công tác đãi ngộ nhân sự, kế toán giá công trình, tăng cường quản trị logistics, phân tích thống kê doanh thu, nghiệp vụ bán nhóm hàng, bộ phân lễ tân khách sạn
Trang 1Chương 1 Tổng quan nghiên cứu đề tài 1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Những năm trở lại đây đất nước ta không ngừng đổi mới và phát triển vềmọi mặt Đặc biệt là về kinh tế, sự đổi mới đó được đánh dấu từ sự kiện ViệtNam chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO Việc gia nhậpWTO đã mở ra cho việt nam rất nhiều thách thức Đó là việc mở cửa cho cácdoanh nghiệp nước ngoài có thể mang sản phẩm và công nghệ của mình vàotrong nước Đây chính là một thách thức lớn cho các doanh nghiệp trong nướcnói chung và nghành xây dựng nói riêng bởi lẽ khi các doanh nghiệp nướcngoài vào nước ta sẽ kéo theo những kỹ thuật xây dựng mới, những sản phẩmgiá cả phải chăng, chất lượng tốt hơn các sản phẩm trong nước Từ đó đòi hỏicác doanh nghiệp trong nước cũng cần có biện pháp nhằm quản lý tốt tìnhhình và hiệu quả hoạt động xây lắp, và nâng cao chất lượng, hạ giá thành sảnphẩm, tăng tính cạnh tranh cho mình
Để quản lý tốt tình hình và hiệu quả hoạt động xây lắp, thì thông tin kếtoán có ý nghĩa hết sức quan trọng Trong đó thông tin về giá thành sản phẩmđóng vai trò đặc biệt quan trọng, cần phải được cung cấp một cách chính xác,đầy đủ, kịp thời Vì vậy tổ chức kế toán giá thành sản phẩm xây lắp chínhxác, hợp lý có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý chi phí, giá thành xâydựng, trong việc kiểm tra tính hợp pháp hợp lệ của chi phí phát sinh ở công tynói chung và ở các tổ đội nói riêng
Thông qua số liệu giá thành do kế toán tập hợp, người quản lý biết đượcgiá thành thực tế của từng công trình, hạng mục công trình Qua đó phân tích
Trang 2Công ty Xây dựng và phát triển đô thị là một trong những công ty nhậnthầu xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp…từ khi thành lập tớinay, công ty đã có những bước phát triển không ngừng trong kỹ thuật cũngnhư tiếng tăm trong ngành xây dựng.
Trong thời gian thực tập tại công ty, và quá trình khảo sát cho thấy tuy
bộ máy kế toán của công ty khá hoàn chỉnh, quy trình làm việc chặt chẽ, khoahọc song công tác giá thành vẫn gặp nhiều khó khăn, hạn chế nhất định điểnhình như vấn đề tập hợp chi phí của từng công trình từ kế toán dưới các tổ độikhông nhanh chóng, đôi lúc còn nhiều sai sót do hạn chế về trình độ, và docác công trình thường ở xa công ty nên công ty khó có thể kiểm soát chặt chẽđược Tuy vậy những khó khăn hạn chế này do nhiều nguyên nhân gây ranhưng có thể khắc phục được Vì vậy công ty nên nghiên cứu và hoàn thiệnhơn nữa công tác kế toán tính giá thành sản phẩm xây lắp
1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán nói chung và côngtác kế toán giá thành nói riêng cùng với thời gian thực tập tại Công ty Xây
dựng và phát triển đô thị, em xin mạnh dạn chọn đề tài: “Kế toán giá thành
công trình nhà điều dưỡng bệnh viện y học cổ truyền Hòa Bình ở Công tyXây dựng và phát triển đô thị”
Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề liên quan tới kế toán giá thành sảnphẩm xây lắp theo hệ thống kế toán hiện hành và các giải pháp hoàn thiện kếtoán giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Xây dựng và phát triển đô thị
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu
Đề tài sẽ đi sâu tìm hiểu và làm rõ những vấn đề lý luận về công tác giáthành sản phẩm xây lắp trên góc độ kế toán tài chính như chuẩn mực, chế độ
kế toán theo quyết định 15/2006 QĐ – BTC, tài khoản kế toán, phương pháp
Trang 3kế toán, chứng từ kế toán, hệ thổng sổ kế toán… Hệ thống hóa làm sáng tỏnhững vấn đề lý luận cơ bản, phương pháp phân tích, đánh giá công tác giáthành trong DNXL Nhằm mục đích giúp các doanh nghiệp có cái nhìn tổngquát và toàn diện hơn về công tác tính giá thành sản phẩm
Thông qua khảo sát xem xét thực trạng công tác kế toán giá thành sảnphẩm, cùng với các thông tin tìm hiểu thu thập được, để phân tích đánh giáthực trạng công tác kế toán giá thành sản phẩm tại doanh nghiệp xây lắp nóichung và công tác giá thành công trình nhà điều dưỡng bệnh viện y học cổtruyền Hòa Bình ở Công ty Xây dựng và phát triển đô thị nói riêng, từ đó chỉ
ra những ưu điểm, những hạn chế của doanh nghiệp Trên cơ sở so sánh giữa
