1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

363 kế toán bán mặt hàng đồng hồ tại công ty phân phối sản phẩm cao cấp LPD

57 462 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kế Toán Bán Mặt Hàng Đồng Hồ Tại Công Ty Phân Phối Sản Phẩm Cao Cấp LPD
Tác giả Bùi Thị Thúy
Trường học Khoa Kế Toán - Kiểm Toán - Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kế Toán
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 277 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

mô hình kinh doanh trực tuyến, nâng cấp thông tin di động, kế toán tiền lương, nâng cao chất lượng tiệc cưới, quản trị nghiệp vụ lễ tân, kế toán tập hợp chi phí

Trang 1

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Kinh tế Việt Nam từ sau khi thực hiện mở cửa đến nay đã có nhiều thayđổi đáng kể Cơ chế quản lý kinh tế mở, phát triển nền kinh tế thị trườngnhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhànước đã tác động rất lớn đến việc sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệptrong nước Thêm vào đó, việc Việt Nam đàm phán thành công và chính thức

là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã thực sự trở thànhđộng lực cho các doanh nghiệp Với sự hỗ trợ của bộ phận kế toán, các nhàquản lý, các ông chủ doanh nghiệp sẽ nắm chắc được tình hình hoạt động hiệntại của doanh nghiệp cũng như quy mô vốn, các nguồn hình thành tài sản, tìnhhình doanh thu lợi nhuận cũng như những biến động trong giá thành sảnxuất…để từ đó đề ra những chiến lược sách lược kinh doanh phù hợp, đảmbảo cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranhngày càng khốc liệt như hiện nay

Trong chuỗi hoạt động kinh doanh thì bán hàng luôn được coi là khâuquan trọng, có ý nghĩa quyết định trực tiếp đến sự sống còn của doanh nghiệp.Bán hàng là cơ sở để doanh nghiệp tạo mối quan hệ với khách hàng, nhà cungcấp, với thị trường, là nguồn thu chủ yếu giúp hình thành nên doanh thu và lợinhuận, đảm bảo quay vòng vốn và phát triển Việc xác định đúng đắn phươngthức bán, mặt hàng, giá bán, ghi chép phản ánh các hóa đơn bán hàng cũngnhư cách thức ghi chép phản ánh các nghiệp vụ về bán hàng, doanh thu, chiphí…có ý nghĩa rất lớn Do đó, các chủ doanh nghiệp luôn đòi hỏi bộ phận kếtoán bán hàng phải thường xuyên theo dõi, cập nhật,phân tích, tổng hợp vàcung cấp các thông tin một cách nhanh chóng và chính xác nhất, đảm bảo chohoạt động kinh doanh được trôi chảy và bền vững

Trang 2

Đất nước ngày càng phát triển, kinh tế ngày càng vững mạnh thì mứcsống của nhân dân đang được cải thiện một cách rõ rệt, nhu cầu của họ cũngngày càng được nâng cao, không chỉ dừng lại ở các sản phẩm thiết yếu phục

vụ ăn mặc, ở, đi lại mà còn phát triển hơn, thể hiện ở việc sử dụng các dòngsản phẩm chất lượng, có uy tín, thương hiệu Nắm bắt được xu hướng tiêudùng và nhu cầu thị trường, các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm cao cấpxuất hiện ngày càng nhiều Tuy là lĩnh vực mới ở Việt Nam song sự cạnhtranh cũng không phải là nhỏ Là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vựcsản phẩm cao cấp, công ty phân phối sản phẩm cao cấp LPD cũng không thểtránh khỏi vấn đề này Tuy nhiên, qua thực tế khảo sát tại công ty, công tácbán hàng và kế toán bán hàng, đặc biệt là mặt hàng đồng hồ cao cấp vẫn cònkhá nhiều điều bất cập như doanh thu chưa tương xứng với chi phí, công tácghi chép phản ánh nghiệp vụ còn chậm, phương thức bán hàng còn nhiều hạnchế, quản lý bán hàng ở các cửa hàng và showroom còn nhiều thiếu sót, do đóđòi hỏi phải có những nghiên cứu để giải quyết những tồn tại nêu trên, đảmbảo cho sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp

1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài

Qua quá trình thực tập và nghiên cứu tình hình thực tế kế toán bán hàngtại công ty, em xin lựa chọn đề tài: “Kế toán bán mặt hàng đồng hồ tại công typhân phối sản phẩm cao cấp LPD” làm đề tài viết luận văn tốt nghiệp Tuynhiên, do hạn chế nhất định về mặt thời gian cũng như kiến thức thực tế nêntrong khuôn khổ đề tài này, em xin tập trung nghiên cứu trên góc độ kế toántài chính ở một số vấn đề:

Trang 3

Thứ nhất: Quy định và việc thực hiện các quy định về hạch toán bán hàng

và xác định doanh thu bán lẻ mặt hàng đồng hồ tại công ty phân phối sản phẩm cao cấp LPD.

Thứ hai: Các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán bán hàng nói chung và kế toán bán mặt hàng đồng hồ nói riêng tại công ty.

Thứ ba: Những tồn tại hạn chế trong kế toán bán hàng đồng hồ tại công ty.

Thứ tư: Các giải pháp cho những tồn tại mà công ty gặp phải

1.3 Các mục tiêu nghiên cứu.

Đề tài được nghiên cứu với mục đích hệ thống hóa, phân tích làm rõcác vấn đề lý luận liên quan đến kế toán bán hàng trong doanh nghiệp; phântích đánh giá đúng thực trạng kế toán bán hàng đồng hồ tại công ty phân phốisản phẩm cao cấp LPD; từ đó chỉ ra những hạn chế yếu kém, nguyên nhâncủa nó và đề xuất các giải pháp giúp hoàn thiện kế toán bán hàng tại công ty

Trang 4

1.5 Kết cấu luận văn

Bài luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài

Chương 2: Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán bán hàng trongdoanh nghiệp

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng

kế toán bán đồng hồ tại công ty phân phối sản phẩm cao cấp LPD

Chương 4: Các kết luận và đề xuất với vấn đề kế toán bán đồng hồ tạicông ty phân phối sản phẩm cao cấp LPD

Trang 5

Chương 2: Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán bán hàng trong

Bán hàng có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp, là nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại của doanhnghiệp Nó thể hiện sức cạnh tranh và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường.Bán hàng là cơ sở hình thành nên doanh thu, lợi nhuận, tạo ra thu nhập để bùđắp các chi phí bỏ ra, bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh Đây là cơ sở đểđánh giá trình độ tổ chức quản lý hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp; đồng thời qua đó gián tiếp phản ánh trình độ tổ chức các khâu cungứng, sản xuất cũng như dự trữ bảo quản thành phẩm, sản phẩm…Khi có thểthúc đẩy quá trình bán hàng, doanh nghiệp sẽ tăng được vòng quay của vốn,tiết kiệm vốn và trực tiếp làm gia tăng lợi nhuận, từ đó nâng cao đời sống, thu

