quản trị thanh toán, luận văn hoạt động giao nhận, công ty cổ phần thương mại, kế toán bán hàng, kế toán xuất nhập khẩu, đào tạo bồi dưỡng nhân lực
Trang 1ĐỀ TÀI: QUẢN TRỊ THANH TOÁN XUẤT KHẨU TẠI NGÂN HÀNG
TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH HẢI PHÒNG
Sinh viên: Vũ Thị Mai Vui
Lớp: K43H2
MSV: 07D180136
Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về quản trị thanh
toán xuất khẩu tại NHTM2.1 Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản
2.1.1 Khái quát về Thanh toán quốc tế
Khái niệm thanh toán quốc tế
Thanh toán quốc tế (TTQT) có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau tuỳ thuộc vào cách thức tiếp cận và mục đích nghiên cứu
Theo GS Đinh Xuân Trình “ TTQT là việc thanh toán các nghiệp vụ tiền tệ phát sinh có liên quan tới các quan hệ kinh tế, thương mại và các mối quan hệ khác giữa các tổ chức, các công ty và các chủ thể khác nhau của các nước” (Giáo trình TTQT, Nhà xuất bản Lao động – xã hội 2006)
Theo TS Trầm Thị Hương “ TTQT là quá trình thực hiện các khoản thu chi tiền tệ quốc tế thông qua hệ thống ngân hàng trên thế giưói nhằm phục vụ cho các mối quan hệ trao đổi quốc tế phát sinh giữa các nước với nhau (Thanh toán quốc tế, Nhà xuất bản Thống kê, TP HCM, 2006)
Theo PGS.TS Nguyễn Văn Tiến “ Thanh toán quốc tế là việc thực hiện nghĩa
vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế
và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức cá nhân nước khác hay giữa một quốc gia với một tổ chức cá nhân quốc tế, thông qua quan hệ giữa các
Trang 2ngân hàng của các nước liên quan” (Giáo trình thanh toán quốc tế, Nhà xuất bản Thống kê, 2007)
Như vậy, dù diễn giải theo cách này hay cách khác thì “Thanh toán quốc tế
bản chất là quá trình thực hiện các khoản thu và các khoản chi đối ngoại để hoàn thành các mối quan hệ về kinh tế, văn hóa, xã hội, hợp tác khoa học kỹ thuật, quân
sự, ngoại giao… giữa các chủ thể nước này với chủ thể nước khác hoặc với các tổ chức kinh tế, tài chính tiền tệ quốc tế”
Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này đề cập đến vấn đề quản trị thanh toán
xuất khẩu tại NHTM Do đó xét dưới góc độ của NHTM, thanh toán quốc tế được
hiểu là dịch vụ tiếp nhận và xử lý các khoản thu chi tiền tệ quốc tế theo yêu cầu của khách hàng được ngân hàng cung cấp nhằm mang lại thu nhập cho ngân hàng dưới dạng phí.
Khi thay mặt khách hàng thực hiện dịch vụ thu chi tiền tệ quốc tế, các ngân hàng trở thành cầu nối trung gian thanh toán giữa hai bên mua bán, tiến hành thanh toán theo yêu cầu của khách hàng, bảo vệ quyền lợi cho khách hàng trong giao dịch thanh toán, tư vấn, hướng dẫn khách hàng những biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán nhằm hạn chế rủi ro, tạo sự tin tưởng cho khách hàng trong quan hệ giao dịch mua bán với nước ngoài Thông qua cung cấp dịch vụ này cho khách hàng, ngân hàng thu được một khoản phí để bù đắp các chi phí của ngân hàng và tạo ra lợi nhuận kinh doanh cần thiết
Tóm lại, thanh toán quốc tế được thực hiện thông qua NHTM, và NHTM là chất xúc tác, là cầu nối, là điều kiện đảm bảo an toàn và hiệu quả cho các bên tham gia
Đặc điểm của thanh toán quốc tế
Thanh toán quốc tế khác thanh toán nội địa ở yếu tố ngoại quốc
Trang 3−Chủ thể tham gia thanh toán là những người cư trú và người không cư trú, hoặc giữa những người không cư trú với nhau.
