1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐỀ TÀI : ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ HÌNH ẢNH NỘI SOI Ở BỆNH NHÂN VIÊM LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG TẠI BV ĐA KHOA HUYỆN MÈO VẠC

52 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Một Số Đặc Điểm Lâm Sàng Và Hình Ảnh Nội Soi Ở Bệnh Nhân Viêm Loét Dạ Dày Tá Tràng Tại Bệnh Viện Đa Khoa Huyện Mèo Vạc
Tác giả Bskci. Lại Thị Hương, Bskcii. Tạ Tiến Mạnh, Đd. Trần Văn Biên
Trường học Bệnh viện Đa Khoa Huyện Mèo Vạc
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2020
Thành phố Mèo Vạc
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN (10)
    • 1.1. Đặc điểm dịch tễ (10)
      • 1.1.1. Trên thế giới (10)
      • 1.1.2. Tại Việt Nam (11)
    • 1.2. Một số định nghĩa (11)
    • 1.3. Nguyên nhân gây viêm loét dạ dày tá tràng (12)
      • 1.3.1. Vi khuẩn Helicobacter pylori và do tình trạng tăng tiết acid (12)
      • 1.3.2. Thói quen sinh hoạt (12)
      • 1.3.3. Yếu tố văn hóa với viêm loét dạ dày tá tràng (14)
      • 1.3.4. Các yếu tố xã hội với viêm loét dạ dày tá tràng (14)
      • 1.3.5. Yếu tố tâm lý- thần kinh (14)
      • 1.3.6. Thời tiết và viêm loét dạ dày tá tràng (15)
      • 1.3.7. Tuổi tác và viêm loét dạ dày tá tràng (15)
      • 1.3.8. Bệnh lý (15)
      • 1.3.9. Dùng thuốc (16)
    • 1.4. Các triệu chứng bệnh thường gặp (16)
      • 1.4.1 Triệu chứng cơ năng (16)
      • 1.4.2. Triêu chứng thực thể (17)
      • 1.4.3. Cận lâm sàng (17)
        • 1.4.3.1. Chụp dạ dày tá tràng có barit (17)
        • 1.4.3.2. Nội soi dạ dày tá tràng (17)
        • 1.4.3.3 Chụp cắt lớp vi tính (18)
        • 1.4.3.4. Test xác định HP (18)
    • 1.5. Các biến chứng – Hậu quả của viêm loét dạ dày - tá tràng (19)
    • 1.6. Điều trị (19)
      • 1.6.1 Mục tiêu (19)
      • 1.6.2. Nguyên tắc và thời gian (20)
      • 1.6.3. Thuốc điều trị viêm loét dạ dày-tá tràng (20)
      • 1.6.4. Giảm yếu tố gây loét (20)
      • 1.6.5. Tăng cường yếu tố bảo vệ niêm mạc (20)
      • 1.6.6. Diệt trừ Helicobacter pylori (20)
      • 1.6.7 Dinh dưỡng cho người bị viêm loét dạ dày tá tràng (20)
        • 1.6.7.1. Nguyên tắc chung (20)
        • 1.6.7.2. Ăn chế độ riêng (20)
    • 1.7. Phòng ngừa (21)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (22)
    • 2.1. Đối tương, địa điểm và thời gian nghiên cứu (22)
      • 2.1.1. Đối tƣợng (22)
      • 2.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu (22)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (22)
      • 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu (22)
      • 2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu (22)
    • 2.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu (23)
      • 2.3.1. Nghiên cứu một số đặc điểm chung (23)
      • 2.3.2. Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng (23)
      • 2.3.3. Nội soi dạ dày tá tràng (24)
    • 2.4. Xử lý và phân tích số liệu (25)
    • 2.5. Đạo đức nghiên cứu (25)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (26)
    • 3.1. Đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu (26)
    • 3.2. Tiền sử và yếu tố nguy cơ (28)
      • 3.2.1. Tiền sử (28)
      • 3.2.2. Yếu tố nguy cơ (28)
    • 3.3. Đặc điểm triệu chứng lâm sàng (29)
      • 3.3.1. Lý do vào viện (29)
      • 3.3.2. Triệu chứng cơ năng (30)
    • 3.4. Kết quả nội soi dạ dày tá tràng (31)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (32)
    • 4.1. Một số thông tin chung về đối tƣợng nghiên cứu (32)
      • 4.1.1. Tuổi (32)
      • 4.1.2. Giới (32)
      • 4.1.3. Nghề nghiệp (33)
      • 4.1.4. Dân tộc (33)
    • 4.2. Tiền sử và các yếu tố nguy cơ (33)
    • 4.3. Đặc điểm triệu chứng lâm sàng (34)
    • 4.4. Kết quả nội soi (35)
      • 4.4.1. Đặc điểm tổn thương (35)
      • 4.4.2. Vị trí tổn thương (35)
  • KẾT LUẬN (8)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (39)
  • PHỤ LỤC (43)

Nội dung

TỔNG QUAN

Đặc điểm dịch tễ

Bệnh loét dạ dày tá tràng đã được ghi nhận từ rất sớm, với mô tả đầu tiên về loét môn vị được thực hiện bởi Marcellus vào năm 1568 Đến năm 1828, Abercrombie đã nghiên cứu và mô tả bệnh học của loét tá tràng cùng các biến chứng liên quan Các nghiên cứu trên tử thi vào cuối thế kỷ 19 cho thấy tỷ lệ hiện diện của loét dạ dày tá tràng là khoảng 4-5% trong số các tử thi được khám nghiệm.

Vào đầu thế kỷ 20, loét dạ dày tá tràng được cho là do stress và chế độ ăn uống gây ra, dẫn đến việc bệnh nhân phải nằm viện để nghỉ ngơi và tuân thủ một chế độ ăn nhẹ.

Vào những năm 1950, sau khi phát hiện ra vai trò quan trọng của acid dạ dày trong bệnh đau dạ dày và tá tràng, liệu pháp kháng acid đã trở thành phương pháp điều trị được lựa chọn phổ biến.

Vào năm 1970, thuốc kháng histamin H2 receptor đã được áp dụng trong lâm sàng Đến những năm 1980, sự ra đời của thuốc kháng bơm proton đã làm tăng tỷ lệ điều trị thành công Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng hầu hết bệnh nhân điều trị bằng liệu pháp giảm acid dạ dày sẽ gặp phải tình trạng tái phát trong vòng một năm sau khi ngừng điều trị.

Trong những năm 1980 người ta nhận thấy rằng, hầu hết các bệnh nhân viêm loét DDTT có tỷ lệ nhiễm H.p ở mức cao >70%, đặc biệt ở vùng hang vị

Nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng sự kháng thuốc của H.p đang gia tăng, đặc biệt là kháng Metronidazole, làm giảm hiệu quả điều trị tiệt trừ H.p của phác đồ Omeprazol + Amoxicilin + Metronidazole tới 4 lần Tuy nhiên, tác động này ít nghiêm trọng hơn đối với phác đồ Omeprazol + Metronidazole + Clarythromycin.

