1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Tài liệu Các Kỷ Của Đại Cổ Nguyên Sinh doc

3 416 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Kỷ Của Đại Cổ Nguyên Sinh
Chuyên ngành Địa chất học
Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 197,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các Kỷ Của Đại Cổ Nguyên Sinh Đại Cổ Nguyên Sinh Paleoproterozoic, Palaeoproterozoic là đại đầu tiên trong số ba đại của liên đại Cổ Sinh Proterozoic, đã diễn ra từ khoảng 2.500 triệu n

Trang 1

Các Kỷ Của Đại Cổ Nguyên Sinh

Đại Cổ Nguyên Sinh (Paleoproterozoic, Palaeoproterozoic) là đại đầu tiên trong số ba

đại của liên đại Cổ Sinh (Proterozoic), đã diễn ra từ khoảng 2.500 triệu năm trước (Ma) tới khoảng 1.600 Ma Nó khởi đầu khi đại Tân Thái Cổ (Neoarchean) kết thúc Trong đại

này, lần đầu tiên các châu lục được ổn định Đây cũng là giai đoạn mà các loài vi khuẩn lam tiến hóa Chúng là loại vi khuẩn có thể sử dụng các phản ứng sinh hóa của quang hợp

để sản sinh ra năng lượng và ôxy

Trước khi có sự gia tăng đáng kể của ôxy trong khí quyển thì gần như tất cả mọi dạng sự sống đều tồn tại dưới dạng kị khí, nghĩa là quá trình trao đổi chất của sự sống phụ thuộc vào dạng hô hấp tế bào không đòi hỏi cần có ôxy Ôxy dạng tự do với lượng lớn là chất độc cho phần lớn vi khuẩn kị khí, và tới thời điểm đó (khoảng giữa kỷ Sideros) thì phần lớn các dạng sự sống kị khí trên Trái Đất bị tiêu diệt Sự sống duy nhất có khả năng tồn tại là những dạng có khả năng chống lại quá trình ôxi hóa cũng như các hiệu ứng độc hại của ôxy hoặc những dạng có thể trải qua toàn bộ cuộc đời của chúng trong môi trường giàu ôxy tự do Sự kiện chính này được gọi là thảm họa ôxy

Đại Cổ Nguyên Sinh có thể chia thành 4 kỷ địa chất như sau:

• Kỷ Sideros (Siderian) hay kỷ Thành Thiết: khoảng 2.300-2.500 triệu năm trước

• Kỷ Rhyax (Rhyacian) hay kỷ Tằng Xâm: khoảng 2.050-2.300 triệu năm trước

• Kỷ Orosira (Orosirian) hay kỷ Tạo Sơn: khoảng 1.800-2.050 triệu năm trước

• Kỷ Statheros (Statherian) hay kỷ Cố Kết: khoảng 1.600-1.800 triệu năm trước

Trong thời kỳ của đại này thì các siêu lục địa như Nena và Atlantica (khoảng 2.000 Ma)

đã hình thành, để sau đó (~ 1.800 Ma) nhập lại thành siêu lục địa Columbia Siêu lục địa Columbia bắt đầu tách ra vào cuối đại này

Trang 2

Đại Cổ Nguyên Sinh kết thúc khi đại Trung Nguyên Sinh (Mesoproterozoic) bắt đầu

Kỷ Sideros

Kỷ Sideros hay kỷ Thành Thiết (từ tiếng Hy Lạp sideros, nghĩa là "sắt") là kỷ địa chất

đầu tiên của Đại Cổ Nguyên Sinh (Paleoproterozoic) và nó kéo dài từ khoảng 2.500 triệu

năm trước (Ma) tới khoảng 2.300 Ma Thay vì dựa trên các địa tầng, các thời điểm này được xác định hoàn toàn bằng phương pháp địa thời học

Sự phổ biến của các sự kiện tạo thành sắt theo dải (BIF) đạt tới đỉnh cao vào đầu kỷ này BIF được hình thành khi các loài tảo kỵ khí sinh ra ôxy dưới dạng chất thải để nó kết hợp với sắt, tạo thành magnetit (Fe3O4, một loại ôxít sắt) Quá trình này làm hết sắt của đại dương, có lẽ đã làm cho nước biển có màu xanh lục trở thành trong Cuối cùng, khi không còn ôxy chìm lắng trong các đại dương thì quá trình này tạo ra khí quyển giàu ôxy của ngày nay

Sự băng hóa Huronia đã bắt đầu trong kỷ Sideros, vào khoảng 2.400 Ma và kết thúc vào cuối kỷ Rhyax (khoảng 2.100 Ma)

Kỷ Rhyax

Kỷ Rhyax hay kỷ Tằng Xâm (Rhyacian, từ tiếng Hy Lạp: Ρυαξ (rhyax), có nghĩa là "sự

xâm nhập của dung nham") là kỷ địa chất thứ hai trong đại Cổ Nguyên Sinh, sau kỷ Sideros và trước kỷ Orosira Kỷ này kéo dài từ khoảng 2.300 triệu năm trước (Ma) tới khoảng 2.050 Ma Các con số niên đại này không được xác định bằng địa tầng mà được xác định bằng địa thời học

Phức hợp Bushveld và các xâm nhập tương tự khác đã hình thành trong thời kỳ này

Thời kỳ băng hà Huronia kết thúc vào cuối kỷ Rhyax, khoảng 2.100 Ma

Trang 3

Kỷ Orosira

Kỷ Orosira hay kỷ Tạo Sơn (Orosirian, từ tiếng Hy Lạp: orosira, nghĩa là "dãy núi") là

kỷ địa chất thứ ba trong đại Cổ Nguyên Sinh và kéo dài từ khoảng 2.050 triệu năm trước (Ma) tới khoảng 1.800 Ma Thay vì dựa trên địa tầng, các niên đại này được xác định bằng địa thời học

Nửa sau của kỷ này là khoảng thời gian của các hoạt động kiến tạo sơn gần như trên tất

cả các lục địa

Có lẽ trong kỷ này thì khí quyển Trái Đất đã thay đổi sang dạng giàu ôxy do quang hợp của vi khuẩn lam

Hai sự kiện va chạm lớn nhất đã biết trên Trái Đất diễn ra trong kỷ Orosira Ở rất gần thời kỳ đầu của kỷ, khoảng 2.023 Ma, va chạm với một tiểu hành tinh đã tạo ra cấu trúc

va chạm Vredefort Sự kiện va chạm đã tạo ra cấu trúc của lòng chảo Sudbury diễn ra vào gần thời kỳ kết thúc của kỷ này, khoảng 1.850 Ma

Kỷ Statheros

Kỷ Statheros hay kỷ Cố Kết (Statherian, từ tiếng Hy Lạp: statheros, nghĩa là "cố kết",

"ổn định") là kỷ địa chất thứ tư và là kỷ cuối cùng trong đại Cổ Nguyên Sinh Nó kéo dài

từ khoảng 1.800 triệu năm trước (Ma) tới khoảng 1.600 Ma Thay vì dựa trên địa tầng, các niên đại này được xác định bằng địa thời học

Trong kỷ này sự sống đơn bào phức tạp đầu tiên đã xuất hiện

Kỷ này được đặc trưng trên phần lớn các lục địa hoặc là bằng các thềm lục địa mới hoặc

là sự im lìm hóa cuối cùng của các dải gập nếp

Siêu lục địa Columbia đã hình thành vào đầu kỷ này

Ngày đăng: 12/12/2013, 17:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm