quản trị thanh toán, luận văn hoạt động giao nhận, công ty cổ phần thương mại, kế toán bán hàng, kế toán xuất nhập khẩu, đào tạo bồi dưỡng nhân lực
Trang 1Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu “ Tăng cường hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa tại công ty Cổ Phần Thương Mại Vận Tải Và Du
Lịch Hoàng Anh”
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Giao nhận vận tải là yếu tố không thể tách rời buôn bán quốc tế Nói tới buônbán quốc tế là nói tới giao nhận vận tải Buôn bán có nghĩa là hàng hoá được thayđổi quyền sở sở hữu còn giao nhận là việc tổ chức thực hiện sự di chuyển quyền sởhữu đó Nói cách khác giao nhận vận tải chính là việc thực hiện hợp đồng mua bán
Những năm qua, thực hiện đường lối mở cửa, kim ngạch xuất nhập khẩu củaViệt Nam không ngừng gia tăng Hoạt động xuất nhập khẩu không ngừng phát triển.Kinh doanh dịch vụ giao nhận vận tải của Việt Nam hiện nay rất phong phú và đadạng với nhiều thành phần và nhiều dịch vụ được cung cấp, đáp ứng nhu cầu đặt ratrong vận chuyển của xã hội , đặc biệt là hàng hoá xuất nhập khẩu Song thực tế chothấy hoạt động dịch vụ giao nhận vận tải Việt Nam những năm qua có nhiều bất cập
mà nổi trội hơn chính là hiệu quả hoạt động Nguyên nhân chủ yếu của việc này là
do các doanh nghiệp chưa có những phương thức quản lý và kinh doanh mô hìnhdịch vụ của mình một cách hợp lý
Ngày nay, giao nhận vận tải giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển củathương mại, hoạt động này bổ trợ cho quá trình vận chuyển hàng hoá từ tay ngườibán tới tay người mua và nâng cao hiệu quả của các hoạt động kinh tế
Việc phát triển dịch vụ giao nhận vận tải nói chung và giao nhận vận tải đườngbiển nói riêng là rất cần thiết hoạt động thương mại của Việt Nam hiện hay vì trongquá trình hội nhập kinh tế thế giới, hoạt động thương mại của nước ta ngày càng mởrộng và diễn ra sôi nổi ở các vùng, các khu vực, hàng hoá trao đổi ngày càng đadạng, phong phú.Trước nhu cầu chuyên chở hàng hoá đang tăng nhanh, việc pháttriển các các dịch vụ giao nhận vận tải có ý nghĩa hết sức quan trọng góp phần làmcho nền kinh tế nước ta phát triển và hoà nhịp với xu thế phát triển chung của thếgiới mặt khác Việt Nam có vị trí thuận lợi, nằm trong khu vực trung chuyển giữaĐông Nam Á và các khu vực khác, cùng với hơn 3200km đường biển chạy dọc theochiều dài đất nước và hệ thống cảng biển có vị trí thuận lợi cho tàu bè ra vào là mộtđiều kiện thuận lợi để phát triển kinh doanh dịch vụ giao nhận vận tải đường biển Trong xu thế toàn cầu hóa và phát triển khoa học công nghệ, nhất là cuộc cáchmạng về container và phát triển công nghệ vận tải đa phương thức đã thúc đẩy sựphát triển mạnh mẽ của dịch vụ logistics, tạo nên một diện mạo mới cho ngành vậntải biển đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của giao lưu thương mại toàn cầu và
Trang 2quốc tế Chính vì thế, việc phát triển cảng biển đã gắn kết chặt chẽ với việc pháttriển các dịch vụ logistics đồng bộ trong một hệ thống vận tải đa phương thức đượcliên kết trong một môi trường tự do hóa thương mại dịch vụ toàn cầu, đã trở thànhquy luật tất yếu của sự phát triển chung và là mục tiêu quan trọng trong chính sáchphát triển kinh tế của nhiều nước trên thế giới.
Ngày nay, phát triển dịch vụ logistics đã trở thành mục tiêu quan trọng trongchính sách của các nước thành viên ASEAN Nắm bắt được xu thế này, từ năm
2005, tại Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 37 đã đề ra mục tiêu của lộtrình này là đẩy nhanh việc tự do hóa và thuận lợi hóa các phân ngành dịch vụlogistics với thời hạn là năm 2013 và trong dài hạn sẽ biến ASEAN trở thành mộttrung tâm logisitcs trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Lộ trình Việt Namhội nhập nhanh ngành logistics trong ASEAN phù hợp với lộ trình cam kết hội nhậpWTO vào năm 2014
Đối với nền kinh tế quốc dân, Logistics là một hoạt động dịch vụ tổng hợpmang tính dây chuyền chuyên môn hóa cao, đóng vai trò quan trọng không thể thiếutrong sản xuất, lưu thông, phân phối và có hiệu quả quyết định đến tính cạnh tranhcủa ngành công nghiệp và thương mại mỗi quốc gia Các nghiên cứu gần đây chothấy, chỉ riêng hoạt động logistics chiếm từ 10-15% GDP của hầu hết các nước pháttriển như tại Đông Bắc Á, châu Âu, Bắc Mỹ, còn đối với những nước kém phat triểnthì tỷ lệ này có thể hơn 30%, và ở Việt Nam thì dịch vụ logistics chiếm khoảng từ15-20% GDP; trong đó chi phí vận tải hiện nay chiếm 30% đến 40% giá thành dịch
đề ra
Thực tế đã cho thấy chuyên chở hàng hoá bằng đường biển là một phươngthức vận tải rẻ và phổ biến nhất hiện nay Do đó hiện nay không ít các doanh nghiệpđầu tư vào kinh doanh dịch vụ giao nhận vận tải, thêm vào đó là cuối năm2006,Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO,
Trang 3mở ra nhiều cơ hội và cũng không ít thách thức cho các doanh nghiệp kinh doanhdịch vụ giao nhận vận tải trong nước.Những thách thức, khó khăn mà các doanhnghiệp trong nước đang phải đối mặt đó là:
- Quy mô hầu hết các doanh nghiệp dịch vụ logistics là vừa & nhỏ, thiếukinh nghiệm, tính chuyên nghiệp và gắn kết đồng bộ trong hoạt động, chủ yếu docác Cty cảng biển và trong ngành hàng hải cung cấp dịch vụ logistics; đồng thời chỉcung cấp dịch vụ cơ bản, nên chỉ nhận tham gia một số công đoạn trong chuỗi cungứng dịch vụ logistics hoặc cho các công ty logistics (3PL, 4PL) nước ngoài
- Sự yếu kém, lạc hậu và quá tải về kết cấu hạ tầng giao thông vận tải,phương tiện vận tải đường bộ cũng như hệ thống các kho tàng và công nghệ thôngtin chưa hỗ trợ hiệu quả nên chi phí logistics tại Việt Nam khá cao, chiếm 25%GDP (so với các nước phát triển chỉ từ 9 đến 15%) trong đó chi phí vận tải chiếm
30 đến 40% giá thành sản phẩm (tỷ lệ này là 15% ở các quốc gia khác), như vậy nếuViệt Nam chúng ta chỉ cần giảm 1-2% trên GDP thì lợi thế cạnh tranh cho hàng hóaxuất khẩu sẽ khác đi nhiều, điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của dịch vụ,
hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam so với các quốc gia khác ( Theo Michael Peskin, người phát ngôn của ngân hàng thế giới).
