1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt Luận án Tiến sĩ: Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm phức kim loại (sắt, đồng, kẽm, selen) đến khả năng sản xuất của gà thương phẩm

27 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 677,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu của Luận án nhằm chế tạo được chế phẩm phức của bốn nguyên tố kim loại siêu phân tán và đánh giá được ảnh hưởng của việc bổ sung phức kim loại này đến khả năng sản xuất của gà thịt thương phẩm. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

HÀ VĂN HUY

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM PHỨC KIM LOẠI (SẮT, ĐỒNG, KẼM, SELEN) ĐẾN KHẢ NĂNG

SẢN XUẤT CỦA GÀ THƯƠNG PHẨM

Ngành: Dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi

Mã số: 9.62.01.07

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2020

Trang 2

Công trình hoàn thành tại:

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn: 1 TS NGUYỄN HỮU CƯỜNG

2 PGS.TS NGUYỄN BÁ MÙI

Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Huy Đạt

Hội Chăn nuôi

Phản biện 2: TS Nguyễn Văn Trọng

Cục Chăn nuôi

Phản biện 3: TS Trần Thị Bích Ngọc

Viện Chăn nuôi

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện họp tại:

Học viện Nông nghiệp Việt Nam Vào hồi giờ, ngày tháng năm 2020

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Trung tâm Thông tin - Thư viện Lương Định Của, Học viện Nông nghiệp

Việt Nam

Trang 3

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Các chất khoáng vi lượng sắt, đồng, kẽm và selen có vai trò quan trọng trong dinh dưỡng động vật, là thành phần của nhiều loại enzym, hocmon (thiroxin) và vitamin (B12) Ngoài ra, các chất khoáng vi lượng còn đóng vai trò chủ chốt trong hầu hết các quá trình đồng hóa diễn ra trong cơ thể như quá trình hô hấp mô, tạo máu, sinh sản, biệt hóa, ổn định màng tế bào, sinh tổng hợp protein, điều hòa gen, phản ứng miễn dịch và hoạt hóa hàng loạt các phản ứng sinh hóa khác Sự thiếu hụt một vài khoáng vi lượng đều có thể dẫn đến sự rối loạn sinh trưởng và phát triển Ở gia cầm khi bị thiếu sắt dẫn tới thiếu máu, giảm kích thước và số lượng hồng cầu Thiếu đồng dẫn tới thiếu máu; xương có thể bị biến dạng Thiếu đồng còn làm cho tim của gia cầm sưng to hơn mức bình thường Thiếu kẽm gây giảm sinh trưởng và phát triển lông, giảm hoàn thiện xương, khớp sưng, phôi gà chậm phát triển, tỷ lệ nở thấp Ngoài ra còn tác động tới xương

ức và xương chân gây biến dạng Thiếu selen làm giảm tốc độ sinh trưởng, giảm đẻ, giảm

tỷ lệ phôi và ấp nở, hạn chế thành thục sinh dục, gà trống đạp mái kém

Để bù đắp lượng khoáng thiếu hụt trong thức ăn của vật nuôi người ta thường bổ sung bằng một số muối vô cơ, hữu cơ của các kim loại như sắt, đồng, kẽm và selen… với hàm lượng cần thiết để duy trì sự phát triển của vật nuôi Tuy nhiên, do khả năng hấp thu các muối vô cơ của gia cầm nói riêng và của động vật nói chung không cao (chỉ hấp thu tối đa 20%) nên phần lớn các muối này bị thải ra ngoài theo chất thải, gây lãng phí và làm ô nhiễm môi trường Trong khi đó, phức khoáng siêu phân tán được hấp thu cao đạt 80-90% do kích thước rất nhỏ, có khả năng gắn kết với các hợp chất hữu cơ nên các hạt kim loại rất dễ được vật nuôi hấp thu và có thể điều chỉnh thời gian hấp thu chúng trong quá trình tiêu hoá, nhờ vậy, lượng khoáng thải ra môi trường

ít, từ đó giảm ô nhiễm môi trường (Petrovic et al., 2006)

Hàm lượng các nguyên tố vi lượng như Fe, Cu, Zn và Se trong các nguyên liệu thức ăn có nguồn gốc thực vật và động vật là hoàn toàn đủ để đáp ứng nhu cầu của gia cầm (NRC, 1994) Tuy nhiên, do mức độ sinh khả dụng của chúng thấp (vì tồn tại ở dạng các liên kết phức tạp với các phân tử khác) và quan hệ tương tác theo chiều hướng tiêu cực (kìm hãm sự tiêu hoá và hấp thu), nên mặc dù hàm lượng của các nguyên tố vi lượng trong thức ăn là khá cao nhưng khả năng đáp ứng nhu cầu của vật nuôi lại rất thấp Ngoài ra, trong môi trường dạ dày với độ pH thấp, một số nguyên tố

vi lượng có xu hướng bị phân ly mạnh để tạo thành các ion, liên kết với một số yếu tố kháng dinh dưỡng, tạo thành phức không hòa tan, không hấp thu (Suttle, 2010) Bởi vậy, để tăng hiệu quả hấp thu, tránh những tương tác theo chiều hướng tiêu cực, xu hướng hiện nay, thay vì sử dụng các nguyên tố khoáng vi lượng ở dạng vô cơ thì các nhà dinh dưỡng đã sử dụng ở dạng hữu cơ hoặc dạng siêu phân tán Hiện nay việc nghiên cứu chế tạo phức kim loại từ các hạt kim loại, oxit kim loại siêu phân tán để ứng dụng trong chăn nuôi tại Việt Nam chưa được thực hiện Tuy nhiên nhu cầu sử dụng khoáng dạng siêu phân tán thay thế khoáng vô cơ ngày càng được quan tâm nhiều hơn, điều này đặt ra yêu cầu là làm sao Việt Nam có thể chủ động được công nghệ chế tạo, chủ động được nguồn nguyên liệu vi khoáng, theo kịp xu hướng thế giới,

cụ thể làm thế nào chế tạo được chế phẩm phức kim loại từ các hạt oxit sắt (Fe2O3), oxit kẽm (ZnO), hạt kim loại đồng (Cu) và selen (Se) siêu phân tán? Xác định mức

bổ sung phức kim loại phù hợp vào thức ăn chăn nuôi gia cầm nhằm nâng cao năng

Trang 4

suất, hiệu quả kinh tế, góp phần bảo đảm an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường

Từ vấn đề cấp thiết đặt ra của sản xuất, chúng tôi tiến hành nghiên cứu chế tạo chế phẩm phức kim loại và nghiên cứu ảnh hưởng của nó đến khả năng sản xuất của

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Chế tạo được các hạt oxit sắt, hạt đồng, oxit kẽm và hạt selen siêu phân tán có kích thước nano để sử dụng làm thức ăn chăn nuôi phù hợp với trình độ và khả năng công nghệ hiện có của Việt Nam

- Xác định được ảnh hưởng của các mức phức kim loại (Fe, Cu, Zn, Se) đến một

số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu, sự tồn dư kim loại trong thịt, nội tạng và trong chất thải của gà LV thương phẩm

- Xác định được ảnh hưởng của các mức phức kim loại (Fe, Cu, Zn, Se) đến khả

năng sản xuất của gà LV thương phẩm

- Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm phức kim loại (sắt, đồng, kẽm, selen) đến khả năng sản xuất của gà LV thương phẩm tại Trạm Nghiên cứu Chăn nuôi

gà Phổ Yên, xã Đắc Sơn, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương từ năm 2014 đến năm 2015

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

- Chế tạo được các hạt kim loại, oxit kim loại siêu phân tán để sử dụng làm thức ăn chăn nuôi phù hợp với trình độ và khả năng công nghệ của Việt Nam Đây là công trình đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu về chế tạo phức kim loại siêu phân tán sử dụng làm thức ăn chăn nuôi phù hợp công nghệ và trình độ của Việt Nam

- Xác định được mức phức kim loại (Fe, Cu, Zn, Se) trong khẩu phần thức ăn phù hợp với gà LV thương phẩm nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôi

1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.5.1 Ý nghĩa khoa học

- Xác định được các tham số tối ưu hóa trong chế tạo một số phức kim loại (Fe,

Cu, Zn, Se) dạng siêu phân tán có kích thước nano sử dụng làm phụ gia bổ sung vi khoáng cho gà thay thế cho khoáng ở dạng muối vô cơ, nâng cao được sinh khả dụng của vi khoáng, cải thiện thành tích chăn nuôi và góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường

- Kết quả đề tài cung cấp phương pháp khoa học chế tạo các kim loại, oxit kim loại để sản xuất chế phẩm phức kim loại bổ sung vào thức ăn chăn nuôi phù hợp với công nghệ và trình độ chăn nuôi ở Việt Nam, xác định được mức sử dụng chế phẩm

Trang 5

phức kim loại vào khẩu phần thức ăn chăn nuôi gà thương phẩm nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi

- Các kết quả thu được là căn cứ khoa học cho các hướng nghiên cứu tiếp theo và là nguồn tư liệu bổ ích phục vụ cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học về chăn nuôi

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 VỀ CHẾ TẠO HẠT KIM LOẠI, OXIT KIM LOẠI SIÊU PHÂN TÁN VÀ CHUYỂN ĐỔI DUNG DỊCH HUYỀN PHÙ CỦA CÁC HẠT KIM LOẠI, OXIT KIM LOẠI THÀNH DẠNG BỘT

Hiện tại đã có một số nghiên cứu ngoài nước đã nghiên cứu chế tạo hạt oxit sắt (Fe2O3) siêu phân tán bằng phương pháp nghiền; phương pháp vi nhũ tương; phương pháp hóa siêu âm; bằng phương pháp thủy nhiệt Phương pháp nghiền có ưu điểm là đơn giản và chế tạo được vật liệu với khối lượng lớn Việc thay đổi chất hoạt hóa bề mặt và dung môi không ảnh hưởng nhiều đến quá trình chế tạo Nhược điểm của phương pháp này là tính đồng nhất của các hạt siêu phân tán không cao vì khó có thể

khống chế quá trình hình thành các hạt siêu phân tán Arturo et al (1993) sử dụng

phương pháp vi nhũ tương để tạo hạt oxit sắt siêu phân tán với kích thước có thể được điều khiển bằng nồng độ chất hoạt hóa bề mặt (CHHBM) là AOT và nhiệt độ, sử dụng chất dodecyl sulfate sắt, Fe(DS)2 Một số tác giả đã chế tạo các hạt oxit sắt siêu phân tán (α-Fe2O3) bằng phương pháp thủy nhiệt và phân tích một số đặc trưng của vật liệu như giản đồ nhiễu xạ tia X (XRD), kính hiển vi điện tử quét (SEM), kính hiển vi điện

tử truyền qua (TEM) và phổ hồng ngoại (FT-IR) (Chun-Yang et al., 2011; Wenqing et

al., 2011; Almeida, 2010) Phương pháp chế tạo hạt oxit sắt siêu phân tán bằng

phương pháp thủy nhiệt cơ bản phù hợp tại Việt Nam Vì vậy chúng tôi sử dụng để nghiên cứu chế tạo hạt oxit sắt siêu phân tán

Một số nghiên cứu về chế tạo hạt đồng siêu phân tán bằng phương pháp khử như: phương pháp khử KBH4; phương pháp khử hydrazin (N2H4); phương pháp khử (NaBH4) Qiu-li et al (2010) chế tạo hạt đồng siêu phân tán bằng phương pháp khử

hóa học sử dụng chất khử KBH4 Kết quả chỉ ra rằng, điều kiện tối ưu của quá trình tổng hợp hạt đồng siêu phân tán như sau: tỷ lệ mol của KBH4/CuSO4 là 0,75, nồng độ của CuSO4: 0,4 mol/l, nhiệt độ phản ứng là 300C và chất ổn định là butanol Kích thước hạt đồng siêu phân tán trung bình thu được phần lớn dạng hình cầu khoảng 100 nm