lý luận và thực tiễn, đề xuất các giải pháp để khắc phục những tồn tại, hoànthiện công tác kế toán giá thành sản phẩm xây lắp trong doanh nghiệp Đồngthời việc nghiên cứu này còn giúp nâng cao khả năng nghiên cứu của bảnthân, rèn luyện kỹ năng về thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu, các kỹ năngđiều tra phỏng vấn và tổng hợp kết quả điều tra, kỹ năng kế toán, hạch toánchi phí.nhằm hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản, phương pháp phântích, đánh giá công tác giá thành trong doanh nghiệp xây lắp theo chuẩn mực
và chế độ kế toán hiện hành
1.4 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại Công ty xây dựng và phát triển đôthị Số liệu nghiên cứu được lấy tại công ty liên quan đến công trình nhà điềudưỡng bệnh viện y học cổ truyền Hòa Bình trong năm 2010
1.5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, danh mục bảng biểu, danh
Trang 4Chương 1: Tổng quan kế toán giá thành sản phẩm xây lắp
Chương 2: Lý luận cơ bản về kế toán giá thành sản phẩm xây lắp
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và thực trạng nghiên cứu kế toángiá thành công trình nhà điều dưỡng bệnh viện y học cổ truyền Hòa Bình ởCông ty Xây dựng và phát triển đô thị
Chương 4: Kết luận và giải pháp hoàn thiện kế toán giá thành công trìnhnhà điều dưỡng bệnh viện y học cổ truyền Hòa Bình ở Công ty Xây dựng vàphát triển đô thị
Trang 5Chương 2 Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về kế toán giá thành sản phẩm
xây lắp 2.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1 Giá thành sản phẩm xây lắp
Giá thành sản phẩm xây lắp là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chấtlượng hoạt động sản xuất, phản ánh kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động,tiền vốn trong quá trình sản xuất Để thấy rõ bản chất của giá thành sản phẩmcần phân biệt giữa giá thành sản phẩm với chi phí đặc biệt là chi phí sản xuấtChi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toándưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phátsinh các tài khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồmkhoản phân phối cho các cổ đông hoặc chủ sở hữu” ( theo chuẩn mực kế toánViệt Nam và toàn bộ thông tư hướng dẫn các chuẩn mực, NXB Thống kê năm
2009 – trang 12)
Doanh nghiệp xây lắp là một đơn vị kinh tế cơ sở thuộc nghành sản xuấtvật chất Quá trình hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp là sự kết hợp củacác yếu tố của quá trình sản xuất đó là: sức lao động của con người, tư liệulao động và đối tượng lao động Sự tham gia của các yếu tố vào quá trình sảnxuất hình thành nên các khoản chi phí tương ứng Tương ứng với sử dụngnguyên vật liệu là chi phí về nguyên vật liệu, ương ứng với sử dụng lao dộng
Trang 6Như vật chi phí sản xuất xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ haophí về lao động sống, lao động vật hóa và các hao phí cần thiết khác màdoanh nghiệp đã bỏ ra để tiến hành các hoạt động sản xuất sản phẩm xây lắptrong một thời kỳ nhất định
Bao gồm :
Thứ nhất là: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là chi phí của những loạinguyên vật liệu cấu thành thực thể của sản phẩm, có giá trị lớn và có thể xácđịnh một cách tách biệt rõ ràng cụ thể cho từng sản phẩm
Thứ hai là: chi phí nhân công trực tiếp là toàn bộ số tiền công (lương),thưởng, phụ cấp, và các khoản trích theo lương theo quy định của công nhânlao động trực tiếp sản xuất, công nhân điều khiển xe, máy thi công và nhânviên quản lý ở các phân xưởng, tổ, đội
Thứ ba là chi phí sử dụng máy thi công là các chi phí trực tiếp liên quanđến việc sử dụng máy thi công như: tiền lương, các khoản phụ cấp theo lươngcủa công nhân điều khiển máy móc thi công, chi phí về sửa chữa, bảo trì, điệnnước cho máy thi công và các chi phí khác liên quan đến việc sử dụng máyThứ tư là chi phí sản xuất chung là các chi phí trực tiếp khác và các chiphí tổ chức quản lý, phục vụ sản xuất xây lắp, các chi phí có tính chất chungcho hoạt động xây lắp gắn liền với từng đơn vị thi công như tổ, đội, côngtrường thi công
Trong quá trình sản xuất ở bất kỳ một doanh nghiệp nào đều phải bỏ racác khoản chi phí sản xuất, mặt khác kết quả sản xuất doanh nghiệp thu được
là những sản phẩm đã hoàn thành cần phải được tính giá thành thực tế tức lànhững chi phí bỏ ra để sản xuất ra chúng Theo đó thì :
Trang 7Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những hao phí về laođộng sống cần thiết và lao động vật hóa được tính trên một khối lượng kết quảsản phẩm lao vụ, dịch vụ hoàn thành nhất định.
