1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo chuyên đề Thị trường - Tài chính - Ngân hàng doc

34 719 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo Cáo Chuyên Đề Thị Trường - Tài Chính - Ngân Hàng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Báo cáo chuyên đề
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 730 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chăng hạn phát triểnxuất khẩu gạo không những tạo điều kiện cho ngành trồng lúa mở rộng đượcdiện tích, tang vụ trong năm mà còn thúc đẩy sự phát triển của các ngànhkhách: dệt bao PP, xay

Trang 1

Báo cáo chuyên đề Thị trường - Tài chính - Ngân

hàng

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 3

1.1 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ 3

1.1.1 Khái niệm .3

1.1.2 Đặc điểm .3

1.1.3 Vai trò của hoạt động xuất khẩu 3

1.2 HÌNH THỨC XUẤT KHẨU CHỦ YẾU CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 4

1.3 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU 5

CHƯƠNG 2 7

2.2.1 Trước năm 2009 8

Bảng 1: Thống kê sơ bộ kết quả xuất khẩu năm 2009 11

2.2.2 Sau năm 2009 .12

2.2.3 Hiệp định thúc đẩy xuất khẩu Việt Nam .14

2.2.4 Xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường đang phát triển 15

2.2.5 Đánh giá thực trạng hoạt động xuất khẩu Việt Nam – Thị trường đang phát trển thời gian qua .18

CHƯƠNG 3 22

KẾT LUẬN 34

Trang 3

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ

XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ 1.1 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ

1.1.1 Khái niệm.

Xuất khẩu là một hoạt động đưa sản phẩm từ nơi này sang nơi khác vàthu về một lượng liền tương ứng, và chịu sự chi phối của các cơ quan quản lýxuất nhập khẩu

1.1.2 Đặc điểm.

Gồm có các đặc điểm sau:

Hàng hóa được di chuyển đi ra khỏi biên giới của một quốc gia

Đồng tiền thanh toán có thể là ngoại tệ

Các bên có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau

1.1.3 Vai trò của hoạt động xuất khẩu

Sẽ tạo nguồn vốn quan trọng để thỏa mãn nhu cầu nhập khẩu và tích lũyphát triển sản xuất trong nước: thông qua xuất khẩu sẽ tạo nguồn vốn quantrọng để thỏa mãn nhu cầu nhập khẩu những tư liệu sản xuất thiết yếu phục vụcông nghiệp hóa đất nước Trong thực tiễn xuất khẩu và nhập khẩu có quan hệmật thiết với nhau, vừa là kết quả vừa là tiền đề của nhau, đẩy mạnh xuất khẩu

để mở rộng thị trường và tăng khả năng sản xuất

Xuất khẩu được xem là một yếu tố quan trọng để kích thích sự tăngtrưởng nền kinh tế quốc gia: Việc xuất khẩu cho phép mở rộng quy mô sảnxuất, nhiều ngành nghề mới ra đời phục vụ cho xuất khẩu Chăng hạn phát triểnxuất khẩu gạo không những tạo điều kiện cho ngành trồng lúa mở rộng đượcdiện tích, tang vụ trong năm mà còn thúc đẩy sự phát triển của các ngànhkhách: dệt bao PP, xay xát…

Kích thích các doanh nghiệp trong nước đổi mới trang thiết bị và côngnghệ sản xuất: Để đáp ứng yêu cầu cao của thị trường thế giới về quy cáchchủng loại sản phẩm đòi hỏi một mặt sản xuất phải đổi mới trang thiết bị công

Trang 4

nghệ, mặt khác người lao động phải năng cao tay nghề, học hỏi kinh nghiệmsản xuất tiên tiến; có vậy, sản phẩm mới có thể xuất khẩu ổn định.

Đẩy mạnh xuất khẩu sẽ góp phần tích cực để nâng cao mức sống củanhân dân

Xuất khẩu có vay trò tăng cường sự hợp tác quốc tế giữa các nước vànâng cao vai trò vị trí của Việt Nam trên thị trường khu vực và quốc tế

1.2 HÌNH THỨC XUẤT KHẨU CHỦ YẾU CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

1.2.1 Xuất khẩu trực tiếp.

Hình thức này đòi hỏi chính doanh nghiệp phải tự lo bán trực tiếp cácsản phẩm của mình ra nước ngoài

