1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

VĂN KIỆN DỰ ÁN HỖ TRỢ KỸ THUẬT AN TOÀN THỰC PHẨM VÌ SỰ PHÁT TRIỂN (SAFEGRO)

43 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 822,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. BỐI CẢNH VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA DỰ ÁN (5)
    • 1.1 Bối cảnh (5)
    • 1.2. Hiện trạng và mối quan hệ các dự án, chương trình có liên quan (8)
    • 1.3. Tính cần thiết của dự án (9)
  • II. CƠ SỞ ĐỀ XUẤT NHÀ TÀI TRỢ (9)
    • 2.1 Tính phù hợp của mục tiêu dự án với chính sách và định hướng ưu tiên của nhà tài trợ (9)
    • 2.2 Lý do lựa chọn và lợi thế của nhà tài trợ về công nghệ, kinh nghiệm quản lý, tư vấn chính sách thuộc lĩnh vực được tài trợ (10)
    • 2.3 Các điều kiện ràng buộc theo quy định của nhà tài trợ (nếu có) và khả năng đáp ứng các điều kiện này phía Việt Nam (11)
  • III. MỤC TIÊU CỦA DỰ ÁN (11)
    • 3.1 Mục tiêu tổng thể (11)
    • 3.2. Mục tiêu cụ thể (12)
  • IV. MÔ TẢ DỰ ÁN (12)
    • 4.1. Kết quả chung của Dự án (12)
    • 4.2. Các hợp phần dự án (12)
    • 4.3 Các kết quả cụ thể dự kiến đạt được của dự án (13)
    • 4.4 Các hoạt động của dự án (13)
  • V. ĐỐI TƯỢNG THỤ HƯỞNG (17)
  • VI. KẾ HOẠCH THỰC HIỆN, GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ DỰ ÁN (17)
    • 6.1. Các hoạt động thực hiện trước (17)
    • 6.2. Sơ đồ ma trận thiết kế Dự án (18)
    • 6.3. Khung thời gian thực hiện các hoạt động của Dự án (18)
    • 6.4. Kế hoạch giám sát và đánh giá Dự án (18)
  • VII. TỔ CHỨC QUẢN LÝ THỰC HIỆN DỰ ÁN (19)
    • 7.1. Mô hình tổ chức hoạt động (19)
    • 7.2. Ban chỉ đạo Dự án (22)
    • 7.3. Tổ công tác liên ngành (22)
    • 7.4. Ban điều phối dự án (23)
    • 7.5. Nhóm công tác (24)
  • VIII. KINH PHÍ THỰC HIỆN DỰ ÁN (24)
  • IX. CƠ CHẾ TÀI CHÍNH TRONG NƯỚC ĐỐI VỚI DỰ ÁN (27)
    • 9.1. Cơ chế tài chính (27)
    • 9.2. Hình thức giải ngân (28)
    • 9.3 Kiểm toán Dự án (28)

Nội dung

BỐI CẢNH VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA DỰ ÁN

Bối cảnh

a) Tình hình sản xuất thực phẩm nông lâm thủy sản

Trong những năm qua, kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn với tốc độ tăng trưởng GDP cao và ổn định Sản xuất nông lâm thủy sản liên tục tăng trưởng về số lượng, cơ cấu sản phẩm và giá trị xuất khẩu, đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo an ninh lương thực, tạo việc làm và thu nhập cho người dân Thành tựu này không chỉ góp phần xóa đói giảm nghèo mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế và ổn định chính trị xã hội Đời sống người dân ngày càng được cải thiện nhờ vào sự đóng góp của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, đặc biệt là ngành nông nghiệp, bộ phận thiết yếu trong nền kinh tế quốc dân của Việt Nam Nông nghiệp không chỉ đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn hỗ trợ xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp.

Với gần 70% dân số làm nghề nông, Việt Nam có lợi thế trong sản xuất nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực vượt trội so với nhiều nước đang phát triển ở châu Á Vai trò của nông nghiệp Việt Nam ngày càng quan trọng trong việc hỗ trợ an ninh lương thực cho các quốc gia khác Trong 10 năm qua, sản lượng lúa gạo đã tăng từ 39,2 triệu tấn năm 2009 lên 43,45 triệu tấn năm 2019, tương ứng với mức tăng 12,2%, cùng với sự gia tăng sản lượng rau các loại.

Ngành nông nghiệp Việt Nam không chỉ đảm bảo an ninh lương thực cho quốc gia mà còn xuất khẩu nhiều mặt hàng giá trị cao Với 80,5% sản lượng trái cây tăng 50%, Việt Nam nằm trong top 6 quốc gia hàng đầu về chỉ số này, đồng thời vai trò của Việt Nam trong việc hỗ trợ an ninh lương thực cho các quốc gia khác ngày càng được nâng cao.

Trong 30 năm đổi mới, ngành nông nghiệp Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng với sản xuất nông sản đa dạng và giá trị gia tăng cao Tuy nhiên, quy mô sản xuất vẫn còn manh mún và chất lượng nông sản chưa đáp ứng yêu cầu, chủ yếu xuất khẩu sản phẩm thô với giá trị thấp và thiếu thương hiệu quốc tế Công nghệ sản xuất chủ yếu mang tính truyền thống, với ứng dụng công nghệ cao còn hạn chế Hơn nữa, khu vực nông thôn, chiếm 70% dân số và 40% lực lượng lao động, đang đối mặt với thách thức lớn trong việc phát triển bền vững và nhanh chóng.

Việc Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào năm 2007 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu Sự tham gia của nước ta vào khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) cùng với các thỏa thuận thương mại song phương và đa phương như Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ và Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện với Nhật Bản đã tạo ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế.

Việt Nam đã chuyển mình từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế thị trường, hội nhập sâu rộng với nền kinh tế toàn cầu thông qua các hiệp định như CPTPP và EVFTA Kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam đã tăng trưởng mạnh mẽ, từ 12,6 tỷ USD năm 2007 lên 41,3 tỷ USD năm 2019, khẳng định vị thế cường quốc xuất khẩu nông lâm thủy sản thế giới với hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ Ngành nông sản không chỉ đóng góp vào nguồn cung lương thực ổn định trong nước mà còn tích lũy ngoại tệ, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế quốc gia.

Sự gia tăng sản xuất và xuất khẩu nông sản đã đóng góp đáng kể vào phát triển kinh tế và phục hồi sau khủng hoảng trong thập kỷ qua Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích này, vấn đề chất lượng và an toàn thực phẩm đã trở nên nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng Mặt trái của sự gia tăng sản xuất nhanh chóng đã dẫn đến nhiều thách thức, đặc biệt là an toàn vệ sinh thực phẩm, tác động tiêu cực đến chất lượng sống của cộng đồng, đặc biệt là những nhóm dễ bị tổn thương như trẻ em, phụ nữ mang thai và người cao tuổi.