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu mang tính giới hạn và xác định vừamang tính khách quan vừa mang tính chủ quan
Giá thành sản phẩm xây lắp: là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí về laođộng sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình sản xuất có liên quantới khối lượng xây lắp đã hoàn thành
Vậy giá thành SPXL bao gồm toàn bộ CPSX (chi phí NVLTT, chi phíNCTT, chi phí SDMTC, chi phí SXC) tính cho từng CT, HMCT, khối lượngxây lắp hoàn thành theo quy ước là đã hoàn thành, nghiệm thu, bàn giao vàđược chấp nhận thanh toán
2.1.2 Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp
a, Theo thời điểm tính và cơ sở số liệu để tính giá : giá thành được chialàm 4 loại là giá thành thực tế và giá thành kế hoạch, giá thành dự toán, giáthành định mức
* Giá thành dự toán là toàn bộ các chi phí để hoàn thành khối lượng xâylắp cho dự toán
Giá thành dự toán là chỉ tiêu giá thành được xây dựng trên cơ sở thiết kế
kỹ thuật đã được duyệt, các định mức kinh tế kỹ thuật do Nhà nước quy định,tính theo đơn giá tổng hợp cho từng khu vực thi công và phân tích định mức Căn cứ vào giá trị dự toán, ta có thể xác định được giá thành của sảnphẩm xây lắp theo công thức:
Trang 8* Giá thành kế hoạch là giá thành được xác định từ những điều kiện vàđặc điểm cụ thể của một DNXL trong một kỳ kế hoach nhất định
Giá thành kế hoạch được xác định trước khi bước vào kinh doanh trên cơ
sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán chi phí của kỳ kếhoạch Chỉ tiêu này được xác lập trên cơ sở giá thành dự toán gắn liền vớiđiều kiện cụ thể, năng lực thực tế của từng doanh nghiệp trong một thời kỳnhất định
Giá thành kếhoạch của
CT, HM CT
=
Giá thành dựtoán của CT,HMCT
-Mức hạ giáthành kếhoạch
Giá thành kế hoạch là căn cứ để so sánh, phân tích tình hình thực hiện kếhoạch giá thành, là mục tiêu phấn đấu hạ giá thành của doanh nghiệp
* Giá thành định mức là tổng số chi phí để hoàn thành một khối lượngxây lắp cụ thể được tính toán trên cơ sở đặc điểm, kết cấu của công trình, vềphương pháp tổ chức thi công và quản lý thi công theo các định mức chi phí
đã đạt được ở doanh nghiệp, công trường tại thời điểm bắt đầu thi công
Trang 9Khi đặc điểm kết cấu công trình thay đổi, hay có sự thay đổi về phươngpháp tổ chức, về quản lý thi công, thì định mức sẽ thay đổi và khi đó giáthành định mức được tính toán lại cho phù hợp.
Cũng như giá thành kế hoạch, giá thành định mức cũng được xác địnhtrước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm Tuy nhiên, khác với giá thành kế hoạchđược xây dựng trên cơ sở các định mức bình quân tiên tiến và không biến đổitrong suốt cả kỳ kế hoạch, giá thành định mức được xây dựng trên cơ sở cácđịnh mức về chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch(thường là ngày đầu tháng) nên giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với
sự thay đổi của các định mức chi phí đạt được trong quá trình thực hiện kếhoạch giá thành
* Giá thành thực tế là chỉ tiêu được xác định sau khi kết thúc quá trìnhsản xuất sản phẩm dựa trên cơ sở chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sảnxuất sản phẩm
b, Theo phạm vi phát sinh chi phí
Theo phạm vi phát sinh chi phí, chỉ tiêu giá thành được chia thành giáthành sản xuất và giá thành tiêu thụ
* Giá thành sản xuất: là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinhliên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sảnxuất Đối với các đơn vị xây lắp giá thành sản xuất gồm chi phí nguyên vậtliệu, chi phí nhân công, chi phí máy thi công, chi phí sản xuất chung
* Giá thành tiêu thụ: (hay còn gọi là giá thành toàn bộ) là chỉ tiêu phảnánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụsản phẩm Giá thành tiêu thụ được tính theo công thức
Trang 10toàn bộ
của sản phẩm
= SX củasản phẩm
doanh ngiệp
+ bán hàng
2.1.3 Mối quan hệ giữa chi phí và giá thành sản phẩm xây lắp
Về thực chất, chi phí SPXL và giá thành là hai mặt khác nhau của quátrình xây lắp Chi phí xây lắp phản ánh mặt hao phí xây lắp, còn giá thànhSPXL phản ánh kết quả của quá trình sản xuất Tất cả các khoản chi phí phátsinh (kỳ này hay kỳ trước chuyển sang) và các chi phí trước đó có liên quanđến khối lượng công trình hay HMCT, khi SPXL hoàn thành trong kỳ sẽ tạonên chỉ tiêu giá thành sản phẩm Nói cách khác giá thành SPXL là biểu hiệnbằng tiền toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra ở thời điểm bất kỳ nào nhưng
có liên quan tới khối lượng công việc, sản phẩm hoàn thành trong kỳ Đượcthể hiện trong mối quan hệ sau:
Tổng giá thành
sản phẩm hoàn
thành
= CPSX dởdang đầu kỳ +
CPSX phát Sinh trong kỳ -
CPSX dở dang cuối kỳ
Đặc biệt chi phí sản xuất được xác định theo một thời kì nhất định(tháng, quý, năm) mà không tính đến số sản phẩm đã hoàn thành hay chưa,được tập hợp theo từng thời kỳ nhất định còn giá thành sản xuất được tính chocông trình hạng mục hay một công trình đã hoàn thành
Như vậy là có sự khác nhau song giữa giá thành SPXL và chi phí có mốiquan hệ mật thiết với nhau Tài liệu hạch toán chi phí xây lắp là cơ sở để tínhgiá thành SPXL Nếu như xác định việc tính giá thành là công tác chủ yếu
Trang 11trong hạch toán kế toán thì chi phí xây lắp có tác dụng quyết định đến sựchính xác của giá thành SPXL
2.2 Một số lý thuyết về kế toán giá thành sản phẩm xây lắp trong doanh nghiệp
2.2.1 Quy định về giá thành sản phẩm xây lắp
2.2.1.1 Quy định kế toán giá thành sản phẩm xây lắp theo chuẩn mực kế toán Việt Nam
Tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm xây lắp là một vấn đề khá quantrọng đối với công tác kế toán nói chung và công tác quản lý nói riêng Đểtính đúng tính đủ giá thành cần tôn trọng nguyên tắc xác định giá thành trongchuẩn mực kế toán Việt Nam đặc biệt là chuẩn mực số 01 “ chuẩn mựcchung” Cụ thể:
Nguyên tắc giá gốc quy định: tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc.Giá gốc của tài sản được tính theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả,phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản đượcghi nhận Giá gốc của tài sản không được thay đổi trừ khi có quy định kháctrong chuẩn mực kế toán cụ thể
Tôn trọng nguyên tắc giá gốc giúp doanh nghiệp hạch toán đúng, đủ cáckhoản chi phí phát sinh trong quá trình thi công công trình, từ đó kế toán lấy
cơ sở tính giá thành Song tính giá thành sản phẩm xây dựng cũng cần tuânthủ một số quy định, nguyên tắc và phương pháp ghi nhận chi phí để tính giáthành SPXL, quy định, nguyên tắc này được nêu rõ trong chuẩn mực kế toán
số 15 “ hợp đồng xây dựng”
Theo chuẩn mực này, chi phí của hợp đồng xây dựng bao gồm: chi phí
Trang 12của các hợp đồng và có thể phân bổ cho từng hợp đồng cụ thể, các chi phíkhác có thể thu lại từ khách hàng theo từng điều khoản trong hợp đồng
Như vậy kế toán phải tập hợp chi phí một cách đầy đủ và hợp lý Cáckhoản chi phí trực tiếp phải tập hợp trực tiếp, các khoản chi phí gián tiếp phảiphân bổ theo tiêu thức phù hợp và không được tính vào chi phí hợp đồng xâydựng các khoản không liên quan
Ngoài ra chuẩn mực 15 còn quy định phần công việc đã hoàn thành củahợp đồng xây dựng có thể được xác định bằng một trong ba phương pháp sau:
- Phương pháp tỉ lệ phần trăm giữa chi phí đã phát sinh của phần côngviệc đã hoàn thành tại một thời điểm so với tổng chi phí dự toán của hợpđồng Khi đó những chi phí liên quan tới phần công việc đã hoàn thành sẽđược tính tới thời điểm đó
- Phương pháp đánh giá phần công việc đã hoàn thành Theo phuơngpháp này thì phần công việc đã hoàn thành là khối lượng sản phẩm xây lắpđạt tới điểm dừng kỹ thuật hợp lý đã quy định
- Phương pháp tỉ lệ phần trăm giữa khối lượng xây dựng đã hoàn thành
so với tổng khối lượng xây dựng phải hoàn thành của hợp đồng
Như vậy việc thanh toán theo tiến độ và những khoản ứng trước, nhậnđược từ khách hàng thường không phản ánh công việc đã hoàn thành
2.2.1.2 Đối tượng tính giá
Xác định đối tượng tính giá thành cũng là công việc đầu tiên trong toàn
bộ công tác tính giá thành phẩm của kế toán Bộ phận kế toán phải căn cứ vàođặc điểm sản xuất của doanh nghiệp, các loại sản phẩm và lao vụ mà doanhnghiệp sản xuất, tính chất sản xuất của chúng để xác định đối tượng tính giáthành cho thích hợp
Trang 13Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc, lao vụ dodoanh nghiệp sản xuất ra và cần phải tính được giá thành và giá thành đơn vị Trong XD sản phẩm có tính đơn chiếc, đối tượng tính giá thành là từngcông trình, hạng mục công trình đã xây dựng hoàn thành Ngoài ra đối tượngtính giá thành có thể là từng giai đoạn công trình hoặc từng giai đoạn hoànthành quy ước, tùy thuộc vào phương thức bàn giao thanh toán giữa đơn vịxây lắp và chủ đầu tư.
2.2.2 Kế toán giá thành sản phẩm xây lắp
2.2.2.1 Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất
* Chứng từ sử dụng: căn cứ bảng tổng hợp chi tiết chi phí theo côngtrình, hạng mục công trình
* Tài khoản sử dụng :
Trang 14Để tính giá thành sản phẩm các chi phí được kết chuyển vào tài khoản
154 “chi phí sản xuất kinh doanh dở dang” đối với trường hợp doanh nghiệphạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên
Ngoài ra còn sử dụng các tài khoản khác có liên quan như : 621, 622,
623, 627, …
- TK 154 “ chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”
+ Tài khoản này dùng để phản ánh tổng hợp chi phí sản xuất kinh doanhphục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm công nghiệp, xây lắp, nuôi, trồng,chế biến sản phẩm nông lâm, ngư nghiệp, dịch vụ ở doanh nghiệp áp dụngphương pháp kê khai thường xuyên trong hạch toán hàng tồn kho Ở nhữngdoanh nghiệp áp dụng phương pháp kiểm kê định kỳ trong hạch toán hàng tồnkho, TK 154 chỉ phản ánh giá trị thực tế của sản phẩm dịch vụ dở dang cuốikỳ
+ Đối với hoạt động sản xuất xây lắp tài khoản 154 là tài khoản tập hợpchi phí sản xuất và tính giá thành SPXL, với các khoản mục tính giá thành:chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí SDMTC, chi phí SXC
* Trình tự hạch toán
Chi phí sản xuất trong DNXL bao gồm những chi phí có liên quan đếnviệc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đã được tập hợp vào bên nợ cáctài khoản 621, 622, 623, 627 Để tính được giá thành sản phẩm cho từng đốitượng kế toán thực hiện việc kết chuyển chi phí vào tài khoản 154 để tính giáthành theo tiêu thức phân bổ thích hợp
- Trước khi kết chuyển hoặc phân bổ chi phí phải loại ra các khoản làmgiảm chi phí trong giá thành, kế toán ghi tăng TK 152, 153, ghi giảm TK 621,
623, 627
Trang 15- Cuối kỳ hạch toán kết chuyển chi phí vào tài khoản 154 theo từng côngtrình, hạng mục công trình kế toán ghi tăng TK 154, ghi giảm TK 621, 622,
sổ nhật ký và sổ cái Sổ nhật ký dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế, tàichính phát sinh trong từng kỳ kế toán và trong một niên độ kế toán theo trình
tự thời gian và quan hệ đối ứng các tài khoản của các nghiệp vụ đó Sổ cáidùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh trong từng kỳ vàtrong một niên độ kế toán theo các tài khoản kế toán được quy định trong chế
độ tài khoản kế toán áp dụng cho DN Sổ kế toán chi tiết bao gồm các sổ, thẻ
kế toán chi tiết Số liệu trên sổ kế toán chi tiết cung cấp các thông tin phục vụcho việc quản lý từng loại tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí chưa đượcphản ánh trên sổ Nhật ký và Sổ Cái Cụ thể :
Trang 16+ Đối với trường hợp doanh nghiệp sử dụng hình thức sổ chứng từ ghi sổ: chứng từ ghi sổ, sổ đăng ký chứng từ ghi sổ, sổ cái các tài khoản 621,622,623, 627
+ Đối với trường hợp doanh nghiệp sử dụng hình thức sổ nhật ký sổ cái :
kế toán sử dụng sổ nhật ký- sổ cái
- Sổ kế toán chi tiết : sổ chi tiết chi phí sản xuất kinh doanh, bảng tổnghợp chi phí… Đối với hình thức nhật ký chứng từ, kế toán không sử dụng sổchi tiết chi phí sản xuất kinh doanh
2.2.2.2 Kiểm kê trị giá sản phẩm dở dang cuối kỳ
Sản phẩm dở dang là khối lượng sản phẩm, công việc còn đang trong quátrình sản xuất, chế biến, đang nằm trong dây truyền công nghệ hoặc đã hoànthành một quy trình chế biến nhưng vẫn phải gia công chế biến tiếp mới trởthành thành phẩm
Sản phẩm dở dang trong sản xuất xây dựng được đánh giá tùy thuộc vàophương thức thanh toán giữa bên A và bên B, kế toán có thể đánh giá sảnphẩm dở dang theo các phương pháp sau:
* Đánh giá theo chi phí thực tế phát sinh :Phương pháp này được ápdụng đối với hạng mục, công trình được thanh toán sau khi hoàn thành toàn
bộ Do vậy chi phí cho sản phẩm dở dang cuối kỳ là tổng chi phí sản xuất xâylắp từ khi khởi công đến cuối kỳ báo cáo Thực chất, đến khi công trình hoànthành toàn bộ thì không có đánh giá sản phẩm dở dang
* Đánh giá theo giá trị dự toán và mức độ hoàn thành của SPXL
Phương pháp này được áp dụng đối với các đối tượng công trình, hạngmục công trình được quy định thanh toán từng phần theo giai đoạn công việckhác nhau, có giá trị dự toán riêng Do vậy, chi phí cho sản phẩm xây lắp dở
Trang 17dang cuối kỳ được tính toán trên cơ sở phân bổ chi phí sản xuất thực tế phátsinh của hạng mục công trình đó cho các giai đoạn, tổ hợp công việc đã hoànthành và giai đoạn còn dở dang theo giá trị dự toán của chúng hoặc theo tỷ lệhoàn thành tương đương.
Khối lượng sản phẩm xây lắp dở dang được đánh giá trên cơ sở tài liệukiểm kê khối lượng dở dang cuối kỳ, như sau:
- Theo giá trị dự toán : Theo phương pháp này chi phí thực tế khối lượngxây lắp dở dang cuối kỳ được xác định như sau
+
Chi phí thực tếcủa khối lượngxây lắp thựchiện trong kỳ
x
Giá trị dựtoán củakhối lượngxây lắp dởdang cuối kỳ
Giá trị dự toáncủa khối lượngxây lắp hoànthành bàn giao trong kỳ
+
Giá trị dự toáncủa khối lượngxây lắp dở dang cuối kỳ
- Theo tỷ lệ hoàn thành tương đương
Phương pháp này chủ yếu áp dụng đối với việc đánh giá sản phẩm dởdang của công tác lắp đặt Theo phương pháp này chi phí thực tế của khốilượng xây lắp dở dang cuối kỳ được xác định như sau:
Trang 18XL dở dang đầu kỳ
+
Chi phí thực tế của khối lượng XL thực hiện trong kỳ
x
Giá trị dự toán của khối lượng
XL dở dang cuối kỳ đã quyđổi theo SP hoàn thành tương đương
Giá trị dự toán của khối lượng
XL hoàn thành bàn giao trong kỳ
+
Giá trị dự toán củakhối lượng XL dởdang cuối kỳ đã quyđổi theo SP hoànthành tương đương
- Theo chi phí dự toán: theo phương pháp này chi phí thực tế của khối lượngxây lắp dở dang cuối kỳ được xác định như sau:
dở dang đầu kỳ +
Chi phí thực tếcủa khối lượng
XL thực hiện
Chi phí khốilượng XL dởdang cuối kỳtheo dự toán
Chi phí của khốilượng XL hoànthành bàn giao trong kỳ
+
Chi phí của khốilượng XL dởdang cuối kỳtheo dự toán
2.2.2.3 Các phương pháp tính giá thành
Phương pháp tính giá thành SPXL là phương pháp sử dụng số liệu về chiphí xây lắp để tính ra tổng giá thành và giá thành đơn vị thực tế của SPXL.Phương pháp tính giá thành sử dụng cho những sản phẩm, công trình, hạngmục công trình đã hoàn thành
Trang 19Tùy theo đặc điểm của từng đối tượng tính giá thành mà kế toán phảichọn lựa sử dụng một hoặc kết hợp nhiều phương thức thích hợp để tính giáthành cho một hay nhiều đối tượng và ngược lại Trong các DNXL thường sửdụng một trong bốn phương pháp sau:
* Phương pháp trực tiếp
Phương pháp này áp dụng cho các quy trình công nghệ sản xuất chỉ tạo
ra một loại sản phẩm đối với khối lượng lớn: doanh nghiệp điện, than đá….Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất: là toàn bộ quy trình công nghệ sảnxuất sản phẩm
Đối tượng tính giá thành: là loại sản phẩm và đơn vị sản phẩm do quytrình sản xuất tạo ra hoàn thành trong quy trình công nghệ nàykhông có sảnphẩm dở dang Do vậy đối tượng tập hợp chi phí trùng với đối tượng tập hợptính giá thành và ngược lại Kỳ tính giá thành thường là cuối tháng, cuối năm
Z = Dđk + C - Dck
Nếu có sản phẩm làm hỏng nhưng do cá nhân làm hỏng thì nhà quản lý
sẽ quy trách nhiệm và bắt cá nhân đó bồi thường
Z = Dđk + C - Dck - C (hỏng)
Trong đó Z : giá thành sản phẩm xây lắp
Dđk : chi phí sản xuất dở dang đầu kỳDck : chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
C : là chi phí phát sinhC(hỏng): là chi phí sản phẩm hỏng
Trang 20Phương pháp này áp dụng đối với các DNXL các công trình lớn, phứctạp, có thể chia ra cho nhiều đội khác nhau
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là từng đội, đối tượng tính giá thành
Dck: CPSX dở dang cuối kỳ
* Phương pháp định mức
Phương pháp này thích hợp với các doanh nghiệp có quy trình công nghệsản xuất ổn định, có hệ thống các định mức kinh tế kỹ thuật, định mức chi phíhợp lý, có trình độ tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành cao, công tác hạchtoán ban đầu chặt chẽ
Phương pháp tính giá thành theo định mức được thực hiện theo ba bướcsau:
- Bước 1: Tính giá thành định mức của sản phẩm Cơ sở để tính là địnhmức kỹ thuật hiện hành Kế toán có thể tính giá thành định mức cho sảnphẩm, nửa thành phẩm, hoặc là bộ phận chi tiết cấu thành nên sản phẩm
Trang 21- Bước 2: Xác định số chênh lệch do thay đổi định mức Do việc thay đổiđịnh mức thường được tiến hành vào đầu tháng nên khi tính số chênh lệch dothay đổi định mức chỉ cần thực hiện cho sản phẩm dở dang đầu kì
