Trong khuôn khổ Sáng kiến Tuyển dụng Công bằng, tài liệu hướng dẫn này được biên soạn hướng đến việc thúc đẩy các đóng góp cho chiến dịch TOGETHER của Liên Hợp Quốc, thúc đẩy sự tôn trọn
Trang 1NOTES
Trang 3ĐƯA TIN VỀ VẤN ĐỀ
CƯỠNG BỨC LAO ĐỘNG VÀ TUYỂN DỤNG CÔNG BẰNG
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN CỦA ILO
DÀNH CHO CÁC NHÀ BÁO VIỆT NAM
Văn phòng ILO tại Việt Nam gồm Jane Hodge, Trần Quỳnh Hoa, Nguyễn Thị Mai Thủy và Alan
Hewson biên soạn lại cho Việt Nam
Trang 4Các ấn phẩm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) có bản quyền được bảo vệ theo Nghị định thư 2 của Công ước Bản quyền Toàn cầu Tuy nhiên, người đọc vẫn có thể trích dẫn các đoạn ngắn mà không cần xin phép, với điều kiện là phải dẫn nguồn đầy đủ Để xin phép sao chép hoặc dịch lại tài liệu này, vui lòng nộp đơn cho ILO Publications (Quyền và Cấp phép), Văn phòng Lao động Quốc tế, CH-1211 Geneva 22, Thụy Sĩ hoặc qua email: Rights@ilo.org Tổ chức Lao động Quốc tế ILO hoan nghênh việc này
Các thư viện, tổ chức hoặc những người dùng khác có đăng ký với các tổ chức về quyền sao chép có thể tạo các bản sao theo giấy phép đã được cấp cho mục đích này Truy cập www.ifrro.org để liên hệ với các tổ chức về quyền sao chép tại nước bạn
Đưa tin về vấn đề cưỡng bức lao động và việc tuyển dụng công bằng: Tài liệu hướng dẫn của ILO dành cho báo chí
Cưỡng bức lao động / tuyển dụng công bằng / di cư lao động / báo chí / nhà báo / truyền thông / buôn người
Vụ điều kiện làm việc và Bình đẳng, Cục Lao động Di cư và vụ Quản trị và Cơ chế ba bên, Vụ Nguyên tắc cơ bản và Quyền tại nơi làm việc
ISBN: 9789220338803 (Bản in)
ISBN: 9789220338810 (Web PDF)
Tổ chức Lao động Quốc tế tại Việt Nam
Ấn phẩm này (bao gồm bản dịch tiếng Việt) trích xuất, điều chỉnh và sao chép từ nguồn sau:
ISBN: 978-92-2-133006-6 (print); 978-92-2-133007-3 (web pdf) Tài liệu hướng dẫn dành cho các nhà báo> Đưa tin về lao động cưỡng bức và tuyển dụng công bằng Geneva (2019), ISBN: 978-92-2-133006-6 (print); 978-92-2-133007-3 (web pdf)
Các chỉ định được sử dụng trong các ấn phẩm của ILO phù hợp với thông lệ của Liên Hợp Quốc và việc giới thiệu tài liệu này không ngụ ý thể hiện bất kỳ ý kiến nào của Tổ chức Lao động Quốc tế liên quan đến tính pháp lý của bất kỳ quốc gia, khu vực hoặc lãnh thổ nào cũng như tính pháp lý của chính quyền quốc gia, hoặc liên quan đến việc phân định biên giới của quốc gia đó
Trách nhiệm đối với các ý kiến thể hiện trong các bài báo, nghiên cứu và các đóng góp khác chỉ thuộc về tác giả của các tài liệu đó và việc xuất bản tài liệu không phải là sự chứng thực của Tổ chức Lao động Quốc
tế về các ý kiến thể hiện trong đó
Sự xuất hiện tên của các công ty, các sản phẩm và quy trình thương mại trong tài liệu không ngụ ý thể hiện
sự xác nhận và tán thành của Tổ chức Lao động Quốc tế ILO; và việc không đề cập đến một công ty, sản phẩm thương mại hoặc quy trình cụ thể không phải là dấu hiệu của sự từ chối hay bác bỏ
Thông tin về các ấn phẩm và sản phẩm kỹ thuật số của ILO được đăng tại: www.ilo.org/publns
Trang 5Tài liệu hướng dẫn này được Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) biên soạn ILO là một cơ quan chuyên
môn của Liên hợp quốc Từ năm 1919 đến nay, ILO đã cùng các chính phủ, người sử dụng lao động và
người lao động của 187 quốc gia thành viên thiết lập các tiêu chuẩn lao động, xây dựng các chính sách
và đưa ra các chương trình thúc đẩy việc làm bền vững cho cả phụ nữ và nam giới
Trong khuôn khổ Sáng kiến Tuyển dụng Công bằng, tài liệu hướng dẫn này được biên soạn hướng
đến việc thúc đẩy các đóng góp cho chiến dịch TOGETHER của Liên Hợp Quốc, thúc đẩy sự tôn trọng,
an toàn và nhân phẩm cho người tị nạn và người di cư, và cho chiến dịch 50 vì Tự do (50 for Freedom),
nhằm mục đích huy động sự ủng hộ phê chuẩn Nghị định thư về lao động cưỡng bức của ILO
Tài liệu này cũng nhằm mục đích đóng góp thêm cho Liên minh 8.7, một chương trình hợp tác toàn
cầu nhằm cam kết đạt được Mục tiêu 8.7 của các Mục tiêu phát triển bền vững trong việc xóa bỏ lao
động cưỡng bức, nô lệ hiện đại, buôn bán người và lao động trẻ em trên toàn thế giới
Nhiều tổ chức và cá nhân đã đóng góp cho bộ công cụ này, bao gồm Liên đoàn Nhà báo Quốc tế (IFJ),
nhân viên ILO ở nhiều văn phòng quốc gia, và các nhà báo từ nhiều nước trên thế giới Bộ Thuật ngữ
thân thiện với truyền thông (Media-Friendly Glossary) của tài liệu này được biên soạn cùng Liên minh
các nền văn minh Liên hợp quốc (UNAOC) và thuộc bản quyền chung của hai tổ chức
Nguyên tác bộ tài liệu này do nhóm tác giả Charles Autheman, Kevin Burden, Cassandre Guibord Cyr,
Nicolás Castellano, Lou Tessier, Jane Colombini, Maria Gallotti, Mélanie Belfiore and Clara van Panhuys
xây dựng dựa trên những bài học rút ra từ một số chương trình truyền thông của ILO và các cơ quan
khác, cũng như dựa trên bề dày kinh nghiệm của IFJ Nhóm tác giả xin gửi lời cảm ơn đến Joanne
Land-Kazlauskas, người đã chỉnh sửa ngôn ngữ của ấn phẩm gốc Bộ tài liệu này đã được nhóm chuyên gia
từ ILO biên soạn lại cho Việt Nam, bao gồm: Bà Jane Hodge, Bà Trần Quỳnh Hoa, Ông Alan Hewson và
Bà Nguyễn Thị Mai Thủy
Nhóm tác giả của tài liệu hướng dẫn và các tác giả của các tác phẩm báo chí khác nhau được đề cập
đến trong tài liệu này chịu trách nhiệm về nội dung và mọi ý kiến thể hiện trong ấn phẩm Tài liệu này
không thể hiện bất kỳ quan điểm chính thức nào của ILO
LỜI NÓI ĐẦU
Trang 6NOTES
Trang 7MỤC 4.1 – SỬ DỤNG LOẠI HÌNH BÁO CHÍ NÀO?