An toàn thực phẩm đã trở thành một vấn đề được xã hội Việt Nam đặc biệt quan tâm Theo thống kê từ giai đoạn 2011-2016, trung bình mỗi năm ghi nhận 167,8 vụ ngộ độc thực phẩm, khiến 5.065 người bị ngộ độc và 27 người tử vong Tuy nhiên, tình hình đã có sự cải thiện trong những năm gần đây Năm 2019, cả nước ghi nhận 88 vụ ngộ độc thực phẩm với 2.235 người mắc, 2.150 người phải nhập viện và 11 trường hợp tử vong, giảm 20 vụ (18,5%), số người mắc giảm 1.237 người (35,6%), số người đi viện giảm 903 người (29,6%), và số tử vong cũng giảm.

Tỷ lệ lạm dụng vật tư nông nghiệp như thuốc thú y, hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật đã giảm 35,3% so với năm 2018, nhưng vẫn còn phổ biến do thiếu hiểu biết hoặc cố tình vi phạm quy trình vệ sinh trong sản xuất thực phẩm Điều này dẫn đến thực phẩm có tồn dư hóa chất độc hại và vi khuẩn gây bệnh, ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.

Thực phẩm không an toàn gây hại ngay lập tức cho sức khỏe người tiêu dùng và có thể dẫn đến những tác động tiêu cực lâu dài Ngoài ra, thực phẩm không an toàn còn làm giảm khả năng tiếp cận thị trường trong nước và xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng giữa các nhà cung cấp.

An toàn thực phẩm là vấn đề cần sự tham gia của toàn xã hội Rủi ro mất an toàn thực phẩm khó tránh khỏi, ngay cả ở các nước phát triển với hệ thống pháp luật và quản lý hiện đại Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ trong sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng thực phẩm để đảm bảo sức khỏe cộng đồng.

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong công tác quản lý an toàn thực phẩm, nhưng các sự cố liên quan đến an toàn thực phẩm vẫn tiếp diễn Báo cáo của Chính phủ về kết quả thực hiện công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm năm 2019 đã chỉ rõ vấn đề này khi trình Quốc hội.

Các cơ sở sản xuất và chế biến thực phẩm ở Việt Nam chủ yếu là nhỏ lẻ và hoạt động theo mùa vụ, với gần 8 triệu hộ nông dân tham gia trồng rau, nuôi gà, thả cá và trồng lúa Trong số gần 500 nghìn cơ sở chế biến thực phẩm, 85% là quy mô vừa và nhỏ, chủ yếu là hộ gia đình Việc sản xuất theo mùa vụ dẫn đến hạn chế trong đầu tư trang thiết bị và nhà xưởng Mô hình này đã tồn tại hàng trăm năm và cần được cải cách dần dần thay vì dẹp bỏ ngay lập tức.

Nhiều tập quán sử dụng thực phẩm không an toàn trong cộng đồng như ăn tiết canh, gỏi cá và chế biến thực phẩm tại hộ gia đình không đảm bảo vẫn tồn tại Để thay đổi những thói quen này, cần vận động và tuyên truyền, không thể chỉ dựa vào biện pháp hành chính, và điều này đòi hỏi thời gian.

Một bộ phận người dân, đặc biệt là ở vùng nông thôn và vùng sâu, vùng xa, đang phải đối mặt với tình trạng kinh tế khó khăn, dẫn đến việc họ không đủ khả năng tài chính để mua thực phẩm chất lượng cao Hệ quả là, họ buộc phải chấp nhận sử dụng thực phẩm trôi nổi, giá rẻ, mặc dù nhận thức rõ về nguy cơ ngộ độc thực phẩm có thể xảy ra.

Hiện trạng và mối quan hệ các dự án, chương trình có liên quan

Trong thời gian qua, nhiều dự án hợp tác quốc tế đã được triển khai nhằm hỗ trợ Chính phủ Việt Nam nâng cao năng lực kiểm soát an toàn thực phẩm Các dự án tiêu biểu bao gồm: Dự án xây dựng và kiểm soát chất lượng nông sản thực phẩm do Cơ quan phát triển quốc tế Canada (CIDA) tài trợ từ 2008 đến 2013; Dự án tăng cường năng lực Hệ thống kiểm soát An toàn thực phẩm nông sản và thủy sản do Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tài trợ giai đoạn 2011-2014; và Dự án hỗ trợ kiểm soát an toàn thực phẩm cho một số sản phẩm nông lâm thủy sản do Chính phủ Đan Mạch tài trợ từ tháng 9/2014 đến tháng 6/2015.

8 theo chuỗi giá trị sản phẩm nông lâm thủy sản do Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) tài trợ giai đoạn 2014-2016

Một số dự án quan trọng đang triển khai nhằm nâng cao năng lực kiểm nghiệm và đảm bảo an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nông lâm thủy sản, bao gồm dự án RETAQ sử dụng nguồn vốn viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Nhật Bản trong giai đoạn 2019-2021, cùng với dự án Hợp tác Chiến lược về an toàn thực phẩm trong chuỗi giá trị thịt lợn do Chính phủ Đan Mạch tài trợ giai đoạn 2020-2022.

Việt Nam và Hà Lan đang triển khai Dự án “Tăng cường hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc tại Việt Nam”, nhằm cải thiện năng lực đánh giá nguy cơ và quản lý an toàn thực phẩm Dự án cũng tập trung vào việc nâng cao truyền thông về an toàn thực phẩm, cải thiện khả năng truy xuất nguồn gốc, và giảm thiểu thất thoát thực phẩm trong chuỗi giá trị nông sản.

Các dự án triển khai hoạt động hỗ trợ lẫn nhau nhằm cải thiện an toàn thực phẩm tại Việt Nam sẽ không bị trùng lặp Mục tiêu chung của các dự án này là nâng cao chất lượng an toàn thực phẩm trong cả nước.

Tính cần thiết của dự án

Việt Nam cần sự hỗ trợ kỹ thuật quốc tế, đặc biệt từ các nước phát triển như Canada, để nâng cao năng lực quản lý và kiểm soát an toàn thực phẩm (ATTP) trong chuỗi giá trị sản xuất nông lâm thủy sản Việc này sẽ giúp cải thiện khả năng cạnh tranh trong sản xuất và tiêu thụ nông sản thực phẩm an toàn, đồng thời đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng về chất lượng và giá cả hợp lý Sự hợp tác này góp phần cải thiện công tác bảo đảm ATTP trong bối cảnh hội nhập, mang lại phúc lợi cho người tiêu dùng và các tác nhân trong lĩnh vực nông sản thực phẩm, bao gồm cả nông dân nghèo tại Việt Nam.