Sự kết hợp giữa Clarythromycin và Metronidazole đã giảm thiểu tác động của kháng Metronidazol đối với phác đồ điều trị Phác đồ Sucrategel kết hợp với Amoxicilin cho thấy hiệu quả trong việc điều trị viêm dạ dày mạn tính, với tỷ lệ diệt H.p đạt 51,51% theo kết quả xét nghiệm mô học.

Hình 1.1: Bản đồ tình hình mắc viêm loét dạ dày tá tràng[25]

Bệnh loét dạ dày tá tràng là một vấn đề sức khỏe phổ biến, với tỷ lệ mắc bệnh dao động từ 5-10% dân số, trong đó miền Bắc Việt Nam có khoảng 5,6% dân số biểu hiện triệu chứng Tại một số bệnh viện khoa nội, tỷ lệ bệnh nhân nhập viện do loét DDTT có thể lên tới 26-30% Đặc biệt, loét tá tràng xảy ra gấp 4 lần so với loét dạ dày, tuy nhiên loét tá tràng thường lành tính hơn, trong khi loét dạ dày có thể tiến triển thành ác tính trong một số trường hợp.

Một số định nghĩa

Loét dạ dày – tá tràng là tình trạng tổn thương loét trên niêm mạc dạ dày hoặc tá tràng, được phân thành hai loại: tiên phát và thứ phát Loét dạ dày thứ phát là loại phổ biến nhất, thường do các tác nhân gây ảnh hưởng cấp tính đến niêm mạc dạ dày.

Loét dạ dày và tá tràng là bệnh lý đặc trưng bởi sự xuất hiện của ổ loét tại dạ dày, tá tràng, hoặc cả hai Triệu chứng lâm sàng thường thấy là những cơn đau vùng thượng vị, diễn ra từ 2 - 3 giờ hoặc 4 - 5 giờ sau khi ăn và có thể kéo dài trong thời gian dài.

Cơn đau kéo dài liên tục trong 3 giờ, xuất hiện theo từng đợt từ 15 đến 20 ngày hoặc lâu hơn, sau đó giảm dần và có thể biến mất trong khoảng thời gian dài từ 2 đến 6 tháng, trước khi tái phát với mức độ nghiêm trọng hơn.

Nguyên nhân gây viêm loét dạ dày tá tràng

1.3.1 Vi khuẩn Helicobacter pylori và do tình trạng tăng tiết acid:

Lây nhiễm trực khuẩn môn vị là nguyên nhân chính gây viêm loét đường ruột, với tỷ lệ lên tới 70-90% trong số người mắc bệnh Loại xoắn khuẩn này sống trên lớp nhày niêm mạc dạ dày và thường lây truyền qua đồ đựng thực phẩm, bàn chải đánh răng, và nụ hôn Việc tiêu thụ thực phẩm không sạch cũng là một yếu tố quan trọng trong việc lây nhiễm vi khuẩn này.

Các bệnh tự miễn khác…

Thức khuya và ăn đêm có thể gây mệt mỏi, nhưng lại tiềm ẩn nguy cơ cho dạ dày Tế bào niêm mạc dạ dày có chu kỳ tái sinh khoảng 2-3 ngày, thường diễn ra vào ban đêm khi hệ tiêu hóa nghỉ ngơi Việc ăn khuya liên tục làm gián đoạn quá trình này, khiến dạ dày không được nghỉ ngơi và thức ăn ứ đọng lâu, dẫn đến tăng tiết dịch vị, kích thích niêm mạc và có thể gây viêm loét dạ dày theo thời gian.

*Ăn uống không điều độ và bất hợp lý Ăn nhiều lipit Ăn uống thiếu dinh dƣỡng trong một thời gian dài

Thói quen ăn uống hấp tấp, ăn quá nhanh, không nhai kỹ, vừa ăn xong đã làm việc nặng hoặc chơi thể thao ngay

Giờ giấc ăn ngủ bất bình thường, như ăn trái bữa, thói quen ăn khuya và mức độ ăn uống không cân bằng, có thể gây ra nhiều vấn đề sức khỏe Việc ăn quá no hoặc nhịn đói thường xuyên, cùng với việc tiêu thụ thực phẩm cay, nóng, chua hoặc cứng, sẽ ảnh hưởng xấu đến dạ dày Đặc biệt, việc thường xuyên ăn đồ ăn chua cay vào buổi tối hoặc ăn liên tục trong thời gian dài có thể dẫn đến viêm dạ dày và thậm chí là loét dạ dày trong tương lai.

Khi đói không đều, nồng độ axit hydrochloric trong dạ dày cao có thể dẫn đến tự tiêu hóa niêm mạc, trong khi ăn quá no lại làm tổn thương cơ chế tự bảo vệ của dạ dày Thói quen ăn uống thất thường, không đúng bữa và thiếu nghỉ ngơi dễ dẫn đến bệnh dạ dày tái phát Bữa tối quá no không chỉ ảnh hưởng đến giấc ngủ mà còn kích thích dạ dày sản xuất nhiều axit hydrochloric, gây viêm loét Ngoài ra, việc ăn nhanh hoặc vừa ăn vừa xem ti vi làm giảm hiệu quả tiêu hóa, kéo dài thời gian lưu giữ thức ăn trong dạ dày và gây tổn thương niêm mạc.

Ngoài ra, nhai chậm, nhai kỹ có thể tăng tiết dịch tụy, từ đó làm cho dịch mật và axit hydrochloric giảm, rất có lợi cho dạ dày

*Nghiện rượu, bia, thuốc lá và những chất kích thích

Rượu, bia, thuốc lá và các chất kích thích là những yếu tố nguy cơ chính làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh viêm loét dạ dày tá tràng Đặc biệt, những người sử dụng thuốc lá có nguy cơ mắc bệnh viêm loét dạ dày cao hơn so với người không sử dụng.

Uống quá nhiều rượu có thể gây tổn thương nghiêm trọng cho niêm mạc dạ dày, đồng thời dẫn đến các bệnh lý như xơ gan và viêm tuyến tụy mãn tính, làm tình trạng dạ dày trở nên nặng nề hơn.

Hoá chất, chất kích thích: caffe, thuốc lá cũng có thể làm tăng tiết dịch vị, tăng nguy cơ viêm loét dạ dày tá tràng

1.3.3.Yếu tố văn hóa với viêm loét dạ dày tá tràng

Ngày Tết là thời điểm dễ tái phát cơn đau dạ dày, đặc biệt với những người từng mắc viêm loét dạ dày, nếu không tuân thủ chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý Các yếu tố như căng thẳng, thức khuya, lo toan chuẩn bị Tết, và chế độ ăn uống không điều độ, bao gồm thực phẩm có hại như đồ chua cay và rượu bia, đều có thể làm tình trạng bệnh trở nên nghiêm trọng hơn.

*Văn hóa “nhậu là phải say” của người Việt[10]

Nhiều quý ông đang phải đối mặt với các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng như xơ gan và viêm loét dạ dày do lạm dụng rượu bia Thói quen nhậu nhẹt đến mức quá đà đã trở thành một phần văn hóa khó thay đổi trong đời sống của người Việt.

Thói quen ẩm thực của người dân miền núi phía Bắc Việt Nam nổi bật với việc ưa chuộng các món ăn cay Những món ăn này không chỉ mang lại hương vị đặc trưng mà còn trở thành một phần quan trọng trong đời sống văn hóa của họ.

1.3.4 Các yếu tố xã hội với viêm loét dạ dày tá tràng[22]

Nhịp sống hiện đại ngày càng nhanh, với áp lực học tập và công việc gia tăng, dẫn đến căng thẳng cao hơn Điều này đã làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh viêm loét dạ dày, không chỉ ở giới tri thức và sinh viên mà còn ở cả trẻ nhỏ do áp lực thi cử.

Căng thẳng từ áp lực học tập, gia đình, chấn thương hoặc thói quen thức khuya có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh loét dạ dày – tá tràng.

1.3.5 Yếu tố tâm lý- thần kinh[18]

Viêm loét dạ dày thường xảy ra ở những người làm việc căng thẳng, có tâm lý bất ổn hoặc lo lắng Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, do điều kiện sinh hoạt khó khăn và áp lực thần kinh, tỷ lệ bệnh thủng dạ dày, chảy máu dạ dày và viêm loét dạ dày đã gia tăng đáng kể.

Căng thẳng kéo dài có thể tác động tiêu cực đến cơ thể, dẫn đến mất cân bằng chức năng dạ dày và đường ruột Khi cơ thể chịu áp lực, sự tiết axit hydrochloric và pepsin tăng lên, gây co thắt huyết quản dạ dày và tổn thương niêm mạc, từ đó hình thành bệnh viêm loét dạ dày Người bệnh thường cảm thấy đau khi gặp căng thẳng, lo lắng, buồn phiền, tức giận hoặc sợ hãi.

1.3.6 Thời tiết và viêm loét dạ dày tá tràng[24]

Mùa rét nhiều bệnh nhân đau hơn mùa nóng, rét đậm, rét hại có nhiều người đau hơn rét bình thường

1.3.7 Tuổi tác và viêm loét dạ dày tá tràng[18]

Những số liệu thống kê đã cho thấy tuổi tác càng cao cũng ảnh hưởng đến việc bị đau dạ dày

Mắc các bệnh như xơ gan, bệnh cushing, hạ đường huyết hay tiểu đường…

Một số loại thuốc trị bệnh nhƣ kháng sinh, thuốc giảm đau, kháng viêm nếu sử dụng lâu dài cũng rất dễ gây bệnh dạ dày

Loét dạ dày tá tràng có thể do việc sử dụng quá liều các loại thuốc giảm đau và hạ sốt Ba nhóm thuốc chính dễ gây tổn thương niêm mạc dạ dày bao gồm: axit acetylsalicylic (chẳng hạn như Aspirin), thuốc chống viêm và chữa khớp, cùng với các loại hormone như sterol.

Các triệu chứng bệnh thường gặp

Đau vùng thượng vị là triệu chứng phổ biến nhất, thường xảy ra từ 30 phút đến 2 giờ sau bữa ăn, hoặc có thể xuất hiện khi đói và vào ban đêm Cảm giác đau có thể chỉ là cồn cào và sẽ giảm khi ăn Đau bụng cũng có thể lan ra sau lưng và sang bên phải.

- Đau còn có tính chu kỳ: đau khoảng 2-8 tuần kể cả không điều trị gì thì triệu chứng đau cũng giảm, sau đó sẽ có đợt đau tái phát

Vị trí đau do loét dạ dày thường tập trung ở vùng thượng vị, với cơn đau lệch sang bên trái và có thể lan lên ngực sau mũi ức Ngược lại, loét tá tràng gây đau bên phải và lan ra sau lưng Cơn đau thường âm ỉ nhưng có thể có những cơn đau dữ dội Đau loét dạ dày thường xuất hiện sau khi ăn từ 1-2 giờ, trong khi loét tá tràng gây đau sau 4-6 giờ sau bữa ăn, và mỗi đợt đau thường kéo dài vài tuần.

- Cũng có trường hợp không đau (gọi là loét câm), thể này phát hiện được là do thủng hoặc chảy máu

Khoảng 20% bệnh nhân loét dạ dày - tá tràng không có triệu chứng rõ ràng, mà thường nhập viện do các biến chứng như xuất huyết tiêu hóa, thủng dạ dày, hoặc hẹp môn vị Một số bệnh nhân có thể gặp phải triệu chứng như ợ hơi, ợ chua và cảm giác nóng rát ở vùng thượng vị.

- Có thể kèm theo các triệu chứng sau: Ăn kém, buồn nôn hoặc nôn, ợ hơi, ợ chua

- Trong cơn đau: Ấn vùng thƣợng vị đau

- Khám ngoài cơn đau thường không có gì đặc biệt

1.4.3.1 Chụp dạ dày tá tràng có barit

- Ƣu điểm: đơn giản, không xâm nhập, BN dễ chấp nhận, ít nguy cơ lây chéo và giá thành rẻ

Nhược điểm của phương pháp này là độ nhạy kém trong nội soi, không thể phát hiện ổ loét nhỏ và không thực hiện sinh thiết cũng như đánh giá tình trạng nhiễm Helicobacter pylori (HP), do đó hiện nay ít được sử dụng.

1.4.3.2 Nội soi dạ dày tá tràng

Phương pháp nội soi tiêu hóa trên hiện nay được ưa chuộng và có giá trị chẩn đoán cao, cho phép quan sát từ thực quản đến dạ dày và tá tràng, giúp phát hiện tổn thương và thực hiện sinh thiết để chẩn đoán mô bệnh học Hệ thống phân loại viêm, loét dạ dày và tá tràng phổ biến nhất hiện nay là hệ thống phân loại Sydney, được cải tiến vào năm 1994.

