhuyến mại tối ưu thay đổi tuỳ theo chủng loại sản phẩm và thậm chí còn tuỳtheo cả sản phẩm cụ thể Các doanh nghiệp cần phải nắm được và tuỳ theo
Trang 8điều kiện cụ thể mà thực hiện chương trình xúc tiến bán hàng trong mộtkhoảng thời gian hợp lí.
Lựa chọn phương tiện phân phát.
Các nhà truyền thông cần phải công bố chương trình xúc tiến bán của doanhnghiệp và tuyên truyền cho nó.Các phương tiện xúc tiến bán như phiếuthưởng, quà tặng, gói hàng hạ giá, các cuộc thi… được sử dụng như thế nào
và cơ chế sử dụng tới đâu?Cần quyết định về cách phát hành các tài liệu cầnthiết cho những người tham gia.Mỗi phương thức phân phát có mức độ baoquát, yêu cầu chi phí và cường độ tác động khác nhau
Xây dựng lịch triển khai xúc tiến bán.
Cần xây dựng lịch triển khai xúc tiến bán.Ví dụ người quản lí nhãn hiệu cóthể lấy ngày lịch để xây dựng kế hoạch triển khai khuyến mại hàng năm Các
bộ phận sản xuất tiêu thụ và phân phối căn cứ vào những ngày đó để hoạtđộng Cũng có thể cần có những biện pháp khuyến mại đột xuất và trongtrường hợp này cần có sự hợp tác trong một thời gian ngắn
Xác định tổng ngân sách xúc tiến bán.
Ngân sách xúc tiến bán có thể xây dựng theo 2 cách: Nó có thể được xâydựng từ dưới lên trên nghĩa là người làm marketing lựa chọn từng biện phápkhuyến mại rồi ước tính tổng chi phí của chúng Chi phí của một biện phápkhuyến mại cụ thể gồm chi phí hành chính (in ấn, gửi bưu điện, cổ động) vàchi phí khuyến khích (tiền thưởng, giảm giá, kể cả các chi phí chuộc lạiphiếu), nhân với số đơn vị sản phẩm dự kiến sẽ bán trong đợt đó
Cách thông dụng hơn là xây dựng ngân sách xúc tiến bán hàng theo tỉ lệ %thông thường của tổng ngân sách khuyến mại Ví dụ kem đánh răng có thể cómột ngân sách xúc tiến bán bằng 30% tổng ngân sách khuyến mại trong khidầu gội đầu có thể đạt tới 50% Tỉ lệ % này thay đổi tuỳ theo các nhãn hiệukhác nhau trên thị trường khác nhau và chịu ảnh hưởng của các giai đoạntrong chu kì sống của sản phẩm và chi phí khuyến mại của đối thủ cạnh tranh
Trang 9Sau khi đã xây dựng chương trình xúc tiến bán cần được thí điểm để kiểm tratính thích hợp khi đã chắc chắn thì chương trình đó cần đưa vào triển khai.
1.5.2.4.Thử nghiệm trước chương trình xúc tiến bán.
Mặc dù các chương trình xúc tiến bán được thiết kế trên cơ sở kinh nghiệmvẫn cần tiến hành thử nghiệm trước để xác định xem các công cụ có phù hợpkhông, mức dộ kích thích có tối ưu không và phương pháp giới thiệu có hiệuquả không?Kết quả đưa ra của hiệp hội những người quảng cáo đặc biệt chothấy rằng chưa đầy 42% những người quảng cáo này có thử nghiệm để xemxét hiệu quả của nó Nhưng vẫn khẳng định rằng các biện pháp khuyến mạithường là có thể thử nghiệm nhanh chóng không tốn kém và có một số công
ty lớn đã thử nghiệm các phương án chiến lược tại những khu vực đã lựa chọncủa từng thị trường đối với từng biện pháp khuyến mại toàn quốc
Những biện pháp xúc tiến bán nhằm vào các thị trường người tiêu dùng đều
có thể thử nghiệm trước một cách dễ dàng Có thể đề nghị người tiêu dùngđánh giá hay xếp hạng các biện pháp khác nhau Hay có thể tiến hành làm thíđiểm tại những địa bàn hữu hạn
1.5.2.5.Thực hiện và kiểm tra chương trình xúc tiến bán.
Cần chuẩn bị các kế hoạch thực hiện và kiểm tra cho từng biện pháp.kế hoạchthực hiện phải tính cả thời gian chuẩn bị và thời gian bán hàng Thời gianchuẩn bị là thời gian cần thiết để chuẩn bị chương trình trước khi triển khai
Nó bao gồm việc lập kế hoạch sơ bộ, thiết kế và phê duyệt những cải tiến bao
bì hay tư liệu sẽ gửi bưu điện hoặc phân phát đến tận nhà, chuẩn bị quảng cáokết hợp với những những tư liệu cho các điểm bán hàng, quán triệt cho nhânviên bán hàng dã ngoại, phân bổ cho từng người phân phát, mua và in ấnnhững phần thưởng đặc biệt và vật liệu bao bì, sản xuất trước lượng hàng hoá
dự trữ và trưng bày tại các trung tâm phân phối để chuẩn bị phát ra vào mộtngày đã định và cuối cùng là phân phối đến người bán lẻ
Trang 10Thời gian được tính từ khi bắt đầu tung ra đến khi 95% số hàng hoá trongđợt đã nằm trong tay người tiêu dùng, có thể là một hay một vài tháng, tuỳthời gian kéo dài của đợt.
1.5.2.6.Đánh giá hiệu quả của hoạt động xúc tiến bán.
họ nhớ đến chương trình xúc tiến không
- Tham khảo ý kiến các chuyên gia xem họ đánh giá như thế nào vềchương trình xúc tiến này
Kiểm tra kết quả xúc tiến bán đạt được.
- Chúng ta phải kiểm tra kết quả đạt được và mức độ chênh lệnh giữathực tế và dự kiến
- Sau khi xác định kết quả thực hiện, so sánh với chỉ tiêu đề ra và tìmnguyên nhân ảnh hưởng tới chương trình XTB Từ đó có những hành độngđiều chỉnh và rút kinh nghiệm cho chương trình khác
Trang 11CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN BÁN SẢN PHẨM ĐỒ ĐIỆN GIA DỤNG CỦA CÔNG TY TNHH
Nguồn dữ liệu bên trong:
+ Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty qua các năm
2008, 2009, 2010
+ Bảng phân bổ chi phí xúc tiến bán
Nguồn dữ liệu bên ngoài: chủ yếu thông qua báo chí ( báo điệntử…)
-Các website: www.vneconomy.vn ; www .marketingvietnam.net
-Website của Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ Hà Nội: hba.vn
-Website của hiệp hội công nghiệp kỹ thuật điện Việt Nam www.velina.org
phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
- Phương pháp thu thập từ báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của Chi nhánh qua các năm 2008, 2009, 2010 và bảng phân bố ngân sáchdành cho xúc tiến bán
- Phương pháp tổng hợp thông tin từ các website, báo
2.1.2.Nguồn và phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Nguồn dữ liệu sơ cấp-Thực trạng hoạt động xúc tiến bán của công ty TNHH Triệu Nguyên: nguồnlực, cơ cấu tổ chức, kết quả điều tra phỏng vấn khách hàng và cán bộ côngnhân viên trong công ty
Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Trang 12- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn Bà Phạm Thu Hương Giám đốc công
ty TNHH Triệu Nguyên,cùng các chuyên gia và quản trị cấp cao của công ty
để làm rõ thực trạng hoạt động xúc tiến bán, những khó khăn, thuận lợi khiếmkhuyết
- Phương pháp điều tra khảo sát: điều tra khách hàng với 20 phiếu điều tra
2.2 Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng của nhân tố môi trường đến phát triển hoạt động xúc tiến nhằm quảng bá sản phẩm đồ điện gia dụng của công ty TNHH Triệu Nguyên
2.2.1 Đánh giá tổng quan tình hình hoạt động kinh doanh của công ty TNHHTriệu Nguyên
Lịch sử hình thành xứ mạng kinh doanh của công ty TNHHTriệu Nguyên
Công ty TNHH Triệu Nguyên được thành lập ngày 12/11/2005 theo quyếtđịnh số 5892 GP/TLDN do Uỷ Ban thành phố Hà Nội cấp, đăng kí kinhdoanh số 090103 ngày 12/11/2005
- Tên công ty: Công ty TNHH Triệu Nguyên
- Tên giao dịch: TrieuNguyenCo.,Ltd
- Trụ sở giao dịch: : 12 lô 3ATrung Yên 6 , Cầu Giấy, Hà Nội
Trang 13 Nhiệm vụ:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch phân phối các mặt hàngđược nhập từ Nhật của công ty theo quy chế hiện hành để thực hiện mục tiêu