- Cạnh tranh về cung cấp dịch vụ logistics hiện nay ngày càng gay gắt, vì đãhiện diện nhiều nhà cung cấp dịch vụ logistics thế giới có mạng lưới toàn cầu, có lợithế vựơt trội hơn các công ty của chúng ta về tiềm lực, công nghệ, trình độ thông tin
và hệ thống quản lý hiệu quả nhờ nguồn nhân lực cao Nhiều Cty cung cấp dịch vụlogisitcs lớn của nước ngoài ở Việt Nam đang chuyển dần hình thức hiện diệnthương mại từ hình thức đại diện, liên doanh sang công ty 100% vốn của họ Đây lànơi đang thu hút nguồn nhân lực của chúng ta trong lĩnh vực logistics
- Nguồn nhân lực làm dịch vụ logisitcs chưa qua đào tạo bài bản và cònthiếu, yếu, chưa đáp ứng, đặc biệt thiếu các chuyên viên logisitcs giỏi có năng lựcứng dụng và triển khai tại các doanh nghiệp
Vì thế để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắtthì vấn đề quan trong đối với công ty CPTM Vận Tải và Du Lịch Hoàng Anh làphải hoàn thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ giao nhận vận tải để đáp ứng ngàycàng tốt hơn nhu cầu của khách hàng và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanhcủa công ty
1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài
Đứng trước thực tế trên, qua quá trình thực tập, nghiên cứu tại công tyCPTM Vận Tải và Du Lịch Hoàng Anh là công ty kinh doanh các dịch vụ giao nhận
Trang 4doanh của mình nhất là trong công việc quản trị dịch vụ giao nhận vận tải Nhiềukhâu trong hoạt động của công ty còn xảy ra sai sót làm giảm chất lượng dịch vụcủa công ty Chính vì lý do trên em đã quyết định lựa chọn đề tài “ Tăng cườnghoạt động giao nhận vận tải hàng hóa tại công ty Cổ Phần Thương Mại Vận Tải Và
Du Lịch Hoàng Anh” để tìm hiểu và nghiên cứu
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hoá một số cơ sở lý luận cơ bản về quản trị dịch vụ giao nhận vận tảiPhân tích thực trạng hoạt động giao nhận vận tải hàng hoá của công ty và nêu
ra các hạn chế của hoạt động này Từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiệnhoạt động quản trị giao nhận vận tải hàng hoá của công ty CPTM Vận Tải Và DuLịch Hoàng Anh nhằm phát huy ưu thế và hạn chế các điểm yếu trong hoạt độngkinh doanh của công ty Góp phần vào sự phát triển thịnh vượng của công ty
và đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động giao nhận vận tải Do đề tài quản trịdịch vụ giao nhận vận tải là một đề tài tương đối rộng, nên em chỉ nghiên cứu kháiquát một số vấn đề chung nhất liên quan tới hoạt động quản trị dịch vụ giao nhậnvận tải đường biển
Về không gian nghiên cứu: Tại trụ sở chính của công ty 83 Bạch Đằng - HồngBàng - Hải Phòng
Về thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng của vấn đề trong 4 năm gầnđây và giải pháp hoàn thiện quản trị dịch vụ giao nhận vận tải của công ty từ năm
2011 đến năm 2015
1.5 Kết cấu của luận văn
Khung kết cấu của luận văn tốt nghiệp đại học được quy định theo chuẩn củatrường Đại Học Thương Mại Có quy cách từ 45 – 50 trang đánh máy Ngoài cácphần như lời cảm ơn, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục sơ đồ, hình vẽ, tàiliệu tham khảo, các phụ lục Luận văn được chia làm 4 chương có nội dung nhưsau:
Trang 5Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu “ Tăng cường hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa tại công ty CPTM VT Và DL Hoàng Anh”
Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về dịch vụ giao nhận vận tải hàng hoá
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận vận tải hàng hoá của công ty CPTM Vận Tải Và Du Lịch Hoàng Anh
Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện dịch vụ giao nhận vận tải hàng hoá tại công ty CPTM Vận Tải và Du Lịch Hoàng Anh
Trang 6CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ DỊCH VỤ GIAO
NHẬN VẬN TẢI CỦA CÔNG TY 2.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1 Khái niệm về dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa
Trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu như hiện nay, nhu cầu của khách
hàng về dịch vụ giao nhận vận tải ngày càng đa dạng và phong phú Người cung cấpdịch vụ giao nhận vận tải không chỉ làm các công việc đơn điệu, lẻ tẻ, tách biệt như:thuê tàu, lưu cước, chuẩn bị hàng, làm thủ tục thông quan… hay cung cấp trọn gói,các dịch vụ vận chuyển từ kho tới kho ( Door to Door) mà còn phải tổ chức quản lýmột hệ thống đồng bộ từ giao nhận đến vận tải, cung ứng nguyên vật liệu phục vụcho sản xuất kinh doanh, bảo quản hàng hóa trong kho, phân phối hàng hóa đúngnơi, đúng lúc, sử dụng thông tin điện tử để theo dõi, kiểm tra… Rõ ràng dịch vụgiao nhận vận tải không còn đơn thuần như trước mà được phát triển ở mức độ caohơn đầy tính phức tạp Người giao nhận vận tải trở thành người cung cấp dịch vụlogistics
Theo quy tắc mẫu của Liên đoàn các hiệp hội giao nhận quốc tế ( FIATA),
dịch vụ giao nhận được định nghĩa như là “ bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa”.
Luật Thương Mại Việt Nam năm 2005 không đưa ra khái niệm “giao nhận”như trước mà thay vào đó là khái niệm rộng hơn của dịch vụ giao nhận vận tải đó là
khái niệm dịch vụ logistics: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng đóng gói bao bì, ghi kí mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao” ( Điều
233 – Luật Thương Mại năm 2005)
2.1.2 Khái niệm về người giao nhận hàng hóa
Chưa có một định nghĩa thống nhất nào về người giao nhận được quốc tếchấp nhận Người ta thường hiểu người kinh doanh dịch vụ giao nhận hay cácdoanh nghiệp giao nhận là người giao nhận ( Forwarder, Freight Forwarder,
Forwarding Agent) Theo FIATA, “ người giao nhận là người lo toan để hàng hóa được chuyên chở theo hợp đồng ủy thác và hành động vì lợi ích của người ủy thác.
Trang 7Người giao nhận cũng đảm nhận thực hiện mọi công việc liên quan đến hợp đồng giao nhận như bảo quản, lưu kho trung chuyển, làm thủ tục hải quan, kiểm hóa”.
2.2 Một số lý thuyết về giao nhận vận tải hàng hóa
2.2.1 Đặc điểm của dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa
Dịch vụ giao nhận vận tải là một loại hình dịch vụ nên nó có đầy đủ bốn đặctrưng của loại hình dịch vụ nói chung đó là:
- Tính vô hình: Dịch vụ giao nhận vận tải là một sản phẩm vô hình, không cóhình thức cụ thể Không như các sản phẩm vật chất khác, dịch vụ giao nhận vận tảikhông thể nhìn thấy, nếm thử, cảm nhận, nghe thấy hay ngửi thấy trước khi kháchhàng được thực hiện Một khi khách hàng chưa tiêu dùng dịch vụ này thì chưa thểthấy, cũng như chưa thể đánh giá được chất lượng của dịch vụ Người mua dịch vụ
để giảm bớt tính không chắc chắn của dịch vụ, họ thường quan sát những dấu hiệubằng chứng vật chất của dịch vụ và đưa ra các tiêu chí có thể thấy, đánh giá chấtlượng dịch vụ như: thời gian vận chuyển hàng hóa nhanh hay chậm có đúng và antoàn không; thủ tục chứng từ có đúng quy cách, rõ ràng; công ty có sẵn sàng giảiquyết các khiếu nại thắc mắc của khách hàng, giải quyết và chịu trách nhiệm về việc
vi phạm các điều khoản vận chuyển do lỗi của quá trình vận chuyển gây ra,…
Đặc tính vô hình này làm cho chất lượng dịch vụ giao nhận vận tải chủ yếu phụthuộc vào cảm nhận của khách hàng Vì vậy nhiệm vụ của người cung ứng dịch vụ
là “ vận dụng những bằng chứng” để “ làm cho cái vô hình trở thành cái hữu hình”
- Tính không tách rời: Cũng giống như sản phẩm dịch vụ khác việc sản xuất
và tiêu dùng sản phẩm dịch vụ giao nhận vận tải diễn ra một cách đồng thời Chỉ khikhách hàng có nhu cầu vận chuyển hàng hóa hay các dịch vụ khác có liên quan thìngười giao nhận mới có thể cung ứng sản phẩm dịch vụ của mình cho họ và việccung ứng này không tách khỏi sự tham gia của hàng hóa của khách hàng
Những sản phẩm dịch vụ do người giao nhận cung ứng được tiêu dùng trực tiếp do
đó sai sót trong quá trình cung ứng dịch vụ này cần được kiểm soát một cách chặtchẽ để đảm bảo chất lượng dịch vụ, đồng thời khắc phục kịp thời những bất cậptrong quá trình cung ứng Đặc tính này của sản phẩm dịch vụ giao nhận vận tải đòihỏi người giao nhận vận tải tuyệt đối coi trọng uy tín hơn bất kỳ một tổ chức kinhdoanh sản phẩm hiện hữu nào
- Tính không ổn định: Sản phẩm dịch vụ giao nhận vận tải phi tiêu chuẩnhóa, có giá trị cao Do đặc trưng cá biệt hóa cung ứng và tiêu dùng dịch vụ Sự cungứng dịch vụ phụ thuộc vào kỹ thuật và khả năng của từng người thực hiện dịch vụ.Việc tiêu dùng dịch vụ tới mức nào, cao hay thấp lại phụ thuộc vào từng khách
Trang 8không thể đo lường và quy chuẩn hóa chất lượng cụ thể như sản phẩm hàng hóađược Vì thế sản phẩm dịch vụ giao nhận vận tải không có tính ổn định.