Hình 2: Hệ thống Sydney đánh giá viêm loét dạ dày[22]

 Viêm thân dạ dày, viêm hang vị, viêm toàn bộ dạ dày, viêm thực quản, viêm hành tá tràng

 Loét thực quản, loét dạ dày, loét hành tá tràng

Mô tả tổn thương (Hình ảnh tổn thương cơ bản)

 Phù nề, sung huyết, tiết dịch: Niêm mạc dạ dày mất tính nhẵn bóng, hơi lần sần, có từng mảng sung huyết, dễ chảy máu khi chạm đèn soi

 Trợt phẳng: Niêm mạc dạ dày có nhiều chỗ trợt nông trên có giả mạc bám hoặc những vết trợt nông trên niêm mạc

Trợt lồi là tình trạng xuất hiện những mắt nổi gồ lên trên bề mặt niêm mạc dạ dày, với đỉnh hơi lõm xuống hoặc niêm mạc dạ dày bị phù nề, tạo thành nền phì đại có trợt.

 Chảy máu: có những chấm xuất huyết hoặc đám xuất huyết trên bề mặt niêm mạc dạ dày hoặc bầm tím do chảy máu trong niêm mạc

 Trào ngƣợc mật: niêm mạc phù nề, xung huyết phì đại và có nhiều dịch mật trong dạ dày

Teo niêm mạc là tình trạng mà các lớp niêm mạc trở nên mỏng hơn, dẫn đến việc không bơm hơi căng và có thể nhìn thấy các mạch máu bên dưới Ngoài ra, các dị sản ruột cũng có thể được phát hiện dưới dạng những mảng màu trắng trên niêm mạc.

 Phì đại nếp niêm mạc: niêm mạc mất tính nhẵn bóng, nếp niêm mạc nổi to và không xẹp khi bơm hơi

1.4.3.3 Chụp cắt lớp vi tính Ít dùng do giá thành đắt, thường chỉ được chỉ định khi nghi ngờ có biến chứng loét rò vào ổ bụng hoặc nghi ngờ ung thƣ

Test urease hoặc nuôi cấy từ bệnh phẩm lấy trong quá trình nội soi, kháng thể kháng HP trong máu, test thở C13 , C14 , kháng nguyên của HP trong phân

Các biến chứng – Hậu quả của viêm loét dạ dày - tá tràng

Căn bệnh này thường bị lãng quên, khiến nhiều người chỉ tìm đến bệnh viện khi đã xuất hiện nhiều biến chứng nghiêm trọng Điều này dẫn đến tình trạng điều trị không hiệu quả, thậm chí là quá muộn để đạt được kết quả tốt.

Các biến chứng đó là:

Xuất huyết tiêu hóa: Người bệnh đau bụng nhiều, nôn ra máu, đại tiện phân đen như nhựa đường

Hẹp môn vị làm bệnh nhân nôn nhiều, không thể ăn đƣợc, ăn vào gây nôn và đau bụng, khiến cơ thể bị suy nhƣợc

Thủng dạ dày hoặc tá tràng là tình trạng nguy hiểm, khi bệnh nhân đột ngột cảm thấy đau bụng dữ dội, bụng căng cứng và có thể nôn ra máu Nếu không được cấp cứu kịp thời, tình trạng này có thể dẫn đến nguy cơ tử vong cao.

Ung thư dạ dày thường xuất phát từ loét dạ dày, trong khi loét hành tá tràng không gây ra ung thư Nhiều người bị đau dạ dày kéo dài hàng chục năm mà không được điều trị triệt để, dẫn đến tình trạng sức khỏe suy giảm nghiêm trọng và khi đi khám, họ đã phát hiện mắc ung thư.

Trước đây, việc chụp X-quang được sử dụng để chẩn đoán loét dạ dày - tá tràng, nhưng phương pháp này không chính xác và không xác định được tính chất của ổ loét, liệu là lành tính hay ác tính.

Ngày nay, nội soi dạ dày - tá tràng bằng ống mềm cho phép bác sĩ quan sát trực tiếp tổn thương và thực hiện sinh thiết để chẩn đoán nhiễm Helicobacter pylori Trong trường hợp nghi ngờ về ổ loét dạ dày ác tính, sinh thiết vi thể giúp phát hiện tế bào ác tính Ngoài ra, nội soi còn hỗ trợ theo dõi quá trình liền sẹo và hồi phục của ổ loét.

Điều trị

Mục tiêu của điều trị viêm loét dạ dày, hành tá tràng là làm liền ổ loét, giảm đau và ngăn ngừa biến chứng

1.6.2 Nguyên tắc và thời gian

Nguyên tắc điều trị bệnh là không sử dụng phối hợp các loại thuốc có cùng cơ chế tác động Phương pháp điều trị chủ yếu là nội khoa, và phẫu thuật chỉ được thực hiện khi điều trị nội khoa không hiệu quả hoặc khi có biến chứng cần can thiệp phẫu thuật.

Thời gian điều trị từ 4 – 8 tuần/đợt điều trị, có thể kéo dài tùy thuộc từng trường hợp cụ thể

Nên kiểm tra nội soi lại sau mỗi đợt điều trị để có đánh giá chính xác tình trạng bệnh

1.6.3 Thuốc điều trị viêm loét dạ dày-tá tràng

Hiện nay, có rất nhiều loại thuốc điều trị viêm loét dạ dày – tá tràng với mục đích điều trị nhƣ sau:

1.6.4 Giảm yếu tố gây loét

Dùng thuốc ức chế bào tiết acid clohydric và peppsin

Dùng thuốc trung hoà acid clohydric đã đƣợc bài tiết vào dạ dày – tá tràng

1.6.5 Tăng cường yếu tố bảo vệ niêm mạc

Dùng các thuốc bao phủ niêm mạc và băng bó ổ loét

Dùng thuốc kích thích sản xuất chất nhầy (mucin) hoặc các phương pháp kích thích sự tái tạo niêm mạc bằng Laser cường độ thấp – Heli – Neon

Dùng các kháng sinh và các chất diệt khuẩn nhƣ Bismuth

1.6.7 Dinh dưỡng cho người bị viêm loét dạ dày tá tràng

Ngoài việc sử dụng thuốc điều trị duy trì, chế độ ăn uống đóng vai trò quan trọng trong việc điều trị bệnh nhân loét dạ dày – tá tràng Một chế độ ăn uống hợp lý không chỉ hỗ trợ quá trình điều trị mà còn góp phần tích cực vào kết quả sức khỏe của bệnh nhân.

Bệnh nhân nên kiêng ăn những thực phẩm dễ gây kích thích như rượu, gia vị cay như ớt và hạt tiêu, cũng như các thực phẩm có tính axit cao như trái cây chua và giấm Ngoài ra, việc hút thuốc lá và thuốc lào cũng cần được tránh hoàn toàn.

Tuỳ thuộc vào từng giai đoạn bệnh và các biến chứng kèm theo Đối với Bệnh nhân đang bị xuất huyết tiêu hóa, đâng đợt đau:

Bệnh nhân nên nằm yên, hạn chế di chuyển và tránh thay đổi tư thế đột ngột Nên tiêu thụ các thực phẩm lỏng như sữa và nước cháo, chia thành nhiều bữa nhỏ cho đến khi cơn đau và triệu chứng xuất huyết tiêu hóa (đi ngoài phân vàng) giảm dần, sau đó mới chuyển sang chế độ ăn đặc hơn như cháo.

14 cơm nát) rồi ăn dần dần trở lại bình thường Ăn chậm, nhai kỹ

Vào buổi tối, bạn nên ăn một miếng bánh ngọt hoặc uống một cốc sữa nhỏ để tránh cảm giác đói, không cần thiết phải ăn cơm nếp như trước Ngoài ra, việc tái khám sau mỗi đợt điều trị là rất quan trọng, giúp bác sĩ so sánh kết quả trước và sau khi điều trị, từ đó nâng cao hiệu quả chữa trị bệnh.

Phòng ngừa

Để phòng ngừa bệnh dạ dày, mỗi người cần duy trì chế độ ăn uống hợp lý và hạn chế thói quen sử dụng bia rượu Khi gặp phải các triệu chứng như đau lưng hay đau nhức xương khớp, không nên tự ý mua thuốc giảm đau hay chống viêm mà cần tham khảo ý kiến của bác sĩ Đặc biệt, để ngăn ngừa bệnh viêm loét dạ dày do vi khuẩn Hp, việc giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, ăn chín, uống sôi, và đảm bảo thực phẩm sạch là rất quan trọng.

Để bảo vệ niêm mạc dạ dày và giảm kích thích tiết dịch vị, nên sử dụng thức ăn mềm, ít tác dụng cơ giới, ưu tiên các loại tinh bột có khả năng bọc, hút, thấm như sữa, gạo nếp, bánh nếp, bánh mì, bánh bột năng, cơm và bánh quy.

Để bảo vệ sức khỏe dạ dày, nên tránh sử dụng các loại thực phẩm kích thích tiết nhiều dịch vị như ớt, tiêu, giấm, cà ri, mù tạc, trái cây chua, sữa chua, dưa hành, dưa cà muối chua, nước dùng thịt, các món ăn lên men như mắm, tương, cháo, và thịt nguội chế biến sẵn Ngoài ra, cũng cần hạn chế tiêu thụ các món rán xào để duy trì sự cân bằng cho dạ dày.

Chất béo từ cá, bao gồm mỡ cá và cá mỡ, rất được khuyến khích sử dụng vì chúng cung cấp nhiều acid béo thiết yếu và năng lượng cần thiết cho cơ thể Thực phẩm giàu kẽm như hàu, sò, thịt và cá có tác dụng hỗ trợ quá trình lành vết thương nhanh chóng Ngoài ra, vitamin A cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của lớp tế bào biểu mô niêm mạc dạ dày.

Người bị viêm loét dạ dày – tá tràng cần thiết lập chế độ làm việc và thời gian biểu hợp lý, bao gồm học tập, lao động và nghỉ ngơi, để tránh căng thẳng và áp lực tâm lý Việc xây dựng lối sống lành mạnh, cân bằng giữa học tập, vui chơi và ăn uống điều độ sẽ giúp hình thành thói quen tốt cho hệ tiêu hóa, đặc biệt là cho dạ dày.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tương, địa điểm và thời gian nghiên cứu

Bệnh nhân nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Mèo Vạc được chẩn đoán viêm loét dạ dày tá tràng sau khi thực hiện nội soi dạ dày.

 Cỡ mẫu nghiên cứu: 123 bệnh nhân

Bệnh nhân có tiền sử viêm loét dạ dày tá tràng thường gặp các triệu chứng như đau vùng thượng vị, trào ngược dạ dày thực quản và hội chứng dạ dày.

- Bệnh nhân đƣợc nội soi dạ dày thực quản

Nghiên cứu này tập trung vào những bệnh nhân có triệu chứng xuất huyết tiêu hóa trên không liên quan đến giãn vỡ tĩnh mạch thực quản, và đã được thực hiện nội soi dạ dày thực quản để chẩn đoán.

- Bệnh nhân không đồng ý tham gia

- Các bênh nhân có triệu chứng của hội chứng dạ dày mà không đƣợc nội soi dạ dày thực quản

- Các bệnh nhân có triệu chứng xuất huyết tiêu hóa do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản xác định đƣợc quan nội soi

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

 Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Đa khoa Mèo Vạc

 Thời gian nghiên cứu từ tháng 08/2019 đến tháng 08/2020

Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu Đây là nghiên cứu hồi cứu, kết hợp mô tả cắt ngang

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

Thu thập thông tin từ bệnh nhân nội trú có bệnh án lưu tại Bệnh viện Đa khoa huyện Mèo Vạc

Bài viết này tập trung vào việc thu thập thông tin từ bệnh án của bệnh nhân đang điều trị nội trú với chẩn đoán viêm loét dạ dày tá tràng, kèm theo kết quả nội soi Việc này giúp xác định tình trạng bệnh lý và đưa ra phương pháp điều trị phù hợp.

Các chỉ tiêu nghiên cứu

2.3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm chung

- Tuổi: Ghi nhận tuổi cụ thể của từng bệnh nhân, sau đó phân chia theo các nhóm tuổi: ≤ 30 tuổi, 31-50 tuổi, 51-70 tuổi, > 70 tuổi

-Nghề nghiệp: Phân chia theo nhóm

+ Nhóm lao động chân tay: Nông dân, thợ,…

+ Nhóm lao động trí óc: Cán bộ hành chính, giáo viên, sinh viên, học sinh,…

- Địa chỉ: phân chia theo các xã

2.3.2 Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng

-Tiền sử loét DDTT: có hay không tiền sử đau loét DDTT , thời gian mắc bệnh, quá trình điều trị?

- Tiền sử dung các loại thuốc giảm đau, tâm lý, stress,…

-Cơ năng: tính chất đau bụng, buồn nôn, ợ hơi, ợ chƣa

+ Tư thế người bệnh: Nằm cân đối, hai tay duỗi thẳng hai bên người, hai chân hơi co để làm mềm thành bụng

+ Tư thế thầy thuốc: Ngồi hoặc đứng bên phải người bệnh

- Khám: bộc lộ hết vùng bụng

+ Nhìn: Tìm dấu hiệu rắn bò vùng thƣợng vị da hẹp môn vị, có tuần hoàn bang hệ hay không?

Để tiến hành kiểm tra, hãy đặt lòng bàn tay sát vào thành bụng của bệnh nhân và yêu cầu họ thở đều Khám vùng bụng theo nhịp thở của bệnh nhân, bắt đầu từ khu vực không đau trước khi kiểm tra vùng đau sau.

+ Tìm điểm đau, trong loét dạ dày bệnh nhân thường đau thượng vị lệch trái, loét tá tràng bệnh nhân thường đau thượng vị lệch phải

+ Gõ bụng: gõ theo đường dọc từ mạn sườn bên này sang mạn sườn bên kia

2.3.3 Nội soi dạ dày tá tràng

 Chuẩn bị máy nội soi

Máy nội soi dạ dày, đại tràng EPX-2500 Hãng sản xuất Fujifilm Nhật Bản, máy hiện tại dang đƣợc sử dụng tại Bệnh viện Đa khoa Mèo Vạc

Hình 2.1: Máy nội soi dạ dày tá tràng tại Bệnh viện đa khoa Mèo Vạc

Xử lý và phân tích số liệu

Số liệu đƣợc thu thập xử lý bằng các thuật toán thống kê sử dụng trong y học sinh học với phần mềm SPSS 20.0

Các biến liên tục được thể hiện thông qua số trung bình và độ lệch chuẩn (SD), với các giá trị được tính toán có một chữ số sau dấu thập phân.

Các giá trị phần trăm tính đƣợc, lấy đến một chữ số sau dấu thập phân.

Đạo đức nghiên cứu

Trước khi tiến hành nghiên cứu, bệnh nhân được giải thích rõ ràng về quy trình và mục đích của nghiên cứu Sự đồng ý của bệnh nhân là điều kiện tiên quyết để thực hiện nghiên cứu Đồng thời, chúng tôi cam kết bảo mật thông tin liên quan đến sức khỏe cũng như các thông tin cá nhân khác của đối tượng nghiên cứu.

Các thông tin thu đƣợc chỉ nhằm mục đích nghiên cứu và phục vụ cho khám chữa bệnh giúp điều trị tốt hơn

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu

3.1.1 Phân bố đối tƣợng nghiên cứu theo nhóm tuổi

Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi

Nhận xét: Đối tƣợng nghiên cứu gặp ở mọi độ tuổi, gặp nhiều nhất ở độ tuổi

(31-50), chiếm 46,3% Tuổi nhỏ nhất là 19, tuổi lớ nhất là 64 Tuổi trung bình 37,8 ± 12,2 tuổi

3.1.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới

Biểu đồ 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới

Nhận xét: Tỷ lệ gặp ở giới nam là 56,9%, nhiều hơn nữ giới là 43,1%

3.1.3 Phân bố đối tƣợng theo nghề nghiệp

Bảng 3.2 Phân bố đối tượng theo nghề

Hình thức lao động Số lƣợng Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân thuộc nhóm nông dân chiếm cao nhất 61,7% nhóm học sinh chiếm tỷ lệ thấp nhất (1,8%)

3.1.4 Phân bố theo dân tộc

Bảng 3.3 Phân bố theo dân tộc

Dân tộc Số lƣợng Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Nhóm người dân tộc Mông chiếm chủ yếu (65,8%)

Tiền sử và yếu tố nguy cơ

Bảng 3.4 Phân bố về tiền sử loét dạ dày tá tràng

Có tiền sử loét DDTT 77 58,5

Không có tiền sử loét DDTT 51 41,5

Nhận xét: Có đến 41,5% bệnh nhân không có tiền sử loét dạ dày tá tràng trước đó

Bảng 3.5 Yếu tố nguy cơ

Thuốc kháng viêm không steroid 18 14,7

Không có yếu tố khởi phát 57 45,5

Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân tìm thấy yếu tố khởi phát cơn đau là 54,4%

Tỷ lệ bệnh nhân không tìm thấy yếu tố khởi phát cơn đau chiếm 45,5%

Đặc điểm triệu chứng lâm sàng

Bảng 3.6 Triệu chứng đau bụng thượng vị

Lý do chính đi khám n % p Đau thƣợng vị 112 91,1

Nhận xét: Có 91,1% bệnh nhân đi khám vì đau bụng thƣợng vị, chiếm tỷ lệ cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không đau bụng thƣợng vị (p< 0,001)

Bảng 3.7 Tổng hợp các triệu chứng khác khi bệnh nhân đến khám

(Se) Độ đặc hiệu (Sp)

Buồn nôn, nôn 97 78,8 78,8 46,3 Ợ hơi, ợ chua 102 82,9 82,9 85,4

Gày sút cân 12 9,7 9,7 7,5 Ỉa phân đen 26 13,1 13,1 16,7

Cảm giác ợ hơi và ợ chua là triệu chứng phổ biến, chiếm 82,9% và có độ nhạy cùng độ đặc hiệu tương đối cao Triệu chứng buồn nôn cũng thường gặp, với tỷ lệ 78,8%, nhưng độ đặc hiệu chỉ đạt 46,3% Trong khi đó, tỷ lệ gầy sút cân và ỉa phân đen lại thấp hơn.

Biểu đồ 3.2: Triệu chứng cơ năng của đối trượng nghiên cứu

Triệu chứng cơ năng phổ biến nhất ở bệnh nhân là đau bụng, chiếm 91,1% Ngoài ra, đầy bụng và ợ hơi, ợ chua cũng thường gặp, với tỷ lệ lần lượt là 17,3%, 38,7% và 35,9% Trong khi đó, triệu chứng nôn máu có tỷ lệ thấp nhất, chỉ đạt 2,9%.

Bảng 3.8 Triệu chứng thực thể

Triệu chứng n % Đau thƣợng vị 112 91,1

Dấu hiệu lóc xóc lúc đói 48 39,1

Nhận xét: Khám thực thể có 91,1% đau bụng thƣợng vị, chiếm tỷ lệ cao hơn có ý nghĩa thống kê (p< 0,001) Dấu hiệu lóc xóc lúc dói chiếm 39,1%

100 đau bụng Buồn nôn, nôn đầy bụng ợ hơi ợ chua nôn máu

Kết quả nội soi dạ dày tá tràng

Bảng 3.9 Tỷ lệ bệnh nhân viêm loét dạ dày hành tá tràng theo kết quả nội soi

Nhận xét : Viêm trợt là thể có tỷ lệ gặp cao nhất 76,25% trên nội soi Tổn thương loét chiếm 14,6% Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

Bảng 3.10 Đặc điểm vị trí tổn thương

Nhận xét: Loét hành tá tràng chiếm tỷ lệ cao nhất (45,5%) thấp nhất là viêm loét thể kết hợp (10,6%) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

BÀN LUẬN

Một số thông tin chung về đối tƣợng nghiên cứu

Trong nghiên cứu với 123 bệnh nhân, nhóm tuổi từ 31-50 chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt 46,3% Độ tuổi của bệnh nhân dao động từ 16 đến 67, với tuổi trung bình là 37,8 ± 12,2 Độ tuổi này thường nằm trong giai đoạn lao động, khi họ đang ở đỉnh cao sự nghiệp và có những đóng góp lớn cho gia đình và xã hội Áp lực công việc và lo toan cho cuộc sống có thể ảnh hưởng đến sức khỏe, dẫn đến việc họ phải tìm đến dịch vụ y tế.