−Tiền tệ thanh toán được chuyển từ tài khoản người không cư trú sang tài khoản người cư trú hoặc tài khoản giữa hai người không cư trú với nhau không kể tài khoản đó mở ở một ngân hàng hay hai ngân hàng ở trong cùng một quốc gia hay
ở hai quốc gia khác nhau
−Tiền tệ được sử dụng trong thanh toán quốc tế là ngoại tệ đối với một trong hai nước hoặc có thể là nội tệ có nguồn gốc ngoại tệ
Hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM là hoạt động cung cấp dịch vụ
Phần lớn các hoạt động thanh toán quốc tế được thực hiện thông qua các NHTM Khi thực hiện hoạt động này, ngân hàng giữ vị trí là người cung cấp dich
vụ thanh toán để hưởng phí Cũng như các loại dịch vụ khác dịch vụ thanh toán quốc tế cũng có những đặc điểm cơ bản sau:
− Thứ nhất, dịch vụ mang tính vô hình
− Thứ hai, quá trình cung ứng và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời
− Thứ ba, không thể lưu trữ được dịch vụ
Tuy nhiên, dịch vụ thanh toán quốc tế có những đặc điểm riêng mà các dịch vụ thanh toán trong nước không có Những đặc điểm này chi phối rất lớn đến chất lượng hiệu quả kinh tế của dịch vụ
− Một là, cung ứng dịch vụ qua biên giới quốc gia
Trong cung ứng này, chỉ có dịch vụ dược chuyển quua biên giới còn người cung ứng dịch vụ thì không dịch chuyển Người cung ứng dịch vụ không xuất hiện trên lãnh thổ của nước tiêu dùng dịch vụ, không xuất hiện trên lãnh thổ của người tiêu dùng dịch vụ đó
− Hai là, hình thành đại lý dịch vụ ở nước người tiêu dùng dịch vụ
Trang 4Bản thân dịch vụ thanh toán quốc tế là một loại hàng hóa vô hình Đối tượng của dịch vụ là tiền tệ tín dụng cũng là một loại hàng hóa vô hình Cho nên sự hiện diện của cung ứng dịch vụ ở nước người tiêu dùng dịch vụ là rất quan trọng Các ngân hàng thường thiết lập quan hệ ngân hàng đại lý với các ngân hàng sở tại hoặc cao hơn nữa là thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước tiêu thụ dịch vụ đẻ thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế có hiệu quả.
Hoạt động thanh toán quốc tế chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn
Không gian thanh toán quốc tế rộng lớn thời gian thanh toán tương đối dài, cơ
sở vật chất và khoa học kỹ thuật phục vụ cho thanh toán quốc tế của các quốc gia không đồng đều môi trường pháp lý cuat thanh toan quốc tế còn thiếu và chưa đồng
bộ, các tập quán quốc tế của ICC ban hành tương đối đầy đủ nhưng còn nhiều bất cập trong vấn đề vận dụng trình độ nguồn nhân lực tham gia thanh toán của các quốc gia chênh lệch lớn Có thể coi đây là nguyên nhân phát sinh những rủi ro trong thanh toán quốc tế hiện nay như rủi ro hối đoái, rủi ro quốc gia, rủi ro đạo đức, rủi
ro kỹ thuật
Hệ thống thanh toán quốc tế ngày càng phát triển và hoàn thiện
Cùng với sự phát triển của thương mại và đầu tư quốc tế, hệ thống thanh toán quốc tế ngày càng phát triển và hoàn thiện Đặc biệt, lĩnh vực thương mại điện tử phát triển nhanh kèm theo xu hướng thanh toán quốc tế điện tử ngày càng phát triển
và dần dần thay thế cho thanh toán quốc tế bằng chứng từ truyền thống Hệ thống thanh toán quốc tế chuyển từ tiền đúc (đúc bằng bạc hoặc vàng) sang thanh toán qua chứng từ bằng giấy (séc, thương phiếu, thư chuyển tiền…) và gần đây đã xuất hiền ngày một cách đa dạng hơn các phương tiện thanh toán điện tử Đến nay, sự phát triển của công nghệ điện tử và đặc biệt là công nghệ thông tin kỹ thuật số đã chuyển hướng hệ thống thanh toán quốc tế sang thanh toán điện tử như Hệ thống chuyển tiền quốc tế (International Electronic Funds Tranfer System – CHIPS)
Trang 5 Các chủ thể tham gia thanh toán quốc tế
Các ngân hàng thương mại
Ngân hàng của nhà nhập khẩu có thể trợ giúp:
−Tư vấn về những nhà cung cấp hàng hóa nước ngoài
−Thấu hiểu những nhu cầu của nhà nhập khẩu và sẵn sàng tư vấn để nhà nhập khẩu bảo vệ tốt nhất lợi ích của mình
−Kiểm tra bộ chứng từ thanh toán hàng nhập
−Nhận tiền từ nhà nhập khẩu thanh toán cho bộ chứng từ
−Thực hiện chuyển tiền cho người xuất khẩu
−Tài trợ cho nhà nhập khẩu thực hiện thương mại quốc tế
Ngân hàng của nhà xuất khẩu có thể trợ giúp:
−Tư vấn về những nhà nhập khẩu nước ngoài
−Thấu hiểu những nhu cầu của nhà xuất khẩu và sẵn sàng tư vấn để nhà xuất khẩu bảo vệ tốt nhất lợi ích của mình
−Kiểm tra bộ chứng từ thanh toán hàng xuất
−Tổ chức thanh toán cho bộ chứng từ
−Nhận tiền thanh toán trên danh nghĩa người xuất khẩu
−Tài trợ cho nhà xuất khẩu thực hiện thương mại quốc tế
Chính phủ và các tổ chức thương mại
Hải quan và các cơ quan chức năng tiến hành làm thủ tục thông quan, thu thuế xuất nhập khẩu cho ngân sách nhà nước và phát hành hóa đơn hải quan Nghĩa vụ phải trả thuế và mức thuế đánh vào hàng hóa XNK phụ thuộc vào loại hàng hóa và hiệp định giữa các Chính phủ
Người nhập khẩu cũng phải xin giấy phép nhập khẩu đối với hàng hóa nhất định, giấy phép của cơ quan quản lý ngoại hối mới được mua và chuyển ngoại tệ ra
Trang 6nước ngoài Hàng hóa nhập khẩu phải được kiểm tra giám định về chất lượng và xuất xứ hàng hóa.