- Tính không lưu trữ được: Đặc tính không tách rời quy định dịch vụ giaonhận vận tải có tính không lưu trữ được Do chỉ có thể sản xuất ra khi xuất hiện nhucầu của khách hàng nên người giao nhận không có khả năng sản xuất hàng loạt dịch
vụ của mình Sản phẩm dịch vụ sản xuất ra bao nhiêu thì được tiêu dùng bấy nhiêu,
vì vậy nó không có khả năng tồn kho Chính đặc tính này đã buộc người giao nhậnphải có những giải pháp hiệu quả để tránh một cách tối đa những ảnh hưởng củayếu tố mùa vụ trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Ngoài các đặc trưng chung, do đặc thù riêng mà dịch vụ giao nhận vận tảicòn có những đặc trưng sau:
- Phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố bên ngoài như: các đơn vị nguồn hàng, cácđơn vị vận chuyển, các đơn vị nhận hàng…nên trong quá trình thực hiện người giaonhận vận tải không thể hoàn toàn chủ động nắm bắt và kiểm soát được quá trìnhcung ứng dịch vụ của mình
- Dịch vụ giao nhận vận tải mang tính thời vụ do chịu ảnh hưởng của tínhthời vụ trong hoạt động xuất nhập khẩu
- Dịch vụ giao nhận bao gồm cả dịch vụ vận tải người mua dịch vụ nàythường trả luôn giá cả cho việc vận chuyển hàng hóa cho họ đến địa điểm quy định
2.2.2 Vai trò của giao nhận hàng hóa
Vai trò của dịch vụ giao nhận vận tải thể hiện ở các điểm sau:
- Nghiệp vụ giao nhận vận tải là điều kiện không thể thiếu cho sự tồntại và phát triển của thương mại quốc tế Đặc điểm nổi bật của thương mại quốc tế
là người mua và người bán ở những nước khác nhau Sau khi ký kết hợp đồng muabán, người bán thực hiện việc giao hàng, tức là hàng được vận chuyển từ người bánsang người mua Nhưng để cho quá trình vận chuyển đó được bắt đầu, tiếp tục vàkết thúc tức là hàng hóa tới tay người mua thì cần phải thực hiện một loạt các côngviệc khác nhau liên quan tới chuyên chở như: đưa hàng từ kho ra cảng xuất, làm thủtục hải quan để xuất khẩu, làm thủ tục gửi hàng, xếp hàng lên tàu, chuyển hàng ởdọc đường, dỡ hàng ra khỏi tàu, làm thủ tục nhập khẩu hàng hóa, vận chuyển hàngđến kho của người nhận hàng và giao hàng cho người nhận Tất cả những công việc
đó nghiệp vụ của người giao nhận vận tải Rõ ràng người giao nhận vận tải ở đâyđóng vai trò là cầu nối trong các hoạt động thương mại quốc tế, giúp cho hoạt độngnày được diễn ra một cách nhanh chóng
- Hoạt động giao nhận vận tải của các nhà kinh doanh giao nhận vận tải tạođiều kiện cho hàng hóa lưu thông nhanh chóng, an toàn, tiết kiệm cả về thời gian và
Trang 9công sức lẫn tiền bạc cho người gửi hàng và người nhận hàng, do vậy không cần có
sự tham gia của người gửi hàng lẫn người nhận hàng trong quá trình vận chuyểnhàng hóa
- Giao nhận vận tải giúp người chuyên chở đẩy nhanh tốc độ vòng quay củacác phương tiện vận tải; tận dụng một cách tối đa và có hiệu quả dung tích, tải trọngcủa các phương tiện vận tải cũng như các phương tiện hỗ trợ khác
- Tạo điều kiện cho các nhà xuất nhập khẩu có thể tập trung chuyên môn vàohoạt động kinh doanh của họ, góp phần làm tăng năng suất lao động xã hội
- Góp phần làm giảm giá thành hàng hóa xuất nhập khẩu do giảm được “ thờigian lao động xã hội cần thiết” của hàng hóa từ khâu sản xuất tới khâu tiêu thụ
- Giao nhận vận tải cũng giúp các nhà xuất nhập khẩu giảm bớt các chi phíkhông cần thiết như: chi phí xây dựng kho tàng, bến bãi, chi phí đào tạo nhân công,các chi phí phát sinh trong quá trình họ trực tiếp đi giao hàng hoặc nhận hàng…
2.2.3 Phân loại dịch vụ giao nhận hàng hóa
Có rất nhiều cách phân loại dịch vụ giao nhận hàng hóa, nhưng thông thường người
ta phân loại theo các cách sau:
Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh, dịch vụ giao nhận hàng hóa bao gồm:+ Dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu
+ Dịch vụ giao nhận hàng hóa nội địa và phân phối hàng
+ Dịch vụ phân loại và đóng gói bao bì hàng hóa
+ Dịch vụ kinh doanh kho bãi
+ Dịch vụ gom hàng lẻ
+ Dịch vụ đại lý
+ Dịch vụ vận tải đa phương thức
Căn cứ vào các phương thức vận tải
+Giao nhận hàng hàng hóa bằng đường biển
+Giao nhận vận tải liên hợp hay vận tải đa phương thức
Căn cứ vào phạm vi hoạt động
+Giao nhận quốc tế
Trang 10 Căn cứ vào tính chất giao nhận
+ Giao nhận riêng là hoạt động do người kinh doanh xuất khẩu tự tổ chức,không sử dụng lao vụ của giao nhận dịch vụ
+ Giao nhận chuyên nghiệp là hoạt động giao nhận của các tổ chức công tychuyên kinh doanh dịch vụ giao nhận kèm theo sự ủy thác của khách hành
2.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng dịch vụ giao nhận hàng hóa
Thời gian giao nhận hàng
Thời gian giao nhận hàng được xem xét trên hai phương diện là chính xác vềthời gian và tiết kiệm về thời gian
Thứ nhất: Sự chính xác về thời gian
Với sự phát triển ngày càng cao của công nghệ thông tin, thời gian ngày càngđược chú trọng yêu cầu chính xác về thời gian không chỉ riêng một ngành nào màvới tất cả các ngành dịch vụ Đặc biệt đối với dịch vụ giao nhận hàng hóa vấn đềthời gian càng cần được chú trọng nhiều hơn Bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạtđộng đều theo kế hoạch được vạch ra từ trước, việc vận chuyển hàng hóa cần chínhxác về thời gian để không làm ảnh hưởng đến kế hoạch của khách hàng Hơn thếnữa mỗi lô hàng đều cần nhân lực nhận hàng giao hàng vì vậy sự sai lệch về thờigian sẽ làm lãng phí nhân lực của khách hàng
Thứ hai: Sự tiết kiệm về thời gian
Các mặt hàng vận chuyển là hết sức đa dạng và phong phú, có những mặt hàng
có thời gian sử dụng không dài vì vậy mà nếu thời gian vận chuyển càng ngắn thìthời gian đứng trên thị trường càng dài, hoặc có những mặt hàng vận chuyển lànguyên vật liệu nếu càng chuyển được đến sớm thì càng sớm có thành phẩm Hơnnữa thời gian vận chuyển càng ngắn càng tiết kiệm chi phí cho khách hàng và cho
cả bên vận chuyển
Độ an toàn của hàng hóa
Hàng hóa giao nhận rất đa dạng và phong phú, trong đó có những mặt hàng dễ
bị tổn thất như hàng dễ vỡ, dễ ẩm mốc, hàng khó bảo quản…Đối với mỗi loại hànghóa khác nhau cần có hình thức vận chuyển để mức tổn thất là nhỏ nhất Với nhữnghàng hóa quan trọng các đơn vị vận chuyển còn cần mua bảo hiểm cao cho hànghóa, có thể là bảo hiểm toàn bộ
Mức độ đền bù thiệt hại cần được xác định rõ rang và hợp lý nếu như có tổnthất Việt Nam là một nước đang phát triển vì vậy cơ sở hạ tầng cũng như phươngtiện vận chuyển còn hạn chế, tổn thất trong quá trình vận chuyển còn nhiều Tuynhiên các doanh nghiệp phải đảm bảo tốt nhất cho hàng hóa được vận chuyển Đặc
Trang 11biệt đối với hàng hóa vận chuyển bằng đường biển nếu có tổn thất thường là rất lớnvấn đề phân bổ tổn thất cần rõ ràng và chính xác.