và nội dung hoạt động của công ty
- Khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn của công ty, khôngngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh để bảo toàn và phát triển vốn
- Kinh doanh có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của thị trường xây đồ điện giadụng tại Hà Nội, tìm những nguồn hàng mới áp dụng những tiến bộ khoa học
kỹ thuật cao nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu tiêu dùngthị trường Hà Nội
- Tuân thủ các chính sách chế độ pháp luật của Nhà nước có liên quan đếnhoạt động kinh doanh của công ty, thực hiện nghiêm chỉnh các hợp đồng kinh
tế đã kí kết với bạn hàng
Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty TNHH Triệu Nguyên
Sơ đồ 2.1:Cơ cấu tổ chức của công ty TNHH Triệu Nguyên
(nguồn: Tư liệu Phòng Hành chính - nhân sự)
GIÁM ĐỐC CHI NHÁNH
BỘ PHẬN KẾ
TOÁN
BỘ PHẬN KINH DOANH
BỘ PHẬN HÀNH CHÍNH
- NHÂN SỰ
BỘ PHẬN KSCL
KHO GIAO NHẬN
TGĐ CÔNG TY
Trang 14Cơ cấu mà Chi nhánh sử dụng là “cơ cấu đơn giản”, đây là cơ cấu trong
đó người chủ - người quản trị làm tất cả các quyết định và theo dõi mọi hoạtđộng trong khi các cán bộ làm việc như là sự mở rộng quyền kiểm soát Cơcấu này thường được sử dụng ở các công ty nhỏ, các doanh nghiệp chuyênmôn hóa, nhà buôn, nhà hàng, dịch vụ sửa chữa, thầu khoán sản xuất một loạisản phẩm hay các sản phẩm ít liên quan cho một phân đoạn thị trường cụ thể
* Ưu điểm của cơ cấu:
- Cơ cấu đơn giản áp dụng chi nhánh với quy mô nhỏ nên hệ thống thôngtin đơn giản, trao đổi một cách tiện lợi và nhanh chóng
- Các phòng ban cùng với số lượng nhân viên ít nên chi phí hoạt động
Trang 15thu của 3 năm gần đây tăng nhanh Kết quả đạt được ở trên là nhờ vào sự lãnhđạo của ban giám đốc và sự nỗ lực của toàn công ty.
Để tồn tại và phát triển, nâng cao sức cạnh tranh, đồng thời tăng hiệu quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh, công ty đã điều chỉnh định mức, xây dựng đượcquy chế về bán hàng nên hoạt động sản xuất kinh doanh đi vào nề nếp nhằmquản lý tốt về hàng hoá và quản lý chung toàn công ty
2.2.2 Ảnh hưởng của nhân tố môi trường đến Phát triển hoạt động xúc tiến nhằm quảng bá sản phẩm đồ điện gia dụng của công ty
Môi trường vĩ mô.
Môi trường kinh tế: Ngành kinh doanh đồ điện gia dụng có sự nhạy bénnhất định đối với chu kỳ kinh doanh của nền kinh tế vĩ mô Khi nền kinh tếtăng trưởng mạnh, GDP không ngừng gia tăng và đời sống nhân dân đượcnâng cao thì nhu cầu về đồ điện gia dụng với các sản phẩm chất lượng caokhông ngừng tăng Điều này làm tăng doanh thu là lợi nhuận của ngành.Ngược lại khi nền kinh tế suy thoái, đời sống và thu nhập của dân cư bị sụtgiảm thì nhu cầu về đồ điện gia dụng cũng bị ảnh hưởng
Môi trường tự nhiên: Môi trường ngày càng ô nhiễm, thời tiết thay
đổi đột ngộ,khí hậu nhiệt đới ở nước ta cũng ảnh hưởng đáng kể đối với các
đồ dùng tiếp xúc với môi trường xung quanh trong đó các đồ điện gia dụngcũng dễ bị ảnh hưởng
Môi trường luật pháp: Hoạt động kinh doanh của các DN được điều
chỉnh bởi Luật Dược, Luật DN, Luật Chứng khoán cũng như chịu tác độngcủa các chính sách và chiến lược phát triển ngành Và bên cạnh đó là luậtpháp và thông lệ quốc tế khi VN đã trở thành thành viên của WTO
Môi trường công nghệ: Ngày nay cuộc cách mạng công nghệ không
ngừng biến đổi, đạt hiệu quả tối đa và đảm bảo Đối với ngành kinh doanh đồđiện gia dụng thì sản phẩm không thể có một lỗi nhỏ vì nó ảnh hưởng trựctiếp đến sức khỏe và tín mạng của người tiêu dùng đòi hỏi công nghệ tiên tiến
và đạt tiêu chuẩn Công nghệ tiên tiến tạo ra sản phẩm có mẫu mã, bao bì đẹp,