MỤC 5.1 – TÁC ĐỘNG, GIẢI THƯỞNG VÀ CHUYÊN MÔN HÓA
MỤC 1.2 – CƯỠNG BỨC LAO ĐỘNG
MỤC 2.2 – TÌM ĐỀ TÀI
MỤC 3.2 – AN TOÀN
MỤC 4.2 – VIẾT BÀI THEO CHUỖI
MỤC 5.2 – MỘT SỐ LỜI KHUYÊN CUỐI
MỤC 1.3 – CƠ HỘI VIỆC LÀM BỀN VỮNG THÔNG QUA TUYỂN DỤNG CÔNG BẰNG
CHƯƠNG 3 CHUẨN BỊ TƯ LIỆU
CHƯƠNG 4 KỂ LẠI CÂU CHUYỆN
CHƯƠNG 5 THEO DÕI ĐỀ TÀI
Trang 8NOTES
Trang 9LÝ DO SỬ DỤNG BỘ TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN
Bộ tài liệu hướng dẫn này được biên soạn để giúp các nhà báo và phóng viên viết tin bài về tuyển dụng
công bằng và vấn đề cưỡng bức lao động Người đọc không cần phải có kiến thức nền trước khi đọc tài
liệu hướng dẫn này Bạn có thể tham khảo nội dung tài liệu theo tốc độ phù hợp với bản thân mình
Chúng tôi khuyến nghị người đọc nên đọc theo thứ tự tài liệu đã đề ra, tuy nhiên việc này là không bắt
buộc Nếu bạn không có nhiều thời gian, bạn có thể tìm trước trong tài liệu phần có thông tin mà mình
cần, và sau đó đọc tiếp những phần khác để mở mang kiến thức của mình
VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG
GIỚI THIỆU
“TÔI ĐÃ PHẢI ĂN THỨC ĂN CHO CHÓ ĐỂ SỐNG”
- Hugo Bachega
Maria (tên nhât vật đã được thay đổi) từ Philippines đến Brazil để làm người giúp việc cho một gia đình
khá giả tại thành phố Sao Paulo
Cô phải giúp bà mẹ của gia đình này chăm sóc ba đứa trẻ đang ở độ tuổi đi học và một em bé Sau đó,
cô phải lau dọn căn hộ rộng lớn của gia đình, dắt chó đi dạo và cho bọn trẻ đi ngủ Cô thường phải làm
việc liên tục hàng tuần liền mà không được phép nghỉ một ngày nào Vì bận việc, cô cũng thường xuyên
không có thời gian để ăn Cho đến một buổi sáng, Maria thức dậy và thấy đau bụng vì chưa ăn gì, tuy
nhiên cô vẫn còn nhiều việc phải làm Phải hàng tiếng đồng hồ sau đó cô mới kiếm được cái gì đó để bỏ
bụng: đó là khi cô đang nấu thịt cho con chó của gia đình và quyết định giữ lại một nửa để ăn
“Để sống, tôi chẳng có lựa chọn nào khác cả” Maria đã phải trả $2000 (tương đương £1,500) cho công
ty tuyển dụng Gia đình thuê cô trả cho công ty này $6000, kèm theo đó là chi phí máy bay tới Brazil
Điều mà không ai nói cho những người lao động khi ứng tuyển là: họ chỉ có thể lấy visa nếu như có việc
làm Nghĩa là kể cả khi người lao động cảm thấy điều kiện lao động tồi tệ, họ cũng không thể bỏ việc và
đi kiếm việc làm mới Và để có giấy phép làm việc mới, họ buộc phải rời Brazil.”
Đọc toàn bộ câu chuyện đăng tải vào ngày 11 tháng 12 năm 2017 theo đường link https://www.bbc
com/news/world-latin-america-41857444
Trang 10Là con người, chúng ta có thể thấy phẫn nộ khi đọc câu chuyện này Là một nhà báo, bạn có thể đưa ra những hành động thực tế
Các nhà báo có tiếng nói mà nhiều người dân bình thường khác không có Họ có khả năng đưa ra ánh sáng những hành vi ngược đãi, vi phạm quyền con người, cũng như báo động cho người đọc về những sai phạm này Nhà báo có cơ hội thay đổi ý kiến của dư luận, thậm chí là thay đổi chính sách và tác động đến cuộc sống của người lao động Bên cạnh đó, các nhà báo cũng có nghĩa vụ đạo đức rõ ràng,
đó là không làm cho vấn đề trở nên tồi tệ hơn Điều này có thể xảy ra khi các phóng viên và biên tập viên sử dụng ngôn ngữ mang tính miệt thị người lao động hoặc cố tình dùng các tiêu đề giật gân.Viết tin bài về các vấn đề nhân quyền như cưỡng bức lao động và tuyển dụng công bằng không giống như viết tin bài thông thường Nhà báo phải mất nhiều thời gian hơn cho công tác điều tra, phỏng vấn nhiều nguồn khác nhau, song song với đó là cân nhắc và xác minh các thông tin này
Nhiều tin bài về vấn đề cưỡng bức lao động và tuyển dụng công bằng được coi là “glocal” (global + local) Những tin bài này có tác động tại địa phương (local) và có thể tạo ra ảnh hưởng tới toàn cầu (global) Ví dụ, những người lao động đang mắc kẹt trong ngành may mặc có thể chính là những người
đã làm ra quần áo mà độc giả của bạn đang mặc Do đó, khi viết tin bài, hiểu được các tương tác kinh tế đương đại và các cơ chế sản xuất toàn cầu là rất quan trọng
Trong phần tiếp theo, chúng tôi sẽ đưa ra một số thông tin và lời khuyên để giúp các nhà báo viết tin bài chính xác và hiệu quả hơn về vấn đề cưỡng bức lao động và tuyển dụng công bằng Bên cạnh đó là các ví dụ về những tin bài hay và hiệu quả, cũng như lời khuyên từ các nhà báo có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực đầy thách thức này
Trang 11HIỂU RÕ CÂU CHUYỆN
CHƯƠNG
1
MỤC 1.1: THỐNG NHẤT THUẬT NGỮ
Trong quá trình viết tin bài về vấn đề lao động cưỡng bức và tuyển dụng công bằng, các nhà báo cần
hiểu rằng một số thuật ngữ đã được định nghĩa chính thức nhưng một số thì chưa Việc nắm rõ định
nghĩa và các cách hiểu của những thuật ngữ này là một phần quan trọng trong quá trình chuẩn bị mà
các nhà báo cần làm trước khi viết tin bài Việc không hiểu rõ ý nghĩa của các thuật ngữ bạn muốn sử
dụng sẽ ảnh hưởng đến việc viết tin bài một cách chính xác, cũng như gây khó khăn khi bạn muốn đặt
câu hỏi cho nguồn tin của mình
Từ điển, bộ thuật ngữ và sách hướng dẫn báo chí là những trợ thủ đắc lực giúp các nhà báo nâng cao
chuyên môn cũng như chất lượng của các sản phẩm truyền thông của mình ILO đã phát triển một bộ
thuật ngữ về di cư thân thiện với truyền thông (media-friendly glossary) về di cư với tên gọi Thuật ngữ
thân thiện với truyền thông về tuyển dụng công bằng và cưỡng bức lao động - phiên bản dành cho
Việt Nam Bạn có thể truy cập bộ thuật ngữ qua https://readymag.com/ITCILO/1720704/
MỤC 1.2 – CƯỠNG BỨC LAO ĐỘNG
Cưỡng bức lao động có thể tồn tại ở nhiều dạng khác nhau Nạn nhân cưỡng bức lao động thường bị
lừa gạt để làm những công việc có mức lương ít ỏi, hoặc thậm chí là không có lương; do trước đó họ
đã bị thao túng dẫn đến phải vay nợ hoặc bị tịch thu giấy tờ tùy thân Một số nguyên nhân khiến người
lao động dễ rơi vào hoàn cảnh này bao gồm nghèo đói, mù chữ, bị phân biệt đối xử và việc di cư
Trang 12A CƯỠNG BỨC LAO ĐỘNG LÀ GÌ?