Hassan et al (2011) nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng như nhiệt độ phản ứng, tỷ lệ

giữa nồng độ chất khử và tiền chất đến hình thái và kích thước hạt nano thông qua hai

phương pháp khử hóa học và điện hóa Xiangling et al (2005) đã chế tạo hạt đồng siêu

phân tán bằng phương pháp khử hóa học sử dụng hydrazin (N2H4) làm chất khử

Abdulla-Al-Mamun et al (2009) đã chế tạo thành công hạt đồng siêu phân tán bằng

cách khử muối đồng nitrat (Cu(NO3)2) bằng borohydride (NaBH4) trong hỗn hợp dung môi nước/CH3CN, trong điều kiện sục khí argon Các hạt đồng siêu phân tán, lần đầu tiên đã được tổng hợp với quy mô lớn với sự có mặt của acetonitrile (CH CN) trong

Trang 6

nước để tránh sự oxy hóa Những tính chất đặc trưng của hạt đồng siêu phân tán được xác định bằng phổ hấp phụ nguyên tử Uv-Vis, kính hiển vi điện tử truyền qua TEM, phổ X- quang điện tử (XPS), phổ nhiễu xạ tia X (XRD) Phương pháp chế tạo hạt đồng siêu phân tán bằng khử (NaBH4) cho thấy sự ổn định tuyệt vời của hạt đồng siêu phân tán so với sự bảo vệ hạt đồng siêu phân tán bằng citrate Chúng tôi sử dụng phương pháp này để nghiên cứu chế tạo hạt Cu siêu phân tán

Chế tạo hạt oxit kẽm siêu phân tán được thực hiện bằng một số phương pháp như: phương pháp nhũ tương hóa, tổng hợp pha dung dịch (Solution-phase synthesis), CVD, lắng đọng xung laser (pulsed-laser deposition), phương pháp EBL (electron-beam lithography) kết hợp với CVD hay phương pháp dung dịch Mỗi phương pháp đều có ưu điểm và nhược điểm riêng, quan trọng hơn là tùy vào mục đích sử dụng khác nhau, người ta sẽ chọn phương pháp chế tạo phù hợp nhất Trong nghiên cứu này, chúng tôi tổng hợp oxit kẽm siêu phân tán theo phương pháp thủy nhiệt theo các nhiệt độ phản ứng khác nhau

Hạt selen siêu phân tán chủ yếu được tổng hợp bằng hai phương pháp chính là phương pháp vật lý và phương pháp hóa học Trong đề tài này chúng tôi tập trung nghiên cứu chế tạo hạt selen siêu phân tán bằng phương pháp dung dịch nước Phương pháp dung dịch nước được sử dụng rộng rãi hơn so với các phương pháp khác nhờ sử dụng thiết bị đơn giản, trong đó phản ứng hình thành hạt selen được diễn ra trong một dung dịch đồng nhất chứa các thành phần tham gia ban đầu là các ion Se4+

hòa tan cùng với chất chống tập hợp và tác nhân khử được thêm vào sau bằng cách nhỏ giọt Phương pháp khử hóa học là dùng các tác nhân hóa học để khử ion Se4+

thành Selen kim loại

Chuyển đổi dung dịch huyền phù của hạt kim loại, oxit kim loại siêu phân tán thành dạng bột để dễ bảo quản, sử dụng: thông thường sử dụng phương pháp sấy phun chân không; phương pháp ly tâm và sấy gia nhiệt thông thường Sau khi xem xét các

ưu điểm, nhược điểm của các phương pháp, chúng tôi thấy rằng sự kết hợp giữa phương pháp ly tâm và phương pháp sấy gia nhiệt thông thường là phương pháp phù hợp nhất để chuyển dạng huyền phù hạt kim loại, oxit kim loại siêu phân tán thành dạng bột trong điều kiện phòng thí nghiệm tại Viện Công nghệ môi trường

2.2 NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG TRONG CHĂN NUÔI

Theo Cai et al (2012) về ảnh hưởng của nano selen đến hiệu suất, chất lượng

thịt, chức năng miễn dịch, kháng oxy hóa và hàm lượng selen trong mô gà thịt (gà Arbor Acres) cho thấy: hàm lượng selen trong cơ ngực của gà lúc 42 ngày tuổi khi sử dụng nano selen với các mức 0,00; 0,30; 0,50; 1,00 và 2,00 mg/kg lần lượt là 0,007; 0,19; 0,26; 0,43 và 0,46 ppm Lô sử dụng mức 0,00 mg/kg nano selen có sai khác với các lô còn lại (P<0,05); giữa lô sử dụng mức 0,30 và lô sử dụng mức 0,50 mg/kg nano selen có sai khác về hàm lượng selen trong cơ ngực gà, nhưng sự sai khác không có ý nghĩa thống kê (P>0,05); giữa lô sử dụng mức 1,00 và lô sử dụng mức 2,00 mg/kg nano selen có sai khác về hàm lượng selen trong cơ ngực gà, nhưng sự sai khác không

có ý nghĩa thống kê (P>0,05); giữa lô sử dụng mức 0,30 và lô sử dụng mức 0,50 mg/kg nano selen, sai khác có ý nghĩa thống kê so với lô sử dụng mức 1,00 và lô sử dụng mức 2,00 mg/kg nano selen (P<0,05)

Kết quả nghiên cứu của Selim et al (2015) về ảnh hưởng của selen dạng vô cơ,

hữu cơ hoặc nano selen trong thức ăn của gà thịt đến sinh lý, miễn dịch của gà thịt (gà

Trang 7

Arbor Acres) cho thấy: khi sử dụng selen dạng vô cơ (NaSe) với mức 0,15 và 0,3 ppm thì hàm lượng hemoglobin của gà Arbor Acres lần lượt là 13,66 và 13,46 g/dl; sử dụng selen dạng hữu cơ (Se-yeast) với mức 0,15 và 0,3 ppm thì hàm lượng hemoglobin của

gà Arbor Acres lần lượt là 13,90 và 13,94 g/dl Tuy nhiên khi sử dụng nano selen dạng bột với mức 0,15 và 0,3 ppm thì hàm lượng hemoglobin của gà Arbor Acres là 13,97

và 14,07 g/dl Khi sử dụng nano selen dạng dung dịch với mức 0,15 và 0,3 ppm thì hàm lượng hemoglobin của gà là 13,93 và 13,86 g/dl

Theo Samanta et al (2011), khi sử dụng đồng (CuSO4.5H2O) ở các mức 75, 150,

250 mg/kg thức ăn đã làm tăng số lượng hồng cầu và hàm lượng hemoglobin của đàn gà thương phẩm so với đối chứng Mức bổ sung (150 mg CuSO4.5H2O/kg thức ăn) đàn gà

có số lượng hồng cầu là 4,19 triệu/mm3 và hàm lượng Hb là 10,44 g/dl đều cao hơn ở mức bổ sung (75 mg CuSO4.5H2O/kg thức ăn) số lượng hồng cầu (3,30 triệu/mm3), Hb (10,26 g/dl)

Nghiên cứu của Nollet et al (2007) đã cho thấy mức thải Zn theo chất thải của gà

broiler ở nhóm được ăn khẩu phần có bổ sung Zn ở dạng vô cơ là 277 ppm, cao hơn 57,4% so với nhóm gà được ăn khẩu phần có bổ sung Zn ở dạng hữu cơ (176 ppm) Kết quả ở nghiên cứu này cũng cho thấy, khi bổ sung Zn ở dạng siêu phân tán, mức thải Zn theo chất thải ở gà LV thương phẩm giảm rất rõ rệt so với lô được ăn khẩu phần có bổ sung Zn vô cơ (ZnSO4.7 H2O) theo liều khuyến cáo của NRC (1994) Nghiên cứu của Falandysz (1991) khi tác giả phân tích thịt cơ của gà thấy hàm lượng sắt dao động từ 10 đến 35 ppm, đồng dao động 0,52 – 7,3 ppm và kẽm dao động 5,7 - 40 ppm

Theo Sawosz et al (2018) khi nghiên cứu ảnh hưởng của hạt nano đồng đến hàm

lượng khoáng chất của các mô và sự tăng trưởng của gà Ross 308 Lô đối chứng sử dụng 7,5 mg Cu/kg thức ăn (CuS04 vô cơ), trong khi đó lô thí nghiệm sử dụng phức hợp nano đồng có kích thước 45nm, bổ sung với mức 25; 50; 70 và 100 % so với lô đối chứng Kết quả hàm lượng Fe thải qua chất thải tại lô đối chứng là 738 mg/kg, các

lô có sử dụng hàm lượng nano đồng với các mức 25; 50; 75 và 100% so với lô đối chứng thì hàm lượng Fe thải ra lần lượt là 749; 756; 809 và 873 mg/kg, sự sai khác giữa lô đối chứng và lô sử dụng nano đồng ở mức 25; 50% không có ý nghĩa thống kê; giữa lô đối chứng và lô sử dụng nano đồng ở mức 75 và 100% có ý nghĩa thống kê (P<0,05) Giữa các lô có sử dụng nano đồng thì mức sử dụng 25% lượng Fe thải ra là thấp nhất, giữa lô sử dụng nano đồng mức 25% và 50% sự sai khác không có ý nghĩa thống kê, tuy nhiên giữa lô sử dụng nano đồng mức 25% và 50% so với lô sử dụng 75% và 100 %, sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05) Hàm lượng Cu thải qua chất thải tại lô đối chứng là 51 mg/kg; các lô có sử dụng hàm lượng nano đồng với các mức 25; 50; 75 và 100% so với lô đối chứng thì hàm lượng Cu thải ra lần lượt là 28,5; 36,5; 44,7 và 43,5 mg/kg; sự sai khác giữa lô đối chứng và lô sử dụng nano đồng có ý nghĩa thống kê (P<0,001) Giữa các lô có sử dụng nano đồng thì mức sử dụng 25% lượng Cu thải ra là thấp nhất, sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,001) Hàm lượng Zn thải qua chất thải tại lô đối chứng là 298 mg/kg, các lô có sử dụng hàm lượng nano đồng với các mức 25; 50; 75 và 100% so với lô đối chứng thì hàm lượng Zn thải ra lần lượt là 307; 339; 297 và 303 mg/kg, sự sai khác giữa lô đối chứng và lô sử dụng nano đồng không

có ý nghĩa thống kê Hàm lượng Fe trong cơ thịt gà của lô đối chứng là 24,2 mg/kg, các

Trang 8

lô sử sụng nano đồng với mức 25; 50; 70 và 100 % thì hàm lượng Fe trong cơ thịt gà lần lượt là 23,6; 22,1; 30,5 và 22,9 mg/kg Hàm lượng Cu trong cơ thịt gà của lô đối chứng

là 1,27 mg/kg; các lô sử sụng nano đồng với mức 25; 50; 70 và 100 % thì hàm lượng Cu trong cơ thịt gà lần lượt là: 1,46; 1,48; 1,52 và 1,16 mg/kg Hàm lượng Zn trong cơ thịt

gà của lô đối chứng là 22,0 mg/kg, các lô sử sụng nano đồng với mức 25; 50; 70 và 100

% thì hàm lượng Zn trong cơ thịt gà lần lượt là 21,4; 20,7; 26,0 và 21,9 mg/kg Hàm lượng Fe, Cu, Zn trong gan gà của lô đối chứng lần lượt là 970; 16,5 và 126 mg/kg, các

lô sử dụng nano đồng với mức 25; 50; 70 và 100 % thì hàm lượng các nguyên tố Fe, Cu,

Zn trong gan gà cụ thể như sau: hàm lượng Fe từ 812-1090 mg/kg, hàm lượng Cu từ 14,3-15,5 mg/kg và hàm lượng Zn từ 108-137 mg/kg

PHẦN 3 NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.1.1 Nghiên cứu chế tạo chế phẩm phức kim loại (sắt, đồng, kẽm và selen)

- Nghiên cứu chế tạo các hạt oxit sắt siêu phân tán;

- Nghiên cứu chế tạo các hạt kim loại đồng siêu phân tán;

- Nghiên cứu chế tạo các hạt oxit kẽm siêu phân tán;