Tại Canada, tỷ lệ viêm loét dạ dày tá tràng đang gia tăng, theo nghiên cứu của Megan Johnston Bên cạnh đó, nghiên cứu của Amiot A và cộng sự chỉ ra rằng độ tuổi trung bình của bệnh nhân mắc viêm loét tá tràng là 37,2 ± 9,7 tuổi.

Melanie Nicole Weck và Hermann Brenner đã thực hiện một tổng quan về viêm dạ dày-tá tràng, bao gồm 50 nghiên cứu, trong đó có 15 nghiên cứu dựa vào nội soi dạ dày và 26 nghiên cứu dựa vào nồng độ pepsinogen máu Tác giả kết luận rằng viêm dạ dày mãn tính gia tăng theo tuổi tác, không có sự khác biệt về giới tính trong các đối tượng nghiên cứu Tuy nhiên, có sự khác biệt lớn giữa quần thể nghiên cứu này và các quần thể khác, đặc biệt là ở người châu Á.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ nam giới chiếm 56,9% trong khi tỷ lệ nữ giới là 43,1% Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê.

Theo nghiên cứu của Robert Whittle, tỷ lệ mắc bệnh loét do dịch vị giữa nam và nữ có sự chênh lệch đáng kể, với 11-20% nam giới mắc bệnh so với chỉ 8-11% nữ giới Điều này cho thấy số lượng nam mắc bệnh này gấp đôi so với nữ Cũng theo Ali M Al-Yassan, trong số 90 bệnh nhân bị loét dạ dày dịch vị, có đến 72 bệnh nhân là nam và chỉ 18 bệnh nhân là nữ.

Theo bảng 3.2, 61,7% bệnh nhân là nông dân, tiếp theo là cán bộ, công nhân viên chức chiếm 20,3% Các nghề nghiệp khác như lực lượng vũ trang, công nhân và nội trợ chỉ chiếm 16,2% Số lượng nông dân đi khám bệnh nhiều do thói quen ăn uống với nhiều đồ chua cay, uống rượu và hút thuốc lá, thuốc lào Hơn nữa, hầu hết người đăng ký bảo hiểm tại Bệnh viện Mèo Vạc là người dân tộc thiểu số làm nông nghiệp.

Mèo Vạc là huyện miền núi thuộc tỉnh Hà Giang, với dân số hơn 80.000 người, sinh sống đa dạng các dân tộc thiểu số như Mông, Tày, Dao, Nùng, và Lô Lô Theo bảng số liệu, tỷ lệ bệnh nhân người dân tộc Mông chiếm 65,8%, trong khi dân tộc Kinh chiếm 22,7% và các dân tộc khác chiếm 11,5%, phản ánh sự đa dạng về thành phần dân tộc tại huyện.

Tiền sử và các yếu tố nguy cơ

Tiền sử bệnh cho thấy 58,5% bệnh nhân từng trải qua đau do viêm loét dạ dày tá tràng, cho thấy tỷ lệ tái phát bệnh cao Điều này phản ánh thói quen ăn uống của người dân và việc kiểm soát các yếu tố nguy cơ liên quan.

Theo bảng 3.5, 54,5% bệnh nhân xác định được yếu tố khởi phát cơn đau, với stress chiếm 20,3%, rượu 19,5% và thuốc kháng viêm Non-Steroid 14,7% Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra mối liên hệ giữa những yếu tố này và sự xuất hiện của cơn đau.

27 thuốc NSAIDs là yếu tố chính thứ 2 ( Helicobacter pylori) là yếu tố khởi phát cơn đau cũng nhƣ các biến chứng của viêm loét dạ dày tá tràng.

Đặc điểm triệu chứng lâm sàng

Nghiên cứu này cho thấy phân bố bệnh VLDD-TT theo triệu chứng lâm sàng trong nhóm bệnh nhân, với 91,1% bệnh nhân gặp phải đau thượng vị, 82,8% có triệu chứng ợ hơi hoặc ợ chua, 17,3% biểu hiện đầy bụng, 16,8% có triệu chứng buồn nôn và nôn, trong khi 2,9% bệnh nhân có hiện tượng nôn ra máu.

Theo bảng 3.8, 91,1% bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu gặp triệu chứng đau bụng thượng vị, trong khi 39,1% bệnh nhân có dấu hiệu lóc xóc khi đói, liên quan đến loét hành tá tràng.

Triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân viêm loét dạ dày tá tràng (VLDD-TT) chủ yếu là các triệu chứng kinh điển Theo cuốn Bệnh học Nội khoa tập II của trường đại học Y Hà Nội, triệu chứng của loét dạ dày bao gồm đau bụng, khó tiêu, và cảm giác no sớm sau khi ăn.

- Rối loạn dinh dƣỡng ở dạ dày biểu hiện ợ hơi, ợ chua, nấc và buồn nôn

- Hội chứng rối loạn thần kinh thực vật như chướng hơi, táo bón

- Ở người trẻ tuổi viêm loét hang vị có ợ chua, ợ nóng

- Thăm khám bụng trong cơ đau có thể có:

+ Co cứng vùng thƣợng vị

+ Có dấu hiệu lóc xóc do ứ đọng thức ăn ở dạ dày Bệnh nhân có loét hành tá tràng

Theo Padmavathi GV [50], triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân của tác giả gồm:

- Mất cảm giác muốn ăn

- Rát bỏng vùng thƣợng vị

- Rối loạn chức năng khác của đường tiêu hoá.