Trang 6

nhập cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp và có điều kiện thực hiệnđầy đủ nghĩa vụ với nhà nước

Cùng với hoạt động bán hàng thì kế toán bán hàng trong doanh nghiệpthương mại vai trò vô cùng to lớn:

 Đối với doanh nghiệp:

Kế toán bán hàng giúp doanh nghiệp theo dõi thường xuyên tình hìnhkinh doanh của mình: từ khi xuất thành phẩm, hàng hóa đi tiêu thụ đến khinhận được tiền thanh toán của khách hàng hoặc các cam kết nhận nợ từ kháchhàng; từ việc lựa chọn phương thức bán hàng, phương thức thanh toán, cácdịch vụ trong và sau bán như tư vấn, giải đáp các thắc mắc, dịch vụ vậnchuyển lắp đặt, bảo hành bảo dưỡng sản phẩm…

Quản lý tình hình tài sản và nguồn vốn trong doanh nghiệp: quản lýhàng bán ra về số lượng và chất lượng, xác định đúng thời điểm tiêu thụ, thờiđiểm ghi nhận doanh thu, phản ánh và ghi chép kịp thời, đầy đủ, đúng đắndoanh thu và các khoản giảm trừ doanh thu; theo dõi các khoản thanh toán vàcác khoản nợ của khách, các nghĩa vụ đối với nhà nước…Kế toán bán hàngcòn cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập các hóa đơn, chứng từ, các báocáo bán hàng, báo cáo về doanh thu; tổ chức lập, xử lý và luân chuyển chứng

từ, cung cấp số liệu lập báo cáo tài chính doanh nghiệp…

Thông qua kế toán bán hàng, doanh nghiệp có thể quản lý điều hànhcác hoạt động của mình một cách trôi chảy, có đầy đủ các thông tin phục vụcho việc hoạch định các chính sách kinh doanh qua từng giai đoạn, từng thời

kỳ như quyết định về tăng giảm giá bán, về các chương trình khuyến mãi,chính sách chiết khấu, chính sách ưu đãi… Đồng thời giúp điều hòa tình hìnhtài chính doanh nghiệp, cung cấp thông tin để doanh nghiệp thực hiện quyềncủa mình với các khách hàng nhận nợ hoặc thanh toán chậm, hoặc vi phạm

Trang 7

hợp đồng, bảo vệ doanh nghiệp trong các trường hợp xảy ra tranh chấp, kiệntụng…

 Đối với Nhà nước:

Với nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Việt Nam như hiện nay,

có vô vàn các doanh nghiệp quy mô lớn, vừa và nhỏ thì hoạt động kế toán nóichung và kế toán bán hàng trong các doanh nghiệp cũng hỗ trợ rất nhiều trongviệc quản lý và điều tiết của nhà nước Thông qua các thông tin mà kế toáncung cấp, các cấp quản lý vĩ mô có thể theo dõi được tình hình, sự phát triểncủa các ngành sản xuất kinh doanh, từ đó có những nhận xét tổng hợp trênphạm vi toàn bộ nền kinh tế Thông tin kế toán cung cấp là cơ sở để xác địnhcác nghĩa vụ của doanh nghiệp với nhà nước, là cơ sở để giải quyết các tranhchấp (nếu có) xảy ra trong kinh doanh, đồng thời giúp nhà nước có căn cứ đểhoạch định các chính sách thích hơp ở tầm vĩ mô như chính sách thuế, chínhsách về lao động tiền lương, chính sách ưu đãi, hạn chế kinh doanh xuất nhậpkhẩu, các sắc thuế…giúp nhà nước thực hiện tốt vai trò và chức năng củamình

2.1.2 Các phương thức bán hàng trong doanh nghiệp thương mại

Phương thức bán hàng có thể hiểu là cách thức mà doanh nghiệp, ngườisản xuất đưa hàng hóa dịch vụ đến tay người tiêu dùng Cùng với sự pháttriển của nền kinh tế và sự đa dạng phong phú của các loại hàng hóa thì ngàycàng có nhiều phương thức bán hàng mới xuất hiện như bán buôn, bán lẻ, bánđại lý, bán trả góp, bán hàng trực tiếp, bán hàng trực tuyến…Sau đây là mộtvài phương thức bán hàng phổ biến hiện nay:

Trang 8

gian thanh toán tiền hàng thường chậm hơn thời gian giao hàng và chia thànhnhiều lần tùy theo thỏa thuận giữa các bên Các hình thức bán buôn gồm bánbuôn qua kho và bán buôn chuyển thẳng, trong đó:

Bán buôn qua kho: là hình thức mà doanh nghiệp mua hàng hóa vềnhập kho, sau đó xuất từ kho để bán Bán buôn qua kho được thực hiện dướihai hình thức là giao hàng trực tiếp và hình thức chuyển hàng (gửi hàng đibán )

Với giao hàng trực tiếp, bên mua phải cử đại diện đến tận kho của doanh nghiệp để lấy hàng; và sau khi kiểm nhận hàng hóa, đại diện bên mua sẽ chấp nhận thanh toán hoặc thanh toán ngay, khi đó hàng hóa được xác định là tiêu thụ.

Còn với hình thức chuyển hàng, doanh nghiệp xuất kho hàng hóa, dùng phương tiện của mình hoặc thuê ngoài vận chuyển hàng hóa đến kho của bên mua (hoặc một địa điểm nào đó mà hai bên

đã thỏa thuận trong hợp đồng); hàng hóa chuyển đi vẫn thuộc quyền

sở hữu của doanh nghiệp, chỉ khi nào bên mua thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán thì hàng hóa mới được xác định là tiêu thụ; về chi phí vận chuyển bên nào chịu thì do thỏa thuận giữa hai bên trong hợp đồng kinh tế

Bán buôn chuyển thẳng: doanh nghiệp mua hàng hóa về không đemnhập kho mà bán ngay hoặc gửi bán Bán buôn chuyển thẳng được thực hiệndưới hai hình thức là giao hàng trực tiếp (bán giao tay ba) và gửi hàng bánngay

Với giao hàng trực tiếp, doanh nghiệp sau khi mua hàng

sẽ giao trực tiếp cho đại diện của bên mua tại nơi mua của doanh nghiệp; sau khi đại diện của bên mua kí nhận đủ hàng, thanh toán tiền hoặc chấp nhận thanh toán thì hàng hóa được xác định là tiêu thụ

Trang 9

Còn với gửi hàng bán ngay, sau khi nhận đủ hàng mua, doanh nghiệp sẽ dùng phương tiện vận chuyển của mình hoặc thuê ngoài vận chuyển đến giao cho bên mua ở địa điểm thỏa thuận; hàng hóa chuyển bán vẫn thuộc sở hữu của doanh nghiệp, chỉ khi nào bên mua nhận được hàng và thanh toán (hoặc chấp nhận thanh toán) thì lúc đó mới xác định là tiêu thụ Chi phí vận chuyển do bên nào chịu thì tùy thuộc vào thỏa thuận trong hợp đồng kinh tế giữa các bên: nếu do bên mua chịu thì doanh nghiệp sẽ hạch toán và khoản phải thu của người mua; nếu do bên bán chịu thì doanh nghiệp hạch toán vào chi phí bán hàng