Chi phí vận chuyển và bốc dỡ, chất xếp hàng hóa
Trên thực tế tiết kiệm thời gian vận chuyển tức là đã tiết kiệm được một phầnchi phí cho khách hàng Tuy nhiên ngoài tiết kiệm thời gian, để có mức chi phí thấpnhất cho khách hàng các doanh nghiệp làm dịch vụ giao nhận cần phải có nhiềubiện pháp giảm chi phí cho khách hàng Như việc tìm ra hình thức vận chuyển tốtnhất tiết kiệm nhất, cải tiến rút ngắn các khâu rườm rà gây lãng phí trong công việcthông quan hàng hóa…
Khi nói đến chất lượng, giá cả thường được coi là một yếu tố khác nằm ngoàichất lượng, tuy nhiên khi khách hàng xem xét một hàng hóa độ thỏa dụng của nóphụ thuộc rất nhiều vào giá cả, thậm chí đây có thể là yếu tố quyết định đến việc sửdụng hàng hóa Theo định nghĩa về chất lượng thì chất lượng hàng hóa được đobằng sự hài long của khách hàng vì vậy mà chi phí vận chuyển được coi là tiêuchuẩn quan trọng đánh giá chất lượng hàng hóa Để tồn tại, phát triển và chiếm lĩnhthị trường các doanh nghiệp đều tìm mọi biện pháp giảm giá thành nâng cao chấtlượng Tuy nhiên đây không phải vấn đề đơn giản vì giảm giá thành rất dễ ảnhhưởng đến chất lượng sản phẩm cũng như dịch vụ
Cách thức phục vụ
Đối với các hàng hóa thông thường cách thức phục vụ không mang tínhquyết định đối với chất lượng hàng hóa Tuy nhiên đối với các ngành dịch vụ nóichung và với dịch vụ giao nhận hàng nói riêng đây là một tiêu chuẩn quan trọng.Cách thức phục vụ bao gồm thái độ của nhân viên như nhân viên trực điện thoại,nhân viên giao hàng, lái xe, áp tải hàng, phương thức thanh toán, các thủ tục khigiao nhận hàng, ưu tiên ưu đãi với khách hàng, cách thức chăm sóc khách hàng…Hiện nay thủ tục là một nguyên nhân làm mất thời gian vì vậy cần hạn chế thủ tụcrườm rà nhưng vẫn đảm bảo đúng nguyên tắc Khách hàng của sử dụng dịch vụ giaonhận hàng hóa cũng rất đa dạng có thể là người trong nước cũng có thể là ngườinước ngoài vì vậy phương thức thanh toán phải đa dạng đáp ứng mọi nhu cầu của
khách hàng
2.2.5 Một số quy trình giao nhận hàng hóa phổ biến
Mỗi loại hình giao nhận khác nhau lại có một quy trình giao nhận hàng hóa khácnhau Dưới đây chỉ xin đề cập đến loại hình giao nhận hàng hóa phổ biến là giaonhận hàng hóa bằng đường biển
Trang 12a Giao nhận hàng xuất khẩu
Hình 2.1 : Quy trình giao nhận hàng xuất khẩu bằng đường biển
A : Đối với hàng không phải lưu kho tại bãi cảng
B : Đối với hàng hóa phải lưu kho bãi tại cảng
Cụ thể các bước như sau:
♦ Đối với hàng hóa không phải lưu kho bãi tại cảng
Hàng không phải lưu kho bãi tại cảng là hàng xuất khẩu do chủ hàng ngoại thươngvận chuyển từ các nơi trong nước để xuất khẩu, có thể bảo quản tại các kho riêngcủa mình chứ không qua các kho của cảng Từ kho riêng, các chủ hàng hoặc ngườiđược chủ hàng ủy thác có thể giao trực tiếp cho tàu
Đưa hàng đến cảng
Chủ hàng hoặc người được chủ hàng ủy thác bằng phương tiện của mình vậnchuyển hàng đến cảng
Làm thủ tục xuất khẩu, giao hàng cho tàu ( Xem phụ lục 01 )
♦ Đối với hàng hóa phải lưu kho bãi tại cảng
Hàng hóa không được giao trực tiếp cho tàu mà phải thông qua cảng Trình
Danh mục hàng hóa xuất khẩu
Thông báo xếp hàng của hãng tàu cấp, nếu cần
khẩu giao hàngcho tàu
Thông báo chongười mua vềviệc giao hàng vàmua bảo hiểm chohàng hóa
Lập bộ chứng từthanh toán
Trang 13- Giao hàng vào kho, bãi của cảng
Cảng giao hàng cho tàu
- Trước khi giao hàng cho tàu, chủ hàng phải:
Làm các thủ tục cần thiết để xuất khẩu: hải quan, kiểm dịch, vệ sinh…
Báo cho cảng ngày giờ dự kiến tàu đến ( ETA), chấp nhận NOR
Giao cho cảng sơ đồ xếp hàng
- Xếp và giao hàng cho tàu
Trước khi xếp, tổ chức vận chuyển hàng từ kho ra cảng, lấy lịch xếp hàng, ấnđịnh máng xếp hàng, bố trí xe và công nhân, người áp tải ( nếu cần)
Tiến hành bốc và giao hàng cho tàu Việc xếp hàng lên tàu do công nhân củacảng làm Hàng sẽ được giao cho tàu dưới sự giám sát của đại diện hải quan.Trong quá trình giao hàng, nhân viên kiểm đếm của cảng phải ghi số lượnghàng giao vào Tally Report ( báo cáo nợ ), cuối ngày phải ghi vào DailyReport ( báo cáo hàng ngày ) và khi xếp xong một tàu, ghi vào Final Report( báo cáo cuối cùng ) Bên phía tàu cũng có nhân viên kiểm đếm và ghi tìnhhình vào Tally Sheet ( phiếu kiểm kiện ) Việc kiểm đếm cũng có thể thuênhân viên của công ty kiểm kiện
Khi giao nhận xong một lô hoặc cả tàu, cảng phải lấy biên lai thuyền phó đểtrên cơ sở đó lập vận đơn
Lập bộ chứng từ thanh toán
Căn cứ vào hợp đồng mua bán và L/C ( thanh toán tín dụng thư ), người giao nhậnphải lập hoặc lấy các chứng từ cần thiết tập hợp thành bộ chứng từ, xuất trình chongân hàng để được thanh toán tiền hàng Nếu thanh toán bằng L/C thì bộ chứng từthanh toán phải phù hợp với nhau và phù hợp về mặt hình thức với L/C và phải xuấttrình trong thời hạn hiệu lực của L/C
Thông báo cho người mua về việc giao hàng và mua bảo hiểm cho hàng hóa nếu cần.
- Thanh toán các chi phí cần thiết cho cảng như chi phí bốc hàng, vậnchuyển, lưu kho, bảo quản…
- Tính toán thưởng phạt xếp dỡ ( nếu có)
Trang 14b Giao nhận hàng nhập khẩu
♦ Hàng không phải lưu kho bãi tại cảng
Hình 2.2 : Quy trình giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển đối với hàng
hóa không phải lưu kho bãi cảng
Cụ thể các bước như sau:
Chủ hàng hoặc người được chủ hàng ủy thác đứng ta giao nhận trực tiếp với tàu
Để có thể tiến hành dỡ hàng, 24h trước khi tàu đến vị trí hoa tiêu, chủ hàngphải trao cho cảng một số chứng từ:
Bản lược khai hàng hóa ( 2 bản )
Sơ đồ xếp hàng ( Cargo plan – 2 bản )
Chi tiết về hàng quá khổ quá tải ( nếu có )
Chủ hàng xuất trình vận đơn gốc cho đại diện của hãng tàu
Trực tiếp nhận hàng từ tàu và lập các chứng từ cần thiết trong quá trình nhậnhàng như:
Biên lai giám định hầm tàu ( lập trước khi dỡ hàng ) nhằm bảo lưu tráchnhiệm của tàu về những tổn thất xảy ra sau này
Biên bản dỡ hàng ( COR ) đối với tổn thất rõ rệt
Thư dự kháng ( LR – Letter of Reservation ) đối với tổn thất không rõ rệt
Bản kết toán nhận hàng với tàu ( ROROC )
Biên bản giám định
Giấy chứng nhận hàng thiếu ( do đại lý hàng hải lập )
- Khi dỡ hàng ra khỏi tàu, chủ hàng có thể đưa về kho riêng để mời hảiquan kiểm hóa Nếu hàng không có niêm phong kẹp thì phải có hải quan
áp tải về kho
Làm thủ tục hải quan cho hàng nhập
Vận chuyển hàng về kho hoặc phân phối ngay hàng hóa
Trao cho cảng các
chứng từ cần thiết để
được dỡ h nàn g
Chủ h ng xuàn ất trình vậnđơn gốc cho đại diện của
hãng tànu
Vận chuyển h ng vàn ề
h ngàn từ tànu
Trang 15♦ Đối với hàng phải lưu kho, lưu bãi tại cảng
Hình 2.3 : Quy trình giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển đối với hàng
phải lưu kho bãi cảng
Cụ thể các bước như sau:
Cảng nhận hàng từ tàu
- Cảng dỡ hàng và nhận hàng từ tàu
- Lập các giấy tờ cần thiết trong quá trình giao nhận cùng người giao nhận
- Đưa hàng về kho bãi cảng
Nộp vận đơn gốc cho hãng tàu và nhận lệnh giao hàng
Khi nhận được thông báo hàng đến, chủ hàng phải mang vận đơn gốc, giấy giớithiệu của cơ quan đến hãng tàu để nhận lệnh giao hàng Hãng tàu hoặc đại lý giữ lạivận đơn gốc và trao 2 bản lệnh giao hàng cho người nhận hàng
- Làm thủ tục hải quan
+ Xuất trình và nộp các giấy tờ
Tờ khai hàng nhập khẩu
Giấy phép nhập khẩu
Bản kê chi tiết
Lệnh giao hàng của người vận tải
Hợp đồng mua bán ngoại thương
giao h nàn g
Trở h ng vàn ề kho L m các thàn ủ tục vàn
nhận h ngàn
Trang 16 Hóa đơn thương mại
+ Hải quan sẽ kiểm tra chứng từ và hàng hóa, tính và thông báo thuế
+ Chủ hàng ký nhận vào giấy thông báo thuế ( có thể nộp thuế trong vòng 30 ngày)
và xin chứng nhận hoàn thành thủ tục hải quan
Sau khi hải quan xác nhận “ hoàn thành thủ tục hải quan” chủ hàng có thể mang hàng ra khỏi cảng và chở về kho riêng.