Các chủ thể khác: bao gồm các pháp nhân, thể nhân hoạt động trong lĩnh
vực xuất nhập khẩu, du lịch, vận tải, giao nhận, bảo hiểm đầu tư… với tư cách là người ủy thác cho Ngân hàng thu hộ các khoản phải thu và ra lệnh cho ngân hàng chi các khoản phải chi cho nước ngoài
Vai trò của thanh toán quốc tế
Ngày nay trong xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế và thương mại quốc tế ngày càng phát triển, Thanh toán quốc tế (TTQT) đã trở thành một hoạt động cơ bản, không tể thiếu của các NHTM hoạt động TTQT của NHTM là một mắt xích không thể thiếu trong toàn bộ dây chuyền thực hiện một hợp đồng ngoại thương Thực hiện tốt vai trò trung gian thanh toán của mình trong hoạt động TTQT, NHTM đã đóng góp rất nhiều cho xã hội và cho bản thân các ngân hàng
Đối với bản thân Ngân hàng
TTQT là một loại nghiệp vụ liên quan dến tài sản ngoại bảng của ngân hàng Hoạt động TTQT giúp ngân hàng đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của khách hàng
về các dịch vụ tài chính có liên quan tới TTQT Trên cơ sở đó giúp ngân hàng tăng doanh thu, nâng cao uy tín cho ngân hàng và tạo dựng niềm tin cho khách hàng Điều đó không chỉ giúp ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động mà còn là một ưu thế tạo nên sức cạnh tranh của ngân hàng trong cơ chế thị trường Hoạt động TTQT không chỉ là một hoạt động đơn thuần mà còn là hoạt động hỗ trợ bổ sung cho các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng Hoạt động TTQT được thực hiện tốt sẽ
mở rộng cho hoạt động tín dụng XNK, phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương, tài trợ thương mại và các hoạt động ngân hàng quốc tế khác
Trang 7Hoạt động TTQT làm tăng tính thanh khoản cho ngân hàng Khi thực hiện nghiệp vụ TTQT, ngân hàng có thể thu được nguồn vốn ngoại tệ tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp có quan hệ TTQT với các ngân hàng dưới hình thức các khoản ký quỹ chờ thanh toán.
TTQT còn tạo điều kiện hiện đại hóa công nghệ ngân hàng Các ngân hàng sẽ
áp dụng công nghệ tiên tiến để hoạt động TTQT được thực hiện nhanh chóng, kịp thời và chính xác, nhằm phân tán rủi ro, góp phần mở rộng quy mô và mạng lưới ngân hàng
Hoạt động TTQT cũng làm tăng cường mối quan hệ đối ngoại của ngân hàng, tăng cường khả năng cạnh tranh của ngân hàng, nâng cao uy tín của mình trên trường quốc tế, trên cơ sở đó khai thác nguồn tài trợ của các ngân hàng nước ngoài
và nguồn vốn trên thị trường tài chính quốc tế để đáp ứng nhu cầu về vốn của ngân hàng
Đối với xã hội:
Hoạt động TTQT đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đất nước Một quốc gia không thể phát triển với chính sách đóng cửa, chỉ dựa vào tích lũy trao đổi trong nước mà phải phát huy lợi thế so sánh, kết hợp giữa sức mạnh trong nước với môi trường kinh tế quốc tế Trong bối cảnh hiện nay khi các quốc gia đều đặt kinh tế đối ngoại lên hàng đầu, coi hoạt động kinh tế đối ngoại là con đường tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước thì vai trò hoạt động của TTQT ngày càng được khẳng định
Xét trên phương diện quản lý của Nhà nước, TTQT giúp Nhà nước có thể tập trung và quản lý nguồn ngoại tệ trong nước, trên cơ sở đó sử dụng ngoại tệ một cách hiệu quả, tạo điều kiện thực hiện tốt cơ chế quản lý ngoại hối của nhà nước, quản lý hiệu quả các hoạt động xuất nhập khẩu theo chính sách ngoại thương đã đề ra
Trang 8TTQT là khâu quan trọng trong quá trình mua bán hàng hoá, dịch vụ qiữa các
tổ chức, cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau Nếu không có hoạt động TTQT thì hoạt động kinh tế đối ngoại khó có thể tồn tại được Nếu hoạt động TTQT được nhanh chóng, an toàn, chính xác thì sẽ giải quyết được mối quan hệ lưu thông hàng hoá - tiền tệ giữa người mua và người bán một cách trôi chảy, hiệu quả
Vai trò trung gian thanh toán trong hoạt động TTQT của các NHTM giúp quá trình thanh toán theo yêu cầu của khách hàng được tiến hành nhanh chóng, chính xác, an toàn, tiện lợi và tiết kiệm tối đa chi phí Trong quá trình thực hiện thanh toán, nếu khách hàng không có đủ khả năng tài chính cần đến sự tài trợ của ngân hàng thì ngân hàng sẽ chiết khấu bộ chứng từ Qua việc thực hiện thanh toán, ngân hàng còn có thể giám sát được tình hình kinh doanh của doanh nghiệp để có những
tư vấn cho khách hàng và điều chỉnh chiến lược khách hàng
TTQT còn có vai trò khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu gia tăng quy mô hoạt động, tăng khối lượng hàng hoá dịch vụ và mở rộng quan hệ giao dịch với các nước, tăng cường vị thế uy tín của doanh nghiệp
2.1.2 Các phương thức thanh toán Quốc tế chủ yếu của NHTM
Trang 9Nội dung Phương thức thanh toán được Ngân hàng phục vụ
Phương thức chuyển tiền Phương thức nhờ thu Phương thức tín dụng chứng từ
Định
nghĩa
Chuyển tiền là phương thức thanh toán, trong đó khách hàng (người chuyển tiền) yêu cầu
NH phục vụ mình chuyển một
số tiền nhất định cho một ngườ khác (người hưởng lợi) theo một địa chỉ nhất định và trong một thời gian nhất định
Nhờ thu là phương thức thanh toán theo đó bên bán (nhà XK) sau khi giao hàng hay cung ứng dịch vụ, ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình xuất trình bộ chứng từ thông qua NH đại lý cho bên mua (nhà NK) để được thanh toán, chấp nhận hối phiếu hay chấp nhận các điều kiện và điều khoản khác
Tín dụng chứng từ là một thỏa thuận bất kỳ, cho dù được gọi tên hay mô tả thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không hủy ngang của NHPH về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp
Các bên
tham gia
Người chuyển tiền (người mua)
Người hưởng lợi (người bán)
NH chuyển tiền là NH ở nước người chuyển tiền
NH đại lý NH ở nước người hưởng lợi
Người trả tiền (người mua)
Người hưởng lợi (người bán)
NH bên bán, là NH nhận sự ủy thác của người bán
NH đại lý là NH ở nước người mua
Người xin mở thư tín dụng (người mua, người NK)
Người hưởng lợi (người bán, người XK hay người nào khác được người hưởng lợi chỉ định)
NHPH là NH đại diện cho nhà NK
NHTB là NH ở nước người hưởng lợi
Trang 10(3)Chuyển tiền qua nước ngoài qua NH đại lý.
(4)NH chuyển tiền cho người hưởng lợi
Nhờ thu phiếu trơn:
(1) Người bán gửi hàng và chứng từ hàng hóa cho người mua
(2) Người bán ký phát hối phiếu đòi tiền người mua và ủy thác cho NH nước mình đòi tiền hộ theo hối phiếu
(3) NH phục vụ bên bán chuyển hối phiếu sang NH đại lý của mình ở nước người mua
(4) NH đại lý yêu cầu người mua trả tiền hối phiếu (nếu là hối phiếu trả tiền ngay), chấp nhận hối phiếu (nếu mua chịu)
(5) NH đại lý chuyển tiền thu được cho người bán Nếu chỉ là chấp nhận hối phiếu thì NH giữ lại hối phiếu hoặc chuyển trả người bán Khi đến kỳ hạn thanh toán, NH
(1) Nhà NK làm đơn xin mở L/C gửi NH
mở L/C
(2) Căn cứ vào đơn mở L/C, NH mở L/C lập L/C chuyển cho NHTB
(3) NHTB thông báo cho nhà XK,
(4) Nhà XK kiểm tra L/C, nếu phù hợp với hợp đồng ngoại thương đã ký thì tiến hành giáo hàng, nếu không phù hợp thì đề nghị sửa đổi, bổ sung L/C cho phù hợp và phải được sự đồng ý của nhà NK, sau đó tiến hành giao hàng
(5) Sau khi giao hàng, nhà XK hoàn tất bộ chứng từ thanh toán theo yeu cầu của L/C xuất trình cho NH mở L/C, thông qua
3
4
NH đại lý
1
2
Người hưởng lợi
4
Người nhập khẩu
Người xuất khẩu
NH chuyển tiền
Người chuyển tiền
Trang 11sẽ đòi tiện ở người mua và thực hiện việc chuyển tiền như trên.
NHTB xin thanh toán
(6) NH mở L/C sau khi kiểm tra bộ chứng
từ, nếu thấy xuất trình phù hợp thì tiến hành thanh toán, nếu thấy không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửi trả lại toàn bộ
và nguyên vẹn bộ chứng từ cho nhà XK.(7) NH mở L/C đòi tiền nhà NK và chuyển bộ chứng từ cho nhà NK
(8) Nhà NK kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì hoàn trả tiền cho
NH, nếu không phù hợp thì có quyền từ chối trả tiền NH
Áp dụng Thanh toán các chi phí có liên
quan đến XNK hàng hóa
Ứng trước tiền hàng, trả tiền bồi thường do vi phạm hợp đồng
Chuyển vốn ra nước ngoài để đầu tư, hoặc chi tiêu phi mậu dịch
Chuyển kiều hối
Người bán và người mua tin cậy lẫn nhau, hoặc có quan hệ liên doanh với nhau, hoặc thanh toán giữa công ty mẹ với công ty con
Thanh toán các dịch vụ có liên quan đến XNK hàng hóa như: tiền cước phí vận tải, phí bảo hiểm, tiền bồi thường…
Thanh toán hàng XK có giá trị nhỏ, hàng ứ đọng, khó tiêu thụ
- Áp dụng khi người mua người bán chưa tin tưởng nhau và muốn bảo vệ quyền lợi giữa các bên
- Thanh toán hàng hóa có giá trị lớn
Trang 12 Nhược điểm: - Nhờ thu phiếu trơn: hoàn toàn bất lợi cho người bán vì việc thanh toán phụ thuộc vào ý muốn của người mua, tốc độ thanh toán chậm.