CƠ SỞ ĐỀ XUẤT NHÀ TÀI TRỢ

Tính phù hợp của mục tiêu dự án với chính sách và định hướng ưu tiên của nhà tài trợ

Năm 2008, Chính phủ Canada đã tài trợ cho Việt Nam Dự án "Xây dựng và kiểm soát chất lượng nông sản thực phẩm (FAPQDC)" với kinh phí 17,48 triệu đô la Canada, do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chủ trì Dự án diễn ra từ tháng 3/2008 đến tháng 3/2014, nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật thực thi Luật An toàn thực phẩm, đặc biệt trong nông nghiệp Nó còn tăng cường năng lực kiểm tra an toàn thực phẩm và tổ chức kiểm soát theo chuỗi giá trị nông sản, gắn với xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mại, nhằm cải thiện an toàn thực phẩm và khả năng tiếp cận thị trường cho nông sản Việt Nam.

Năm 2013, đánh giá độc lập Dự án đã chỉ ra rằng việc hoàn thiện và thực thi hiệu quả chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế bền vững, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, nơi mà tình trạng đói nghèo chủ yếu tập trung ở lao động nông thôn Để nâng cao chất lượng và an toàn thực phẩm nông sản, cũng như tăng cường tính cạnh tranh của ngành nông nghiệp Việt Nam, cần có sự hỗ trợ về thể chế và kỹ thuật.

Việt Nam là một trong những quốc gia được Canada hỗ trợ phát triển, đóng vai trò là đối tác thương mại quan trọng tại Đông Nam Á và là thị trường ưu tiên trong lĩnh vực đào tạo quốc tế Trong khuôn khổ Diễn đàn Tăng trưởng Châu Á (Grow Asia), Việt Nam cùng các quốc gia ASEAN khác nhận được sự hỗ trợ từ Canada và các nhà tài trợ thông qua Ban thư ký ASEAN Diễn đàn này nhằm mục tiêu tiếp cận 10 triệu nông dân sản xuất nhỏ vào năm 2020, cung cấp cho họ kiến thức, công nghệ, tài chính và thị trường để nâng cao năng suất, lợi nhuận và tính bền vững môi trường lên 20%.

Dự án SAFEGRO được xây dựng dựa trên kinh nghiệm từ các dự án trước đây, như FAPQDC, nhằm hỗ trợ Chính phủ Việt Nam thiết lập môi trường thuận lợi và can thiệp thị trường với sự tham gia của các cơ quan Chính phủ, khu vực tư nhân, nông dân nghèo và người tiêu dùng Dự án tập trung vào việc cải thiện hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý trong việc thực thi chính sách an toàn thực phẩm, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và nâng cao khả năng cạnh tranh cho nông dân nghèo Đồng thời, dự án sẽ gia tăng nhu cầu tiêu dùng nông sản an toàn và giá cả hợp lý Việt Nam sẽ được tiếp cận công nghệ tiên tiến và thực hành bền vững về an toàn thực phẩm từ Canada Dự án sẽ triển khai tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, nơi có gần 20 triệu dân, và ảnh hưởng đến các tỉnh lân cận cung cấp thực phẩm cho hai thành phố này.

Lý do lựa chọn và lợi thế của nhà tài trợ về công nghệ, kinh nghiệm quản lý, tư vấn chính sách thuộc lĩnh vực được tài trợ

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (MARD) đã thiết lập mối quan hệ lâu dài với Canada thông qua các hoạt động trao đổi thương mại quốc tế.

Dự án SAFEGRO, được Thủ tướng Canada phê duyệt vào năm 2017, đã nhận được sự đóng góp từ nhiều Bộ và cơ quan chủ chốt về an toàn thực phẩm trong 5-6 năm qua Khung logic của dự án đã được cập nhật để phản ánh thông tin và nhu cầu mới nhất từ các cơ quan Chính phủ trong quản lý an toàn thực phẩm Kết quả của khung logic này không chỉ phù hợp với chính sách của Chính phủ mà còn hỗ trợ cho các nhà tài trợ và nhiều tổ chức quốc tế, bao gồm Dự án An toàn Nông sản thực phẩm của Ngân hàng Thế giới với giá trị 175 triệu USD.

Năng lực chuyên môn về an toàn thực phẩm (ATTP) của Canada được công nhận toàn cầu, nhờ vào hệ thống ATTP tiên tiến và quy định nghiêm ngặt Cam kết mạnh mẽ của Canada trong việc đảm bảo an toàn thực phẩm khiến nước này trở thành đối tác lý tưởng để hỗ trợ trong việc nâng cao tiêu chuẩn ATTP.

Khoảng cách về năng lực trong vấn đề an toàn thực phẩm (ATTP) tại Việt Nam có thể được thu hẹp thông qua sự hỗ trợ liên tục về thể chế và kỹ thuật Canada có thể đóng góp kinh nghiệm và chuyên môn của mình để áp dụng các can thiệp hiệu quả, bao gồm cách tiếp cận dựa trên cơ sở khoa học và nguyên tắc minh bạch Sự hợp tác giữa Chính phủ, các ngành liên quan và người tiêu dùng là rất cần thiết, cùng với việc áp dụng phương pháp tiếp cận dựa trên nguy cơ trong công tác kiểm soát ATTP Đặc biệt, sự tham gia của các cơ quan Chính phủ Canada như CFIA, các ban ATTP địa phương, cũng như các trường đại học và chương trình đào tạo về ATTP tại Canada sẽ góp phần tích cực vào việc triển khai dự án này.

Lịch sử hợp tác giữa Chính phủ Canada và Việt Nam trong việc nâng cao năng lực hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm cho thấy sự lựa chọn Canada làm Nhà tài trợ là hợp lý Hỗ trợ từ Canada sẽ mang lại hiệu quả và thiết thực cho Việt Nam trong những năm tới.

Các điều kiện ràng buộc theo quy định của nhà tài trợ (nếu có) và khả năng đáp ứng các điều kiện này phía Việt Nam

Chính phủ Việt Nam cam kết đóng góp 100.000 đô la Canada (CAD) dưới hình thức hiện vật, bao gồm việc cử cán bộ tham gia và thiết lập văn phòng làm việc để triển khai dự án tại Việt Nam.