Ngày đăng: 10/06/2021, 00:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Hoàng Trọng Châu (dịch từ James C.R)(1995), “Famotidin trong điều trị loét tá tràng tiến triển”, Thông tin tiêu hóa gan mật, tr.1-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Famotidin trong điều trị loét tá tràng tiến triển
Tác giả: Hoàng Trọng Châu (dịch từ James C.R)
Năm: 1995
3. Phạm Thị Thu Hồ (2002), “Điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng”, Tài liệu tập huấn chuyên ngành tim mạch-tiêu hóa-nội tiết, Hà Nội, tr.125-138 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng
Tác giả: Phạm Thị Thu Hồ
Năm: 2002
4. Hoàng Trọng Thảng (2002), “Loét dạ dày trá tràng”, Bệnh tiêu hóa gan mật, Nhà xuât bản y học, tr.118-135 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loét dạ dày trá tràng
Tác giả: Hoàng Trọng Thảng
Năm: 2002
10. Nguyễn Thị Út .(2016). “Đặc điểm dịch tễ lâm sàng và kết quả điều trị của một số phác đồ điều trị viêm loét dạ dày, tá tràng do Helicobacter pylori kháng kháng sinh tại bệnh viện Nhi Trung Ƣơng”, Luận văn tiến sĩ y học, Đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm dịch tễ lâm sàng và kết quả điều trị của một số phác đồ điều trị viêm loét dạ dày, tá tràng do Helicobacter pylori kháng kháng sinh tại bệnh viện Nhi Trung Ƣơng
Tác giả: Nguyễn Thị Út
Năm: 2016
11. Nguyễn Hoài Chân, Nguyễn Gia Khánh và Phạm Thị Thu Hương .(2012). "Nghiên cứu một số đặc điểm nội soi và tổn thương mô bệnh học ở trẻ em đau bụng tái diễn có hội chứng dạ dày - tá tràng", Tạp chí Nhi khoa. 5(3), tr. 20- 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm nội soi và tổn thương mô bệnh học ở trẻ em đau bụng tái diễn có hội chứng dạ dày - tá tràng
Tác giả: Nguyễn Hoài Chân, Nguyễn Gia Khánh và Phạm Thị Thu Hương
Năm: 2012
12. Caroll H.(2014). “Peptic Ulcer Disease in Helicobacter pylori– InfectedChildren: Clinical Findings and MucosalImmune Response” Original Article : Gastroenterology. (JPGN 2014;59: 773–778) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Peptic Ulcer Disease in Helicobacter pylori– InfectedChildren: Clinical Findings and MucosalImmune Response
Tác giả: Caroll H
Năm: 2014
13. Lê Thọ (2014), “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học nhiễm Helicobacter pylori ở trẻ em vùng Tây Nguyên, Việt Nam”, Luận án tiến sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học nhiễm Helicobacter pylori ở trẻ em vùng Tây Nguyên, Việt Nam
Tác giả: Lê Thọ
Năm: 2014
15. Nijevitch A.A. and Shcherbakov P.L. (2004), "Helicobacter pylori and gastrointestinal symptoms in school children in Russia", J Gastroenterol Hepatol. 19(5), pp. 490-496 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Helicobacter pylori and gastrointestinal symptoms in school children in Russia
Tác giả: Nijevitch A.A. and Shcherbakov P.L
Năm: 2004
16. Hoang TTH, Bengtsson C, Phung DC. et al. (2005), "Seroprevalence of Helicobacter pylori infection in urban and rural Vietnam", Clin Diagn Lab Immunol. 12(1), pp. 81-85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Seroprevalence of Helicobacter pylori infection in urban and rural Vietnam
Tác giả: Hoang TTH, Bengtsson C, Phung DC. et al
Năm: 2005
17. Marshall BJ and Warren JR(1984), "Unidentified curved bacilli in the stomach of patients with gastritis and peptic ulceration", Lancet. 1, pp. 1311-1315 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Unidentified curved bacilli in the stomach of patients with gastritis and peptic ulceration
Tác giả: Marshall BJ and Warren JR
Năm: 1984
19. Nguyễn Thị Cẩm Tú, Phạm Thị Ngọc Tuyết, Nguyễn Anh Tuấn (2011), “Viêm, loét dạ dày - tá tràng do Helicobacter pylori ở trẻ em: đặc điểm lâm sàng, nội soi và hiệu quả tiệt trùng của phác đồ OAC”, Tạp chí Nhi khoa, 4(1), tr. 14-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viêm, loét dạ dày - tá tràng do Helicobacter pylori ở trẻ em: đặc điểm lâm sàng, nội soi và hiệu quả tiệt trùng của phác đồ OAC
Tác giả: Nguyễn Thị Cẩm Tú, Phạm Thị Ngọc Tuyết, Nguyễn Anh Tuấn
Năm: 2011
25. Ugras M. and Pehlivanoglu E. (2011), "Helicobacter pylori infection and peptic ulcer in eastern Turkish children: is it more common than known?", Turk J Pediatr. 53(6), pp. 632-637 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Helicobacter pylori infection and peptic ulcer in eastern Turkish children: is it more common than known
Tác giả: Ugras M. and Pehlivanoglu E
Năm: 2011
28. Cam S.(2014). “Risk of Gastric Cancer in Children with Helicobacter pylori Infection” H. pylori Infection and Gastric Lesions in Paediatric Cases 10.7314/APJCP.2014.15.22.9905 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Risk of Gastric Cancer in Children with Helicobacter pylori Infection
Tác giả: Cam S
Năm: 2014
29. Malaty HM, El-Kasabany A, Graham DY et al. (2002). "Age at acquisition of Helicobacter pylori infection: a follow-up study from infancy to adulthood", Lancet. 359, pp. 131-135 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Age at acquisition of Helicobacter pylori infection: a follow-up study from infancy to adulthood
Tác giả: Malaty HM, El-Kasabany A, Graham DY et al
Năm: 2002
5. Nguyễn Thị Việt Hà và Nguyễn Gia Khánh ,(2010). "Nghiên cứu tình trạng kháng kháng sinh ở trẻ em bị viêm dạ dày tá tràng có nhiễm Helicobacter pylori tại bệnh viện Nhi trung ƣơng , Tạp chí Nhi khoa. 3(3&amp;4), tr. 211-217 Khác
14. Alev Cınar, Murat Sadıc. Hasan İkbal Atılgan(2015), Prevalence of Helicobacter Pylori Infection in School and Pre-School Aged Children with C- 14 Urea Breath Test and the Association with Familial and Environmental Factors , Original Article Molecular Imaging and Radionuclide Therapy 2015;24(2): 66-70 DOI: 10.4274/mirt.53215 Khác
18. Manginean C. O và Coitoi O. S., Ana MP và cộng sự(2013) Assessment of the relationship between Helicobacter pylori infection, endoscopic appearance and histological changes of the gastric mucosa in children with gastritis (a single center experience), Rom J Morphol Embryol 2013, 54(3 Suppl):709–715 Khác
20. Nguyễn Thái Hƣng(2012) “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ , lâm sàng và nội soi dạ dày, tá tràng ở trẻ em đau bụng tái diễn tại khoa nhi bệnh viên trung ƣơng Huế “Y học Việt Nam, 4(2), tr. 552-560 Khác
26. Rodolfo VC, Arturo LG, Mariana LG (2014) “Antral atrophy, intestinal metaplasia, and preneoplastic markers in Mexican children with Helicobacter Khác
27. Yolanda JG, Jesu S.N.C, Vero N.A.M(2011) Chronic Gastritis Associated with Helicobacter pylori in Mexican Children: Histopathological Patterns .Pediatric and Developmental Pathology 14, 93–98, 2011 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w