- Quyền lợi của người XK vẫn có thể bị đe dọa nếu người NK không muốn nhận hàng
và từ chối nhận chứng từ khi hàng hóa đã gửi đi rồi
-Thời gian thu tiền về còn quá chậm, vốn của người bán vẫn bị ứ đọng
bộ chứng từ đó
Nhược điểm:
- Chi phí cao
- Thủ tục phức tạp
Trang 132.2 Một số lý thuyết về quản trị thanh toán xuất khẩu tại NHTM
2.2.1 Khái quát về quản trị thanh toán xuất khẩu tại NHTM
Quản trị thanh toán xuất khẩu tại NHTM được hiểu là tiến trình hoạch định,
tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát hoạt động thanh toán xuất khẩu của ngân hàng nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra.
Công việc hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát phải được thực hiện theo một trình tự nhất định Các nhà quản trị phải thực hiện các hoạt động quản trị nhằm đạt được mục tiêu mà ngân hàng mong đợi
Vai trò của quản trị thanh toán xuất khẩu đối với ngân hàng thương mại.
Quản trị thanh toán xuất khẩu bao gồm hoạch định, tổ chức lãnh đạo, kiểm soát quy trình thanh toán xuất khẩu, đánh giá kết quả hoạt động thanh toán xuất khẩu, dự báo và xử lý các rủi ro Chính vì vậy mà hoạt động quản trị đã thể hiện được những vai trò sau:
− Cung cấp cho khách hàng các dịch vụ hoàn chỉnh, đảm bảo đáp ứng được các nhu cầu của khách hàng về chất lượng dịch vụ, mức độ an toàn, thuận lợi, nhanh chóng và chính xác
− Nhận dạng và kiểm soát các rủi ro trong thanh toán xuất khẩu để tìm ra các biện pháp khắc phục, nâng cao hiệu quả và mức độ an toàn
− Phát huy các thế mạnh của ngân hàng vào việc triển khai các công tác quản trị
− Giúp cho việc đánh giá, kiểm tra việc thực hiện so với mục tiêu đặt ra và đề ra phương hướng hoạt động cho những kỳ hoạt động tiếp theo trên cơ sở những thành công và tồn tại trước đó
Những nhân tố ảnh hưởng đến quản trị thanh toán xuất khẩu tại ngân hàng thương mại
Những nhân tố khách quan
∗ Hệ thống pháp luật Quốc gia và các Quy ước thông lệ Quốc tế.
Trang 14Các quy ước và thông lệ quốc tế là những chuẩn mực mà bất kỳ một nghiệp vụ nào dù nhỏ trong thanh toán xuất khẩu đều phải tuân theo Chính vì vậy mà công tác quản trị đối với hoạt động này luôn phải đề cao các nguyên tắc đó để đảm bảo sản phẩm và dịch vụ thanh toán xuất khẩu mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng là những sản phẩm đảm bảo độ an toàn cũng như độ tin cậy theo chuẩn Quốc tế.
Bên cạnh đó, mỗi một Quốc gia lại có các tập quán mua bán khác nhau vì vậy mà việc cân nhắc lựa chọn bạn hàng đối với ngân hàng là một điều quan trọng Ví dụ như một doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu một loại hàng hoá sang nước ngoài nhưng tại quốc gia đó họ cấm nhập khẩu mặt hàng đó, nếu ngân hàng tài trợ cho thương vụ này thì khả năng về thanh toán hay thu hồi nợ của khách hàng sẽ gặp khó khăn
Chính vì vậy mà các nhà quản trị cũng phải hết sức quan tâm đến các nhân tố này
để đảm bảo cho hoạt đông thanh toán xuất khẩu được diễn ra thuận lợi hơn
∗ Các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu
Đối tượng khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán xuất khẩu của ngân hàng là các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu nhưng với quy mô và chất lượng rất khác nhau.Khi khách hàng là các doanh nghiệp lớn, có mối quan hệ làm ăn lâu dài với ngân hàng thì khả năng thanh toán, trả nợ cũng sẽ được đảm bảo đồng thời ngân hàng cũng không phải tốn nhiều thời gian trong việc xử lý các giấy tờ, hồ sơ khách hàng Ngược lại với những khách hàng mới, các doanh nghiệp nhỏ, ngân hàng buộc phải tìm hiểu, thẩm tra các thông tin về khách hàng, hoạt động quản trị này mang tính phức tạp hơn, đòi hỏi tốn nhiều thời gian và công sức hơn
Đây là một nhân tố ảnh hưởng tới quản trị thanh toán xuất khẩu vì nếu chương trình quản trị không nắm bắt được hết các khía cạnh của hoạt động này thì sẽ gây thiệt hại và ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng
∗ Những biến động kinh tế, chính trị, xã hội
Đây là những biến động nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng, bao gồm Chiến tranh, bạo loạn lật đổ, thiên tai, hoả hoạn, sự tăng giảm bất thường về tỷ giá hối đoái…
sẽ khiến cho hàng hoá không thể sản xuất, vận chuyển đến các nước nhập khẩu, các
Trang 15quốc gia này đưa ra các biện pháp như cấm vận, không cho phép đưa đồng tiền nước mình sang các nước khác… khiến cho ngân hàng lâm vào khó khăn khi khách hàng không có khả năng thanh toán.
Đây là những biến động có thể gây ra những kết quả xấu đối với hoạt động của ngân hàng và buộc ngân hàng phải đưa ra các biện pháp kịp thời, nhanh chóng, chính xác để ứng phó Do đó, nếu công tác quản trị trong thanh toán xuất khẩu không tốt sẽ càng gây thêm khó khăn cho ngân hàng khi không tìm ra các biện pháp kiềm chế rủi ro hiệu quả
Các nhân tố chủ quan
∗ Nguồn nhân lực
Hoạt động quản trị là một hoạt động mang tầm chiến lược rất cao, mọi quyết định của hoạt động quản trị có liên quan đến toàn bộ hoạt động của cả tổ chức
Đối với công tác quản trị hoạt động thanh toán xuất khẩu đòi hỏi ngân hàng phải
có đội ngũ các nhà quản trị có kiến thức, chuyên môn, kinh nghiệm trong hoạt động thanh toán này, kết hợp với tình hình thực tại về thanh toán xuất khẩu tại ngân hàng mới có thể đưa ra các quyết định quản trị đúng đắn
Bên cạnh đó, thực thi các quyết định quản trị là một công việc đòi hỏi chuyên môn cao và thực hiện trong một thời gian dài, vì vậy để hoạt động quản trị này có thể thực hiện theo đúng các yêu cầu đặt ra, ngân hàng cần có một đội ngũ nhân viên có trình độ, khả năng làm việc trong lĩnh vực thanh toán xuất khẩu, có như vậy mới thúc đẩy công tác quản trị theo đúng hướng và góp phần đem lại kết quả cao
∗ Công nghệ ngân hàng
Công nghệ ngân hàng bao gồm các hệ thống phần mềm quản lý, hệ thống mạng nội bộ, mạng Internet, hệ thống điện báo, fax, điện thoại, máy in… là những công cụ hữu hiệu hỗ trợ cho ngân hàng trong việc xử lý, lưu trữ thông tin, dữ liệu
Trong thanh toán xuất khẩu, các nghiệp vụ trong thanh toán mang tính chất vượt
ra khỏi ranh giới quốc gia do đó sự hỗ trợ của các công cụ này sẽ khiến cho việc trao
Trang 16đổi thông tin, chứng từ giữa các ngân hàng, giữa ngân hàng với các ngân hàng đại lý trở nên nhanh chóng, chính xác và kịp thời.
Với các công cụ này, các nhà quản trị sẽ thuận tiện hơn trong việc nắm bắt tình hình thanh toán tại Chi nhánh của mình và có thể kiểm soát được thông tin khách hàng, tình hình hoạt động và quan trọng hơn là có thể giải quyết các vấn đề nảy sinh một cách nhanh tức thời và hiệu quả
∗ Nguồn lực tài chính
Để có thể triển khai được bất cứ nội dung nào trong công tác quản trị, ngân hàng đều phải có sự đầu tư về nhân lực và các chi phí cho việc nghiên cứu, thực hiện và đánh giá kết quả
Với các công việc mà nhà quản trị đề ra, nếu không được hỗ trợ về tài chính thì việc thực hiện trở nên rất khó khăn, ví dụ như để hỗ trợ cho hoạt động kiểm soát, thông tin liên lạc nội bộ và với các ngân hàng nước ngoài, ngân hàng cũng cần phải có
sự đầu tư trang thiết bị các công nghệ ngân hàng
Như vậy chúng ta có thể thấy được nguồn lực tài chính cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả công tác quản trị đối với hoạt động chung và với hoạt động thanh toán xuất khẩu nói riêng của ngân hàng
2.2.2 Nội dung của quản trị thanh toán xuất khẩu tại ngân hàng thương mại
Hoạt động quản trị bao gồm bốn chức năng: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát Tuy nhiên chức năng lãnh đạo có thể lồng ghép vào ba chức năng còn lại, do lãnh đạo là chức năng không thể thiếu trong suốt quá trình quản trị Vì vậy ta đi xem xét ba khâu: hoạch định công tác thanh toán, tổ chức công tác thanh toán và kiểm soát công tác thanh toán
Mô hình quản trị thanh toán xuất khẩu của NHTM :
Trang 17Bước 1: Hoạch định công tác thanh toán
Hoạch định là quá trình ra những quyết định ngắn hạn và xác định chi tiết nội dung công việc cần tiến hành Như vậy, công việc mà nhà quản trị thanh toán xuất khẩu cần thực hiện trong bước này là:
− Dự báo rủi ro có thể xảy ra đối với hoạt động thanh toán xuất khẩu
Đây là công việc đầu tiên của nhà quản trị khi hoạch định công tác thanh toán Nhà quản trị phải nhận thức được những rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra đối với công tác thanh toán xuất khẩu để từ đó xây dựng quy trình thanh toán tối ưu và kiểm soát những rủi ro đó một cách hiệu quả
− Phát triển các tiền đề hoạch định, các chính sách cơ bản có thể áp dụng trong thanh toán xuất khẩu, các kế hoạch hiện có của ngân hàng
Điều quan trọng đối với nhà quản trị là sự đánh giá chính xác các điều kiện tiền
đề, các chính sách, kế hoạch hiện có của ngân hàng liên quan đến hoạt động thanh toán xuất khẩu Trong thực tế, nếu người hoạch định càng hiểu biết về các tiền đề và càng đánh giá đúng nó, thì việc hoạch định công tác thanh toán nói riêng và hoach định chiến lược ngân hàng nói chung sẽ càng được thực hiện và phối hợp chặt chẽ hơn