2.1.2.2 Phương thức bán lẻ

Bán lẻ hàng hóa là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùngtrực tiếp, cho các tổ chức, cơ quan mang tính chất tiêu dùng nội bộ Số lượnghàng bán một lần thường ít; giá bán cao hơn và khách hàng thường thanh toántiền ngay khi nhận hàng hoặc sau khi nhận hàng ít ngày tùy theo chính sáchthanh toán của công ty Bán lẻ được chia thành bán lẻ thu tiền tập trung, bán

lẻ thu tiền trực tiếp và bán hàng tự phục vụ, trong đó:

Bán lẻ thu tiền tập trung: là hình thức mà người thu tiền

và người giao hàng là hai người khác nhau Trách nhiêm liên quan đến hàng thuộc về nhân viên giám sát, giao hàng; trách nhiệm liên quan đến tiền thuộc về nhân viên thu ngân Hình thức này được áp dụng tại các cửa hàng có quy mô kinh doanh lớn, khách hàng nhiều, sẽ tạo điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn, phục vụ văn minh cho người tiêu dùng.

Bán lẻ thu tiền trực tiếp: là hình thức mà người giao hàng đồng thời là người trực tiếp thu tiền của khách Trách nhiệm liên quan đến hàng và tiền đều thuộc về nhân viên bán hàng Hình thức này được

Trang 10

áp dụng tại các cửa hàng có quy mô kinh doanh nhỏ, khách hàng ít, với ưu điểm là thuận tiện cho người mua và tạo điều kiện nâng cao tình thần trách nhiệm, thái độ phục vụ của khách hàng

Bán hàng tự phục vụ: đây là một hình thức mới mà trong

đó không quy trách nhiệm cho nhân viên bán hàng.

2.1.2.3 Phương thức bán đại lý

Đây là phương thức bán hàng trong đó doanh nghiệp thương mại giaohàng cho cơ sở đại lý, kí gửi để cho cơ sở này trực tiếp bán hàng Bên nhậnlàm đại lý sẽ trực tiếp bán hàng, thu tiền hàng và được hưởng hoa hồng đại lýbán hàng theo hợp đồng giữa hai bên Hàng hóa vẫn thuộc quyền sở hữu củabên giao đại lý cho đến khi doanh nghiệp được cơ sở nhận đại lý thanh toánđầy đủ tiền hoặc chấp nhận thanh toán, thông báo về số hàng đã bán được thìdoanh nghiệp mới mất quyền sở hữu số hàng này

2.1.2.4 Phương thức bán trả chậm trả góp

Bán hàng trả chậm, trả góp là phương thức bán hàng mà người mua cóthể trả chậm hoặc trả góp trong nhiều tháng Theo đó, khi giao hàng chokhách hàng thì hàng hóa được chuyển giao coi như là đã bán; nhưng thựcchất, khi nào người mua trả hết tiền thì người bán mới hết quyền sở hữu hànghóa đó Khi bán hàng trả góp thì doanh thu bán hàng là doanh thu thu tiền mộtlần, lãi của bán hàng trả góp được coi là doanh thu của hoạt động tài chính 2.1.3 Doanh thu bán hàng và giá vốn hàng bán

2.1.3.1 Doanh thu bán hàng

Doanh thu là tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thuđược hoặc sẽ thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ hoạt động sản xuất kinhdoanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu Doanh nghiệp chỉ ghi nhận doanh thu bán sản phẩm, hàng hóa khi thỏamãn đồng thời 5 yêu cầu là:

Trang 11

Thứ nhất: Doanh thu đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu của sản phẩm hàng hoá cho người mua.

Thứ hai: Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hoá như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa.

Thứ ba: Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn Thứ tư: Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng

Thứ năm: Doanh nghiệp xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.

Về nguyên tắc hạch toán doanh thu bán hàng: với cơ sở kinh doanh nộpthuế giá trị gia tăng (GTGT) theo phương pháp khấu trừ thì khi viết hóa đơnbán hàng phải ghi rõ giá bán chưa có thuế GTGT, các khoản phụ thu, thuếGTGT phải nộp và tổng giá thanh toán, khi đó doanh thu bán hàng được phảnánh theo số tiến bán hàng chưa có thuế GTGT Trường hợp hàng hóa chịuthuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì doanh thu được phản ánh trên tổnggiá thanh toán Nếu hàng hóa thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuấtnhập khẩu thì doanh thu tính trên tổng giá mua bán

Một vấn đề cần quan tâm khi xét doanh thu bán hàng của doanh nghiệp

đó là các khoản giảm trừ doanh thu Đây là các khoản được tính trừ vào

doanh thu ghi nhận ban đầu để xác định doanh thu thuần (khoản chênh lệch giữa tổng doanh thu theo hóa đơn với các khoản giảm trừ doanh thu), từ đó

làm căn cứ xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ kế toán.Các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm:

Chiết khấu thương mại: là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yếtcho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn Số chiết khấu thương mại này

Trang 12

thường được quy định rõ trên hợp đồng kinh tế hoặc các cam kết mua bánhàng hóa

Hàng bán bị trả lại: là giá trị của số sản phẩm hàng hóa đã xác định làbán, nhưng bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán do các nguyên nhânnhư vi phạm cam kết, vi phạm hợp đồng kinh tế, hàng bị kém hoặc mất phẩmchất, hay không đúng chủng loại, quy cách

Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ cho khách hàng khi khách chấpnhận mua sản phẩm, hàng hóa kém, mất phẩm chất hay không đúng quy cáchtheo quy định trong hợp đồng kinh tế

Phương pháp nhập trước – xuất trước: dựa trên giả thuyết là hàng hóa

nhập trước thì sẽ được xuất trước, do đó giá trị hàng hóa xuất kho được tínhhết theo giá nhập kho lần trước rồi mới tính tiếp giá nhập kho lần sau Nhưvậy, giá trị hàng tồn sẽ được phản ánh với giá trị hiện tại vì được tính giá củanhững lần nhập kho mới nhất, nên có thể cung cấp số liệu kịp thời cho kế toán

và quản lý Tuy nhiên nó làm cho doanh thu hiện tại không phù hợp với chiphí hiện tại, hơn nữa gây mất thời gian nếu như doanh nghiệp kinh doanhhàng hóa số lượng, chủng loại nhiều, nhập xuất thường xuyên trong kỳ

Trang 13

Phương pháp nhập sau – xuất trước: thực hiện trên giả định số hàng

xuất bán là số hàng của lần nhập kho cuối cùng Giá vốn hàng tồn kho còn lạicuối kỳ được tính theo giá nhập cảu lần nhập trước, do đó sẽ đảm bảo đượcnguyên tắc phù hợp Tuy nhiên, trị giá vốn sẽ không sát vói giá thực tế ngoàithị trường (do biến động kinh tế, hàng hóa, giá cả thay đổi )