Xuất khẩu trực tiếp nên áp dụng đối với những doanh nghiệp có trình độ

và qui mô sản xuất lớn, được phép xuất khẩu trực tiếp, có kinh nghiệm trênthương trường và nhãn hiệu hàng hóa truyền thống của doanh nghiệp đã từng

có mặt trên thị trường thế giới

Hình thức này thường đem lại lợi nhuận cao nếu doanh nghiệp nắm chắcđươc nhu cầu thị trường, thị hiếu của khách hàng…nhưng ngược lại, nếu doanhnghiêp ít am hiểu hoặc không nắm bắt kịp thời thông tin về thị trường thế giới

và đối thủ cạnh tranh thì rủi ro trong hình thức này không ít

1.2.2 Xuất khẩu gián tiếp.

Hình thức xuất khẩu gián tiếp không đòi hỏi có sự tiếp xúc trực tiếp giữangười mua nước ngoài và người sane xuất trong nước

Để bán được sản phẩm của mình ra nước ngoài, người sản xuất phải nhờvào người hoặc tổ chức trung gian có chức năng xuất khẩu trực tiếp với thựcchất đó, xuất khẩu gián tiếp thường sử dụng đối với các cơ sở sản xuất có qui

mo nhỏ, chưa đủ điều kiện xuất khẩu trực tiếp, chưa quen biết thị trường, kháchhàng và chưa thông thạo các nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu

Các danh nghiệp có thể thực hiện xuất khẩu gián tiếp thông qua các hìnhthức sau đây: Các công ty quản lý xuất khẩu; khách hàng nước ngoài; ủy thácxuất khẩu; môi giới xuất khẩu; hãng buôn xuất khẩu

Trang 5

1.3 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU

1.3.1 Các thông tin đại cương.

Diện tích

Dân số: Chủng tộc, tôn giáo, độ tuổi

Tốc độ phát triển trung bình hàng năm

Ngôn ngữ

Các vùng và các trung tâm công nghiệp thương mại quan trọng

Đại lý và khí hậu

Truyền thống tập quán

Hiến pháp, trác nhiệm của chính phủ TW và địa phương

1.3.2 Môi trường kinh tế tài chính cơ sở hạ tầng.

Tình hình sản xuất và sản lượng của một quốc gia nào đó về từng mặthàng cụ thể

Chỉ tiêu GNP và GDP / đầu người

Tỷ giá hối đoái và sự biến động giá của nó, chọn đồng tiền để báo giá

Hệ thống ngân hàng: Quốc giá và Quốc tế

Tình hình lạm phát, giảm phát, thiểu phát

Cơ sở hạ tầng: hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống giao thông, khả nănggiải phóng phương tiện các sân bay, bến cảng; hệ thống điện nước, năng lượngcung cấp cho kinh doanh…

Cơ sở hạ tầng của thương mại: bán buôn, bán lẻ, công ty quảng cáo…

1.3.3 Môi trường pháp luật chính trị.

Thái đọ của chính phủ đối với việc xuất nhập khẩu: Bảo hộ mậu dịchhay mạu dịch tự do

Thỏa ước quốc tế mà quốc gia đã tham gia

Qui chế của chính phủ đố với các luật lệ…

Các thủ tục hải quan, thuế hải quan những qui định và các yếu tố ảnhhưởng đến buôn bán

Giấy phép xuất nhập khẩu…

Luật đầu tư và các van bản có liên quan

Trang 6

Các loại thuế khác ngoài thuế xuất nhập khẩu.

Hạn ngạch xuất khẩu

1.3.4 Môi trường cạnh tranh.

Không chỉ hàng hóa của Việt Nam thâm nhập vào thị trường đang pháttriển mà còn có rất nhiều các quốc gia khác cũng xuất khẩu hàng hóa của họvào các thị trường đang phát triển đó, nên vấn đề cạnh tranh của các nước đóvơi Việt Nam thì không ít

Vấn đề cạnh tranh cũng là một vấn đề ảnh hưởng rất lớn đến doanh sốxuất khẩu của Việt Nam, làm cho hạn ngạch xuất khẩu bị giảm do các thịtrường đang phát triển có nhiều lực chọn

1.3.5 Môi trường văn hóa xã hội.

Ảnh hưởng đến hành vi thái độ của dân tộc trong một nước nước nào đó,

nó là những yếu tố hợp thành thị trường Sự khác biệt nhau về văn hóa sẽ ảnhhưởng đến các cách thức giao dịch loại sản phẩm mà người ta yêu cầu Nóicách khác văn hóa là một biến số môi trường ảnh hưởng đến và rất lớn đối vớihàng xuất khẩu nhập khẩu

Đặc điểm văn hóa xã hội khác nhau ở các thị trường của các nước đượcthể hiện về thời gian, không gian, tôn giáo…Do đó, khi ta xuất khẩu hàng hóanếu không hiểu ro tập quán của họ thì rất nguy hiểm

Trang 7

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG ĐANG PHÁT

TRIỂN THỜI GIAN QUA.

2.1 TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN TRONG VIỆC MỞ RỘNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA.

Hiện nay, việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại đã và đang là xuhướng tất yếu đối với tất cả các nước vì các lý do cơ bản sau:

- Việc mở rộng quan hệ kinh tế kinh tế đối ngoại bắt đầu từ yêu cầu củaquy luật về sự phân công và hợp tác quốc tế giữa các nước, từ sự phân bố tàinguyên thiên nhiên và sự phát triển không đều về trình độ phát triển kinh tế -

kỹ thuật giữa các quốc gia dẫn đến xu thế hợp tác kinh tế để sử dụng có hiệuquả nguồn lực của mỗi quốc gia

- Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại làm cho quá trình khuvực hoá, quốc tế hoá đời sống kinh tế trở thành xu hướng tất yếu của thời đại.Một mặt, cách mạng khoa học công nghệ đẩy nhanh sự phát triển của lực lượngsản xuất, làm cho lực lượng sản xuất vượt khỏi khuôn khổ quốc gia để trởthành lực lượng sản xuất mang tính quốc tế, thúc đẩy nhanh quá trình khu vựchoá, quốc tế hoá đời sống kinh tế, hình thành nền kinh tế thế giới như mộtchỉnh thể với nhiều quốc gia tham gia, hình thành thị trường quốc tế với giá cảquốc tế chi phối

Mặt khác, cách mạng khoa học công nghệ hiện đại tạo ra các điều kiện

để thúc đẩy quá trình khu vực hoá, quốc tế hoá đời sống kinh tế Quốc tế hoálàm cho phân công lao động, hợp tác quốc tế giữa các nước ngày càng pháttriển Nó cũng đẩy mạnh sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế giữa các nước

về nhiều mặt như nguyên liệu, kỹ thuật, công nghệ , trong đó mỗi nước cónhững lợi thế riêng và đều tìm cách khai thác tối đa cả lợi thế tuyệt đối và lợithế so sánh của mình Đồng thời, quốc tế hoá cũng làm xuất hiện kết cấu hạtầng sản xuất quốc tế và chi phí sản xuất quốc tế, giá cả quốc tế, thị trường

Trang 8

quốc tế, chất lượng quốc tế Do đó sẽ hoá tạo ra các điều kiện vật chất kỹ thuật

để rút ngắn khoảng cách địa lý, không gian, thời gian giữa các quốc gia Từ đó,thúc đẩy quá trình quốc tế hoá

Như vậy, khu vực hoá, quốc tế hoá đời sống kinh tế là một tất yếu kháchquan Nó đòi hỏi các quốc gia phải tăng cường mở rộng quan hệ kinh tế đốingoại nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn lực quốc tế và trong nước

Để mở rộng kinh tế đối ngoại có hiệu quả cần quán triệt những nguyêntắc phản ánh những thông lệ quốc tế, đồng thời đảm bảo lợi ích chính đáng vềkinh tế, chính trị của đất nước

Nguyên tắc đầu tiên là nguyên tắc bình đẳng Đây là nguyên tắc cơ bảntrong quan hệ kinh tế quốc tế nói riêng và quan hệ quốc tế nói chung Nguyêntắc này trước hết phải được thể hiện ở việc đảm bảo lợi ích kinh tế, chính trịcủa các bên

Nguyên tắc thứ hai là nguyên tắc cùng có lợi Để thực hiện nguyên tắcnày cần phải nâng cao trình độ hiểu biết về các lĩnh vực ký kết thông qua việcxây dựng các điều khoản quy định quyền lợi, trách nhiệm của các bên trong cáchợp đồng

Nguyên tắc tiếp theo là nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và không canthiệp vào công việc nội bộ của mỗi quốc gia bởi vì mỗi quốc gia với tư cách làquốc gia độc lập đều có chủ quyền về kinh tế, chính trị, xã hội và địa lý Đâycũng là nguyên tắc để đảm bảo yêu cầu của nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi

Thứ tư là nguyên tắc giữ vững độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủnghĩa Đây là nguyên tắc cơ bản nhất trong việc phát triển kinh tế đối ngoại củaViệt Nam Mọi hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại đều phải hướng vàomục tiêu độc lập tự chủ và chủ nghĩa xã hội

2.2 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG ĐANG PHÁT TRIỂN THỜI GIAN QUA.