Thuật ngữ “cưỡng bức lao động” bao gồm nhiều hình thức cưỡng chế lao động, trong đó người lao động bị buộc phải làm việc Những người bị cưỡng bức lao động đã không có sự tự do và nhận được đầy đủ thông tin khi đồng ý thực hiện công việc và/ hoặc không được tự do nghỉ việc Tin tức thời sự và các phương tiện truyền thông thường sử dụng những thuật ngữ như: buôn người (human trafficking),
lệ thuộc vì nợ (debt bondage), lao động lệ thuộc (bonded labour) và nô lệ thời hiện đại (modern-day slavery) để mô tả các trường hợp cưỡng bức lao động Ước tính trên thế giới có khoảng 24,9 triệu người là nạn nhân của cưỡng bức lao động ILO cho biết nạn cưỡng bức lao động tồn tại ở hầu hết các quốc gia, cho dù đó là ở châu Á và khu vực Thái Bình Dương, Châu Âu, Trung Á, Châu Phi, các quốc gia
Ả Rập hay Châu Mỹ
B NGƯỜI LAO ĐỘNG RƠI VÀO CẠM BẪY NHƯ THẾ NÀO?
Một số người lao động dễ bị rơi vào tình trạng cưỡng bức lao động hơn do họ phải đối mặt với sự phân biệt đối xử (ví dụ: các nhóm người thiểu số) hoặc do họ bị cô lập (ví dụ: người lao động di cư) Nguy cơ lạm dụng cũng trở nên cao hơn khi đây là những công việc được thực hiện ở nơi khó giám sát, cửa kín then cài, chẳng hạn như trường hợp của những người người giúp việc gia đình
C LOẠI HÌNH CÔNG VIỆC NÀO HOẶC TRONG LĨNH VỰC NÀO?
Cưỡng bức lao động có thể xảy ra trong bất cứ loại hình lao động nào tại thị trường lao động, trong cả các lĩnh vực chính thức và không chính thức; mặc dù một số công việc trả lương thấp sẽ có nguy cơ lạm dụng và ngược đãi cao hơn
D THỦ ĐOẠN TUYỂN DỤNG
Các thủ đoạn cưỡng chế thường rất tinh vi và khó phát hiện Tuyển dụng thông qua lừa gạt, bao gồm
cả việc đưa ra những lời hứa không có thật, là một thủ đoạn rất phổ biến trong cưỡng bức lao động Các nhà tuyển dụng tư nhân và các trung gian không chính thức có thể là nguồn thông tin duy nhất về việc làm mà người di cư có thể tiếp cận Điều này giúp nhà tuyển dụng và trung gian dễ dàng nói dối người lao động về bản chất công việc và điều kiện làm việc
E TỘI ÁC KHÔNG BỊ TRỪNG PHẠT VÀ LỢI NHUẬN
Những kẻ tuyển dụng và sử dụng lao động thiếu đạo đức thu được những khoản lợi nhuận bất hợp pháp khổng lồ Bên cạnh đó, những sai phạm này không phải lúc nào cũng được điều tra hoặc truy tố một cách hiệu quả Các nạn nhân và gia đình của người lao động bị mất thu nhập và kết quả là không thể thoát nghèo Việc này cũng tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh đối với các công ty tuân thủ pháp luật và đe dọa phá hoại uy tín của toàn bộ ngành công nghiệp Do đó, việc khắc phục đòi hỏi sự tham gia của tất cả các bên liên quan bao gồm nhà tuyển dụng, người sử dụng lao động và cơ quan quản lý nhằm đảm bảo trách nhiệm được thực hiện một cách nghiêm túc và tuân thủ luật pháp
F DI CƯ LAO ĐỘNG VÀ NGUY CƠ CƯỠNG BỨC LAO ĐỘNG
Lao động di cư là một trong số những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất trước nạn cưỡng bức lao động Khoảng 44% nạn nhân của cưỡng bức lao động là lao động di cư, bao gồm cả di cư trong nước hoặc quốc tế Một khi người lao động đã rời khỏi đất nước của họ để đến một quốc gia khác, họ có thể trở nên dễ bị lợi dụng hơn, đặc biệt là khi không nói được ngôn ngữ của nước bản địa
Trang 13• Giữ hộ chiếu
Việc giữ hộ chiếu và các giấy tờ tùy thân khác là một trong những hình thức cưỡng chế phổ biến nhất,
hạn chế người lao động di cư tự do di chuyển, ngăn họ tìm kiếm sự giúp đỡ và trói buộc họ trong tình
trạng bị cưỡng bức lao động Đây là một trong mười một dấu hiệu nhận biết việc cưỡng bức lao động
Ở nhiều quốc gia, đây thậm chí vẫn là một thông lệ phổ biến đối với một số loại hình lao động, ví dụ,
người giúp việc nhà sống trong gia đình của chủ thuê lao động
• Giữ lại tiền lương
Tiền lương của người lao động có thể được giữ lại để trang trải chi phí nhà ở hoặc chi phí cho dụng
cụ và thiết bị Điều này dẫn đến tình huống mà người lao động trở nên phụ thuộc vào người thuê lao
động để có thức ăn và chỗ ở
G CHẤM DỨT TÌNH TRẠNG CƯỠNG BỨC LAO ĐỘNG
Cưỡng bức lao động vi phạm nghiêm trọng quyền con người cũng như luật pháp quốc tế Cưỡng bức
lao động có thể bị trừng phạt thông qua các hình phạt phản ánh mức độ nghiêm trọng của hành vi
phạm tội và đủ tính răn đe để ngăn tái phạm tội Mặc dù luật pháp của hầu hết các quốc gia đều cấm
cưỡng bức lao động, buôn bán người và những hành vi đối xử với người lao động như nô lệ, đáng
buồn là số vụ việc được mang ra truy tố vẫn còn rất ít
H TẦM QUAN TRỌNG CỦA QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
Khi thị trường lao động suy yếu và người lao động không được bảo vệ, những người lao động dễ bị
tổn thương nhất sẽ có nguy cơ bị bóc lột Trong nỗ lực thúc đẩy việc làm bền vững, ILO đã giới thiệu
một số tiêu chuẩn lao động quốc tế nhằm giải quyết tình trạng lao động cưỡng bức Một số tiêu chuẩn
hướng đến lực lượng lao động nói chung trong khi một số tiêu chuẩn khác tập trung vào các vấn đề cụ
thể như lao động trẻ em hoặc giúp việc gia đình Đấu tranh với nạn cưỡng bức lao động đòi hỏi phải
có sự điều tiết hiệu quả của thị trường lao động, ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế, bên cạnh đó là việc
thực thi hiệu quả luật lao động
MỤC 1.3 – CƠ HỘI VIỆC LÀM BỀN VỮNG THÔNG QUA
TUYỂN DỤNG CÔNG BẰNG
Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu hóa, hàng triệu người lao động đang tìm kiếm cơ hội việc làm bên
ngoài cộng đồng hoặc quốc gia nơi họ sinh ra và việc tuyển dụng lao động dọc theo chuỗi cung ứng
toàn cầu trở nên phổ biến hơn bao giờ hết Việc di cư ngày nay cũng ngày càng hướng tới việclàm Bên
cạnh đó, cũng có hàng triệu người lao động đang di cư trong chính đất nước của mình để tìm kiếm
việc làm tốt hơn Bảo đảm công bằng trong quá trình tuyển dụng là một khía cạnh quan trọng của việc
đạt được cơ hội việc làm bền vững cho tất cả mọi người
A TUYỂN DỤNG CÔNG BẰNG LÀ GÌ?