Phương pháp bình quân gia quyền: theo phương pháp này, căn cứ vào

giá trị hàng tồn kho đầu kỳ và giá trị hàng nhập trong kỳ để tính giá bìnhquân của một đơn vị hàng hóa, sau đó nhân với số lượng hàng hóa xuất kho

để tính ra giá trị hàng hóa xuất kho Phương pháp này phù hợp với các doanhnghiệp có ít loại hàng hóa nhưng số lần nhập, xuất nhiều do phản ánh đượcgiá trị thực tế của cả hàng xuất kho và hàng tồn kho cuối kỳ, đảm bảo nguyêntắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí Tuy nhiên để tính giá trị xuất kho phảichờ đến cuối kỳ mới tổng hợp được, do đó sẽ không đảm bảo được tính kịpthời của số liệu

Phương pháp giá đích danh: giá hàng tồn kho được tính theo giá nhập

của chính mặt hàng đó Cách này thường chỉ áp dụng tại các công ty nhỏ, ítmặt hàng hoặc ở các công ty lớn kinh doanh mặt hàng có giá trị lớn bắt buộcphải tính theo giá đích danh như kinh doanh ô tô, xe máy…

2.2 Nội dung yêu cầu quản lý bán hàng trong các doanh nghiệp thương mại Hoạt động bán hàng có vai trò rất lớn đối với sự tồn tại và phát triển

của các doanh nghiệp thương mại Bất kỳ ông chủ, bà chủ nào cũng muốndoanh nghiệp mình ngày càng phát triển bền vững, kết quả kinh doanh ngàycàng tăng trưởng, uy tín và vị thế ngày càng nâng cao; do đó yêu cầu về quản

lý bán hàng luôn được đặt lên hàng đầu Nghiệp vụ bán hàng trong doanhnghiệp có liên quan đến rất nhiều đối tượng khách hàng, với từng loại mặthàng, từng phương thức thanh toán, từng phân khúc thị trường khác nhau đều

có sự khác biệt nhất định Vì thế, công tác quản lý nghiệp vụ bán hàng đòi hỏi

Trang 14

phải chú trọng đến các vấn đề như quản lý doanh thu bán hàng (gồm quản lý doanh thu thực tế theo giá bán, quản lý các khoản giảm trừ doanh thu như chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại; quản lý doanh thu thuần), quản lý việc tiêu thụ và thu hồi tiền, tình hình công nợ và

thanh toán các khoản công nợ, các khoản phải thu của người mua, quản lý giávốn của hàng hóa đã tiêu thụ, quản lý tình hình thay đổi trách nhiệm vật chất

ở khâu bán… Muốn vậy, kế toán bán hàng phải thực hiện các nhiệm vụ chủyếu sau:

Thứ nhất: ghi chép và phản ánh chính xác kịp thời tình hình bán hàngcủa doanh nghiệp cả về số lượng và chất lượng, cả về trị giá theo từng mặthàng, nhóm hàng

Thứ hai: phản ánh và giám đốc chính xác tình hình thu hồi tiền, tìnhhình công nợ và thanh toán công nợ phải thu của người mua

Thứ ba: tính toán chính xác giá vốn của hàng hóa tiêu thụ, từ đó xácđịnh chính xác kết quả bán hàng

Thứ tư: cung cấp những thông tin kinh tế cần thiết cho các bộ phận liênquan, trên cơ sở đó có những biện pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt độngkinh doanh, giúp cho ban giám đốc nắm được thực trạng, tình hình tiêu thụhàng hóa của doanh nghiệp mình và kịp thời có những chính sách điều chỉnhhợp với thị trường Định kỳ tiến hành phân tích kinh tế đối với hoạt động bánhàng, thu thập và phân phối kết quả của doanh nghiệp

2.3 Kế toán bán hàng trong các doanh nghiệp thương mại.

2.3.1 Chứng từ kế toán và vận dụng tài khoản kế toán

Tùy theo từng phương thức, hình thức bán hàng, kế toán bán hàng sử dụngcác chứng từ sau:

Hóa đơn giá trị gia tăng hay hóa đơn bán hàng thông thường (đối với doanh nghiệp kinh doanh những mặt hàng không chịu thuế giá trị gia tăng).

Trang 15

Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ.

Phiếu xuất kho hàng gửi bán đại lý.

Báo cáo bán hàng, bảng kê bán lẻ hàng hóa, dịch vụ; bảng thanh toán hàng gửi đại lý (kí gửi).

Thẻ quầy hàng, giấy nộp tiền, bảng kê nhận hàng và thanh toán hàng ngày.

Cùng với việc sử dụng các chứng từ kế toán nêu trên, kế toán bán hàng còn sửdụng các tài khoản (TK) sau để phản ánh doanh thu, giá vốn, các khoản giảmtrừ doanh thu và thuế phải nộp:

a TK 511 “ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”: phản ánh tổng

doanh thu bán hàng thực tế cùng các khoản giảm trừ doanh thu, từ đó xác địnhdoanh thu thuần trong kỳ của doanh nghiệp Kết cấu tài khoản:

Bên nợ: ghi nhận các khoản giảm giá hàng bán, chiết khấu thương mại khibán hàng và doanh thu hàng bán bị trả lại; Số thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuấtkhẩu, thuế giá trị gia tăng tính theo phương pháp trực tiếp phải nộp tính theodoanh thu bán hàng thực tế; Kết chuyển doanh thu thuần trong kỳ

Bên có: phản ánh tổng doanh thu tiêu thụ trong kỳ

Tài khoản 511 cuối kỳ không có số dư Nó có 5 tài khoản cấp 2:

TK 5111 “doanh thu bán hàng hóa”: sử dụng chủ yếu trong các doanh nghiệp

thương mại

Trang 16

TK 5112 “doanh thu bán các thành phẩm”: được sử dụng chủ yếu trong các

doanh nghiệp sản xuất vật chất như công nghiệp, nông nghiệp, xây lắp…

TK 5113 “doanh thu cung cấp dịch vụ”: được sử dụng chủ yếu trong các

doanh nghiệp dịch vụ, du lịch, vận tải, bưu điện; hàng hóa dịch vụ khoa học

kỹ thuật, dịch vụ may đo, dịch vụ sửa chữa đồng hồ

TK 5114 “doanh thu trợ cấp, trợ giá”: tài khoản này được sử dụng để phản

ánh khoản mà nhà nước trợ cấp, trợ giá cho doanh nghiệp, trong trường hợpdoanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ cung cấp hàng hóa, dịch vụ theo yêu cầucủa nhà nước

TK 5117 “doanh thu kinh doanh bất động sản”.