- Nghiên cứu chế tạo các hạt selen siêu phân tán;

- Nghiên cứu tạo vỏ bọc các hạt kim loại siêu phân tán

3.1.2 Nghiên cứu chuyển dạng huyền ph (o it sắt, đồng, o it kẽm và selen siêu

ph n tán) sang dạng bột làm thức ăn chăn nuôi gia cầm

Chuyển dạng huyền phù sắt, đồng, kẽm và selen siêu phân tán thành dạng bột: Nghiên cứu ảnh hưởng của tốc độ, thời gian li tâm và số lần rửa siêu âm với từng loại huyền phù để đạt hiệu quả thu hồi cao

3.1.3 Nghiên cứu sử dụng chế phẩm phức kim loại (Fe, Cu, Zn, Se) bổ sung vào thức ăn nuôi gà LV thương phẩm

Ảnh hưởng của các mức chế phẩm phức kim loại đến các chỉ tiêu: một số chỉ tiêu sinh lý sinh hóa máu; sự tồn dư kim loại trong thịt, nội tạng; sự đào thải qua chất thải của gà và khả năng sản xuất thịt cũng như chất lượng thịt

3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.2.1 Nghiên cứu chế tạo chế phẩm phức kim loại (sắt, đồng, kẽm và selen)

- Phương pháp chế tạo hạt oxit sắt, oxit kẽm siêu phân tán bằng phương pháp thủy nhiệt (nghiên cứu, xác định điều kiện tối ưu về pH phản ứng, nhiệt độ phản ứng

và thời gian phản ứng để chế tạo được hạt oxit sắt, oxit kẽm siêu phân tán có kích thước nhỏ nhất) Xác định kích thước hạt của các hạt oxit sắt và oxit kẽm siêu phân tán được thực hiện bằng phương pháp SEM

- Phương pháp chế tạo chế tạo hạt đồng siêu phân tán bằng phương pháp khử,

sử dụng chất khử NaBH4 (xác điều kiện tối ưu về tỷ lệ nồng độ [Na3C6H5O7]/[CuSO4],

pH phản ứng, nhiệt độ phản ứng để chế tạo được hạt đồng siêu phân tán có kích thước nhỏ nhất) Xác định kích thước của các hạt đồng siêu phân tán tạo thành bằng phương pháp SEM

- Phương pháp chế tạo hạt slen siêu phân tán bằng phương pháp ôxy hóa khử, sử dụng chất khử L-Ascorbic (xác định điều kiện tối ưu về tỷ lệ nồng độ L - Ascorbic/Se4+; nồng độ chất ổn định chitosan; pH phản ứng và nồng độ dung dịch

Trang 9

selen để chế tạo được hạt selen siêu phân tán có kích thước nhỏ nhất) Xác định kích thước hạt của các hạt selen siêu phân tán bằng phương pháp TEM

- Các hạt oxit sắt, đồng, oxit kẽm, selen siêu phân tán được bọc bằng màng bọc

chitosan Đánh giá các đặc tính vật lý của các hạt oxit sắt, đồng, oxit kẽm và selen siêu phân tán thu được trên cơ sở khảo sát các giản đồ nhiễu xạ (XRD) trên máy đo nhiễu

xạ tia X

3.2.2 Nghiên cứu chuyển huyền ph o it sắt, đồng, o it kẽm và selen siêu ph n tán sang dạng bột

Sử dụng máy ly tâm, tủ sấy, máy siêu âm 750W để nghiên cứu, xác định tốc độ

ly tâm, thời gian ly tâm và số lần rửa siêu âm tối ưu để thu được hiệu suất hạt siêu phân tán là cao nhất Đánh giá hiệu quả thu hồi hạt siêu phân tán bằng phương pháp phân tích quang phổ hấp phụ nguyên tử (AAS) để xác định hàm lượng hạt siêu phân tán còn lại trong dung dịch huyền phù sau quá trình ly tâm

Độ sạch của hạt siêu phân tán được đánh giá thông qua phổ EDX Dựa vào phổ EDX chúng ta sẽ biết được hàm lượng của các hạt kim loại siêu phân tán, thành phần tạp chất còn lại có mặt trong mẫu đo Đánh giá các đặc tính vật lý của các hạt siêu phân tán trên cơ sở khảo sát XRD, SEM và TEM

3.2.3 Nghiên cứu sử dụng chế phẩm phức kim loại (Fe, Cu, Zn, Se) bổ sung vào thức ăn nuôi gà LV thương phẩm

Để khảo sát ảnh hưởng của chế phẩm phức kim loại (sắt, đồng, kẽm và selen) đến khả năng sản xuất của gà LV thương phẩm, thí nghiệm được bố trí theo phương pháp chia lô so sánh với tổng số 900 gà LV được đeo số cánh từ 1 ngày tuổi, phân ngẫu nhiên thành 6 lô, mỗi lô nuôi 150 con, trong 3 ô chuồng (50 con/ô chuồng; lặp lại

ba lần)

Lô I (ĐC1): Gà được ăn khẩu phần cơ sở (KPCS) và được trộn với các nguyên tố khoáng vi lượng (Fe: 80 mg/kg, Cu: 8 mg/kg, Zn: 40 mg/kg và Selen: 0,15 mg/kg) ở dạng muối vô cơ với liều lượng từng nguyên tố theo khuyến cáo NRC (1994) cho các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của gà LV nuôi thịt

Lô II (ĐC2): Gà được ăn KPCS và được trộn với các nguyên tố khoáng vi lượng (Fe: 70 mg/kg, Cu: 12 mg/kg, Zn: 30 mg/kg và Se: 0,18 mg/kg) ở dạng vô cơ theo liều khuyến cáo của hãng Bayer

Bốn lô thí nghiệm còn lại (lô III, lô IV, lô V, lô VI) ăn KPCS được trộn với hỗn hợp phức kim loại (Fe, Cu, Zn và Se) theo liều tăng dần tương ứng với liều lượng (Fe,

Cu, Zn và Se) bằng 15, 20, 25 và 30% so với công thức lô I (ĐC1)