Tuyển dụng công bằng là một khái niệm không được định nghĩa trong luật quốc tế nhưng đã trở thành
trọng tâm của các cuộc tranh luận quốc tế cũng như trong hoạt động của ILO Sáng kiến Tuyển dụng
Công bằng là một sáng kiến toàn cầu của ILO nhằm cải thiện các hoạt động tuyển dụng Sáng kiến này
dựa trên cách tiếp cận bốn hướng: nâng cao kiến thức toàn cầu về thực tiễn tuyển dụng quốc gia và
quốc tế (1), cải thiện luật pháp, chính sách và việc thực thi luật pháp (2), thúc đẩy các thực hành tốt và
công bằng trong kinh doanh (3), trao quyền và bảo vệ người lao động (4)
Khái niệm tuyển dụng công bằng được đưa vào Các nguyên tắc chung và Hướng dẫn triển khai hoạt
động về Tuyển dụng công bằng của ILO Các nguyên tắc này đề cập đến nhiều khía cạnh của quá trình
tuyển dụng và cụ thể trên những khía cạnh sau:
Trang 141 Ngân hàng Thế giới (The World Bank), 2017 KNOMAD-Khảo sát về chi phí di cư của ILO.
2 https://www.ilo.org/wcmsp5/groups/public/ -ed_protect/ -protrav/ -migrant/documents/publication/wcms_749842.pdf
• Thông tin về cơ hội việc làm
Tuyển dụng công bằng bắt đầu từ những bước đầu tiên của quá trình tuyển dụng, khi thông tin về cơ hội việc làm được chia sẻ cho người lao động Các hành vi không công bằng như lừa dối có thể xảy ra tại thời điểm này, ví dụ như việc đưa ra những lời hứa sai sự thật tại các mục tin tuyển dụng trên báo Chính phủ các nước có thể phát hành thông cáo báo chí hoặc xuất bản những bài đăng bác bỏ các thông tin sai sự thật đó
• Tuyển dụng trực tiếp hay thông qua trung gian?
Quá trình tuyển dụng có thể phức tạp và liên quan đến nhiều bên khác nhau, cả trong khu vực công
và tư nhân Càng có nhiều trung gian giữa người sử dụng lao động và người lao động thì nguy cơ sai phạm cũng càng lớn Một trong những vấn đề phổ biến mà người lao động gặp phải là phí tuyển dụng hoặc các phụ phí khác, bao gồm cả gián tiếp và trực tiếp
Các nguyên tắc chung và hướng dẫn triển khai hoạt động tuyển dụng công bằng của ILO có quy định về việc không được bắt buộc người lao động phải trả phí tuyển dụng hoặc các chi phí liên quan Dù vậy, tại nhiều quốc gia, việc người lao động phải trả một phần hay toàn bộ chi phí tuyển dụng vẫn là hợp pháp Ngoài ra, việc nắm được toàn bộ các chi phí mà người lao động cuối cùng sẽ phải trả cũng rất quan trọng Những khoản phí này có thể bao gồm “phí tuyển dụng”, một khoản phí thường được các cơ quan trung gian kết nối người lao động với chủ lao động đưa ra, nhưng cũng có thể bao gồm các chi phí liên quan, như chi phí cho giấy tờ tùy thân, giấy tờ đi lại, kiểm tra y tế và đào tạo trước khi xuất cảnh
• Kết nối với công việc phù hợp
The recruitment process should ensure that an efficient job matching is made so that workers are offered a placement with job opportunities that are best suited for their qualifications, abilities and aspirations
B LOẠI TRỪ CÁC KHOẢN PHÍ TUYỂN DỤNG VÀ CHI PHÍ KHÁC THU CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
Quá trình tuyển dụng thường liên quan đến các bên trung gian thứ ba có tính phí cao, và gây gánh nặng cho người lao động di cư có thu nhập thấp Các khảo sát của ILO và Ngân hàng Thế giới (World Bank)¹ cho thấy những người lao động di cư có thu nhập thấp - có thể là những người thiếu kỹ năng hoặc có trình độ học vấn thấp – lại đang phải trả chi phí thuộc mức cao nhất so với thu nhập của họ Cụ thể tại Việt Nam, nhiều bài báo đã đề cập đến việc những người lao động phải trả một khoản tiền quá lớn cho các phí và chi phí tuyển dụng Việc phải trả những khoản phí cao như vậy đã khiến người lao động dễ bị rơi vào cảnh lệ thuộc vì nợ, trở thành nạn nhân buôn bán người và cưỡng bức lao động
‘Bộ các nguyên tắc và hướng dẫn của ILO về tuyển dụng công bằng’ và tài liệu ‘Định nghĩa về phí tuyển dụng và các chi phí liên quan’² của ILO có khuyến nghị rõ rằng các chi phí liên quan đến tuyển dụng nên là do người thuê lao động chi trả chứ không phải người lao động
C VẤN ĐỀ CHUNG CỦA TẤT CẢ CÁC BÊN
Thúc đẩy tuyển dụng công bằng và đảm bảo thực hiện hiệu quả các chính sách liên quan là một nhiệm
vụ chung dành cho nhiều bên Chính phủ các nước chịu trách nhiệm cuối cùng trong việc thúc đẩy tuyển dụng công bằng Do vậy, chính phủ nên cho thông qua các điều luật và chính sách đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế Các doanh nghiệp - bao gồm nhà tuyển dụng lao động, dịch vụ việc làm công cộng, đơn vị thuê lao động công và tư nhân - cũng như các tổ chức công đoàn và tổ chức xã hội dân sự - đều đóng vai trò thiết yếu để thúc đẩy tuyển dụng công bằng Cuối cùng, báo chí và các phương tiện truyền thông có thể hoàn thành vai trò của mình bằng cách đảm bảo rằng người lao động luôn có thể tiếp cận thông tin cần thiết và phơi bày trước công chúng những hành vi vi phạm