Doanh thu bán hàng được ghi nhận theo giá bán chưa có thuế giá trị giatăng nếu như hàng hóa dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng theophương pháp khấu trừ thuế Trường hợp tính thuế theo phương pháp trực tiếp,doanh thu sẽ ghi theo giá tính toán với người mua, bao gồm cả thuế phải chịu

b TK 512 “doanh thu nội bộ”: phản ánh doanh thu do bán hàng hóa, dịch

vụ trong nội bộ giữa các đơn vị trực thuộc trong cùng một công ty hoặc tổngcông ty Kết cấu tài khoản:

Bên nợ: phản ánh khoản giảm giá hàng bán, chiết khấu thương mại khi bánhàng và doanh thu hàng bán bị trả lại; Số thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuấtkhẩu, thuế giá trị gia tăng tính theo phương pháp trực tiếp phải nộp theodoanh thu bán hàng nội bộ; Kết chuyển doanh thu thuần về tiêu thụ trong kỳ.Bên có: phản ánh tổng doanh thu tiêu thụ nội bộ trong kỳ

Tài khoản 512 cuối kỳ không có số dư và gồm có 3 tài khoản cấp 2:

TK 5121 “doanh thu bán hàng hóa”.

TK 5122 “doanh thu bán các thành phẩm”.

TK 5123 “doanh thu cung cấp dịch vụ”.

Trang 17

c TK 521 “chiết khấu thương mại”: dùng để theo dõi toàn bộ các khoản

chiết khấu thương mại chấp nhận cho khách hàng trên giá bán đã thỏa thuận

về lượng hàng hóa, sản phẩm dịch vụ đã tiêu thụ Kết cấu tài khoản:

Bên nợ: tập hợp tất cả các khoản chiết khấu thương mại chấp nhận chongười mua trong kỳ

Bên có: kết chuyển toàn bộ số chiết khấu thương mại vào bên nợ tài khoản

d TK 531 “ hàng bán bị trả lại”: dùng để phản ánh doanh thu của số hàng

hóa dịch vụ đã tiêu thụ, bị khách hàng trả lại do không đúng quy cách, phẩmchất hoặc do vi phạm hợp đồng kinh tế Kết cấu tài khoản:

Bên nợ: tập hợp doanh thu của hàng bán bị trả lại chấp nhận cho ngườimua trong kỳ (đã trả lại tiền cho người mua hoặc tính trừ vào nợ phải thu củakhách hàng)

Bên có: kết chuyển số doanh thu hàng bán bị trả lại

Tài khoản 531 không có số dư cuối kỳ

e TK 532 “giảm giá hàng bán”: dùng để phản ánh khoản giảm giá cho

khách hàng tính trên giá bán thỏa thuận Kết cấu tài khoản:

Bên nợ: khoản giảm giá đã chấp nhận với người mua

Bên có: kết chuyển khoản giảm giá sang tài khoản liên quan để xácđịnh doanh thu thuần

Tài khoản 532 không có số dư cuối kỳ

Trang 18

f TK 157 “hàng gửi bán”: phản ánh trị giá mua của hàng hóa chuyển

bán, gửi bán đại lý, kí gửi, dịch vụ đã hoàn thành nhưng chưa xác định là tiêuthụ Tài khoản này được mở chi tiết theo từng hàng hóa, từng lần gửi hàng từkhi gửi cho đến khi chấp nhận thanh toán cho doanh nghiệp Kết cấu tàikhoản:

Với doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khaithường xuyên: Bên nợ tập hợp trị giá mua thực tế của hàng hóa đã chuyển bánhoặc giao cho bên nhận đại lý, ký gửi; Giá thành thực tế dịch vụ đã hoànthành nhưng chưa được chấp nhận thanh toán Bên có kết chuyển trị giá muathực tế hàng hóa chuyển bán, gửi đại lý, kí gửi và giá thành dịch vụ được xácđịnh là đã tiêu thụ; Trị giá mua thực tế hàng hóa không bán được đã thu hồi(bị người mua, người nhận trả lại)

Số dư bên nợ là trị giá mua hàng hóa đã gửi đi chưa được xác định làtiêu thụ

Với doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê địnhkỳ: Bên nợ phản ánh giá mua thực tế của hàng gửi đi chưa tiêu thụ cuối kỳ.Bên có kết chuyển trị giá mua thực tế của hàng gửi đi chưa tiêu thụ đầu kỳ

Số dư bên nợ là trị giá mua của hàng gửi bán chưa tiêu thụ

g TK632 “giá vốn hàng bán”: dùng để xác định giá trị của vốn hàng hóa

dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ Tài khoản này không có số dư và có thể mở chitiết theo từng mặt hàng, từng dịch vụ, từng thương vụ… tùy theo yêu cầu vềcung cấp thông tin và trình độ kế toán cũng như phương thức tính toán củatừng doanh nghiệp Kết cấu tài khoản:

Với doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khaithường xuyên: Bên nợ tập hợp giá trị mua của hàng hóa, giá trị thực tế củadịch vụ đã được xác định là tiêu thụ; thiếu trong thu mua phân bổ cho hàng

Trang 19

tiêu thụ trong kỳ Bên có ghi trị giá mua của hàng hóa bị người mua trả lại vàkết chuyển trị giá vốn của hàng đã tiêu thụ trong kỳ.

h TK 3331 “thuế giá trị gia tăng”: dùng để theo dõi tình hình tính toán

thuế giá trị gia tăng với ngân sách nhà nước Tài khoản này bao gồm các tiểukhoản:

TK 33311 “thuế giá trị gia tăng đầu ra”

TK 33312 “thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu”

Ngoài các tài khoản đã nêu ở trên, trong quá trình hạch toán kế toán bánhàng còn sử dụng một số các tài khoản liên quan như TK 111, 112, 156, 138,338…

Sau đây là phương pháp hạch toán một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu khi doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên và tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ:

Trường hợp 1: doanh nghiệp bán buôn qua kho theo hình thức giao hàngtrực tiếp cho khách:

Sau khi tiến hành các công việc giao nhận hàng hóa, kế toán căn cứ vàohóa đơn GTGT và các chứng từ liên quan như phiếu thu, giấy nhận nợ hoặcphiếu chi do khách gửi đến để ghi nhận doanh thu bán hàng (TK 511) và sốthuế GTGT tương ứng (TK 3331) Đồng thời ghi nhận tăng số tiền hoặc sốphải thu khách hàng (TK 111, 112, 131…) Song song với đó, kế toán ghităng giá vốn hàng bán (TK632) và ghi giảm cho TK 156 về trị giá hàng hóathực tế xuất kho

Nếu doanh nghiệp bán hàng hóa có bao bì tính giá riêng thì kế toán sẽ ghinhận tăng số tiền hoặc số phải thu tương ứng với giá trị bao bì thực tế xuất(ghi vào TK 111, 112, 131, 153) và phản ánh số thuế đầu ra của bao bì

Trường hợp 2: doanh nghiệp tiến hành bán buôn qua kho theo hình thứcgửi hàng cho khách:

Trang 20

Sau khi gửi hàng, kế toán cũng phản ánh tương tự như trên, tuy nhiên đểđảm bảo điều kiện ghi nhận doanh thu và tính phù hợp giữa doanh thu và chiphí, kế toán sẽ không ghi nhận ngay giá vốn mà treo trên TK 157 “hàng gửibán” Đến khi có đủ căn cứ chứng minh số hàng gửi bán đã được tiêu thụ vàthỏa mãn điều kiện ghi nhận doanh thu (dựa vào thông báo chấp nhận thanhtoán số hàng gửi bán do bên mua chuyển để lập hóa đơn GTGT; căn cứ phiếuthu, giấy chấp nhận thanh toán hoặc thông báo nhận nợ…), kế toán sẽ phảnánh doanh thu bán hàng tương tự trường hợp 1, còn giá vốn được kết chuyểntương ứng từ TK 157 sang TK 632.