Bước 3: Xác định số chênh lệch do thoát ly định mức Số chênh lệch nàyphát sinh do tiết kiệm hay lãng phí chi phí
Vậy giá thành thực tế được xác định theo công thức sau:
Chênh lệch dothay đổi địnhmức
Chênh lệch dothoát ly địnhmức
* Phương pháp tính giá theo đơn đặt hàng
Phương pháp này được sử dụng đối với các DNXL thực hiện nhận thầuxây dựng theo đơn đặt hàng
Đối tượng tính giá thành là công trình, hạng mục công trình nhận thầutheo đơn đặt hàng của khách hàng
Kì tính giá thành là khi đơn đặt hàng hoàn thành,chi phí được tập hợptheo đơn đặt hàng và đến cuối kỳ tính giá giá thành sẽ được tính giá theo từngđơn đặt hàng khi công trình, hạng mục công trình được hoàn thành Còn đốivới công trình, hạng mục công trình chưa hoàn thành thì toàn bộ chi phí tậphợp cho công trình là chi phí dở dang
Giá thành SPXL
hoàn thành theo =
Tổng chi phí tậphợp theo đơn đặt -
Vật liệu , phếliệu thu hồi
Trang 22* Chứng từ kế toán sử dụng : Thẻ tính giá thành, sổ chi tiết, sổ cái các tàikhoản 621, 622, 623, 627
* Tài khoản kế toán :
kế toán hạch toán vào bên nợ TK 632 - giá vốn hàng bán, bên có TK154 - chiphí sản xuất kinh doanh dở dang
Trường hợp SPXL hoàn thành chờ tiêu thụ như xây nhà để bán, hoặchoàn thành nhưng chưa bàn giao, căn cứ vào giá thành SPXL hoàn thành chờ
Trang 23tiêu thụ kế toán hạch toán bên nợ TK 155 - thành phẩm, bên có TK 154 - chiphí sản xuất kinh doanh dở dang.
Trường hợp SPXL hoàn thành cho đơn vị nhận thầu chính ( đơn vị nhậnkhoán có tổ chức kế toán riêng nhưng chỉ hạch toán đến giá thành SPXL) kếtoán hạch toán bên nợ TK 336 - phải trả nội bộ , bên có TK 154 - chi phí sảnxuất kinh doanh dở dang
Trường hợp DNXL xây dựng chương trình lán trại, nhà ở tạm, công trìnhphụ trợ có nguồn đầu tư riêng kế toán hạch toán vào bên nợ TK 241, bên có
- Hình thức nhật ký chung: hàng ngày căn cứ vào các chứng từ đã kiểm tra
kế toán ghi hết nghiệp vụ vào sổ nhật ký chung, sau đó căn cứ số liệu ghi trên
sổ nhật ký chung để ghi vào sổ cái Nếu đơn vị có mở sổ, thẻ kế toán chi tiếtthì đồng thời với việc ghi sổ nhật ký chung các nghiệp vụ phát sinh được ghi
Trang 24chứng từ đã dùng làm căn cứ ghi sổ, ghi nghiệp vụ phát sinh vào sổ nhật kýđặc biệt liên quan, định kỳ lấy số liệu ghi các tài khoản phù hợp trên sổ cáinhư sổ cái TK 621, 622, 623, 627 ,154 Cuối tháng, cuối quý, cuối năm,cộng số liệu trên sổ cái, lập bảng cân đối phát sinh, sau khi đã kiểm tra đốichiếu khớp đúng số liệu ghi trên sổ cái và bảng tổng hợp chi tiết được dùng
để lập báo cáo tài chính
- Hình thức chứng từ ghi sổ : chứng từ ghi sổ, sổ đăng ký chứng từ ghi sổ,
sổ cái 154, 621, 622, 623, 627 Hằng ngày căn cứ vào các chứng từ kế toánhoặc Bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại dùng làm chứng từ ghi sổ, kếtoán lập chứng từ ghi sổ Căn cứ vào chứng từ ghi sổ để ghi vào sổ Đăng kýchứng từ ghi sổ rồi ghi vào sổ cái Đồng thời ghi vào các sổ thẻ chi tiết có liênquan Cuối tháng khóa sổ và tổng hợp trên sổ cái và sổ đăng ký chứng từ ghi
sổ để lập bảng cân đối số phát sinh
- Hình thức nhật ký sổ cái : nhật ký sổ cái, sổ chi phí kinh doanh các tàikhoản 154, 621, 622, 623, 627 Hằng ngày căn cứ vào các chứng từ kế toánhoặc bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại dùng làm căn cứ ghi sổ Đồngthời, kế toán ghi vào sổ, thẻ chi tiết liên quan Cuối tháng, kế toán tiến hànhtổng hợp số phát sinh để ghi vào dòng cộng số phát sinh cuối tháng rồi tính số
dư cuối tháng của từng TK trên nhật ký- sổ cái Lập bảng tổng hợp chi tiếtdựa vào các sổ thẻ chi tiết rồi tiến hành đồi chiếu với nhật ký- sổ cái để lậpbáo cáo tài chính
- Hình thức nhật ký chứng từ : nhật ký chứng từ số 7, nhật ký chứng từ