Trang 15D NHÀ TUYỂN DỤNG CÓ ĐẠO ĐỨC
Một số công ty/cơ quan tuyển dụng tư nhân đã chọn trở thành những “nhà tuyển dụng có đạo đức”
Những điều kiện và điều khoản họ cung cấp cho người lao động và sử dụng lao động đều minh bạch và
tôn trọng các hướng dẫn về tuyển dụng công bằng Kinh nghiệm thực tế của họ chứng minh rằng việc
tuân thủ luật pháp và làm việc có đạo đức mang lại hiệu quả rõ rệt
MỤC 1.4 – KHUNG PHÁP LÝ
Khung pháp lý giải quyết các vấn đề về lao động cưỡng bức và tuyển dụng công bằng áp dụng ở cả quy
mô quốc gia và quốc tế Ở cấp độ quốc tế, một số tiêu chuẩn đã được áp dụng trong thời gian qua Một
số tiêu chuẩn mang tính ràng buộc về mặt pháp lý đối với các quốc gia đã phê chuẩn chúng (bao gồm
tất cả các công ước và nghị định thư) và một số tiêu chuẩn cung cấp các hướng dẫn không ràng buộc để
tăng cường tính hiệu quả của khung pháp lý quốc gia (các khuyến nghị) Ngoài ra, việc loại bỏ tất cả các
hình thức lao động cưỡng bức là một trong bốn nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động của ILO Do
đó, các tiêu chuẩn liên quan đến cưỡng bức lao động phải được tôn trọng, thực thi và thúc đẩy bởi tất cả
các quốc gia thành viên ILO, cho dù các quốc gia này có phê chuẩn hay không
A TIÊU CHUẨN LAO ĐỘNG QUỐC TẾ
Các mốc thời gian sau giới thiệu về các tiêu chuẩn có liên quan của ILO:
Công ước về Lao động cưỡng bức, 1930 (số 29) – được Việt Nam phê chuẩn vào năm 2007
Công ước số 29 định nghĩa lao động cưỡng bức là: “… tất cả các công việc hoặc dịch vụ được
thực hiện bởi bất kỳ người nào với sự đe dọa của bất kỳ hình phạt nào và người đó không tự
nguyện làm” Công ước yêu cầu các Quốc gia phê chuẩn phải loại bỏ tất cả các hình thức lao
động cưỡng bức hoặc bắt buộc (Điều 1 (1)) Là công ước đầu tiên về chủ đề này, công ước
số 29 cung cấp định nghĩa về “cưỡng bức lao động hoặc bắt buộc lao động” (Điều 2 (1)) và
liệt kê 5 trường hợp ngoại lệ Công ước cũng yêu cầu các quốc gia đã phê chuẩn đảm bảo
rằng: việc sử dụng lao động cưỡng bức phải bị trừng phạt như một hành vi phạm tội hình
sự và các hình phạt phải “thích đáng và được thực thi nghiêm ngặt” (Điều 25)
Công ước Di cư vì việc làm (đã sửa đổi), 1949 (Số 97) – chưa được Việt Nam phê chuẩn
Công ước yêu cầu các quốc gia đã phê chuẩn tạo điều kiện cho việc di cư quốc tế nhằm
tìm việc làm, bằng cách thiết lập và duy trì dịch vụ thông tin và hỗ trợ miễn phí cho người
lao động di cư và thực hiện các biện pháp chống tuyên truyền sai lệch liên quan đến di
cư và nhập cư; bao gồm các quy định về dịch vụ y tế phù hợp cho người lao động di cư và
chuyển tiền thu nhập, tiền tiết kiệm Các quốc gia phải áp dụng đối xử với người lao động
di cư thuận lợi ngang bằng với công dân của họ trong một số vấn đề, bao gồm các điều
kiện làm việc, tự do lập hội và an sinh xã hội
Công ước về Bãi bỏ Lao động cưỡng bức, 1957 (Số 105) – được Việt Nam phê chuẩn vào năm 2020
Công ước số 105 nghiêm cấm cụ thể năm tình huống các cơ quan nhà nước áp đặt hình
thức lao động cưỡng bức, cụ thể là hình phạt lao động cưỡng bức do thể hiện quan điểm
chính trị, cho các mục đích phát triển kinh tế, hình phạt do tham gia các cuộc đình công,
như một phương tiện của phân biệt chủng tộc hoặc các hình thức phân biệt đối xử khác
và lao động cưỡng bức nhằm mục đích rèn kỷ luật lao động
1930
1949
1930 1949 1957 1958 1975 1997 1998 1999 2011 2014
1957
Trang 16Công ước về phân biệt đối xử trong Việc làm và Nghề nghiệp, 1958 (Số 111) – được Việt Nam phê chuẩn vào năm 1997
ILO đã áp dụng Công ước số 111 liên quan đến phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp, là một phần của Nguyên tắc và Quyền cơ bản trong Lao động (Fundamental Principles and Rights at Work, được thông qua năm 1998 và sửa đổi năm 2010) Công ước yêu cầu các quốc gia cho phép luật pháp cấm mọi hình thức phân biệt đối xử và loại trừ trên bất kỳ cơ sở nào bao gồm: chủng tộc hay màu da, giới tính, tôn giáo, quan điểm chính trị, nguồn gốc quốc tịch hoặc nguồn gốc xã hội trong việc làm và bãi bỏ các điều luật không dựa trên cơ hội bình đẳng
Công ước về Lao động di cư (Các điều khoản bổ sung), 1975 (Số 143) – chưa được Việt Nam phê chuẩn
Công ước quy định các biện pháp chống lại vượt biên trái phép và di cư không hợp thức đồng thời đặt ra nghĩa vụ chung là tôn trọng quyền con người cơ bản của mọi người lao động di cư Công ước cũng mở rộng phạm vi bình đẳng giữa lao động di cư hợp pháp và lao động bản địa, ngoài các quy định của Công ước 1949 để đảm bảo bình đẳng về cơ hội và đối xử trong việc làm và nghề nghiệp, an sinh xã hội, công đoàn và quyền văn hóa; cũng như quyền tự do cá nhân và tập thể đối với những người là lao động di cư hoặc thành viên của gia đình họ đang cư trú hợp pháp trong lãnh thổ của một quốc gia phê chuẩn Công ước kêu gọi các quốc gia phê chuẩn tạo điều kiện để các gia đình của người lao động di cư đang cư trú hợp pháp trong lãnh thổ của họ được đoàn tụ