2.2.1 Trước năm 2009

Trong các nước ASEAN, Singapore luôn là thị trường buôn bán số 1 của ViệtNam Từ nhiều năm nay, Singapore duy trì chính sách thương mại, mậu dịch tự do

Trang 9

thông thoáng, 96% hàng hoá xuất nhập khẩu ra vào thị trường Singapore không phảichịu thuế Vì vậy, nhiều năm qua Singapore được coi như thị trường truyền thốngtrung gian cho hàng hoá xuất nhập khẩu của Việt Nam với thế giới vì đây là cảng biểnvận chuyển và chuyển tải hàng hoá hết sức thuận lợi của khu vực ASEAN

Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore ước đạt 1,51 tỷUSD, năm 2008 sẽ tăng lên 1,8 tỷ USD Với mức tăng trưởng xuất khẩu như trên thìđến năm 2010, Việt Nam sẽ đạt mức xuất khẩu 2,7 tỷ USD vào thị trường này Tuy nhiên, để có thể thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trườngSingapore trong thời gian tới, Việt Nam cần thành lập phòng trưng bày và giới thiệusản phẩm để quảng bá sản phẩm với các khách hàng tại đây vì ngoài thương nhân sởtại còn có khách hàng phương Tây và các nước khác qua lại

Đối với Thái Lan, năm 2007, Việt Nam xuất khẩu sang Thái Lan đạt 950 triệuUSD và năm 2008 là 1,15 tỷ USD Do tính tương đồng về cơ cấu mặt hàng xuất khẩucủa Việt Nam và Thái Lan nên các mặt hàng nông sản của Việt Nam khó thâm nhậpđược vào thị trường Thái Lan

Hiện nay, Việt Nam và Thái Lan đang thiết lập một cơ chế hợp tác xuất khẩugạo để tránh cạnh tranh trên thị trường và gây thiệt hại về giá gạo xuất khẩu của 2nước Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Thái Lan hiện nay đứngđầu là mặt hàng máy vi tính và linh kiện điện tử với kim ngạch 294 triệu USD, tiếpđến là dầu thô 192 triệu USD

Thị trường đạt kim ngạch xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam trong khốiASEAN là Malaysia Xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này trong năm 2007khoảng 1,23 tỷ USD

Riêng 11 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Malaysiađạt 1,14 tỷ USD với mặt hàng dầu thô đứng đầu đạt 582 triệu USD, tiếp đến là gạo132,6 triệu USD, hải sản 38,7 triệu USD, hàng dệt may 25 triệu USD, cao su 17 triệuUSD, cà phê 14,6 triệu USD, máy vi tính và linh kiện điện tử 13 triệu USD

Nếu chia các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Malaysia thành

4 nhóm thì tốc độ tăng trưởng cụ thể của các nhóm như sau: nhóm nguyên liệu thôtăng mạnh nhất 112,4%, nhóm lương thực thực phẩm tăng 78%, nhóm hàng côngnghiệp tăng 51,6% và nhóm hàng thủ công mỹ nghệ tăng không đáng kể

Dự kiến năm 2008, Việt Nam xuất khẩu sang Malaysia khoảng 1,3 tỷ USD.Với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân 18%/ năm thì đến năm 2010, Việt Nam sẽxuất khẩu sang thị trường này 2,13 tỷ USD

Trang 10

Với kim ngạch xuất khẩu năm 2007 đạt 1 tỷ USD, Indonesia là thị trườngđứng thứ 3 về kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước ASEAN Chỉ tính riêng 11 tháng đầu năm 2007, Việt Nam đã xuất khẩu sang thị trườngIndonesia 933 triệu USD, trong đó dầu thô (đạt 622,6 triệu USD) và gạo (đạt 83 triệuUSD) là 2 mặt hàng chiếm 80% kim ngạch Tuy nhiên, vị trí trên luôn có nguy cơgiảm xuống bởi nhìn chung, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trườngnày không bền vững, nếu Indonesia ngừng nhập khẩu gạo hoặc Việt Nam không cònxuất khẩu dầu thô sang Indonesia thì kim ngạch xuất khẩu sẽ tụt mạnh Hơn nữa, đặcđiểm thị trường Indonesia chính trị xã hội chưa thật sự ổn định, thường thay đổi chínhsách thương mại cũng là những trở ngại trong việc thúc đẩy xuất khẩu sang thị trườngnày Bộ Thương mại dự kiến năm 2008, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này đạtkhoảng 1,3 tỷ USD

Đối với Philippines, mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang thị trườngnày trong năm 2007 là gạo, tiếp đến là máy vi tính và linh kiện điện tử Có 4 nhómmặt hàng chính gồm lương thực và thực phẩm đứng đầu (chiếm 50 - 60% tổng kimngạch xuất khẩu), nhóm hàng công nghiệp, nguyên liệu, hàng tiêu dùng

Dự kiến năm 2008, Việt Nam sẽ xuất khẩu sang thị trường Philippines 1 tỷ USD vàđến năm 2010 ước đạt 1,64 tỷ USD

Một thị trường nữa cũng được dự đoán sẽ đạt kim ngạch xuất khẩu 1 tỷ USDtrong năm 2008 là Campuchia Năm 2007, do công tác xúc tiến thương mại với thịtrường này được thực hiện mạnh mẽ nên đã thúc đẩy kim ngạch buôn bán nói chung

và xuất khẩu nói riêng, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 770 triệu USD, tăng 43,7%

so với năm 2005

Các mặt hàng có kim ngạch khá như sản phẩm chất dẻo, hàng dệt may, mỳ ănliền, xe đạp và phụ tùng Với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu dự kiến tăng 29,8% trongnăm 2007 và được duy trì trong những năm tiếp theo, đến năm 2010, xuất khẩu củaViệt Nam sang Campuchia sẽ đạt mức 1,55 tỷ USD

Các thị trường mà Việt Nam có kim ngạch xuất khẩu thấp nhất gồm Lào,Myanmar và Brunei Trong năm 2007, Việt Nam xuất khẩu sang Lào khoảng 90 triệuUSD, Myanmar khoảng 14,5 triệu USD và Brunei khoảng 4,5 triệu USD

Để có thể đẩy mạnh xuất khẩu sang Lào trong những năm tới, cần thực hiệntốt các cam kết ưu đãi về thương mại giữa 2 Chính phủ như giảm thuế, tăng cườngcác hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư xây dựng các trung tâm thương mại, chợViệt Nam tại các tỉnh, thành phố lớn của Lào

Trang 11

Đối với Myanmar, nhìn chung, việc đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trườngnày là một điều khó khăn vì tình hình chính trị không ổn định và cơ chế thanh toán cónhiều bất cập.

Còn Brunei là một thị trường hẻo lánh, ít dân, do vị trí địa lý và điều kiệnkhông thuận lợi nên quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Brunei chưa phát triển

Bảng 1: Thống kê sơ bộ kết quả xuất khẩu năm 2009

Thủy tinh và các sản phẩm bằng thủy tinh 277.757

Đá quý và kim loại quý 2.732.287

Sắt thép các loại 349.537

Sản phẩm từ sắt thép 590.182

Trang 12

Linh kiện điện tử và vi tính 2.820.229

Máy móc, thiết bị, dụng cụ khác 1.920.141

Dây điện và dây cáp điện 872.515

Phương tiện vận tải và phụ tùng 923.210

Tàu thuyền các loại 300.682

Thứ hai, kinh tế thế giới trong năm 2010 còn trồi sụt, chưa thật vững chắc,theo dự báo có khả năng tăng trưởng khoảng 3,2%

Thứ ba, có nhiều mặt hàng có khả năng phát triển xuất khẩu trong năm 2010như cao su 80% lượng cao su tự nhiên được dùng cho ngành công nghiệp lắp ráp ôtô

và thị trường ôtô năm 2010 là phát triển, trong khi đó, khả năng cung cấp cao su củanhiều nước trên thế giới là giảm, cho nên nhu cầu tăng, lượng cung giảm, vì vậy giácao su sắp tới tương đối tốt Mặt hàng gạo có khả năng phát triển tốt, vấn đề là chúng

ta làm thế nào bán ở giá tốt nhất, lựa chọn đơn hàng và đấu thầu một cách thông minh

để chọn được giá tốt

Trong nội bộ doanh nghiệp cần khắc phục tình trạng cạnh tranh thiếu lànhmạnh, dẫn tới ghìm giá nhau hoặc giảm giá đi để bán lấy được, mang lại thiệt hại lớncho cộng đồng

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Việt Nam cũng cần chú ý thêm là năm 2010

có rất nhiều rào cản và những quy định mới của các thị trường xuất hiện Ví dụ dệtmay đến năm 2010 các nhà đặt hàng chỉ nêu ý tưởng, chúng ta phải thiết kế, như vậyđòi hỏi vai trò doanh nghiệp lớn, giữ vai trò đầu tàu, những doanh nghiệp nhỏ sẽ coinhư quy tụ xung quanh để giải quyết việc này Thị trường EU sẽ đưa ra những rào cảnrất khó vượt qua cho ngành thủy hải sản, như quy định truy xuất nguồn gốc thủy hảisản đánh bắt… Chúng ta cũng không loại trừ một số biện pháp mang tính chất bảo hộcủa một số thị trường và đưa ra thông tin xấu như trong việc xuất khẩu cá tra, cá basathời gian qua, nên cũng phải đề phòng

Trang 13

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), năm 2010 sẽ là năm “vàng” cho

XK gạo bởi nhu cầu của thị trường thế giới tăng cao Thị trường tốt, giá bán sẽ tăng