số 8, bảng kê số 4, bảng kê số 8, sổ cái các tài khoản 154, 621, 622, 623, 627.Căn cứ vào các chứng từ kế toán lấy số liệu ghi trực tiếp vào các nhật kýchứng từ; các bảng kê và các sổ chi tiết có liên quan Cuối tháng khóa sổ,
Trang 25cộng và đối chiếu số liệu trên các nhật ký chứng từ với các sổ chi tiết và lấy
số liệu tổng cộng trên các nhật ký chứng từ để ghi vào sổ cái
2.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Kế toán giá thành xây lắp là một đề tài không phải là quá mới nhưngkhông phải quá cũ đối với những ai muốn nghiên cứu nó Qua khảo sát chothấy vấn đề này được nghiên cứu rất rộng rãi và đã có rất nhiều tác giả nghiêncứu đề tài này Cụ thể:
Luận văn của Nguyễn Thị Việt Anh khóa 12F trường ĐHTM với đề tài:
“ Kế toán giá thành công trình xây dựng đường Bảo Lâm – mốc 23 – huyệnCao Lộc – tỉnh Lạng Sơn tại công ty 17 – Bộ Quốc Phòng” được thực hiệnnăm 2009 Luận văn đã nêu lên được những vấn đề lý luận cơ bản về kế toángiá thành xây lắp theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành thông qua đólàm rõ được thực trạng kế toán giá thành tại công ty 17 – Bộ Quốc Phòng.Tác giả đã làm nổi bật những ưu điểm đồng thời phát hiện ra những tồn tạicần giải quyết đó từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả côngtác kế toán giá thành tuy nhiên một số biện pháp của tác giả đưa ra là chưatriệt để điển hình là giả pháp của tác giả nhằm khắc phục tình trạng công tácluân chuyển chứng từ của công ty gặp nhiều khó khăn do địa bàn hoạt độngrộng, các công trình xây dựng nằm ở nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước làcông ty bố trí giao trách nhiệm nhiều hơn cho các nhân viên kế toán tại cácđội xây dựng mà chưa có giải pháp cụ thể để nâng cao trách nhiệm đó
Bài luận thứ 2 là của tác giả Lê Thùy Linh lớp K42D1 trường ĐHTM
Đề tài của tác giả là “ Kế toán tính giá thành công trình quốc lộ 6 Sơn La tạicông ty cổ phần xây dựng công trình giao thông 889” năm 2009 Tác giả có
Trang 26số lượng sổ sách công ty sử dụng quá nhiều khiến các nghiệp vụ ghi sổ dễ bịtrùng lặp, đôi khi gây khó khăn cho việc vào sổ của kế toán Tác giả chỉ mới
đề cập đến khó khăn này mà chưa đưa ra một giải pháp nào để giảm bớt khốilượng sổ sách, tránh sự ghi chép chồng chéo, trùng lặp
Thứ hai, với thực trạng nghiệp vụ thanh toán của công ty chủ yếu thôngqua tài khoản 141 và 331 tạo ra công việc tương đối lớn cho kế toán công nợ
vì các nghiệp vụ mua bán diễn ra trong công ty tương đối nhiều, tác giả chorằng công ty nên thực hiện thanh toán trực tiếp cho người bán thông qua TK
111 và 112 Giải pháp này của tác giả không mang lại nhiều ý nghĩa cho công
ty Bởi vì việc tạm ứng cho các tổ đội thi công là không thể tránh khỏi trongxây dựng Hơn nữa, không thể vì muốn giảm bớt khối lượng công việc cho kếtoán công nợ mà công ty thực hiện thanh toán ngay Việc thanh toán ngay haychậm phụ thuộc vào tình hình tài chính của công ty, không nên để đơn giảntrong việc ghi chép của kế toán mà làm mất lợi thế tín dụng của công ty Theo
em thay vì việc đề nghị công ty thanh toán ngay thì tác giả nên đưa ra các giảipháp để quản lý tốt công nợ, để được hưởng chiết khấu thanh toán nhiều hơn,
mà vẫn giữ được lợi thế tín dụng
Các nghiên cứu đã cho thấy được tính cấp thiết của đề tài này, phát hiện
ra nhiều hạn chế về kế toán giá thành SPXL cả về mặt lý luận và thực tiễn từ
đó đưa ra giải pháp hoàn thiện Cũng có một số biện pháp được thực hiện tạicác DN đưa lại những hiệu quả nhất định nhưng vẫn chưa thực sự hoàn thiệnđược hệ thống kế toán giá thành SPXL do nhiều nguyên nhân khách quan vàchủ quan vì vậy mà vấn đề này cần được nghiên cứu và hoàn thiện hơn nữa
2.4 Phân định nội dung vấn đề nghiên cứu đề tài
Sau khi nghiên cứu lý thuyết về kế toán giá thành và luận văn cuả khóatrước kết hợp với việc tìm hiểu thực tiễn tại Công ty Xây dựng và phát triển