Nếu khi bán hàng có bao bì đi kèm tính giá riêng: khi gửi bán chưa xácđịnh là tiêu thụ thì thay vì ghi tăng TK 157, kế toán sẽ treo trên TK 1388; rồisau này, cùng với việc ghi nhận doanh thu của số hàng bán, kế toán sẽ ghinhận thêm số tiền hoặc số phải thu của bao bì này theo giá có thuế, đồng thờighi giảm TK 1388

Trường hợp 3: doanh nghiệp bán buôn chuyển thẳng theo hình thức giaotay ba: Căn cứ vào hóa đơn GTGT và các chứng từ thanh toán của kháchhàng, kế toán sẽ ghi nhận doanh thu, thuế GTGT đầu ra, tiền và các khoảnphải thu tương tự như trường hợp 1 Đồng thời căn cứ hóa đơn GTGT hoặchóa đơn bán hàng do nhà cung cấp chuyển để hạch toán ngay giá vốn màkhông qua tài khoản kho hàng hay hàng gửi bán Do hàng mua về từ nhà cungcấp được bán ngay nên cùng với việc ghi tăng giá vốn, kế toán cũng phải ghităng khoản thuế đầu vào tương ứng phát sinh trong quan hệ giữa doanhnghiệp và nhà cung cấp Đồng thời với ghi nhận giá vốn là ghi nhận số tiềngiảm hoặc tăng số phải trả nhà cung cấp

Trường hợp 4: doanh nghiệp bán buôn chuyển thẳng theo hình thức gửihàng

Trang 21

Trường hợp này, căn cứ hóa đơn GTGT của nhà cung cấp và phiếu gửihàng đi bán, kế toán ghi tăng số hàng gửi bán, tăng khoản thuế đầu vào đồngthời tùy hình thức thanh toán với nhà cung cấp mà hạch toán vào TK 111,

Trường hợp 6: bán hàng cho cơ sở nhận đại lý

Nếu doanh nghiệp ở địa vị bên giao đại lý, kế toán sẽ phải ghi nhận cácbút toán liên quan đến chuyển hàng cho đại lý (chuyển qua kho hoặc muachuyển thẳng), số tiền bán hàng do đại lý chuyển, khoản hoa hồng cho đại lý

và ghi nhận giá vốn số hàng giao cho đại lý Hàng hóa giao cho cơ sỏ nhậnđại lý được hạch toán vào TK 157 theo số liệu ghi trên phiếu xuất kho hoặchóa đơn thanh toán với nhà cung cấp Đến khi nhận được bảng thanh toán sốhàng bán đại lý, ký gửi do cơ sở nhận đại lý lập và các chứng từ thanh toán,

kế toán sẽ phản ánh doanh thu, thuế, tiền và các khoản phải thu như bìnhthường Đồng thời với đó là việc ghi nhận hoa hồng trả cho bên nhận đại lý(TK 641) Khoản tiền hoa hồng này doanh nghiệp có thể tính trừ trực tiếp vào

Trang 22

số phải thu của đại lý hoặc trả sau này bằng tiền; hoa hồng đại lý là khoảnchịu thuế GTGT đầu vào (TK 133)

Đồng thời với việc ghi nhận doanh thu, thuế và số tiền bán hàng, kế toáncũng xác định giá vốn của số hàng gửi đại lý đã xác định là tiêu thụ bằng cáchghi tăng TK 632 và ghi giảm TK 157

Trường hợp 7: khi doanh nghiệp ở địa vị bên nhận đại lý:

Kế toán sẽ không ghi nhận doanh thu bán hàng số hàng mà doanh nghiệpnhận đại lý ký gửi mà chỉ tiến hành các bước hạch toán cần thiết như ghi nhậntrị giá hàng hóa mà bên giao đại lý chuyển tới vào TK 003; rồi tùy vào tìnhhình bán hàng, hợp đồng đại lý mà lập các bảng thanh toán hàng bán đại lý,

ký gửi để chuyển cho bên giao đại lý, ghi giảm TK 003 về số hàng hóa đã bánđược và ghi nhận khoản thù lao bán đại lý vào TK 5113 “Doanh thu cung cấpdịch vụ”

Trường hợp 8: doanh nghiệp bán trả góp

Với đặc trưng của hình thức bán trả góp, nếu trong kỳ doanh nghiệp cóphát sinh nghiệp vụ bán trả góp thì doanh nghiệp sẽ phải xác định rõ giá bántrả ngay, giá bán trả góp, số kỳ thu nợ của khách hàng Ghi nhận doanh thu vàthuế GTGT sẽ theo giá bán trả ngay, đồng thời ghi nhận giá vốn như bán hàngthông thường, phần chênh lệch giá trả ngay và giá trả góp sẽ được hạch toánnhư doanh thu nhận trước (TK 3387) Tùy theo số kỳ trả lãi mà số doanh thunhận trước này sẽ được phản ánh dần vào doanh thu hoạt động tài chính (TK515)

Ngoài các trường hợp nêu trên, trong kế toán bán hàng cũng cần chú ý tớicác khoản giảm trừ doanh thu phát sinh trong quá trình bán hàng như chiếtkhấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, chiết khấu thanhtoán…

Trang 23

Với chiết khấu thương mại: nếu có phát sinh thì kế toán sẽ căn cứ vàochính sách chiết khấu của công ty, hóa đơn, phiếu chi, giấy báo nợ… để ghinhận: tăng TK 521, giảm TK 3331 tương ứng số thuế GTGT đầu ra của khoảnchiết khấu, đồng thời ghi giảm tiền hoặc các khoản phải thu khách hàng

Với giảm giá hàng bán: tùy tình hình thực tế hàng hóa, thỏa thuận vớikhách hàng, căn cứ vào hóa đơn, phiếu chi, giấy báo nợ, kế toán ghi tăng TK

532, giảm TK 3331, đồng thời ghi giảm tiền hoặc phải thu khách hàng tươngứng

Với trường hợp phát sinh hàng bán bị trả lại, đơn vị căn cứ vào tình hìnhhàng hóa, hóa đơn, phiếu chi, giấy báo nợ để ghi tăng cho TK 531, giảm TK

3331, ghi giảm tiền hoặc phải thu khách hàng Đồng thời, căn cứ vào thực tế

số hàng bị trả lại, kế toán lập phiếu nhập kho hàng bán bị trả lại, làm căn cứghi giảm giá vốn số hàng đã xác định là tiêu thụ nhưng bị khách hàng từ chối

và trả lại

Ngoài ra, nếu có phát sinh chiết khấu thanh toán cho khách hàng, thì căn

cứ vào số chiết khấu, hóa đơn, phiếu thu, phiếu chi mà ghi tăng cho TK 635,giảm tiền hoặc phải thu của khách hàng