2.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu của các năm trước
Qua quá trình nghiên cứu, thu thập các thông tin liên quan đến hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa, em đã thu thập được một số các công trình nghiên cứu sau:
- Luận văn “ Tăng cường hiệu lực quản trị dịch vụ giao nhận vận tải tại công
ty cổ phần giao nhận vận tải quốc tế Hải Khánh ( chi nhánh Hà Nội) – sinh viênthực hiện Trần Đức Tuyến, Đại Học Thương Mại, năm 2008 Luận văn trên cơ sởđưa ra những lý luận về dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa, nghiên cứu thực trạngtình hình giao nhận vận tải tại công ty giao nhận vận tải quốc tế Hải Khánh từ đóđưa ra những giải pháp nhằm tăng cường hiệu lực quản trị dịch vụ giao nhận vận tảicho công ty
- Luận văn “ Quản trị dịch vụ giao nhận vận tải tại công ty TNHH tiếp vậnThăng Long” – sinh viên thực hiện Nguyễn Xuân Trường, Đại Học Thương Mại,năm 2007 Trên cơ sở đưa ra những lý luận về dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa,cùng với sự phân tích thực trạng về quản trị dịch vụ giao nhận hàng hóa tại công tyTNHH tiếp vận Thăng Long từ đó rút ra những khó khăn còn tồn tại và những giảipháp khắc phục nhằm hoàn thiện hoạt động quản trị dịch vụ giao nhận vận tải tạicông ty
Qua nghiên cứu, tìm hiểu em nhận thấy mỗi công trình nghiên cứu lại có mộtcách tiếp cận và phân tích khác nhau về hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa Nhìnchung các công trình nghiên cứu đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận về dịch vụ giaonhận vận tải hàng hóa như là đưa ra được các khái niệm, định nghĩa cơ bản liênquan đến vấn đề cần nghiên cứu Các công trình nghiên cứu này cũng đã phân tích
cụ thể những yếu tố tác động đến hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa, chất lượngdịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa những tồn tại của dịch vụ và nguyên nhân của
nó, đưa ra những quy trình giao nhận giao nhận hàng hóa phổ biến của doanhnghiệp…
Từ đó đánh giá được được tình hình giao nhận vận tải hàng hóa tại công ty,giúp doanh nghiệp có cái nhìn khách quan hơn để đưa ra các giải pháp hoàn thiện
Trang 17hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa, xây dựng hình ảnh doanh nghiệp trong tâmtrí người tiêu dùng.
Tuy nhiên kể từ khi thành lập tới nay, công ty CPTM VT & DL Hoàng Anh
đã đón nhận nhiều sinh viên các trường đến thực tập, tuy nhiên tính tới thời điểmnày công ty chưa có đề tài nghiên cứu về hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa Vìvậy, đề tài “ Tăng cường hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa tại công ty CPTM
VT & DL Hoàng Anh” là đề tài duy nhất, đồng thời đề tài sẽ là những gợi ý, gópphần giúp công ty đưa ra những định hướng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giaonhận hàng hóa trong thời gian tới
Trang 18Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa của công ty CPTM Vận Tải Và Du
- Nguồn dữ liệu bên trong công ty: Những thông tin cơ bản về tình hình hoạtđộng kinh doanh của công ty được thể hiện dưới dạng các báo cáo như: báo cáo vềlời lỗ, báo cáo tổng kết tài sản, các chỉ tiêu tiêu thụ, các hóa đơn thanh toán…Ngoài
ra, quan trọng nhất là các dữ liệu có liên quan đến tình hình giao nhận hàng hóanhư: Cơ cấu tổ chức và nguồn nhân lực của công ty, trình độ và nhân lực của bộphận giao nhận hàng hóa, số lượng hàng hóa giao nhận của công ty trong nhữngnăm gần đây…
- Nguồn dữ liệu bên ngoài: Các thông tin tạp chí xuất bản định kỳ( tạp chívận tải, tạp chí tiêu chuẩn chất lượng), các loại sách báo, nguồn thông tin thươngmại
website(http://www.vietrade.gov.com,http://Vnexpress.net,http://vi.wikipedia.org ) Từ những nguồn trên tiến hành thu thập dữ liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tàibao gồm những thông tin về tình hình giao nhận hàng hóa tại các doanh nghiệp ởViệt Nam hiện nay ( doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liêndoanh, doanh nghiệp trong nước), nguồn thông tin từ các khách hàng của công ty,
từ đối thủ cạnh tranh của công ty trên thị trường Hải Phòng, thống kê sự phát triểncủa ngành logistics Việt Nam, thống kê thị phần về giao nhận hàng hóa của cáccông ty tại Việt Nam…
♦ Dữ liệu sơ cấp: Là những dữ liệu chưa qua xử lý, được thu thập lần đầu, vàthu thập trực tiếp từ các đơn vị của tổng thể nghiên cứu thông qua các cuộc điều trathống kê
Để có được những thông tin cần thiết về hoạt động giao nhận vận tải hànghóa đồng thời để đảm bảo tính chính xác và khách quan, đúng đắn và lắng nghe ýkiến của khách hàng về thực trạng chất lượng dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóađối với công ty thì đã thông qua các phương pháp nghiên cứu điều tra phỏng vấn cá
Trang 19nhân và sử dụng bảng câu hỏi điều tra phỏng vấn chuyên sâu về các vấn đề liênquan đến giao nhận hàng hóa.