MỤC TIÊU CỦA DỰ ÁN

Mục tiêu tổng thể

Dự án nhằm hỗ trợ phát triển và thực thi các quy định về an toàn thực phẩm (ATTP) dựa trên cơ sở khoa học và phương pháp tiếp cận dựa trên nguy cơ Đồng thời, dự án sẽ thu hút các nhà sản xuất, đặc biệt là nông hộ nhỏ, cùng với khu vực tư nhân, nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp thông minh và thân thiện với môi trường, cũng như phát triển hệ thống truy xuất nguồn gốc bền vững.

Nâng cao nhận thức về an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng là mục tiêu chính, nhằm thúc đẩy thay đổi hành vi tiêu dùng và gia tăng nhu cầu đối với nông sản an toàn, giá cả phải chăng tại Việt Nam.

Mục tiêu cụ thể

Cải thiện hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý trung ương và địa phương trong việc thực thi các quy định và chính sách về an toàn thực phẩm là cần thiết để đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.

Các cơ quan chức năng ở Trung ương và địa phương có cơ hội tiếp cận và học hỏi kinh nghiệm, công nghệ tiên tiến từ Canada để nâng cao năng lực thực thi các quy định và chính sách về an toàn thực phẩm Việc này bao gồm các phương pháp kiểm soát chất lượng và an toàn thực phẩm từ các tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.

Nâng cao khả năng cạnh tranh cho người sản xuất và hộ nông dân trong chuỗi giá trị là rất quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh thị trường nội địa và quốc tế Việc cải thiện rõ rệt vấn đề an toàn thực phẩm sẽ góp phần tăng cường sự tin tưởng của người tiêu dùng và mở rộng cơ hội xuất khẩu.

(iv) Nâng cao vị thế của người tiêu dùng nhằm gia tăng nhu cầu đối với nông sản thực phẩm an toàn và giá cả phải chăng ở Việt Nam

Hỗ trợ đạt được tiến bộ đáng kể trong bình đẳng giới, đặc biệt là việc phụ nữ tham gia tích cực vào chuỗi giá trị sản xuất nông lâm thủy sản.

Hỗ trợ thay đổi hành vi của người sản xuất là yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy các thực hành nông nghiệp bền vững với môi trường Điều này không chỉ giúp bảo vệ hệ sinh thái mà còn góp phần vào việc thích ứng với biến đổi khí hậu, đặc biệt là trong việc giảm thiểu phát thải khí nhà kính.

MÔ TẢ DỰ ÁN

Kết quả chung của Dự án

Lợi ích người tiêu dùng và các bên tham gia trong lĩnh vực nông sản thực phẩm, bao gồm nông dân nghèo ở Việt Nam được cải thiện.

Các hợp phần dự án

Để đạt được các mục tiêu, kết quả chung nêu trên, Dự án gồm 03 hợp phần sau:

Để nâng cao hiệu quả thực thi các quy định pháp luật về an toàn thực phẩm tại Việt Nam, cần tạo ra một môi trường chính sách thuận lợi cho các cơ quan quản lý trung ương và địa phương Điều này sẽ giúp đảm bảo rằng các chuỗi giá trị được chọn đạt tiêu chuẩn quốc tế.

Hợp phần 2 tập trung vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho các cơ sở sản xuất và kinh doanh, bao gồm nông hộ nhỏ, nông dân nghèo và các tác nhân khác trong chuỗi giá trị, đặc biệt là phụ nữ tại Việt Nam Mục tiêu là cung ứng nông sản thực phẩm an toàn cho cả thị trường trong nước và quốc tế, thông qua việc lựa chọn một số chuỗi giá trị cụ thể.

Hợp phần 3: Gia tăng nhu cầu của người tiêu dùng đối với nông sản thực phẩm an toàn và giá cả phải chăng ở Việt Nam

Các kết quả cụ thể dự kiến đạt được của dự án

Năng lực của các cơ quan quản lý an toàn thực phẩm đã được nâng cao, giúp cải thiện việc điều phối thực thi chính sách, quy trình thủ tục và chương trình ở cả trung ương và địa phương.

Kết quả 2 (1120): Năng lực kiểm soát an toàn thực phẩm của các cơ quan quản lý ATTP tại trung ương và địa phương đã được cải thiện, giúp thực thi hiệu quả hệ thống quản lý an toàn thực phẩm dựa trên nguy cơ ở Việt Nam.

Kết quả 3 (1130): Năng lực của các cơ quan quản lý an toàn thực phẩm, cả trung ương và địa phương, đã được cải thiện để áp dụng phương pháp tiếp cận dựa trên nguy cơ.

Năng lực của các cơ sở sản xuất nông sản thực phẩm, bao gồm nông hộ nhỏ và nông dân nghèo, đặc biệt là phụ nữ, được nâng cao để cung ứng nông sản thực phẩm an toàn Điều này cũng chú trọng đến bình đẳng giới và bảo vệ môi trường trong các chuỗi giá trị.

Năng lực của các cơ sở sản xuất và kinh doanh nông sản thực phẩm đã được nâng cao để đảm bảo truy xuất nguồn gốc và an toàn thực phẩm trong toàn bộ chuỗi giá trị.

Kết quả 3 (1230) cho thấy năng lực của các cơ sở sản xuất và kinh doanh, bao gồm cả nông hộ nhỏ và nông dân nghèo, đã được nâng cao Điều này nhằm áp dụng các giải pháp sáng tạo trong sản xuất nông sản thực phẩm, như công nghệ cao, thực hành nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu và nhạy cảm giới.

Nhận thức của người tiêu dùng, đặc biệt là phụ nữ, tại các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương được chọn đã tăng cường về tầm quan trọng của an toàn thực phẩm Họ cũng hiểu rõ hơn về quyền tiếp cận và sự sẵn có của nông sản thực phẩm an toàn với giá cả hợp lý.

Các hoạt động của dự án

Để nâng cao hiệu quả thực thi các quy định pháp luật về an toàn thực phẩm tại Việt Nam, cần tạo ra một môi trường chính sách thuận lợi cho các cơ quan quản lý trung ương và địa phương Mục tiêu là đảm bảo các chuỗi giá trị thực phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.

Năng lực của các cơ quan quản lý an toàn thực phẩm đã được cải thiện, giúp nâng cao hiệu quả trong việc điều phối thực thi chính sách, quy trình thủ tục và chương trình tại cả trung ương và địa phương.