Các khoản giảm trừ doanh thu nêu trên sẽ được kết chuyển sang tài khoảndoanh thu để xác định doanh thu thuần vào cuối kỳ

Nếu doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, ta cũng

tiến hành tương tự như trên, tuy nhiên, kế toán sẽ không ghi nhận tách biệtcác khoản thuế GTGT đầu ra, đầu vào mà chúng sẽ được tính trực tiếp vàodoanh thu hoặc giá vốn (trường hợp bán hoặc gửi bán, giao đại lý ngay khôngqua nhập kho) Đến cuối kỳ, khi tính số thuế GTGT phải nộp, kế toán sẽ căn

cứ mức thuế suất và số dư trên các tài khoản phản ánh doanh thu để ghi nhậntheo bút toán: Nợ TK 511, 512 và Có TK 3331 Tuy nhiên, với doanh nghiệpkinh doanh nhiều mặt hàng có mức thuế suất thuế GTGT khác nhau thì cần

Trang 24

phân định rõ doanh thu theo từng mức thuế suất để đảm bảo số liệu tính toánđược chính xác, tránh sai sót, kiện tùng về sau này.

Nếu doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ: trình tự và phương pháp hạch toán cũng tương tự như phương pháp

kê khai thường xuyên, tuy nhiên khi phản ánh giá vốn cho số hàng bán ra, kếtoán sẽ sử dụng tài khoản trung gian là TK 611: “Mua hàng”, cụ thể:

Đầu kỳ kinh doanh, kế toán kết chuyển trị giá vốn thực tế của hàng tồn tạikho, hàng gửi bán, hàng mua đang đi đường chwa tiêu thụ được từ các tàikhoản liên quan về bên Nợ của tài khoản 611 để trong kỳ khi có phát sinh cácnghiệp vụ liên quan đến tăng hàng hóa thì sẽ phản ánh vào bên Nợ của tàikhoản này

Cuối kỳ kinh doanh, kế toán căn cứ kết quả kiểm kê hàng tồn kho để phảnánh hàng tồn kho bằng cách ghi Có TK 611 và ghi Nợ cho các tài khoản liênquan: hàng tồn kho (TK 156), hàng hóa gửi bán (TK 157), hay hàng muađang đi đường chưa được xác định là tiêu thụ (TK 157) Đồng thời với đó, kếtoán xác định và kết chuyển trị giá vốn thực tế của hàng hóa đã tiêu thụ trong

kỳ từ bên Có TK 611 sang bên Nợ TK 632 để xác định giá vốn hàng hóa đãtiêu thụ

2.3.2 Sổ kế toán

Để phản ánh nghiệp vụ bán hàng, kế toán tùy thuộc vào hình thức kếtoán mà đơn vị áp dụng mà sử dụng các sổ kế toán bao gồm:

Với hình thức Nhật ký chung:

Sổ kế toán tổng hợp của hình thức này là sổ Nhật ký chung, các sổ nhật

ký đặc biệt, sổ Cái Sổ nhật ký chung dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tếtài chính phát sinh theo trình tự thời gian, đồng thời phản ánh theo quan hệđối ứng tài khoản, từ đó làm căn cứ để ghi sổ Cái Các sổ kế toán đặc biệtgồm sổ nhật ký tiền mặt, nhật ký thu tiền, nhật ký bán hàng

Trang 25

Sổ kế toán chi tiết của hình thức này gồm có: sổ chi tiết doanh thu, sổchi tiết thanh toán với người mua, sổ chi tiết Nhập – Xuất – Tồn kho hànghóa, sổ chi tiết bán hàng.

Với hình thức Nhật ký – Sổ cái:

Hình thức này chỉ có một sổ kế toán tổng hợp duy nhất là sổ Nhật ký –

Sổ cái Các sổ chi tiết bao gồm sổ chi tiết doanh thu, sổ chi tiết thanh toán vớingười mua, sổ chi tiết Nhập – Xuất – Tồn kho hàng hóa, sổ chi tiết bán hàng

Với hình thức Chứng từ ghi sổ:

Sổ kế toán tổng hợp của hình thức này gồm có Sổ Đăng ký Chứng từghi sổ và sổ Cái, trong đó sổ Đăng ký chứng từ ghi sổ vừa dùng để đăng kýcác nghiệp vụ kinh tế phát sinh, quản lý chứng từ ghi sổ, vừa để kiểm tra đốichiếu với số liệu của bảng cân đối số phát sinh

Các sổ kế toán chi tiết của hình thức Chứng từ ghi sổ: tương tự hìnhthức nhật ký chung

Với hình thức Nhật ký – Chứng từ:

Sổ kế toán tổng hợp dùng cho kế toán bán hàng có sổ nhật ký chứng từ

số 8 (dùng để tập hợp số phát sinh bên có của các tài khoản 156, 157, 131,

511, 512,515, 531, 532, 521, 632, 635…); các bảng kê số 1 (phản ánh tài khoản 111); bảng kê số 2 (phản ánh tài khoản 112); bảng kê số 10 (phản ánh tài khoản 157); bảng kê số 11 (phản ánh tài khoản 131); Sổ cái các tài khoản

511, 512, 521, 531, 532, 632, 156, 111…

Sổ chi tiết dùng cho hình thức này: tương tự như hình thức nhật kýchung

Với hình thức kế toán trên máy vi tính

Đây là một hình thức mới được áp dụng tại Việt Nam Với hình thứcnày, công việc kế toán sẽ được thực hiện theo một chương trình phần mềm kếtoán trên máy vi tính Phần mềm được thiết kế theo nguyên tắc của một trong

Trang 26

bốn hình thức kế toán hay kết hợp các hình thức kế toán nêu trên Các loại sổcũng được thiết kế theo từng hình thức kế toán, tuy nhiên không yêu cầu hoàntoàn giống với mẫu sổ kế toán ghi bằng tay

Về trình tự ghi sổ kế toán theo các hình thức trên, tham khảo Phụ lục số 1.

2.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài của những năm trước

Trước tính tất yếu khách quan của xu thế hội nhập, mở cửa và cạnhtranh công bằng như hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp đều nhận thức đượcvai trò vô cùng to lớn của việc bán hàng, tiêu thụ hàng hóa Nó không chỉ nốiliền cung với cầu, mang lại sự thỏa mãn cho khách hàng và doanh nghiệp mà

nó còn là một công cụ cạnh tranh hữu hiệu cho các doanh nghiệp hiện nay.Việc quy định chính sách bán hàng, mặt hàng, vị trí điểm bán, giá bán,phương thức bán…có ý nghĩa vô cùng quan trọng đòi hỏi có sự tham gia tưvấn của các chuyên gia trên lĩnh vực tài chính kế toán Kế toán bán hàng trởthành một bộ phận không thể thiếu trong bất cứ doanh nghiệp thương mại nào

và nó ngày càng thể hiện được vai trò chức năng của mình với hoạt động và

sự tồn tại của doanh nghiệp Tuy đã xuất hiện từ lâu và đã có nhiều biến đổitích cực để thích nghi với những thay đổi biến động của nền kinh tế cũng nhưcác chính sách, song nó vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định tại một sốdoanh nghiệp Nghiên cứu về kế toán bán hàng trong các doanh nghiệp cũngrất phong phú, với nhiều góc cạnh và cái nhìn khác nhau, có thể là các nghiêncứu riêng biệt về bán hàng ở một doanh nghiệp cụ thể hoặc các nghiên cứu về

kế toán bán hàng lồng ghép với kế toán chi phí và xác định kết quả kinhdoanh như trong các đề tài:

“Hoàn thiện công tác hạch toán tiêu thụ hàng hóa và xác định kếtquả tiêu thụ tại chi nhánh công ty TNHH đầu tư và phát triển công nghiệp vàthương mại TCI” nêu ra ý kiến rằng kế toán bán hàng cần phân biệt rõ rànggiữa xuất hàng bán cho khách hàng thu tiền và xuất hàng sử dụng cho việc

Trang 27

chào hàng quảng cáo giới thiệu sản phẩm ( với mục đích đẩy nhanh tốc độbán hàng) và phải có quy định thống nhất về thời gian nộp báo cáo bán hàng

về phòng kế toán

Luận văn tốt nghiệp “Hoàn thiện công tác kế toán bán hàng mặthàng xe máy Honda tại công ty cổ phần sản xuất và thương mại Kiên Hùng”của sinh viên Trần Thị Nhung có nghiên cứu về kế toán bán hàng trong đóchủ yếu đề cập đến kế toán bán trả chậm trả góp và các nghiên cứu có liênquan tại công ty Kiên Hùng

Theo đề tài “Bán hàng và xác định kết quả kinh doanh của công

ty cổ phần thương mại đầu tư Long Biên” của Vũ Thị Hoàng Thanh thì kếtoán bán hàng của công ty nên lập thêm quỹ dự phòng giảm giá hàng tồn kho

để làm giảm thiệt hại xuống đến mức thấp nhất khi thị trường có biến động.Đồng thời việc mở sổ cái chỉ một lần vào cuối kỳ kế toán có hạn chế là khôngnắm bắt được kịp thời các thông tin cho việc đánh giá kết quả kinh doanh và

đề ra các quyết định đúng hạn, do đó đề tài này có đề xuất việc ghi sổ cái tàikhoản định kỳ và tiến hành nhiều lần trong năm Thêm nữa, đề tài cũng chútrọng vào giải pháp nâng cao mối quan hệ giữa bộ phận kế toán và phòngkinh doanh, đảm bảo cho kế toán tiến hành công việc nhanh hiệu quả, đồngthời lợi nhuận của công ty cũng tăng cao

Đề tài “Hoàn thiện kế toán nghiệp vụ bán hàng tại công ty điệnmáy – xe đạp – xe máy” của Bùi Xuân Thọ cho rằng việc chiết khấu thươngmại và giảm giá hàng bán phải được áp dụng đối với từng đối tượng kháchhàng riêng biệt để khuyến khích họ mua hàng với số lượng lớn và khiến họtrở thành khách hàng truyền thống của doanh nghiệp

Các nghiên cứu trên đây và một số nghiên cứu khác nữa đã chỉ rõ một sốbất cập trong công tác kế toán bán hàng ứng với các mặt hàng khác nhau ởcác doanh nghiệp và các kiến nghị giải pháp nêu ra Phần lớn các giải pháp

Trang 28

đều có tính khả thi và thích hợp với vấn đề của đơn vị; tuy nhiên các công ty,doanh nghiệp khác thì khó có thể áp dụng các nhóm giải pháp này do có sựkhác biệt về hình thức tổ chức, quản lý, hoạt động; về lĩnh vực kinh doanh vàcác yếu tố ảnh hưởng….Do đó, thông qua các đề tài nghiên cứu này đã giúp

em có thể định hướng cho nghiên cứu của mình trong đề tài, sao cho phù hợpthực tế kinh doanh của doanh nghiệp, có tính khả thi, khả dụng trong phạm vikiến thức của mình

2.4 Phân định nội dung vấn đề nghiên cứu của đề tài

Xuất phát từ kết quả thu thập được trong quá trình thực tập tổng hợp vàthực tập chuyên sâu, em sẽ tập trung vào việc nghiên cứu kế toán bán hàng tạicông ty phân phối sản phẩm cao cấp LPD trên một số khía cạnh sau:

Đầu tiên là xem xét về cơ cấu tổ chức hoạt động, tổ chức quản lý và tổchức công tác kế toán tại công ty phân phối sản phẩm cao cấp LPD để mangđến những hiểu biết chung nhất về công ty cũng như kế toán bán hàng trongcông ty

Tiếp đến là tập hợp các đặc điểm của kế toán nói chung và kế toán bánhàng đồng hồ nói riêng tại công ty như: hệ thống tài khoản và báo cáo tàichính của công ty áp dụng theo quy định nào? Về niên độ kế toán? Phươngpháp hạch toán hàng tồn kho? Phương pháp tính thuế GTGT? Các chứng từ,tài khoản sử dụng? Hình thức ghi sổ kế toán? Đơn vị tiền tệ sử dụng để hạchtoán? Đồng thời nghiên cứu tác động của các nhân tố vĩ mô và vi mô tới kếtoán bán hàng đồng hồ tại công ty

Từ những hiểu biết đó, em sẽ đi sâu vào phân tích một số nghiệp vụ cụthể liên quan đến kế toán bán hàng mặt hàng đồng hồ tại công ty như đặcđiểm hàng hóa, phương thức bán hàng, phương thức thanh toán, trình tự hạchtoán các nghiệp vụ kế toán liên quan đến bán hàng đồng hồ, cách thức ghinhận, luân chuyển chứng từ… để từ đó chỉ ra ưu điểm, nhược điểm trong kếtoán bán hàng đồng hồ tại công ty, để có những đánh giá, kiến nghị, đề xuấtthích hợp với thực tiễn tại công ty

Ngày đăng: 12/12/2013, 17:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

thoải mái nhất cho khách. Ngoài hai hình thức vẫn được áp dụng là bán buôn qua kho và bán lẻ trực tiếp tại các cửa hàng, quầy hàng, công ty đang có  hướng phát triển thêm loại hình bán hàng trả góp và bán hàng trực tuyến qua  mạng internet - 363 kế toán bán mặt hàng đồng hồ tại công ty phân phối sản phẩm cao cấp LPD
tho ải mái nhất cho khách. Ngoài hai hình thức vẫn được áp dụng là bán buôn qua kho và bán lẻ trực tiếp tại các cửa hàng, quầy hàng, công ty đang có hướng phát triển thêm loại hình bán hàng trả góp và bán hàng trực tuyến qua mạng internet (Trang 52)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w