Để đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm phức kim loại đến khả năng sản xuất của

gà LV thương phẩm, chúng tôi đánh giá các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa; khả năng sản xuất của gà LV thương phẩm theo phương pháp thường dùng trong đánh giá sản xuất gia cầm; các phương pháp xác định đào thải kim loại qua chất thải của gà, xác định hàm lượng các kim loại trong thịt, một số cơ quan nội tạng, xác định thành phần hóa học của thịt gà tại Phòng Phân tích thức ăn và sản phẩm chăn nuôi, Viện Chăn nuôi (các phép thử đã được cơ quan có thẩm quyền quy định)

3.3 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU

Đối với tất cả các chỉ tiêu theo dõi được, tính các tham số thống kê bằng phần mềm SAS phiên bản 9.1 Sử dụng mô hình MIXED để xử lý số liệu theo mô hình thống kê

Trang 10

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHẾ PHẨM PHỨC KIM LOẠI CHỨA SẮT, ĐỒNG, KẼM VÀ SELEN

4.1.1 Kết quả nghiên cứu chế tạo các hạt o it sắt siêu ph n tán

4.1.1.1 Xác định pH thích hợp để tạo hạt oxit sắt siêu phân tán

Sau khi đã khảo sát trước, chúng tôi cố định nhiệt độ phản ứng là 1800C trong thời gian là 7 giờ; lần lượt điều chỉnh pH phản ứng là 9; 10; 11; 12; 13 để khảo sát, chụp SEM để đo kích thước hạt sắt siêu phân tán Kết quả tại pH = 9; 10; 11; 12; 13 cho kích thước trung bình của hạt oxit sắt siêu phân tán lần lượt là 170±0,68; 90± 0,93; 175±0,80; 190±0,94 và 220±1,13 nm

Như vậy kích thước của các hạt oxit sắt được chế tạo trong điều kiện pH = 10 là nhỏ nhất, trung bình đạt 90 ± 0,93 nm Điều này có thể giải thích là khi tăng pH của phản ứng, làm cho lực hút tĩnh điện mạnh hơn dẫn đến sự hình thành các hạt oxit sắt

lớn hơn (Wenqing et al., 2011) Do đó pH của dung dịch phản ứng là 10 sẽ được chọn

để tiến hành trong các khảo sát tiếp theo

4.1.1.2 Xác định nhiệt độ dung dịch phản ứng thích hợp để tạo ạt t ắt siêu phân tán

Sau khi xác định được pH =10 là thích hợp, chúng tôi tiếp tục cố định thời gian phản ứng là 7 giờ; khảo sát nhiệt độ với các mức 100; 120; 140; 160; 180oC để lựa chọn nhiệt độ tối ưu Tại điểm nhiệt độ khảo sát đều chụp SEM để đo kích thước hạt oxit sắt Qua ảnh SEM cho thấy các hạt oxit sắt được chế tạo với nhiệt độ phản ứng khác nhau có cấu trúc tinh thể, các hạt có kích thước tương đối đồng đều, biên hạt tương đối rõ ràng Từ các ảnh SEM có thể xác định được kích thước trung bình của các hạt oxit sắt Kích thước hạt sắt oxit được tạo ra khi nhiệt độ phản ứng là 100; 120; 140; 160;

180oC lần lượt là 140±1,55; 110± 1,21; 150± 1,75; 120± 1,87 và 90±1,68 nm

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự thay đổi của nhiệt độ phản ứng có ảnh hưởng đến hình thái và kích thước của các hạt oxit sắt siêu phân tán Kích thước của các hạt oxit sắt siêu phân tán được chế tạo trong điều kiện nhiệt độ phản ứng 180o

C có kích thước nhỏ nhất, trung bình đạt 90 ± 1,68 nm Điều này có thể giải thích là: khi tăng nhiệt độ phản ứng trong bình Teflon diễn ra mãnh liệt hơn và tạo ra sự xáo trộn mạnh

dẫn đến sự phân tán các hạt oxit sắt tốt hơn (Wenqing et al., 2011) Tại nhiệt độ của

dung dịch phản ứng là 180oC đã chế tạo được hạt oxit sắt có kích thước nano (90 ± 1,68 nm) Với nhiệt độ đã xác định được như trên, chúng tôi lựa chọn nhiệt độ của dung dịch phản ứng là 180oC để tiến hành trong các khảo sát tiếp theo

4.1.1.3 Xác định thời gian phản ứng thích hợp để tạo ạt t ắt siêu phân tán

Sau khi xác định được pH phản ứng thích hợp (pH=10), nhiệt độ phản ứng thích hợp (180oC), chúng tôi nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian phản ứng đến quá trình hình thành hạt oxit sắt siêu phân tán Thời gian phản ứng được khảo sát từ 1; 2; 3; 5 và

7 giờ Mẫu oxit sắt được chế tạo với điều kiện pH = 10 và nhiệt độ phản ứng là 180oC được giữ cố định Các mẫu oxit sắt chế tạo được chụp SEM để xác định kích thước hạt Từ các ảnh SEM của hạt oxit sắt siêu phân tán có thể xác định được kích thước trung bình của các hạt oxit sắt siêu phân tán, cụ thể: thời gian 1; 2; 3; 5 và 7 giờ kích thước hạt oxit sắt trung bình lần lượt là 135± 1,30; 140± 1,55; 140± 1,70; 135± 1,41

Trang 11

và 90± 1,64 nm

Như vậy kích thước của các hạt oxit sắt được chế tạo trong điều kiện thời gian phản ứng là 7 giờ, pH = 10 và nhiệt độ phản ứng là 180oC, hạt oxit sắt có kích thước nhỏ nhất, trung bình đạt 90 ± 1,64 nm Điều này có thể giải thích là khi tăng thời gian của phản ứng làm cho sự phân tán các hạt oxit sắt tốt hơn nên kích thước oxit sắt sẽ nhỏ hơn Thời gian phản ứng là 7 giờ đã chế tạo được hạt oxit sắt có kích thước nano (90±1,64 nm), nên chúng tôi lựa chọn thời gian phản ứng là 7 giờ

4 t ả t t lập đ ều kiện thích hợp của quá trình ch tạo các hạt oxit sắt siêu phân tán bằng p ương p áp t ủy nhiệt

Từ các kết quả khảo sát ảnh hưởng của pH, nhiệt độ và thời gian phản ứng, vật liệu Fe2O3 được chế tạo bằng phương pháp thủy nhiệt theo những điều kiện thích hợp sau: pH = 10; nhiệt độ phản ứng: 180oC; thời gian phản ứng: 7 giờ; kích thước hạt oxit sắt siêu phân tán thu được là nhỏ nhất trung bình 90 nm Với kích thước hạt oxit sắt siêu phân tán đã thu được chúng tôi có thể khẳng định rằng: bằng phương pháp thủy nhiệt với điều kiện trên sẽ chế tạo được hạt nano oxit sắt (kích thước trung bình là 90 nm)

4.1.2 Nghiên cứu chế tạo các hạt kim loại đồng siêu ph n tán sử dụng NaBH4 làm chất khử

4.1.2.1 Xác định pH thích hợp để tạo hạt đồng siêu phân tán

Khảo sát với dung dịch đồng với nồng độ 400 ppm, nồng độ natri citrat trong dung dịch là 720 ppm, tỷ lệ mol NaBH4/Cu2+ = 8,0 Phản ứng được duy trì ở nhiệt độ

30oC pH khảo sát: 8; 8,5; 9; 9,5; 10; 11

Kết quả chụp SEM của hạt đồng siêu phân tán cho thấy, các hạt đồng siêu phân tán có kích thước tương đối đồng đều Kích thước hạt đồng siêu phân tán trung bình 20

nm - 40 nm và đồng đều nhất tại pH= 9,0 (kích thước 20± 0,96 nm) Phản ứng khử ion

Cu2+ thành Cu xảy ra khó hơn khi pH của hệ phản ứng lớn hơn 9 Độ pH của môi trường phản ứng có ảnh hưởng lớn đến quá trình khử ion Cu2+ Việc tăng cường động học của phản ứng có thể có lợi cho việc giảm kích thước tinh thể đồng do sự tăng tỷ lệ mầm trong hệ phản ứng pH của phản ứng được điều chỉnh từ 7-11 bằng cách nhỏ giọt

dung dịch NaOH 0,6 M Trong một báo cáo khác của Dang Thi My Dung et al (2011)

cho biết pH tối ưu của phản ứng điều chế nano đồng được chọn bằng 10 Tuy nhiên, sự khác nhau này có thể được giải thích do sự giảm kích thước của hạt đồng siêu phân tán còn phụ thuộc vào loại dung môi, chất ổn định, nhiệt độ và tỷ lệ các tiền chất trong hệ phản ứng Trong trường hợp này, có thể có một số sự thay đổi trong sự sắp xếp của các phân tử chất ổn định xung quanh các hạt đồng như là một hệ quả của sự thay đổi trong

pH Vì vậy nhóm nghiên cứu chọn pH = 9 để thực hiện nghiên cứu tiếp theo

4.1.2.2 Xác định nhiệt độ phản ứng thích hợp để tạo hạt đồng siêu phân tán

Sau khi lựa chọn được pH =9 là thích hợp, chúng tôi cố định thời gian phản ứng là

1 giờ và pH = 9 để nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ phản ứng đến quá trình hình thành, hình thái và kích thước hạt Cu siêu phân tán Nhiệt độ khảo sát: 6; 15; 22 và

30oC

Kết quả thu được trên ảnh SEM cho thấy, khi cố định pH=9, thời gian phản ứng

1 giờ, nhiệt độ khảo sát tại các thời điểm trên, cho kích thước hạt đồng siêu phân tán trung bình 20-50 nm; kết quả này phù hợp với kết quả một số nhóm nghiên cứu đã công

Trang 12

bố (Larry, 2006; Church, 1989) kích thước hạt đồng siêu phán tán thu được dao động từ

10 nm đến 90 nm Về cơ bản, tốc độ phản ứng khử ion Cu2+ tăng khi nhiệt độ phản ứng tăng, do đó tốc độ của phản ứng tổng hợp tăng nhanh nên khó kiểm soát sự hình thành kích thước hạt Khi chất khử được thêm vào hỗn hợp phản ứng tại nhiệt độ 30oC, tốc độ hình thành hạt kim loại siêu phân tán và kết tụ tăng lên Những kết quả này dẫn đến hình thành các hạt kim loại siêu phân tán với kích thước trung bình cao hơn Với nhiệt độ phản ứng là 30o

C, kích thước hạt đồng siêu phân tán nhỏ nhất, đồng đều nhất (20 ± 1,07

nm) Do đã chế tạo được hạt đồng có kích thước nano ở nhiệt độ 30oC nên chúng tôi lựa chọn nhiệt độ phản ứng là 30oC để thực hiện các nghiên cứu tiếp theo

đã được gắn lên trên các polyme nên không thể lớn lên một cách tự do Hơn nữa các hạt khi vừa hình thành đã được ngăn cách với nhau bởi lớp vỏ polyme lớn và không thể kết tụ được với nhau Điều này đã khống chế cả quá trình lớn lên và tập hợp của các hạt đồng siêu phân tán,

do đó dễ tạo hạt đồng đều Tuy nhiên, khi nồng độ natri citrat trong dung dịch cao, ([Citrat]/[Cu2+] = 3,0), kích thước trung bình của hạt đồng siêu phân tán sẽ lớn hơn Khi

tỷ lệ [Citrat]/[Cu2+] quá thấp, các hạt đồng siêu phân tán mới hình thành không được bảo

vệ và do vậy chúng dễ dàng tập hợp với nhau thành hạt lớn hơn Với kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi chọn tỷ lệ [Citrat]/[Cu2+] = 1,8 để chế tạo hạt đồng siêu phân tán

t ả t t lập các đ ều kiện thích hợp để tạo hạt đồng siêu phân tán, sử

Như vậy, các hạt đồng siêu phân tán đã được chế tạo thành công bằng phương pháp khử hóa học, sử dụng NaBH4 làm chất khử Xác định điều kiện thích hợp chế tạo vật liệu đồng siêu phân tán: Tỷ lệ nồng độ mol [Na3C6H5O7]/[CuSO4] = 1,8, pH phản ứng = 9,0, nhiệt độ phản ứng ở 30oC Kích thước hạt đồng thu được là nhỏ nhất (khoảng 20 nm) Với kích thước hạt đồng siêu phân tán đã thu được có thể khẳng định rằng: bằng phương pháp khử hóa học, sử dụng NaBH4 làm chất khử với điều kiện trên,

có thể chế tạo được hạt nano đồng (kích thước trung bình là khoảng 20 nm)

4.1.3 Kết quả nghiên cứu chế tạo các hạt o it kẽm siêu ph n tán

4.1.3.1 Xác định pH thích hợp để tạo hạt oxit kẽm siêu phân tán

Nghiên cứu ảnh hưởng của pH đến quá trình hình thành hạt oxit kẽm siêu phân tán được khảo sát ở pH từ 9,0; 10,0; 11,0; 12,0; 13,0 Hạt oxit kẽm được chế tạo với nhiệt độ phản ứng là 180oC và thời gian phản ứng là 7 giờ cố định Phân tích cấu trúc tinh thể và đo kích thước hạt oxit kẽm thu được để tìm ra điều kiện tối ưu nhất

Qua hình ảnh SEM cho thấy kết quả tại pH = 9; 10; 11; 12; 13 cho kích thước

Trang 13

trung bình của hạt oxit kẽm siêu phân tán lần lượt là 170± 2,61; 60± 2,90; 175± 2,80; 190± 3,44 và 220±1,90 nm Như vậy có thể thấy rằng kích thước của các hạt oxit kẽm được chế tạo trong điều kiện pH = 13 là lớn nhất (220±1,90 nm), trong khi đó các hạt oxit kẽm được chế tạo với điều kiện pH = 10, kích thước hạt oxit kẽm trung bình đạt

60 ± 2,90 nm Điều này có thể giải thích là khi tăng pH của phản ứng, làm cho lực hút tĩnh điện mạnh hơn dẫn đến sự hình thành các hạt oxit kẽm lớn hơn (Byrappa, 2007)

Do đó pH = 10 sẽ được chọn để tiến hành trong các khảo sát tiếp theo

4.1.3.2 Xác định nhiệt độ dung dịch phản ứng thích hợp để tạo hạt oxit kẽm siêu phân tán

Sau khi xác định được pH phản ứng thích hợp (pH=10) để tổng hợp các hạt oxit kẽm, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ phản ứng đến quá trình hình thành hạt oxit kẽm Nhiệt độ phản ứng được khảo sát là: 100; 120; 140; 160; 180oC Mẫu oxit kẽm được chế tạo với trong điều kiện pH phản ứng là 10 và thời gian phản ứng là 7 giờ giữ cố định Kết quả nghiên cứu cho thấy sự thay đổi của nhiệt độ phản ứng có ảnh hưởng đến hình thái và kích thước của các hạt oxit kẽm Kích thước của các hạt oxit kẽm được chế tạo trong điều kiện nhiệt độ phản ứng 180oC có kích thước nhỏ nhất, trung bình đạt 70 ± 1,73 nm Như vậy khi tăng nhiệt độ của phản ứng, làm cho phản ứng trong bình Teflon diễn ra mãnh liệt hơn và tạo ra sự xáo trộn mạnh hơn dẫn đến sự phân tán các hạt oxit kẽm tốt hơn

Nhiệt độ của dung dịch phản ứng là 180oC đã chế tạo được hạt oxit kẽm có kích thước nano (70 ± 1,73 nm), trên cơ sở đó chúng tôi lựa chọn nhiệt độ phản ứng là

180oC để thực hiện các nghiên cứu tiếp theo

4.1.3.3 Xác định thời gian phản ứng thích hợp để tạo hạt t ẽ p n tán

Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian phản ứng đến quá trình hình thành hạt oxit kẽm siêu phân tán được khảo sát: 1; 2; 3; 5 và 7 giờ Mẫu được chế tạo với pH phản ứng là 10 và nhiệt độ phản ứng là 180oC giữ cố định

Qua hình ảnh SEM cho thấy thấy sự thay đổi của thời gian phản ứng có ảnh hưởng đến hình thái và kích thước của các hạt oxit kẽm siêu phân tán Kích thước hạt oxit kẽm siêu phân tán được chế tạo trong điều kiện thời gian phản ứng là 7 giờ có kích thước nhỏ nhất, trung bình đạt 60 ± 1,30 nm Khi tăng thời gian của phản ứng đã làm cho sự phân tán các hạt oxit kẽm tốt hơn nên kích thước oxit kẽm sẽ nhỏ hơn

Thời gian phản ứng 7 giờ đã chế tạo được hạt oxit kẽm có kích thước nano (60

± 1,03 nm), do vậy chúng tôi lựa chọn thời gian phản ứng là 7 giờ

4.1.3 t ả t t lập đ ều kiện thích hợp của quá trình ch tạo các hạt oxit kẽm siêu phân tán bằng p ương p áp t ủy nhiệt

Qua kết quả khảo sát ảnh hưởng của pH, nhiệt độ và thời gian phản ứng đến kích thước hạt oxit kẽm siêu phân tán, cho thấy bằng phương pháp thủy nhiệt, hạt oxit kẽm được chế tạo với điều kiện pH = 10, nhiệt độ phản ứng là 180oC, thời gian phản ứng là 7 giờ sẽ cho kích thước hạt oxit kẽm siêu phân tán thu được là nhỏ nhất trung bình từ 60-70 nm Với kích thước hạt oxit kẽm siêu phân tán đã thu được có thể khẳng định rằng: bằng phương pháp thủy nhiệt với điều kiện pH = 10, nhiệt độ phản ứng là 180oC, thời gian phản ứng là 7 giờ, có thể chế tạo được hạt nano oxit kẽm (kích thước trung bình

là 60-70 nm)

Ngày đăng: 09/06/2021, 22:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w