Công ước về các tổ chức dịch vụ việc làm tư nhân, 1997 (số 181) - chưa được Việt Nam phê chuẩn
Được thông qua vào năm 1997, công ước này công nhận vai trò của các tổ chức dịch vụ việc làm tư nhân trong một thị trường lao động hoạt động tốt Mục đích của Công ước là cho phép hoạt động của các tổ chức dịch vụ việc làm tư nhân cũng như bảo vệ người lao động sử dụng dịch vụ của họ Theo Điều 7 của công ước, các tổ chức dịch vụ việc làm tư nhân sẽ không tính phí trực tiếp hoặc gián tiếp, toàn bộ hoặc một phần, bất kỳ khoản chi phí nào cho người lao động
Tuyên bố về Các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động, 1998
Được tất cả các quốc gia thành viên ILO thông qua vào năm 1998, Tuyên bố xác định 4 tiêu chuẩn lao động cốt lõi mà tất cả các quốc gia thành viên phải “tôn trọng, thúc đẩy và hiện thực hóa”, dù họ có phê chuẩn các Công ước liên quan hay không Bốn nguyên tắc này bao gồm quyền tự do liên kết và thỏa ước lao động tập thể và xóa bỏ các hình thức lao động cưỡng bức, lao động trẻ em và phân biệt đối xử
Công ước về Các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, 1999 (số 182) – được Việt Nam phê chuẩn vào năm 2000
Được thông qua năm 1999, Công ước này kêu gọi cấm và loại bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất là và coi đây là một vấn đề cấp bách Các hình thức lao động trẻ em tồi
tệ nhất bao gồm: tất cả các hình thức nô lệ, buôn bán trẻ em, bắt buộc lao động để trả một khoản nợ và bất kỳ loại lao động cưỡng bức nào khác, kể cả sử dụng trẻ em trong chiến tranh và xung đột vũ trang Các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất khác bao gồm bóc lột tình dục, cho trẻ em tham gia vào các hoạt động bất hợp pháp và các công việc có khả năng gây hại cho sức khỏe, an toàn hoặc đạo đức của trẻ em
Công ước về Lao động giúp việc gia đình, 2011 (số 189) – chưa được Việt Nam phê chuẩn
Được thông qua vào năm 2011, công ước này tập trung vào việc làm bền vững dành riêng cho lao động giúp việc gia đình Điều 8 và 15 tập trung vào khía cạnh tuyển dụng lao động giúp việc gia đình với những quy định đáng chú ý về vai trò của các cơ quan tuyển dụng tư nhân, về lệ phí và hồi hương Theo Điều 9, người giúp việc gia đình: a) được tự do thỏa thuận với người thuê lao động hoặc người thuê lao động tiềm năng
về việc có ở tại gia đình không,
Trang 17b) người lao động ở tại gia đình không có nghĩa vụ phải ở lại hộ gia đình hoặc với các
thành viên gia đình trong thời gian nghỉ ngơi hàng ngày, hàng tuần hoặc nghỉ hàng
năm;
và c) người lao động có quyền giữ tài sản và các giấy tờ tùy thân của họ
Khuyến nghị về Cưỡng bức lao động (Các điều khoản bổ sung), Khuyến nghị 2014 (Số 203)
Khuyến nghị này bổ sung cho cả Nghị định thư và Công ước số 29, cung cấp những
hướng dẫn thực tiễn không ràng buộc về các biện pháp tăng cường luật pháp và chính
sách quốc gia về cưỡng bức lao động trong các lĩnh vực: phòng ngừa cưỡng bức lao
động, bảo vệ nạn nhân và đảm bảo quyền được yêu cầu công lý và biện pháp khắc phục
của họ, thực thi pháp luật và hợp tác quốc tế Khuyến nghị được xây dựng dựa trên các
quy định của Nghị định thư và nên được tham khảo cùng Nghị định thư
Nghị định thư 2014 về Công ước Cưỡng bức lao động năm 1930 (P029) – chưa được Việt Nam
phê chuẩn
Nghị định thư này là một công cụ ràng buộc về mặt pháp lý đòi hỏi các quốc gia phải
có biện pháp hiệu quả để ngăn chặn cưỡng bức lao động và cung cấp cho nạn nhân
sự bảo vệ và tiếp cận các biện pháp khắc phục, bao gồm cả việc được bồi thường Nghị
định bổ sung cho Công ước số 29, vì vậy các quốc gia thành viên ILO phải phê chuẩn
Công ước trước để có thể phê chuẩn Nghị định thư
B THỰC HÀNH TỐT TRONG LUẬT PHÁP QUỐC GIA
• Armenia
Bộ luật Hình sự (Sửa đổi) năm 2011 của Armenia cho phép tịch thu tài sản từ những người phạm tội
Ngoài ra, nạn nhân của nạn buôn người đã được đưa vào danh sách các nhóm ưu tiên có thể nhận
được thêm sự trợ giúp về việc làm của chính phủ
• Nigeria
Phần 62 trong Đạo luật Quản lý và Thi hành luật (cấm) Buôn bán người năm 2015 của Nigeria quy định
rằng “trong trường hợp các điều kiện cho phép, những nạn nhân buôn bán người sẽ không bị giam
giữ hoặc truy tố vì các tội danh liên quan đến nạn buôn người, bao gồm việc không có giấy tờ đi lại
hợp lệ, hoặc sử dụng giấy tờ đi lại giả hoặc các giấy tờ giả mạo khác.”
• Vương quốc Anh
Đạo luật Nô lệ hiện đại năm 2015 của Vương quốc Anh hình sự hóa các hình thức lao động cưỡng bức
hoặc bắt buộc và hành vi buôn bán người
• Hoa Kỳ
Năm 2012, Chính phủ Hoa Kỳ nhấn mạnh tầm quan trọng của tiến hành rà soát (due diligence) nhằm
ngăn chặn lao động cưỡng bức và buôn người với Sắc lệnh số 13627 Sắc lệnh này và các quy định liên
bang tiếp sau đó đặt ra các yêu cầu nghiêm ngặt đối với các nhà thầu và nhà thầu phụ nhận hợp đồng
liên bang
2014
Trang 18C CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LÝ TRONG NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC VÀ TUYỂN DỤNG CÔNG BẰNG
Việt Nam đã phê chuẩn một số công ước của ILO về cưỡng bức lao động và tuyển dụng công bằng – bao gồm Công ước về Lao động cưỡng bức năm 1930 (số 29), Công ước về Tổ chức Dịch vụ Việc làm năm 1948 (số 88) và Công ước về Bãi bỏ Lao động cưỡng bức năm 1957 (Số 105)
Việt Nam có nhiều quy định pháp luật trong nước nhằm bảo vệ công dân khỏi nạn cưỡng bức lao động
và buôn người Sự bảo vệ này được mở rộng áp dụng cho các công dân Việt Nam có thể bị cưỡng bức lao động hoặc trở thành nạn nhân buôn người ở quốc gia khác Ngoài ra, Việt Nam đã quy định quy trình tuyển dụng lao động di cư (công dân Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài), nhằm nỗ lực cải thiện việc bảo vệ những người lao động này - đặc biệt là bảo vệ họ khỏi các tình huống lao động cưỡng bức, buôn người và nợ nần - và bảo vệ lợi ích dành cho kinh tế Việt Nam thông qua kiều hối của người lao động di cư
• Hiến pháp Việt Nam³
Hiến pháp Việt Nam có quy định nghiêm cấm lao động cưỡng bức tại Điều 35:
1 Công dân có quyền làm việc và lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc
2 Người lao động được tạo điều kiện làm việc bình đẳng, an toàn, được trả lương và hưởng chính sách nghỉ ngơi
3 Nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động và sử dụng lao động dưới độ tuổi lao động tối thiểu
• Bộ luật lao động năm 2019⁴
Bộ luật lao động mới của Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2021 có một số biện pháp bảo
vệ cơ bản đối với người lao động Việt Nam, bao gồm các điều cấm về: phân biệt đối xử - bao gồm phân biệt đối xử với người lao động trên cơ sở tham gia hoạt động công đoàn - ngược đãi và quấy rối người lao động tại nơi làm việc, thực hiện cưỡng bức lao động và đưa ra lời hứa hẹn sai sự thật cho người lao động nhằm mục đích buôn người, bóc lột hoặc cưỡng bức lao động Ngoài ra, bộ luật lao động bảo đảm mọi quyền của người lao động được hưởng mức lương tối thiểu theo điều 90 (2) - bao gồm cả lao động giúp việc gia đình
• Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015⁵
Bộ luật Hình sự Việt Nam có quy định về tội buôn bán người hoặc lao động cưỡng bức Cụ thể, điều
297 (cưỡng bức lao động) cấm việc sử dụng bạo lực, đe dọa bạo lực hoặc các phương pháp khác để buộc ai đó làm việc trái với ý muốn của họ Hành vi phạm tội này có thể bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù lên đến 12 năm tùy theo mức độ Tương tự, buôn bán người là hành vi phạm tội theo điều 150 và 151 của bộ luật hình sự, với mức hình phạt từ 5 năm đến tù chung thân tùy theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm Bộ luật hình sự cũng cấm việc tham gia vào các hoạt động có thể là một phần của tội phạm buôn người hoặc lao động cưỡng bức, chẳng hạn như làm giả giấy tờ thông hành
và môi giới hoặc tổ chức xuất nhập cảnh bất hợp pháp khỏi Việt Nam
• Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011⁶
Bộ luật này nhằm cung cấp một khuôn khổ toàn diện để phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi buôn người và cưỡng bức lao động Do đó, luật quy định việc cung cấp sự bảo vệ và hỗ trợ cho các nạn nhân của buôn người và cưỡng bức lao động - bao gồm cả việc cung cấp dịch vụ tư vấn và hỗ trợ pháp
lý Theo điều 21 của luật này, lực lượng Công an nhân dân và Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ phát hiện, ngăn chặn và điều tra các hành vi mua bán người, tuy nhiên, qua phỏng vấn với cơ quan công an cho thấy việc điều tra tội phạm mua bán người gặp nhiều khó khăn và cần sự hợp tác của các
cơ quan chức năng tại các quốc gia đích đến để thu thập bằng chứng về tội phạm
3 https://www.ilo.org/dyn/natlex/docs/ELECTRONIC/94490/114945/F-239626793/VNM94490%20Vnm2.pdf
4 http://vbpl.vn/TW/Pages/vbpq-van-ban-goc.aspx?ItemID=139264
5 http://vbpl.vn/TW/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=26741&Keyword=66
Trang 19• Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006⁷
Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài có hợp đồng (Luật 72) được sửa đổi vào năm
2020 Luật mới về Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài được Quốc hội khóa 14 thông qua
tại kỳ họp thứ 10 và sẽ có hiệu lực vào mùng 1 tháng 1 năm 2020 Theo luật, dịch vụ tuyển dụng lao động
di cư được cung cấp bởi nhiều bên, bao gồm: tổ chức tuyển dụng nhà nước và cơ quan tuyển dụng tư
nhân, được gọi là doanh nghiệp dịch vụ theo luật, được Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
cấp giấy phép (MOLISA)
Phạm vi áp dụng của luật này chỉ giới hạn đối với những người lao động đi qua các kênh ‘hợp thức’
bằng cách sử dụng các dịch vụ tuyển dụng tư nhân hoặc công được cấp phép hoặc những người đã
trực tiếp ký kết hợp đồng lao động với chủ lao động ở quốc gia khác Người lao động đi qua các kênh
không hợp thức - ví dụ những người di cư bằng cách sử dụng dịch vụ của cơ quan tuyển dụng không
có giấy phép hoặc không theo quy định của pháp luật - hoặc người lao động vùng biên (người lao
động nhập cư thường trú tại quốc gia láng giềng, thường trở về mỗi ngày hoặc ít nhất một lần một
tuần) không được bảo vệ bởi luật này
Luật 72, cùng với các văn bản dưới luật, cho phép các doanh nghiệp dịch vụ tính các chi phí sau đối với
người lao động di cư:
· Phí dịch vụ - mức trần là một tháng lương trên một năm của hợp đồng lao động⁸ và tối đa không quá
3 tháng lương
· Phí môi giới – mức trần được quy định cụ thể cho từng quốc gia và và ngành nghề làm việc⁹
· Ký quỹ hoặc bảo lãnh – mức trần được quy định cụ thể cho từng quốc gia và ngành nghề làm việc¹⁰
· Các chi phí khác: đào tạo, đi lại, xin visa và giấy phép lao động; khám bệnh; và giấy tờ khác
Luật 72 cũng cho phép các dịch vụ tuyển dụng công tính phí đối với lao động:
· Chi phí tuyển dụng lao động (phụ thuộc vào thỏa thuận tuyển dụng)
· Bảo lãnh
· Các chi phí khác: đào tạo, đi lại, xin visa và giấy phép lao động; khám bệnh; và các giấy tờ khác
Luật 72 nghiêm cấm các doanh nghiệp dịch vụ được cấp phép sử dụng dịch vụ của môi giới hoặc
trung gian không có giấy phép tại Việt Nam trong quá trình tuyển dụng Tuy nhiên, việc sử dụng các
trung gian tại các quốc gia lao động tới làm việc để hỗ trợ quá trình tuyển dụng được cho phép
Điều 27 của Luật 72 bắt buộc các doanh nghiệp dịch vụ cung cấp cho người lao động những “thông
tin đầy đủ” về các điều khoản của “hợp đồng dịch vụ” của họ “Hợp đồng dịch vụ” là thuật ngữ được sử
dụng để nói về hợp đồng giữa doanh nghiệp dịch vụ và người lao động và theo điều 17 của luật, hợp
đồng này phải bao gồm các chi tiết về điều khoản làm việc của người lao động Người lao động cũng
phải được doanh nghiệp dịch vụ cung cấp các ‘kiến thức cần thiết’ theo điều 65 của Luật “Kiến thức
cần thiết” phải bao gồm:
· Truyền thống và bản sắc văn hóa Việt Nam;
· Nội dung cơ bản của luật lao động, hình sự, dân sự và hành chính của Việt Nam và quốc gia lao động
đến làm việc;
· Nội dung hợp đồng đã ký giữa người lao động và đơn vị dịch vụ ;
· Kỷ luật lao động, an toàn, vệ sinh lao động;
· Phong tục, tập quán và văn hóa của nước sở tại;
· Cách thức ung xử trong lao động và đời sống;
· Sử dụng phương tiện giao thông đi lại, mua bán, sử dụng các dụng cụ, thiết bị phục vụ sinh hoạt đời
sống hằng ngày; và
· Những vấn đề cần tránh khi người lao động sống và làm việc ở nước ngoài
Tính đến tháng 10 năm 2020, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
(Luật 72) vẫn đang được Chính phủ sửa đổi và dự kiến sẽ được thông qua vào tháng 11 năm 2020 - các
nhà báo cần bảo đảm rằng mình luôn sử dụng bản mới nhất của Luật
7 http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&mode=detail&document_id=29855
Trang 20TÌM ĐỀ TÀI CHO TIN BÀI
bị tư tưởng Bên cạnh đó, cô cũng cho biết những tin bài có chất lượng đều là kết quả của một quá trình nghiên cứu kỹ lưỡng Để làm tốt việc này, bạn cần lưu ý đến một số nguyên tắc như bảng 2 sau đây: Bảng 2: Nên và Không nên
Đọc về các đề tài đang được báo chí và phương tiện truyền thông đưa tin và tìm kiếm những đề tài chưa được đề cập đến nhiều: thiếu hụt việc làm bền vững, những kẽ hở của chính sách, bảo
vệ nạn nhân, và sự phân biệt đối xử trong các dịch vụ dành cho nạn nhân
Tìm kiếm những đề tài giật gân hoặc bóp méo sự thật để dẫn câu chuyện đi theo một hướng nhất định
Trang 21MỤC 2.2 – TÌM ĐỀ TÀI
Có nhiều ví dụ về những tin bài khắc họa các tình huống cưỡng bức lao động, tuy nhiên trọng tâm
phần này không phải là hé lộ một câu chuyện về lạm dụng lao động Những câu chuyện tích cực có thể
vừa mang lại hiệu quả mạnh mẽ, vừa cung cấp những thông tin không những có thể ngăn ngừa các
tình huống lạm dụng, mà còn cải thiện nhận thức của công chúng về lợi ích của di cư lao động Nếu
di cư lao động diễn ra trong bối cảnh tuyển dụng công bằng và đảm bảo các điều kiện việc làm bền
vững, nó có thể đóng góp cho sự phát triển của các quốc gia điểm đi của người lao động và quốc gia
người lao đông đến làm việc , cũng như mang lại lợi ích cho bản thân người lao động di cư
Bên cạnh đó, các nhà báo cũng có thể viết về những thay đổi tích cực trong chính sách, luật pháp, thực
tiễn kinh doanh và những thay đổi này ảnh hưởng như thế nào đến cuộc sống của hàng ngàn người
Nội dung phần này được chia theo các chủ đề khác nhau, kèm theo những đoạn giới thiệu ngắn gọn,
những tin bài mẫu và đôi khi là một số các câu hỏi người viết có thể tham khảo để viết tin bài
A CÂU CHUYỆN VỀ CON NGƯỜI
Những tin bài hấp dẫn và thuyết phục nhất khi nhân vật được kể câu chuyện của chính họ Người viết
không cần phải làm các câu chuyện này trở nên giật gân hơn, chỉ cần để sự thật và lời tường thuật của
các nhân vật tự lên tiếng Người viết có thể thêm vào các thông tin thực tế nếu còn thiếu Các nhóm hỗ
trợ người lao động cũng có thể giúp bạn liên lạc với một nhân vật tiềm năng cho đề tài, ví dụ: một nạn
nhân đã trốn thoát Người viết phải bảo vệ danh tính của nhân vật nếu họ yêu cầu Những câu chuyện
nhân văn, gợi lên sự quan tâm và đồng cảm của người đọc thường được chia sẻ rộng rãi, có thể nâng
cao nhận thức về các vấn đề nhức nhối và tạo áp lực xã hội để dẫn đến thay đổi tích cực
Liên hệ các chuyên gia trong lĩnh vực có
liên quan: các tổ chức xã hội dân sự, học
giả, các chuyên gia làm việc về cưỡng
Đánh giá tính khả thi của các đề tài (thời
gian, thể loại, các rủi ro về pháp lý và cá
nhân, tư liệu) cũng như những hậu quả
có thể xảy ra với người viết bài và với
nguồn tin
Quên đi rằng trách nhiệm của bạn là cung cấp thông tin cho độc giả/ khán giả chứ không phải là ủng hộ một quan điểm nào đó
Trang 22Một số câu hỏi quan trọng bạn nên cân nhắc khi viết bài:
• Nhân vật đã được tuyển dụng như thế nào?
• Họ làm công việc gì?
• Họ đã trải qua hành trình như thế nào?
• Điều kiện sống ngoài nơi làm việc ra sao?
• Nếu họ là những nạn nhân bị sập bẫy rơi vào tình trạng lao động cưỡng bức, họ đã giành lại tự do như thế nào?
• Phản ứng của cộng đồng xung quanh họ ra sao?
VÍ DỤ NHỮNG ĐỀ TÀI/ CÂU CHUYỆN VỀ CON NGƯỜI
Lòng tham của những người môi giới đã đẩy hàng ngàn lao động Việt Nam vào cảnh phải làm việc không có giấy tờ hợp pháp tại Đài Loan như thế nào
Bài viết gốc được đăng trên báo South China Morning Post vào ngày 7/4/2019 Bạn có thể đọc bài viết này tại: https://www.scmp.com/week-asia/society/article/3004895/how-greedy-brokers-force-thousands-vietnamese-workers-seek Bài viết đã được dịch và đăng trên nhiều báo của Việt Nam
Tham khảo: loan-826298.html Bài viết này kể lại những câu chuyện cá nhân của những nhân vật đã trải qua quá trình tuyển dụng lao động di cư tới Đài Loan, Trung Quốc Bài viết hé lộ việc mức phí tuyển dụng đắt đỏ
https://plo.vn/quoc-te/kieu-bao/tai-sao-hang-ngan-cong-nhan-viet-lam-viec-chui-tai-dai-và các chi phí đi kèm, các khoản vay nợ, mức lương thấp https://plo.vn/quoc-te/kieu-bao/tai-sao-hang-ngan-cong-nhan-viet-lam-viec-chui-tai-dai-và các hình thức lừa gạt trong tuyển dụng đã
có ảnh hưởng như thế nào tới cá nhân những người lao động và gia đình của họ Bài viết cũng cho thấy động cơ thúc đẩy người lao động phải đi nước ngoài tìm việc làm, cũng như sức ép tài chính và nợ nần
đã buộc họ phải rời bỏ người thuê lao động tại quốc gia họ đến làm việc
Bên cạnh đó, bài viết cho người đọc biết rằng lao động di cư người Việt Nam đang phải trả mức phí tuyển dụng và các chi phí khác cao hơn các lao động từ Indonesia, Philippines và Thái Lan từ hai đến ba lần Những bài viết như vậy có thể giúp nâng cao nhận thức về những vấn đề cụ thể và tạo ra sức ép xã hội hướng đến những thay đổi tích cực