Hoạt động 1 (1111) cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho các cơ quan quản lý an toàn thực phẩm (ATTP) ở cả trung ương và địa phương Các hoạt động này bao gồm lồng ghép giới trong quá trình rà soát, đánh giá và tư vấn nhằm cải thiện khung chính sách an toàn thực phẩm, bao gồm luật, nghị định, thông tư, quy chuẩn, tiêu chuẩn và các quyết định liên quan.

Hỗ trợ kỹ thuật cho các cơ quan quản lý an toàn thực phẩm ở cả trung ương và địa phương nhằm nâng cao hiệu quả điều phối quản lý bệnh truyền qua thực phẩm, đồng thời đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế.

Hỗ trợ kỹ thuật cho các cơ quan quản lý an toàn thực phẩm (ATTP) ở trung ương và địa phương nhằm xây dựng hệ thống quản lý ATTP toàn diện, minh bạch và tin cậy Hệ thống này bao gồm hoạt động theo dõi và báo cáo, đảm bảo thông tin được phổ biến đầy đủ và kịp thời đến các bên liên quan.

Năng lực kiểm soát an toàn thực phẩm của các cơ quan quản lý ATTP ở cả trung ương và địa phương đã được cải thiện, giúp thực thi hiệu quả hệ thống quản lý an toàn thực phẩm dựa trên nguy cơ tại Việt Nam.

Hỗ trợ kỹ thuật đã được cung cấp để thiết lập hệ thống quản lý thông tin phòng kiểm nghiệm quốc gia (LIMS) và quản trị mạng lưới liên bộ các phòng kiểm nghiệm an toàn thực phẩm (ATTP).

Hoạt động 2 (1122) tập trung vào việc cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo cho giảng viên, nhà quản lý, thanh tra viên, thẩm định viên và nhân viên phòng kiểm nghiệm Mục tiêu là thiết lập và thực hiện khung đào tạo quản lý an toàn thực phẩm (ATTP) dựa trên năng lực toàn diện.

Hỗ trợ kỹ thuật cho các phòng kiểm nghiệm nhằm phát triển các giải pháp đổi mới trong công tác chẩn đoán và kiểm nghiệm an toàn thực phẩm (ATTP) đã được triển khai.

Hoạt động 4 (1124) cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho các nhà quản lý, thanh tra viên, thẩm định viên, chuyên gia và khu vực tư nhân nhằm hiện đại hóa hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm dựa trên nguy cơ.

Kết quả 3 (1130): Năng lực của các cơ quan quản lý an toàn thực phẩm, cả trung ương và địa phương, đã được nâng cao nhằm áp dụng hiệu quả phương pháp tiếp cận dựa trên nguy cơ.

Hỗ trợ kỹ thuật được cung cấp cho các cơ quan quản lý nhằm nâng cao năng lực đánh giá nguy cơ và cải thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan nhà nước.

Hỗ trợ kỹ thuật đã được cung cấp cho các cơ quan quản lý nhằm nâng cao năng lực trong việc xây dựng báo cáo hàng năm về tình trạng an toàn thực phẩm ở Việt Nam, đồng thời xem xét các vấn đề liên quan đến giới và môi trường.

• Hoạt động 3 (1133): Hỗ trợ kỹ thuật được cung cấp cho một số trường hoặc viện nghiên cứu về đánh giá nguy cơ an toàn thực phẩm

Hỗ trợ kỹ thuật cho các cơ quan quản lý an toàn thực phẩm (ATTP) ở trung ương và địa phương nhằm sử dụng kết quả đánh giá nguy cơ ATTP, từ đó cải thiện công tác quản lý và truyền thông về nguy cơ ATTP.

Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các cơ sở sản xuất và kinh doanh, bao gồm nông hộ nhỏ, nông dân nghèo và các tác nhân khác trong chuỗi giá trị, đặc biệt là phụ nữ, là rất quan trọng tại Việt Nam Mục tiêu là cung ứng nông sản thực phẩm an toàn cho thị trường trong nước và quốc tế, tập trung vào một số chuỗi giá trị được chọn.

ĐỐI TƯỢNG THỤ HƯỞNG

Đối tượng thụ hưởng chính của dự án bao gồm:

(1) Người tiêu dùng, đặc biệt là gần 20 triệu người sống ở Hà Nội và TP HCM (chiếm 1/5 dân số cả nước);

(2) Người sản xuất, kinh doanh thực phẩm;

(3)Tổ chức xã hội (Tổ chức chính trị xã hội, Tổ chức xã hội nghề nghiệp);

(4) Đơn vị nghiên cứu, đào tạo;

(5) Các cơ quan cấp trung ương và địa phương quản lý nhà nước về ATTP

Dự án tập trung vào các kênh phân phối nông sản thực phẩm tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, nơi có tổng dân số lên tới 20 triệu người Hơn 500 cán bộ quản lý, chuyên gia kỹ thuật và nhân viên từ ba Bộ Nông nghiệp & PTNT, Bộ Y tế, Bộ Công Thương sẽ được hưởng lợi từ dự án thông qua hỗ trợ kỹ thuật và nâng cao năng lực kiểm soát thực phẩm Ngoài ra, các khóa đào tạo của dự án SAFEGRO sẽ mang lại lợi ích cho nhiều người hơn nữa thông qua các chương trình huấn luyện giảng viên.

KẾ HOẠCH THỰC HIỆN, GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ DỰ ÁN

Các hoạt động thực hiện trước

- Lựa chọn cơ quan thực hiện dự án Canada (CEA)

Tổ công tác đã được thành lập nhằm xây dựng và hỗ trợ triển khai dự án “An toàn thực phẩm vì sự phát triển”, được tài trợ bởi Chính phủ Canada Tổ công tác bao gồm đại diện từ Bộ Y tế, Bộ Công thương và các cơ quan liên quan thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

- Tổ chức họp kỹ thuật và họp tham vấn lấy ý kiến xây dựng nội dung văn kiện dự án.

Sơ đồ ma trận thiết kế Dự án

(nêu tại Phụ lục I- Kế hoạch thực hiện dự án)

Khung thời gian thực hiện các hoạt động của Dự án

(nêu tại Phụ lục II- Ma trận Kết quả -Đầu ra- hoạt động)

Kế hoạch giám sát và đánh giá Dự án

Dự án SAFEGRO kéo dài 5 năm, tuân thủ khung logic và quản lý dự án theo yêu cầu giám sát và đánh giá của nhà tài trợ Cơ chế giám sát và đánh giá được thực hiện thông qua các chỉ số cụ thể cho từng hợp phần, với hệ thống lập kế hoạch, theo dõi và báo cáo minh bạch hàng năm Ban chỉ đạo dự án, gồm đại diện chính phủ Canada và Việt Nam, chịu trách nhiệm chỉ đạo kỹ thuật, phê duyệt kế hoạch hàng năm và yêu cầu báo cáo Tại cấp hoạt động, kết quả được đo lường theo các chỉ số đã xác định và có hệ thống theo dõi tiến độ thường xuyên.

Chính phủ Canada đã thiết lập một hệ thống giám sát đánh giá độc lập, được thực hiện bởi các chuyên gia quốc tế, nhằm đảm bảo rằng kết quả của dự án đáp ứng đúng yêu cầu và đạt hiệu quả cao.

6.4.1 Xây dựng chi tiết kế hoạch theo dõi thực hiện Dự án: a Thực hiện Dự án:

Chủ dự án sẽ thành lập Ban chỉ đạo và Tổ công tác liên ngành để hỗ trợ triển khai thực hiện dự án Dự án sẽ được thực hiện theo các quy định trong Biên bản ghi nhớ giữa chính phủ Việt Nam và Canada, sau khi được phê duyệt Đồng thời, việc quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài sẽ tuân thủ theo Nghị định số 56/2020/NĐ-CP ngày 25/5/2020 và các văn bản hướng dẫn liên quan.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã thành lập Ban chỉ đạo và Tổ công tác liên ngành nhằm xây dựng và hỗ trợ triển khai dự án Mục tiêu là giúp chủ dự án thực hiện chỉ đạo, quản lý và giám sát hoạt động dự án theo quy định của pháp luật Việt Nam và yêu cầu của nhà tài trợ.

18 c Xử lý, phản hồi thông tin

Tổ công tác chịu trách nhiệm liên hệ với nhà tài trợ và cơ quan thực hiện dự án, đồng thời phối hợp với các đơn vị chức năng để tham gia vào các hoạt động của dự án và giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện.

Tổ công tác sẽ báo cáo các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện đến cơ quan chủ dự án, cơ quan chủ quản dự án, Ban chỉ đạo dự án và Nhà tài trợ.

6.4.2 Xây dựng chi tiết kế hoạch đánh giá tình hình thực hiện dự án

Theo quy định hiện hành, hàng quý và hàng năm, Tổ công tác và Chủ dự án phải báo cáo tình hình thực hiện dự án lên Ban chỉ đạo Dự án thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn qua các đầu mối Vụ Hợp tác Quốc tế Đánh giá giữa kỳ và cuối kỳ sẽ được thực hiện bởi tư vấn độc lập do phía Canada thuê.

Đánh giá giữa kỳ là quá trình kiểm tra hiệu quả và tính phù hợp của dự án, tập trung vào các yếu tố như tính hiệu quả, tính tác động, tính hiệu lực và tính bền vững Dựa trên kết quả đánh giá, kế hoạch ban đầu có thể được điều chỉnh nếu cần thiết.

- Đánh giá cuối kì: tập trung vào tính hiệu quả, tính hiệu suất và tính bền vững của dự án

6.4.3 Chế độ kiểm tra, báo cáo của Dự án

CEA sẽ báo cáo tiến độ và kết quả thực hiện Dự án cho Chính phủ Canada, đồng thời chia sẻ thông tin với Cục Quản lý chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản cùng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Ban Chỉ đạo Dự án sẽ xác định chế độ kiểm tra hoạt động của Dự án dựa trên các quy định liên quan đến khoản viện trợ không hoàn lại.

Cơ quan chủ quản Dự án sẽ thực hiện kiểm tra dự án dựa trên các quy định hiện hành liên quan đến quản lý nguồn viện trợ không hoàn lại và nguồn đầu tư xây dựng mua sắm từ ngân sách nhà nước.

Tổ công tác sẽ theo dõi và đánh giá tình hình thực hiện dự án, lập báo cáo và điều chỉnh kế hoạch khi cần thiết Họ sẽ gửi báo cáo định kỳ và đột xuất đến Ban chỉ đạo dự án Cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản sẽ thiết lập hệ thống thông tin nội bộ để tập hợp, phân loại và lưu trữ toàn bộ thông tin liên quan đến dự án, đồng thời cung cấp thông tin chính xác và trung thực theo quy định pháp luật.

TỔ CHỨC QUẢN LÝ THỰC HIỆN DỰ ÁN

Mô hình tổ chức hoạt động

SAFEGRO là dự án hợp tác giữa Chính phủ Canada và Chính phủ Việt Nam, được triển khai thông qua hợp đồng thuê Công ty Agriteam Canada, phối hợp cùng Trường Đại học Guelph.

Cơ quan thực hiện dự án phía Canada (CEA) sẽ hợp tác với Tổ công tác liên ngành, bao gồm các đối tác thực hiện của Việt Nam từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Y Tế, Bộ Công Thương, cùng với các đối tác địa phương như Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh tham gia chuỗi giá trị của dự án Các đối tác cấp trung ương sẽ đảm nhiệm vai trò liên lạc và điều phối các hoạt động của dự án với các bên liên quan trong nước.

Trong quản lý dự án, CEA áp dụng cách tiếp cận có sự tham gia và minh bạch, đảm bảo đối tác có đầu vào cho lập kế hoạch, giám sát và ra quyết định Cách tiếp cận này thể hiện rằng dự án SAFEGRO hỗ trợ đối tác Việt Nam đạt kết quả, thay vì chỉ đạo họ CEA hoàn toàn chịu trách nhiệm trước GAC và cam kết thuê chuyên gia tư vấn Việt Nam khi có thể, đồng thời tuân thủ Hướng dẫn định mức của LHQ-EU về hỗ trợ tập huấn và đi lại.

Cơ cấu quản lý dự án SAFEGRO được thiết kế dựa trên các mô hình quản lý dự án trước đây của GAC, đồng thời được điều chỉnh để phù hợp với Nghị định 56/2020/NĐ-CP ngày 25/5/2020 của Chính phủ Nghị định này quy định về quản lý và sử dụng vốn ODA cũng như vốn vay ưu đãi từ nhà tài trợ nước ngoài, nhằm hướng dẫn cho việc thiết kế và thực hiện dự án SAFEGRO một cách hiệu quả.

Dự án sẽ được triển khai thông qua sự phối hợp giữa Ban chỉ đạo Dự án, Đại sứ quán Canada tại Việt Nam, Tổ công tác liên ngành và Cơ quan thực hiện dự án Canada CEA, như được thể hiện trong sơ đồ dưới đây.