3.1.2 Phương pháp thu thập
Phương pháp phỏng vấn chuyên sâu:
Người được phỏng vấn là lãnh đạo của công ty, gồm: 6 người Thành viên thamgia phỏng vấn theo mẫu: Giám đốc,phó giám đốc, kế toán trưởng, trưởng phòngkinh doanh, trưởng phòng tài chính, nhân viên giao nhận vận tải Với mục đích làtìm hiểu về hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa, cũng như giải pháp nhằm tăngcường hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa tại công ty CPTM Vận Tải Và Du LịchHoàng Anh:
+ Những nhận định chung hoạt động giao nhận vận tải
+ Thực trạng hoạt động giao nhận vận tải của công ty
+ Khả năng tăng cường hơn nữa các hoạt động cung ứng dịch vụ giao nhậnvận tải hàng hóa trong tương lai
+ Mức độ đầu tư cho phương tiện vận chuyển, kỹ thuật giao nhận hàng hóatrong tương lai
+ Những khó khăn trước mắt công ty cần giải quyết trong quá trình tiến hànhtăng cường hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa
( Mẫu điều tra xem phụ lục 02 )
Điều tra bằng bảng câu hỏi:
Với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Mẫu điều tra được xây dựng đối với cáckhách hàng là doanh nghiệp ở hai khu vực lớn là Hải Phòng Và Hà Nội ( chủ yếu làHải Phòng)
+ Số lượng khách hàng ( doanh nghiệp) tham gia điều tra: 30 doanh nghiệp,Hải Phòng ( 20 doanh nghiệp), Hà Nội ( 10 doanh nghiệp)
Xây dựng bảng câu hỏi để tiến hành khảo sát 2 nhóm đối tượng của công ty: Nhữngkhách hàng đang sử dụng dịch vụ giao nhận vận tải của công ty, khách hàng trongtương lai và họ hiện chưa biết đến sản phẩm dịch vụ của công ty, để từ đó đánh giámức độ thành công trong quá trình tiến hành tăng cường hoạt động cung ứng dịch
vụ giao nhận vận tải thông qua mức độ biết đến, mức độ trung thành và sự hài lòngcủa khách hàng đối với dịch vụ này…Thông qua việc sử dụng các câu hỏi đóng( câu hỏi phân đôi, câu hỏi có nhiều phương án trả lời…), câu hỏi mở, câu hỏi nửađóng, mở để làm rõ hơn mức độ đánh giá của khách hàng với chất lượng dịch vụgiao nhận vận tải hàng hóa của công ty
( Mẫu điều tra xem phụ lục 03 )
Trang 203.1.3 Phương pháp phân tích dữ liệu
Sử dụng phương pháp so sánh, hệ thống hóa các thông tin đã thu thập được,phương pháp phân tích, báo cáo về thực trạng hoạt động cung ứng dịch vụ giaonhận vận tải của công ty để từ đó đưa ra các giải pháp tăng cường hoạt động giaonhận vận tải của công ty
3.2 Đánh giá tác động của các nhân tố môi trường đến hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận vận tải của công ty CPTM Vận Tải Và Du Lịch Hoàng Anh 3.2.1 Giới thiệu về công ty CPTM Vận Tải và Du Lịch Hoàng Anh
a Giới thiệu về công ty
- Tên đầy đủ: Công Ty Cổ Phần Thương Mại Vận Tải Và Du Lịch Hoàng Anh
- Tên giao dịch: Hoang Anh Transport_ Trade & Tourist Stock Company
- Tên viết tắt: Hoang Anh JSC
- Loại hình công ty: Công ty cổ phần
- Giấy CNĐKKD: 0202000622 do phòng ĐKKD – Sở Kế Hoạch Và Đầu TưHải Phòng cấp ngày 13/03/2002
- Địa chỉ trụ sở chính: 83C Bạch Đằng – Hạ Lý – Hồng Bàng – Hải Phòng
- Điện thoại: 0313668419
- Fax: 031668130
- Email: hoanganh.co@hn.vnn.vn
b Mô hình tổ chức của công ty
Hình 3.1: Sơ đồ tổ chức của công ty
► Chức năng nhiệm vụ của các bộ phận trong công ty
- Giám đốc:
Giám đốc là Hoàng Cao Tiến, người điều hành các hoạt động hàng ngày của công
ty và chịu trách nhiệm hữu hạn về việc thực hiện các công việc của công ty
Ban Giám Đốc
Trang 21- Phòng kế toán:
Bộ phận này có nhiệm vụ kiểm kê, ghi nhận các hoạt động kinh doanh của công ty,tập hợp cân đối các số liệu và tổng kết tình hình thu – chi, các khoản thuế phải nộpvào mỗi quý và được phê duyệt bởi giám đốc
c Ngành nghề kinh doanh
1 Kinh doanh tư liệu sản xuất, hàng tiêu dùng, thiết bị phụ tùng ô tô – xemáy, hàng kim khí, điện máy, lương thực, vật tư nông nghiệp, vật liệu xây dựng,than mỏ, bia rượu, nước giải khát, kho bãi, thiết bị viễn thông – tin học, nhà hàng,khách sạn, dịch vụ du lịch Kinh doanh lữ hành du lịch nội địa và quốc tế Đại lýkinh doanh du lịch lữ hành quốc tế Dịch vụ xuất nhập khẩu hàng hóa Vận tải vàdịch vụ vận tải hàng hóa, đại lý giao nhận vận tải hàng hóa đa phương tiện Sản xuất
và lắp ráp điện tử, điện lạnh, sản xuất và gia công đóng chai rượu bia, nước giảikhát Xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi, đầu tư kinhdoanh phát triển nhà ở, kinh doanh bất động sản
2 Vận tải hành khách đường bộ trong nội thành , ngoại thành
3 Vận tải hành khách bằng xe khách nội tỉnh, liên tỉnh
4 Vận tải hàng hóa bằng đường bộ
5 Vận tải hàng hóa bằng đường biển
6 Vận tải hàng hóa bằng đường thủy nội địa
7 Hoạt động dịch vụ hỗ trợ trực tiếp cho vận tải đường bộ
8 Hoạt động dịch vụ hỗ trợ trực tiếp cho vận tải đường thủy
3.2.2 Đặc điểm hoạt động giao nhận vận tải đa phương thức
Hiện nay, công ty đã và đang triển khai các hoạt động cung cấp dịch vụ giaonhận vận tải hàng hóa thông qua sự kết hợp của hai loại hình vận tải là: vận tải bằngđường biển và vận tải ô tô, trên hai khu vực thị trường chính là Hải Phòng và HàNội Từ khi thành lập tới nay với mục đích hoạt động cung cấp dịch vụ tiện ích và
Trang 22nhập cho người lao động Bằng những kinh nghiệm quản lý kinh doanh của lãnhđạo công ty và năng lực chuyên môn của đội ngũ nhân viên, công ty CPTM Vận Tải
Và Du Lịch Hoàng Anh đang từng bước khẳng định được chỗ đứng của mình trênthị trường
Với vai trò đại lý giao nhận vận tải hàng hóa đa phương tiện và đại lý tàubiển Công ty sẽ được hưởng hoa hồng từ việc gửi hàng cho các hãng tàu biển đã kýkết hợp đồng đại lý Trường hợp khách hàng yêu cầu hay chỉ định cho ngườichuyên chở mà công ty lại không làm đại lý cho hàng này thì công ty chỉ đóng vaitrò người giao nhận hàng hóa đường biển hoặc đường bộ theo sự ủy thác của kháchhàng
3.2.3 Phân tích môi trường vi mô
♦ Khách hàng
Khách hàng là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn tới hoạt động kinhdoanh của tất cả các doanh nghiệp giao nhận vận tải Quyết định của khách hàngmua hay không mua sản phẩm dịch vụ của công ty sẽ quyết định trực tiếp tới lợinhuận và sự sống còn của công ty
Nhu cầu của khách hàng về dịch vụ GNVT rất khác nhau và ngày càng đadạng đòi hỏi chất lượng khác nhau Khách hàng muốn có người thu xếp và hoàntoàn chịu trách nhiệm trong toàn bộ quá trình chuyên chở cũng như thực hiện cáccông việc có liên quan như gom hàng và mua bảo hiểm, thuê phương tiện vận tải…tạo điều kiện thuận tiện nhất cho khách hàng, tránh phải khiếu nại khi tổn thất xảyra
Khách hàng chủ yếu của công ty là những doanh nghiệp sản xuất trong nước
có nhu cầu vận chuyển hàng hóa sang một số khu vực thị trường nhất định đối vớinhững khách hàng này tuy đa dạng nhưng ít những khách hàng lớn, có tiềm lực kinh
tế mạnh, XNK ổn định, thường xuyên Đa phần khách hàng là các công ty TNHH
và cổ phần tư nhân có quy mô không quá lớn, chủ yếu là các công ty cổ phần tưnhân, Khách hàng của công ty thuộc nhiều lĩnh vực sản xuất khác nhau như: dệtmay, da giầy, đồ chơi của trẻ em, cà phê, nhựa, quần áo may sẵn, vật liệu xâydựng… một số ít khách hàng là các công ty nhập khẩu một số mặt hàng từ nướcngoài như: Công ty TNHH sản xuất nhựa Quang Vinh, tập đoàn thức ăn gia súcĐan Mạch, công ty nhựa Tiền Phong, công ty cổ phần đầu tư thương mại XNK ViệtPhát, công ty sắt Tùng Thư
Lượng khách hàng của công ty trong nhiều năm qua chỉ thay đổi về số lượngchưa thay đổi về cơ cấu, loại hình kinh doanh.Do vậy, công ty luôn cố gắng cung
Trang 23cấp, bổ sung các dịch vụ liên quan theo yêu cầu của khách hàng, thực hiện pháttriển dịch vụ theo nhiều mặt, nhiều hướng.