Do đó, các DN XK gạo cần liên kết chặt chẽ giữa sản xuất và kinh doanh; nâng caochất lượng và xây dựng thương hiệu để nâng cao giá trị sản phẩm Được biết, chính sựcạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực XK gạo đã khiến trong năm 2009, mặthàng gạo XK của VN nhiều thời điểm bị ép giá thấp VFA cho biết, tính đến hết tháng25/11/2009, Việt Nam đã xuất khẩu được 5,6 triệu tấn gạo, đạt giá trị 2 tỷ 266 triệuUSD, tăng 33% về số lượng, nhưng lại giảm 7,7% giá trị so với cùng kỳ năm 2008

Đối với mặt hàng thủy sản XK, tình hình sẽ khó khăn hơn bởi từ 1/1/2010,quy định của EC về hoạt động đánh cá bất hợp pháp, không có báo cáo và không theoquy định (IUU) sẽ chính thức có hiệu lực Đây sẽ là rào cản mới đối với hoạt động

XK thuỷ sản của VN (chủ yếu là các sản phẩm đánh bắt từ biển) và có thể tác độngkhông tốt với các DN XK thuỷ sản Do đó, Bộ NNPTNT đã giao cho Cục Khai thác

và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản phối hợp với Cục Quản lý chất lượng nông - lâm sản vàthuỷ sản hoàn thiện Quy chế chứng nhận thủy sản có nguồn gốc từ khai thác để phổbiến cho DN XK thủy sản và ngư dân Dự kiến, Quy chế này sẽ sớm được phê duyệt

Về mặt hàng gỗ, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, ôngNguyễn Tôn Quyền cho biết, kim ngạch XK đồ gỗ trong năm 2009 vẫn đạt khoảng2,7 tỷ USD, chỉ thấp hơn năm 2008 khoảng 100 triệu USD Từ đầu quý IV/2009 trởlại đây, kim ngạch XK đồ gỗ đã tăng trưởng trở lại Năm 2010, Hiệp hội cố gắngphấn đấu đạt giá trị XK sản phẩm gỗ tăng từ 8-10% so với năm nay Hiệp hội sẽ đăng

ký với Bộ Công Thương kim ngạch khoảng 3 tỷ USD Theo ông Quyền, đón tín hiệulạc quan từ thị trường, các DN đã chuẩn bị khá tốt cho năm 2010 Về nguyên liệu,nhiều DN đã tăng cường sử dụng nguồn gỗ rừng trồng trong nước Cho đến nay, riêngnguồn cung nguyên liệu gỗ trong nước đã đảm bảo đáp ứng được 30%

Với ngành Dệt may, kết quả tương đối khả quan trong năm 2009 (dự kiến kimngạch xuất khẩu tăng trưởng khoảng 1 - 2% so với năm 2008, đạt 9,2 tỷ USD) là độnglực để đặt ra kế hoạch năm 2010 đạt khoảng 10,2 - 10,5 tỷ USD Tập đoàn Dệt mayViệt Nam đã chủ trương yêu cầu các thành viên trong Tập đoàn tăng cường liên kếtđưa sản phẩm của DN bạn tiêu thụ tại các thị trường truyền thống của mình nhằm tiếtkiệm chi phí XTTM

Mặt hàng cao su XK trong 10 tháng qua đã tăng 2,5% so với năm 2008, lên tới539.000 tấn, nhưng kim ngạch sút giảm 41,2%, chỉ còn 823 triệu USD Dự báo, lượng

Trang 14

cao su XK của Việt Nam trong năm tới sẽ đạt 700.000 tấn, tăng 17% so với năm 2009với kim ngạch ước đạt 1,4 tỷ USD.

2.2.3 Hiệp định thúc đẩy xuất khẩu Việt Nam.

Hiệp định AANZFTA sẽ thúc đẩy xuất khẩu và phát huy tính chất bổ trợ lẫn nhau trong quan hệ thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Australia.

Từ 1/1/2010, Hiệp định thành lập Khu vực Tự do Thương mại Australia-New Zealand (AANZFTA) chính thức có hiệu lực

ASEAN-CôngThương - AANZFTA sẽ cắt giảm hoặc xoá bỏ thuế quan trên toànkhu vực với dân số 600 triệu người và có tổng GDP 3,1 tỷ đô la Australia TheoAANZFTA, Australia sẽ giảm thuế suất một cách hệ thống cho tất cả các dòngthuế, với 100% dòng thuế sẽ được dỡ bỏ vào cuối 2020 Ngược lại, thuế quancủa 96% dòng thuế các hàng hoá xuất khẩu của Australia sang các nướcASEAN sẽ được dỡ bỏ vào cuối năm 2020

AANZFTA cũng sẽ giảm bớt các rào cản thương mại dịch vụ và đưa ra

sự bảo vệ cho các nhà đầu tư, bao gồm thông qua các điều khoản về sở hữu trítuệ, chính sách cạnh tranh và thương mại điện tử Theo Hiệp định này,Australia sẽ cung cấp đến 20 triệu đô la Australia cho việc xây dựng năng lực

và hỗ trợ kỹ thuật cho Việt Nam các nước đang phát triển trong ASEAN để hỗtrợ cho việc thực hiện Hiệp định

Đại sứ Australia tại Việt Nam- ngài Allastex Cox khẳng định, đây làHiệp định Thương mại Tự do lớn nhất mà Australia từng ký kết và là Hiệp địnhThương mại Tự do toàn diện nhất bắt đầu đi vào hiệu lực đối với ASEAN.Hiệp định này sẽ hỗ trợ các ngành công nghiệp của cả Việt Nam và Australiathông qua việc thúc đẩy xuất khẩu và phát huy tính chất bổ trợ lẫn nhau trongquan hệ thương mại và đầu tư của hai nước”

Việc ký kết Hiệp định trong thời gian khủng hoảng kinh tế toàn cầu thểhiện rõ cam kết của Australia và khu vực cho việc mở cửa thị trường Đại sứCox nhấn mạnh, chúng tôi mong chờ được hợp tác với Việt Nam và các bêncủa Hiệp định Thương mại Tự do để có thể tận dụng thật tốt Hiệp định này vàđẩy mạnh hơn nữa sự hợp tác của chúng ta nhằm hỗ trợ cho sự hội nhập kinh tếcủa Việt Nam

Trang 15

AANZFTA được các bộ trưởng thương mại các nước ASEAN, Australia

và New Zealand ký kết ngày 27 tháng 2 năm 2009 tại Hua Hin, Thái Lan ViệcAANZFTA bắt đầu đi vào hiệu lực là một bước tiếp theo quan trọng trong việchợp tác và hội nhập kinh tế mạnh mẽ hơn trong khu vực

Hiệp định song phương giữa Việt Nam và Capuchia

2.2.4 Xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường đang phát triển.

Số lượng sản phẩm của Việt Nam có mặt tại thị trường đang phát triểntương đối lớn Đây là điều đáng mừng vì như vậy tốc độ tăng trưởng xuất khẩucủa Việt Nam sang các thị trường đang phát triển trước năm 2009 tăng rất cao

Những mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang thị trường đang phát triểnchủ yếu là hàng may mặc và giày dép, chiếm tỷ lệ cao khoảng 70 - 80% nhưngchủ yếu là gia công nên sản phẩm xuất khẩu thường mang nhãn mác của cáccông ty lớn trên thế giới

Sản phẩm mang nhãn mác của các doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế,

do trong thời gian qua chúng ta vẫn khuyến khích may gia công xuất khẩu sangsang thị trường đang phát triển, nhưng trong thời gian tới cũng nên tìm cách đểcác mặt hàng này của Việt Nam sẽ thâm nhập sâu hơn vào thị trường đang pháttriển

Hầu hết các nhà xuất khẩu đều cho rằng triển vọng xuất khẩu khá biquan Cho đến nay, dù không có dấu hiệu nào rõ ràng trên thị trường nhưnghơn một nửa các nhà xuất khẩu tham gia vào cuộc điều tra của CBI cho rằngxuất khẩu sẽ sụt giảm nghiêm trọng hoặc cực kì nghiêm trọng

Điểm đáng chú ý ở đây là giá trị xuất khẩu bị thu hẹp do các nhà nhậpkhẩu châu Âu đang sử dụng cuộc khủng hoảng và vị thế thị trường mạnh củamình để dìm giá xuống khiến lợi nhuận xuất khẩu chịu áp lực lớn

Khủng hoảng kinh tế đã khiến nhiều đồng tiền bị mất giá đáng kể, đángchú ý là đồng bảng Anh Tỉ giá hối đoái của đồng euro so với đồng đô la Mỹcũng đã giảm xuống khiến giá trị xuất khẩu từ các nước đang phát triển sangchâu Âu bị thu hẹp

Các nhà xuất khẩu và các tổ chức xúc tiến thương mại (XTTM) cũnglưu ý rằng doanh nghiệp châu Âu đang kém hào hứng với việc xây dựng quan

Trang 16

hệ thương mại lâu dài Thay vào đó, các đơn hàng của họ có quy mô nhỏ hơn,điều này gây bất lợi cho ngành sản xuất hàng tươi sống như là rau quả

Nhiều nhà sản xuất và tổ chức XTTM cũng báo cáo là chi phí sản xuấtđang tăng lên, hoặc ít ra là chi phí vật liệu thô, lao động và chi phí vận chuyểnđang giảm ở tốc độ chậm hơn so với sự đi xuống của giá cả xuất khẩu

Việc làm trong ngành rau quả cũng không được duy trì ổn định Lí dochính là vì hầu hết các nhà sản xuất đang thuê lao động công nhật và chỉ giữlực lượng lao động ở mức “cơ bản”

Tiếp cận nguồn tín dụng cũng là một vấn đề lớn mà những công ty ở cácnước đang phát triển phải đối mặt, đặc biệt là các nhà sản xuất nhỏ Điều tracho thấy khó khăn trong tiếp cận tín dụng dành cho vốn hoạt động khiến việc

hỗ trợ tài chính cho đầu tư và xuất khẩu cũng trở nên khó khăn

Việc tăng chi phí sản xuất và giảm giá bán khiến lợi nhuận giảm sút, tácđộng tiêu cực đến nguồn vốn hoạt động

Về vốn đầu tư, nhằm phù hợp với các quy định của châu Âu về an toànthực phẩm, các công ty phải đầu tư cải thiện sản xuất, phương thức vận tảicũng như đạt được các tiêu chuẩn chứng nhận Nguồn tín dụng đầu tư lại đang

ít đi với các điều kiện cho vay vốn ngày càng khắt khe ( như yêu cầu về thếchấp, vốn tự có, kế hoạch kinh doanh…)

Tài trợ xuất khẩu cũng co lại khi các ngân hàng ngày càng do dự trongviệc cung cấp các khoản tín dụng và bảo lãnh xuất khẩu

Các nhà nhập khẩu châu Âu thì không thể hoặc không sẵn sàng bù đắpcho phần vốn thiếu hụt Vì vậy nhiều nhà xuất khẩu rau quả đang gặp vấn đề vềtính thanh khoản

Nhìn chung, các nguy cơ chính do những nhà xuất khẩu và các cơ quanXTTM đưa ra bao gồm:

- Việc chậm thanh toán và khả năng tài trợ thương mại hạn chế (của cácnhà nhập khẩu);

- Giá cả một số nhóm sản phẩm chịu áp lực lớn;

- Nhu cầu một số mặt hàng giảm, nhất là với rau quả nhiệt đới đắt tiền,rau quả trái mùa và các sản phẩm mới;

Trang 17

- Nhu cầu nội địa thấp, không có liên kết giữa cung - cầu nên thị trườngnội địa khó trở thành lựa chọn thay thế của các nhà xuất khẩu;

- Quy mô đơn đặt hàng giảm sút do nhiều nhà nhập khẩu châu Âu trướcđây thường đặt đơn hàng lớn hiện đang muốn giảm rủi ro;

- Giá dầu thấp nhưng chi phí vận tải và chi phí sản xuất nông nghiệpnhư giá phân bón, giá hạt giống không giảm Ở một số nước, giá còn tăng vìnguyên nhân tỉ giá Chi phí lao động và chi phí đóng gói cũng không linh hoạt

Tính riêng với hoa quả nhiệt đới, khủng hoảng đã khiến xuất khẩu xoài,dứa, các loại chuối và nhiều sản phẩm khác gần đây mới được tung ra thịtrường châu Âu như mít, lạc tiên…bị giảm sút Trong số các loại không phảihoa quả nhiệt đới, dâu tây và nho là bị ảnh hưởng nhiều nhất Xuất khẩu cácloại rau đắt tiền cũng chịu tác động nặng nề

Các sản phẩm được cho là có tiềm năng bao gồm dưa hấu, khoai tâyngọt, chanh, lựu, đào

Tất cả các chuyên gia đều dự đoán xuất khẩu rau quả từ các nước đangphát triển sẽ giảm, nhưng con số cụ thể thì rất khó đưa ra Tờ báo thương mại

‘GroenteenFruit’ của Hà Lan dự đoán xuất khẩu rau quả sang châu Âu sẽ giảm

Ngoài ra trong năm 2009, do giá dầu thô giảm mạnh và một phần sảnlượng dầu thô khai thác ở trong nước được dành cho nhà máy lọc dầu DungQuất cũng đã kéo kim ngạch xuất khẩu dầu thô giảm mạnh, giảm tới 36,5%.Nếu không tính mặt hàng dầu thô thì kim ngạch xuất khẩu của cả nước năm

2009 chỉ giảm có 3,5%

Ngày đăng: 12/12/2013, 17:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Thống kê sơ bộ kết quả xuất khẩu năm 2009 - Tài liệu Báo cáo chuyên đề Thị trường - Tài chính - Ngân hàng doc
Bảng 1 Thống kê sơ bộ kết quả xuất khẩu năm 2009 (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w