Hình 1: Sơ đồ mô hình tổ chức quản lý dự án

Ban chỉ đạo dự án (PSC)

Trưởng ban: Lãnh đạo Bộ NN&PTNT Đồng trưởng ban: Tham tán phát triển ĐSQ Canada Phó ban: Cục trưởng Cục QLCL NLS&TS

Thành viên: Đại diện lãnh đạo Cục ATTP - Bộ Y Tế,

Vụ KHCN -Bộ Công Thương và các đơn vị có liên quan thuộc Bộ NN&PTNT

GAC Đại sứ quán Canada Bộ NN&PTNT Điều phối viên từ cơ quan thường trực, tổ công tác

Cơ quan thực hiện dự án CEA

Văn phòng dự án - Do cơ quan thực hiện dự án (CEA) quản lý điều hành

Người dân, doanh nghiệp, nông dân, và các nhóm sản xuất đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng nông sản Các nhà thu mua, hợp tác xã (HTX) và nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ kết nối giữa nông dân và thị trường Ngoài ra, các nhà chế biến, chợ bán buôn, chợ bán lẻ, và người bán hàng rong cũng là những mắt xích thiết yếu, phục vụ nhu cầu tiêu dùng Các cơ quan nghiên cứu và quản lý, cùng với tổ chức xã hội, góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững cho ngành nông nghiệp và an toàn thực phẩm.

Chính phủ Canada Chính phủ Việt Nam

Các nhóm công tác - nghiên cứu triển khai các đầu ra, hoạt đông (Tạo môi trường c/s thuận lợi)

Các nhóm công tác - nghiên cứu triển khai các đầu ra, hoạt đông (Bên cung)

Các nhóm công tác - nghiên cứu triển khai các đầu ra, hoạt đông (Bên cầu)

Quan hệ làm việc Quan hệ báo cáo Quan hệ kết nối/liên lạc

Giám sát viên độc lập (Ký Hợp đồng với GAC)

Cơ quan thực hiện dự án phía

Canada (CEA) (Agriteam & ĐH Guelph)

Tổ công tác liên ngành do

Bộ NN&PTNT thành lập

Ban điều phối dự án (BĐP)

- Giám đốc dự án của CEA

- Điều phối viên của Tổ công tác

Nhóm công tác hợp phần 1, 2, 3: bao gồm chuyên gia quốc tế, chuyên gia trong nước, và đối tác Việt Nam do tổ công tác xác định

Ban chỉ đạo Dự án

* Trưởng ban: Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

* Đồng trưởng ban phía Canada là Tham tán Phát triển/Trưởng ban Hợp tác phát triển của ĐSQ Canada tại Việt Nam

* Phó Ban: Phó ban thường trực: Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản

- Đại diện Lãnh đạo Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế

- Đại diện Lãnh đạo Vụ Khoa học công nghệ, Bộ Công thương

- Đại diện Lãnh đạo các đơn vị liên quan thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn b Nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo Dự án:

- Xem xét phê duyệt kế hoạch tổng thể và kế hoạch chi tiết hàng năm của

- Theo dõi, giám sát và đánh giá tiến độ, kết quả các hoạt động của Dự án

- Thảo luận và xem xét giải quyết các vấn đề chính phát sinh trong quá trình thực hiện dự án

- Ban Chỉ đạo Dự án sẽ họp ít nhất 1 lần/năm và khi nào thấy cần thiết.

Tổ công tác liên ngành

* Tổ trưởng: Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản

* Tổ phó: Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế

- Đại diện Lãnh đạo và chuyên viên Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế

- Đại diện Lãnh đạo và chuyên viên Vụ Khoa học công nghệ, Bộ Công thương

Đại diện lãnh đạo và chuyên viên từ các đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, bao gồm Tổng cục Thủy sản cùng các Cục Chăn nuôi, Thú y, Trồng trọt, Bảo vệ thực vật, Quản lý chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản, cùng Vụ Hợp tác Quốc tế, sẽ tham gia vào Tổ công tác với những nhiệm vụ cụ thể được giao.

Tham gia vào việc xây dựng và hoàn thiện văn kiện cho dự án “An toàn thực phẩm vì sự phát triển”, bao gồm cả kế hoạch tổng thể và kế hoạch hàng năm nhằm thực hiện dự án.

- Theo dõi, giám sát và đánh giá tiến độ, kết quả các hoạt động của Dự án

- Thảo luận và xem xét giải quyết các vấn đề chính phát sinh trong quá trình thực hiện dự án

- Chuẩn bị nội dung cho cuộc họp Ban Chỉ đạo Dự án

Hợp tác với Cơ quan thực hiện dự án Canada (CEA) nhằm triển khai hiệu quả các nội dung của Dự án.

Tổ trưởng tổ công tác chịu trách nhiệm phân công nhiệm vụ cho các thành viên, đảm bảo rằng mỗi thành viên thực hiện nhiệm vụ phù hợp với lĩnh vực quản lý được giao Các thành viên cần báo cáo kết quả công việc cho tổ công tác cũng như cho cơ quan, đơn vị chủ quản theo quy định.

Cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và Thủy sản là cơ quan chủ trì tổ chức hoạt động của Tổ công tác, đồng thời tổng hợp báo cáo lãnh đạo Bộ về các hoạt động này Cục có quyền sử dụng con dấu và chức danh Cục trưởng, kiêm Phó ban Thường trực Ban chỉ đạo Dự án, Tổ trưởng tổ công tác để ký các văn bản triển khai nhiệm vụ của Dự án.

Nhiệm vụ của Cơ quan thường trực (Cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản):

• Chịu trách nhiệm tổ chức các hoạt động của Tổ công tác;

• Đầu mối tổng hợp báo cáo lãnh đạo Bộ về hoạt động của Tổ công tác theo quy định;

• Sử dụng con dấu của Cục để ký các văn bản giao dịch hoạt động của Dự án

• Chịu trách nhiệm quản lý phần vốn đối ứng và tài sản của Dự án.

Ban điều phối dự án

* Giám đốc dự án của CEA

* Điều phối viên dự án từ cơ quan thường trực, Tổ công tác b Nhiệm vụ của Ban điều phối:

Theo Kế hoạch thực hiện dự án, Văn kiện dự án, Kế hoạch hàng năm triển khai các nhiệm vụ như sau:

- Tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động của Dự án,

- Báo cáo định kỳ, đột xuất tình hình thực hiện Dự án theo yêu cầu của Chủ

Dự án, Tổ công tác

Tổ công tác sẽ tiến hành đánh giá kết quả đầu ra của Dự án sau khi hoàn tất các công việc như kiểm toán, bàn giao tài sản và lập báo cáo kết thúc cũng như báo cáo quyết toán Dự án.

- Thực hiện các nhiệm vụ khác trong khuôn khổ Dự án do Chủ dự án, Tổ công tác

- Trình Tổ trưởng Tổ công tác các văn bản tổ chức triển khai các nhiệm vụ chuyên môn của Dự án c Cơ chế điều hành Dự án

- Họp Ban chỉ đạo (PSC) thông qua báo cáo kết quả năm trước, kế hoạch năm sau, thống nhất định hướng chỉ đạo

- Điều hành triển khai dự án do Ban điều phối gồm: Đại diện lãnh đạo CEA; Đại diện cơ quan thường trực và Tổ công tác

Cục Quản lý chất lượng NLS&TS sẽ sử dụng con dấu và chức danh của Cục trưởng, kiêm Phó Ban thường trực, Tổ trưởng Tổ công tác để ký kết các văn bản liên quan đến việc tổ chức thực hiện dự án tại Việt Nam.

Phương thức quản lý điều hành dự án được thực hiện dựa trên PIP và PD, cùng với CEA và cơ quan thường trực Dự thảo báo cáo kết quả năm trước và kế hoạch năm sau (AWP) sẽ được trình lên tổ công tác để lấy ý kiến hoàn thiện.

Nhóm công tác

Nhóm công tác được thành lập để thực hiện các nhiệm vụ trong các hợp phần, bao gồm chuyên gia quốc tế, chuyên gia trong nước và các đối tác tại Việt Nam, theo sự xác định của Tổ công tác.

KINH PHÍ THỰC HIỆN DỰ ÁN

Chính phủ Canada đã cấp khoản tài trợ trị giá 15,3 triệu đô-la Canada (CAD), tương đương 252,756 tỷ VND và 10,904 triệu USD, theo tỷ giá tạm tính tháng 7/2020 Khoản tiền này bao gồm 400.000 đô-la cho các hoạt động giám sát và đánh giá, cùng với 350.000 đô-la cho các dịch vụ tư vấn từ CFIA.

Chính phủ Việt Nam đã đóng góp khoảng 100.000 CAD, tương đương 1.652.000.000 đồng Việt Nam, cho dự án, bao gồm chi phí cho cán bộ tham gia và bố trí văn phòng làm việc triển khai tại Việt Nam.

Phụ lục: Kinh phí dự án

Dự án An toàn thực phẩm vì sự phát triển (SAFEGRO)

Ngân sách dự án theo Kết quả Khởiđộng Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm 5 TỔNG

1111 Hỗ trợ kỹ thuật cải thiện Khung chính sách về ATTP 424,241 337,366 187,119 182,370 107,276 1,238,372

1112 Hệ thống quản lý bệnh truyền qua thực phẩm và YT công cộng

1113 Nền tảng theo dõi và báo cáo ATTP 16,051 48,155 45,159 41,328 13,431 164,124

1121 Hệ thống quản lý thông tin các phòng thí nghiệm quốc gia (LIMS)/quản trị mạng lưới liên bộ

1122 Khung xây dựng năng lực các phòng kiểm nghiệm 129,479 87,957 67,545 61,015 11,087 357,083

1123 Các giải pháp thử nghiệm và chuẩn đoán ứng dụng công nghệ hiện đại phù hợp

1124 Nâng cao hệ thống kiểm soát ATTP dựa trên quản lý nguy cơ

1131 Xây dựng năng lực đánh giá Nguy cơ 181,743 46,468 90,613 37,958 10,464 367,246

1132 Xây dựng báo cáo năm tình trạng ATTP 14,810 41,017 39,021 35,265 11,477 141,589

1133 Hỗ trợ kỹ thuật cho các trường hoặc viện nghiên cứu về đánh giá nguy cơ ATTP

1134 Cải thiện công tác quản lý và truyền thông nguy cơ 42,699 57,400 55,404 51,673 12,039 219,215

1211 Hỗ trợ kỹ thuật nâng cao và phát huy các thực hành nông nghiệp tốt

1212 Cải thiện vệ sinh và ATTP tại các chợ đầu mối và chợ bán lẻ

1213 Chương trình kết nối thị trường và tìm kiếm cơ hội tiếp cận nguồn tài chính

1221 Hoạt động đăng ký và thống kê của các cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm

1222 Quy trình truy xuất nguồn gốc và thu hồi 205,317 128,442 140,584 134,729 16,688 625,761

1223 Ứng dụng GAP/ HACCP và các tiêu chuẩn và chứng nhận ATTP quốc tế

1224 Tăng cường kỹ năng đàm phán thương mại, tiếp cận thị trường

1231 Công nghệ sản xuất nông nghiệp bền vững về môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu

1232 Kết nối giữa các bên tham gia chuỗi cung ứng về bảo quản/đóng gói/vận chuyển/lưu trữ thực phẩm an toàn

1233 Kết nối giữa các bên tham gia chuỗi cung ứng và tài trợ kinh phí cho các hoạt động đổi mới sáng tạo

1311 Chiến lược truyền thông/chia sẻ thông tin ATTP cho các tổ chức dân sự và truyền thông xã hội

1312 Tài liệu giáo dục nhạy cảm giới 60,949 131,498 120,759 111,843 29,700 454,749

1313 Dịch vụ của cty cung cấp suất ăn cho các khu công nghiệp

1314 Tập huấn về truyền thông trong việc đẩy mạnh thông tin về các nông sản an toàn giá phải chăng

1315 Nâng cao nhận thức về ATTP, chế biến thực phẩm AT 58,590 129,500 118,296 97,456 27,565 431,407

1316 Truyền thông ra công chúng 30,271 70,896 63,523 59,787 13,849 238,326

1400 Chi phí hỗ trợ chương trình và chi phí cố định 618,646 165,203 299,219 295,385 273,963 104,404 1,756,821 Tổng phụ 618,646 3,333,177 3,294,909 2,691,400 2,268,494 668,375 12,875,000

GAC Hỗ trợ tư vấn chiến lược của Cơ quan Thanh tra thực phẩm Canada (CFIA)

GAC Dịch vụ theo dõi, đánh giá dự án độc lập do GAC chủ trì 70,000 70,000 120,000 70,000 70,000 400,000 GAC Chi phí dự phòng, thuế, phí và các chi phí phát sinh khác 335000 335000 335000 335000 335000 1,675,000

CƠ CHẾ TÀI CHÍNH TRONG NƯỚC ĐỐI VỚI DỰ ÁN

Ngày đăng: 10/06/2021, 00:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w