Dưới đây là một số khách hàng của công ty CPTM VT&DL Hoàng Anhtrong năm 2010
2010 (triệuVND)
2 Công ty TNHH sản xuất nhựa Quang
3
Công ty cổ phần đầu tư thương mại
7 Công ty TNHH Thương Mại và sảnxuất Sao Việt Hà Nội 80,6
( Nguồn tài liệu lưu hành nội bộ)
Bảng 3.2 Báo cáo doanh thu từ khách hàng năm 2010
♦ Cạnh tranh
Cạnh tranh là một trong những quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, cócạnh tranh mới có phát triển Sự cạnh tranh có tác động rất lớn tới hoạt động kinhdoanh của các doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp giao nhận vận tải việc cạnhtranh gây ảnh hưởng theo hai hướng:
- Tích cực: Sự cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp muốn tồn tại thì phải khôngngừng tìm cách thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Muốn làm được điều đó doanhnghiệp phải không ngừng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ nhân viên, cải tiến trangthiết bị… chính những quá trình này đã giúp cho công ty ngày càng hoàn thiện vàphát triển
- Tiêu cực: Sự cạnh tranh là điều kiện giúp công ty phát triển tuy nhiên nócũng đem lại rất nhiều thách thức đối với công ty Như ta đã biết kinh doanh giao
Trang 24việc này đòi hỏi doanh nghiệp phải có đủ khả năng đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuậtvới hàm lượng công nghệ cao, có một số lượng nhân viên tương đối lớn mới có thểđáp ứng được nhu cầu khách hàng mà muốn làm được điều này công ty phải có một
số lượng vốn tương đối lớn… Nếu không có đủ các điều kiện này doanh nghiệp sẽlập tức bị các doanh nghiệp lớn khác lấn át, đẩy ra khỏi thị trường do không đủ sứccạnh tranh
Theo số liệu thống kê chưa chính thức, trên thị trường giao nhận vận tải của ViệtNam hiện nay ngoài các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận vận tải trongnước, còn có hơn 40 hãng tàu container của các tập đoàn, các quốc gia trên thế giới
ra vào cảng Việt Nam và đang cung cấp dịch vụ logistics cho gần 80% khối lượnghàng hóa xuất nhập khẩu ( từ hàng công nghiệp như phân bón, xi măng, sắt thép,xăng dầu, quặng, than đá… cho tới các hàng nông sản, thủy sản, thủ công mỹ nghệ)
và 100% khối lượng hàng công trình ( Project cargo) Đối với các loại hàng giacông xuất nhập khẩu, các dịch vụ logistics hầu như toàn bộ do các doanh nghiệpnước ngoài cung cấp Tất cả các công ty này đều có lợi thế rất cao trên thị trườngbởi họ có tiềm lực tài chính lớn, đội ngũ nhân viên đông đảo, trang thiết bị máy mócđầy đủ, có nhiều kinh nghiệm trong công tác quản trị dịch vụ giao nhận vận tải Hiện nay công ty CPTM Vận Tải Và Du Lịch Hoàng Anh gặp rất nhiều đối thủcạnh tranh trên thị trường giao nhận vận tải Chỉ tính riêng các công ty tư nhân hoạtđộng trong lĩnh vực vận tải như: Tổng công ty giao nhận vận tải Nolfolk ( HảiPhòng), Công ty TNHH Vận tải Bắc Nam Bên cạnh đó là các “ đại gia” trong lĩnhvực vận tải như GEMATRANS, VINATRANCO, VINALINE, DHL, SAPHIA…Những công ty, tập đoàn lớn này có tiềm lực vốn rất lớn nên họ đầu tư rất mạnh vào
cơ sở hạ tầng, thiết bị máy móc phục vụ cho công việc Từ đó dịch vụ mà họ cungcấp ra thị trường có chất lượng rất cao Hơn thế nữa, xu hướng hiện nay nhữngnguồn nhân lực giỏi đều muốn làm việc tại các tập đoàn lớn vì ở đó họ được chế độđãi ngộ cao và có môi trường làm việc tốt nhất, họ được thể hiện hết năng lực củamình và cơ hội thăng tiến cũng rất sáng lạng Vì thế việc cạnh tranh với những tậpđoàn lớn này là vô cùng khó khăn Công ty xác định việc cạnh tranh trên thị trườngnhờ chính sách giá hợp lý, các quan hệ với bạn hàng truyền thống, tìm kiếm lợinhuận bằng cách thâm nhập vào các khe hở của thị trường, nơi mà những tập đoànlớn thường chưa khai thác đến
3.2.4 Phân tích môi trường vĩ mô
Trang 25♦ Môi trường kinh tế
Đây là một yếu tố rất quan trọng thu hút sự quan tâm của tất cả các doanhnghiệp Sự tác động của các yếu tố môi trường kinh tế có tính chất trực tiếp và năngđộng hơn so với các yếu tố khác thuộc môi trường vĩ mô Những diễn biến của môitrường kinh tế vĩ mô bao giờ cũng chứa đựng những cơ hội và đe dọa khác nhau đốivới từng doanh nghiệp
Hệ thống cơ sở hạ tầng của nước ta đang được hoàn thiện và nâng cấp, là tiền
đề quan trọng giúp các doanh nghiệp có thể ứng dụng tốt công nghệ giao nhận vậntải Các tuyến đường được mở rộng như Cao tốc Bắc Nam quốc lộ 5 được nâng cấpgiúp cho công ty có thể vận chuyển hàng hóa thuận tiện từ Hải Phòng tới Hà Nội,Cảng Chùa Vẽ và Cảng Đình Vũ được xây dựng và phát triển giúp cho việc giaonhận hàng hóa nhập khẩu tại các cầu cảng thuận tiện… Từ đó, làm cho dịch vụ vậntải của công ty CPTM VT & DL Hoàng Anh phát triển thuận lợi hơn, nhanh hơn.Yếu tố lạm phát tiền tệ cũng ảnh hưởng lớn tới người kinh doanh dịch vụ giao nhậnvận tải.Lạm phát gia tăng nhanh sẽ làm tăng giá cả yếu tố đầu vào, tăng giá thành,tăng giá bán và sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc cạnh tranh, chosản xuất kinh doanh dẫn đến mục tiêu của công ty không thực thi được Vì vậy, việc
dự đoán chính xác yếu tố lạm phát là quan trọng đối với các doanh nghiệp kinhdoanh dịch vụ giao nhận vận tải
Lãi xuất và xu hướng của lãi xuất trong nền kinh tế có ảnh hưởng trực tiếpđến chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp đặc biệt là đối với doanh nghiệp
mà nguồn vốn hoạt động chủ yếu là phải vay ở ngân hàng và các tổ chức tài chínhkhác Chẳng hạn khi lãi suất tăng sẽ hạn chế nhu cầu vay vốn để đầu tư mở rộnghoạt động kinh doanh và ảnh hưởng đến mức lời của doanh nghiệp
Giá xăng dầu đang có xu hướng tăng nhanh trong khi giá cước vận chuyểnkhó có thể tăng giá cùng với sự tăng giá của nhiều yếu tố đầu vào khác, sự ra đờicủa nhiều đơn vị giao nhận…điều này ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của côngty
♦ Môi trường chính trị - pháp luật
Những biến động phức tạp trong môi trường chính trị và pháp luật sẽ tạo ranhững rủi ro lớn đối với các doanh nghiệp, một quốc gia thường xuyên có xung đột,nội chiến xảy ra liên miên, đường lối chính sách không nhất quán sẽ là một trở ngạilớn đối với các doanh nghiệp Trong tình hình của Việt Nam hiện nay môi trườngpháp luật đang là yếu tố ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanh củacác doanh nghiệp giao nhận vận tải Việc các cơ quan hải quan đơn giản hóa thủ tục
Trang 26doanh trong lĩnh vực vận tải đa phương tiện thì thủ tục hải quan đơn giản là mộtthuận lợi lớn cho công ty khi kê khai các vận đơn lưu thông hàng hóa Đặc biệt làkhi công ty nhận vận chuyển hàng hóa nhập khẩu Năm 2005 hải quan Hải Phòng
và hải quan TPHCM đã đưa vào thí điểm điển hình hình thức thông quan điện tử.Nhờ hệ thống thông quan điện tử, thời gian thông quan hàng hóa được giảm xuốngđáng kể…
♦ Môi trường kỹ thuật – tự nhiên
- Có thể nói các điều kiện tự nhiên luôn luôn là một yếu tố quan trọngtrong cuộc sống của con người đồng thời nó cũng là một yếu tố quan trọng ảnhhưởng và hình thành nên lợi thế cạnh tranh ngành dịch vụ giao nhận vận tải ở ViệtNam Điều kiện địa lý của Việt Nam cho phép phát triển tất cả các phương thức vậntải như đường biển, đường ô tô, đường sắt, đường nội thủy Đặc biệt tại Hải Phòng
hệ thống sông ngòi nhiều liên thông với biển tạo thuận lợi cho việc chuyển tiếphàng hóa bằng đường nội thủy từ biển đi sâu vào đất liền tạo điều kiện cho dịch vụvận tải đa phương thức phát triển
- Khoa học công nghệ: Những áp lực và đe dọa từ môi trường côngnghệ có thể là: sự bùng nổ của công nghệ mới làm cho công nghệ hiện hữu bị lỗithời và tạo áp lực đòi hỏi các doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ để tăng khảnăng cạnh tranh, sự bùng nổ công nghệ mới làm cho vòng đời công nghệ có xuhướng rút ngắn lại điều này càng làm tăng thêm áo lực phải rút ngắn thời gian khấuhao may móc nhanh hơn so với trước…Bên cạnh khó khăn đó thì khi công nghệphát triển, các phương tiện kỹ thuật hiện đại sữ giúp cho công tác GNVT thuận lợi,nhanh chóng hơn, góp phần cung cấp dịch vụ và đáp ứng tốt nhu cầu ngày càng giatăng buôn bán quốc tế Hơn nữa, công nghệ kỹ thuật phát triển còn giúp cho cácnhân viên trong công tác GNVT có nhiều điều kiện được tập trung chuyên sâu vàocông việc của mình để từ đó hoạt động GNVT được thực hiện tốt hơn, hiệu quảhơn
3.3 Phân tích thực trạng hoạt động cung ứng dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa của công ty
3.3.1 Thực trạng hệ thống cung ứng dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa tại công ty
♦ Hệ thống dịch vụ của công ty
Mục tiêu mà công ty đang áp dụng cho hệ thống dịch vụ của mình đó là “Chất lượng dịch vụ - Sự thỏa mãn của khách hàng – Sự phát triển vững mạnh củacông ty”
Trang 27Với các dịch vụ công ty đang kinh doanh đã đáp ứng được phần lớn nhu cầucủa khách hàng Có thể thấy dịch vụ vận tải nội địa chiếm tỷ trọng rất cao trongdoanh thu của công ty hơn 56% Có được điều này là do công ty có một lượngkhách hàng có nhu cầu vận chuyển hàng hóa nhập khẩu khá lớn Các dịch vụcontainer và gom hàng chiếm trên 20% tổng doanh thu cho thấy dịch vụ này chiếm
tỷ lện khá quan trọng trong công tác giao nhận hàng hóa của công ty Chỉ riêng đốivới bộ dịch vụ khai thuế hải quan lượng khách hàng của công ty tương đối lớn ngàycàng gia tăng nhưng số lượng nhân viên khai thuế hải quan của công ty lại không
đủ Lượng công việc hiện nay của nhân viên tương đối lớn ( mỗi nhân viên trungbình một ngày phải làm từ 7 tới 13 bộ hồ sơ có ngày nhiều lên tới 20 bộ) với lượngcông việc này nhân viên rất khó khăn trong việc kiểm soát, hoàn thành hồ sơ chokhách hàng chính vì vậy gây ra sự chậm chễ trong công việc đồng thời làm chokhách hàng chậm tiến độ trong sản xuất Hiện nay dịch vụ khai thuế hải quan đangđược công ty quan tâm nhiều nhất do công ty muốn tận dụng một cách tối đa lợi thế
về trụ sở chính của công ty tại Hải Phòng
Dưới đây là bảng cơ cấu dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa của công ty vàcác đóng góp của từng loại hình dịch vụ vào tổng doanh thu của công ty ( xét trong
Doanh thu Tỷ trọng Doanh thu Tỷ trọng
Dịch vụ kho bãi container
và dịch vụ gom hàng lẻ 832,649230 22,8% 890,254125 24,83%
Kê khai thuế và các thủ tục
( Nguồn báo cáo Tài chính – Kế toán 2009, 2010)
Bảng 3.3 Báo cáo doanh thu một số dịch vụ năm 2009, 2010
♦ Nguồn lực cung ứng dịch vụ giao nhận hàng hóa tại công ty
Nguồn lực lao động
Trang 28Chất lượng dịch vụ giao nhận vận tải phụ thuộc rất nhiều vào trình độ chuyênmôn của nhân viên thực hiện công tác giao nhận vận chuyển như: Kỹ thuật bốc dỡhàng hóa, sắp xếp hàng hóa hợp lý, kiểm kê hàng hóa, vận chuyển hàng hóa an toàn
và làm các thủ tục hải quan có liên quan
Công ty hiện có 8 nhân viên giàu kinh nghiệm và chuyên môn trong lĩnh vựcgiao nhận hàng hóa, một con số quá khiêm tốn Những nhân viên này trực tiếp thamgia các công việc như áp tải hàng hóa, làm thủ tục thông quan hàng hóa Ngoài ranhững nghiệp vụ khác trong quy trình giao nhận hàng hóa như bốc dỡ hàng hóa từcontainer xuống tàu hoặc từ cảng lên phương tiện vận chuyển… thì công ty phải đithuê nguồn lao động bên ngoài Giá cả lao động kỹ thuật tại các bến cảng dao động
ở mức 2,5 USD/1 người/ 1 giờ
Nguồn nhân lực ít vì thế mà có những thời điểm đơn đặt hàng nhiều công ty sẽgặp khó khăn trong vấn đề bố trí nhân lực Số lượng đơn đặt hàng quá nhiều, nguồnnhân lực không đủ để thực hiện công việc khi đó công ty sẽ phải từ chối một sốkhách hàng của mình Điều này vô hình chung đã làm giảm uy tín của công ty và cóthể sẽ mất đi những khách hàng trung thành với công ty
Tuy nguồn nhân lực còn hạn chế về số lượng nhưng công ty CPTM VT & DLHoàng Anh luôn coi trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực, các nhân viên đượckhuyến khích và tạo điều kiện tham gia học tập để nâng cao trình độ, năng lực làmviệc Năm 2009 công ty đã tiến hành đào tạo và đào tạo lại cho toàn bộ đội ngũnhân viên gồm: Đào tạo tin học, sử dụng CNTT, đào tạo kỹ năng giao tiếp kháchhàng, kỹ thuật quản lý và điều hành hệ thống kho hàng… Tuy nhiên chất lượngnhân lực đã được cải thiện nhưng để giúp công ty phát triển thì cần phải hoàn thiệnhơn nữa
Xe tải cỡ lớn (5 tấn ) 2 chiếc: Nissan và Hino
Xe tải cỡ nhỏ ( 2,5 tấn ) 2 chiếc: Nissan và Gerneral
Trang 29( Nguồn: Báo cáo Tài chính – Kế toán 2009,2010)
Bảng 3.4 Cơ sở vật chất của công ty tính đến quý 3 năm 2010
♦ Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty từ 2007 – 2010
Tỉ lệBQ( 08/07)
Năm 2009 Tỉ lệ BQ
( 09/08) Năm 2010
Tỉ lệ BQ( 10/09)
Lợi nhuận sau thuế 8.202.987 2,3% 11.078.850 1,35% 7.190.373 0,65%
( Nguồn: Báo cáo Tài chính – Kế toán 2007, 2008, 2009 và 2010)
Bảng 3.5 Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của công ty CPTM VT & DL
Hoàng Anh
Như vậy có thể thấy tình hình kinh doanh của công ty có xu hướng tăng lên:
Doanh thu năm 2010 tăng 0,98% so với năm 2009 tăng 1,44% so với năm 2008,
năm 2008 tăng 1,338% so với năm 2007, lợi nhuận sau thuế năm 2010 tăng 0,65%
so với năm 2009, năm 2009 tăng 1,35% so với năm 2008, năm 2008 tăng 2,3% so
với năm 2007 Trong 5 năm qua, tình hình tài chính của công ty tiến triển khá thuận
lợi Công ty đã tận dụng và quản lý hiệu quả các nguồn thu, thực hiện tốt kế hoạch
thu chi và nộp đủ ngân sách nhà nước hàng năm
Trong công tác giao nhận và vận chuyển hàng hóa nội địa, công ty đã tậndụng triệt để thời cơ tích cực mở rộng hoạt động giao nhận và vận chuyển hàng hóa
ra hai thị trường chủ yếu là Hải Phòng và Hà Nội Tính riêng trong mấy năm trước
khi công ty mới đi vào hoạt động, uy tín của công ty trên thị trường chưa được
nhiều khách hàng biết đến, thị trường chưa được mở rộng, chủ yếu là thị trường Hải
Phòng với các dịch vụ giao nhận vận tải nhỏ lẻ chủ yếu bằng đường bộ, đường thủy