− Xác định nguồn lực của ngân hàng: nguồn lực về con người, tài chính, cơ sở vật chất, năng lực quản lý…
Hoạch định Tổ chức thực hiện
Kiểm tra, kiểm soát
Trang 18Hoạch định là một dạng hoạt động rất đặc trưng của quản trị, và vì thế nó cần được tổ chức khoa học thì mới thực hiện được sứ mệnh của mình Cũng như mọi hoạt động quản trị khác, dù nội dung có hay đến đâu, mục tiêu có chính xác đến cỡ nào mà nhà quản trị không tính đến nguồn lực sẵn có của mình thì khó đạt được kết quả, một
là không thể thực hiện nổi, hai là để lãng phí nguồn lực Nếu hoạch định công tác thanh toán quá quy mô mà thiếu nguồn lực về con người, cơ sở vật chất hay năng lực quản lý không đáp ứng nổi thì không thế thực hiện được Nếu hoạch định quá sơ sài,
mô hình quản trị quá đơn giản thì nguồn lực con người, cơ sở vật chất, hay trình độ quản lý bị lãng phí, kết quả đạt được sẽ không tương xứng với tiềm năng
− Xây dựng quy trình thanh toán xuất khẩu
Nhà quản trị phải lập bản kế hoạch chi tiết về quy trình thanh toán xuất khẩu Đó chính là kết quả của cấp hoạch định tác nghiệp trong công tác quản trị thanh toán xuất khẩu Trong bản nội dung cần ghi rõ: quy trình thanh toán xuất khẩu đối với từng phương thức cụ thể, ai chịu trách nhiệm thực hiện khâu nào, những rủi ro, vướng mắc
có thể xảy ra, cách giải quyết Đối với thanh toán xuất khẩu, vấn đề xây dựng quy trình thanh toán là vô cùng quan trọng bởi vì thanh toán xuất khẩu mà nhất là thanh toán xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ thì rủi ro là vô cùng lớn Quy trình thanh toán phải chi tiết, rõ ràng, dễ hiểu có thể phổ biến nhanh chóng cho các nhân viên trong phòng thanh toán quốc tế nắm được nội dung và cách thức tiến hành công việc
Bản kế hoạch là công cụ trong đó nhà quản trị vạch ra những công việc cụ thể và kết quả trên dự kiến Trên cơ sở nội dung này, nhà quản trị kiểm tra, giám sát tình hình nhân viên thực hiện, đồng thời đôn đốc họ thường xuyên báo cáo kết quả để kịp thời phát hiện ra những sai sót và có biện pháp điều chỉnh, hơn nữa sẽ góp phần giảm bớt được sai sót có thể nảy sinh Đảm bảo hoạt động và mục tiêu đã đề ra trước đó
Bước 2: Tổ chức thực hiện công tác thanh toán
Một khi quy trình thanh toán đã được xác định, nhà quản trị cần phải xây dựng một cấu trúc tổ chức hiệu quả Chức năng của tổ chức đứng ở vị trí thứ hai trong tiến
Trang 19trình quản trị hoạt động thanh toán nhưng nó có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả của hoạt động thanh toán.
Thực chất tổ chức là xây dựng cơ cấu tổ chức, xác định, phân công và giao nhiệm
vụ cho mỗi cấp và mỗi nhân viên trong ngân hàng để thực hiện công tác thanh toán xuất khẩu, ai chịu trách nhiệm về những kết quả nào, các công việc sẽ được phối hợp với nhau như thế nào, ai sẽ báo cáo cho ai
Cơ cấu tổ chức càng hoàn hảo càng đảm bảo quy trình thanh toán được tuân thủ chặt chẽ, hoạt động thanh toán được thực hiện suôn sẻ, giảm bớt được nhiều rủi ro trong suốt quá trình cung cấp dịch vụ thanh toán xuất khẩu của ngân hàng Ngược lại, nếu cơ cấu tổ chức cồng kềnh, nhiều cấp, nhiều khâu, thiết kế công việc tương quan quyền hành, xếp đặt nhân viên không đúng sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro trong quá trình thanh toán mà ngân hàng không thể kiểm soát được ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng
Nguyên tắc xây dựng cơ cấu tổ chức
− Thống nhất chỉ huy: Mỗi thành viên trong tổ chức chỉ chịu trách nhiệm báo cáo cho người quản lý trực tiếp của mình, tránh tình trạng chồng chéo, phân công nhiệm vụ không rõ ràng, thông tin báo cáo từ nhân viên không được phản hồi kịp thời
− Gắn với quy trình thanh toán: Cơ cấu tổ chức công tác thanh toán phải phù hợp với quy trình thanh toán Quy trình thanh toán là cơ sở để xây dựng cơ cấu tổ chức
− Cân đối: Cân đối giữa quyền hành và trách nhiệm, cân đối về các công việc giữa các cấp bậc Sự cân đối sẽ tạo sự ổn định trong công tác thanh toán
− Hiệu quả: Cơ cấu tổ chức phải xây dựng trên nguyên tắc tiết kiệm chi phí
− Linh hoạt: Cơ cấu tổ chức phải linh hoạt để có thể đối phó kịp thời với sự thay đổi của môi trường bên ngoài
Khi xây dựng cơ cấu tổ chức nhà quản trị cũng phải chú ý đến năng lực và trình
độ nhân viên, công nghệ của ngân hàng đảm bảo tính khoa học, hợp lý, phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong quản lý
Trang 20Bước 3: Kiểm tra, kiểm soát
Đây là bước cuối cùng của quá trình quản trị Kiểm tra là một tiến trình đo lường kết quả thực hiện so sánh với những điều đã được hoạch định
Khi triển khai một kế hoạch, cần kiểm tra để phát hiện ra sự chệch hướng khỏi kế hoạch và đề ra biện pháp khắc phục
Kiểm tra hoạt động thanh toán xuất khẩu tại ngân hàng thương mại thường hướng vào các hoạt động sau:
- Kiểm tra mục tiêu của chi nhánh ngân hàng trong hoạt động thanh toán xuất khẩu có được thực hiện chính xác và đầy đủ không
- Kiểm tra quy trình làm việc có đúng với yêu cầu của hoạt động thanh toán xuất khẩu không? (Kiểm tra tính chính xác của các hợp đồng, thủ tục Kiểm tra sự hợp lệ của bộ chứng từ; tính chính xác của L/C; Khả năng tài chính của khách hàng…)
- Bảo đảm các nguồn lực được sử dụng hiệu quả
∗Tăng cường hiệu lực quản trị thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ tại NHNo&PTNT Thanh Trì Phạm Ngọc Mai thực hiện, GVHD: Th.S Phạm Tuấn Anh hướng dẫn, năm 2008.
∗Tăng cường hiệu lực quản trị phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại NH TMCP Quân Đội Lê Thị Khuyên thực hiện GVHD: Th.S Lê Nam Long, năm 2008.
Trang 21Hai luận văn này đều đã hệ thống hoá được lý thuyết liên quan đến quản trị Thanh toán quốc tế và quản trị thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ tại NHTM.
Thu thập được những dữ liệu thứ cấp cần thiết trong ba năm 2005, 2006, 2007 để sau đó tổng hợp và phân tích về quản trị thanh toán quốc tế và quản trị thanh toán quốc
tế bằng phương thức tín dụng chứng từ tại đơn vị và đưa ra được các giải pháp nhằm tăng cường hiệu lực quản trị phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
Tuy nhiên, hai luận văn này chưa đưa ra được mô hình cụ thể về quản trị thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ, chính vì vậy việc đưa ra các giải pháp và đề xuất còn nhiều hạn chế
Kết cấu hai luận văn này đều được chia làm ba phần:
Phần lý luận nghiên cứu về quản trị thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ, trong phần này tác giả đưa ra lý luận về quản trị thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ và một số vấn đề liên quan như: những rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ, vai trò và các nhân tố ảnh hưởng tới quản trị phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, quy trình nghiệp vụ tín dụng chứng từ.Phần thực trạng, các tác giả đều có chung cách tiếp cận vấn đề là đưa ra quy trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ tại đơn vị, từ đó phân tích những rủi ro
có thể xảy ra đối với phương thức thanh toán này, đánh giá tình hình hoạt động thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ tại đơn vị
Phần đề xuất giải pháp, các tác giả thường sử dụng những phân tích về nguyên nhân của những tồn tại trong hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ Từ đó đề xuất những giải pháp đối với đơn vị và kiến nghị với Nhà nước, các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan
∗Hoàn thiện quản trị thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Chi nhánh NH Công Thương khu công nghiệp bắc Hà Nội Nguyễn Thu Hà thực hiện, GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn Thanh hướng dẫn, năm 2009.
Đề tài này thực hiện theo kết cấu bốn chương:
Trang 22Đề tài này thực hiện theo kết cấu bốn chương và đã có sự nghiên cứu trực diện vào vấn đề quản trị thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ, đưa ra được những nội dung cơ bản của vấn đề quản trị bao gồm dự báo, hoạch định, tổ chức thực hiện và kiểm tra kiểm soát, phân tích thực trạng quản trị TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ thông qua số liệu sơ cấp và thứ cấp từ năm 2006 đến 2008 từ đó đưa
ra được những giải pháp mang tính thức tiễn hơn
Khác với các công trình nghiên cứu trên, đối tượng nghiên cứu là quản trị TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ bao gồm cả hoạt động thanh toán xuất khẩu và nhập khẩu nhưng chỉ giới hạn ở phương thức tín dụng chứng từ, luận văn này sẽ nghiên cứu về hoạt động quản trị thanh toán xuất khẩu bao gồm tất cả các phương thức thanh toán nhưng chỉ tập trung đi sâu vào hoạt động thanh toán xuất khẩu
Luận văn thực hiện nghiên cứu tại NH TMCP Ngoại Thương Việt Nam chi nhánh Hải phòng, thu thập và phân tích số liệu qua ba năm 2008 đến 2010, do đó cũng khác biệt so với các luận văn trên
2.4 Phân định nội dung vấn đề nghiên cứu quản trị thanh toán xuất khẩu tại ngân hàng thương mại.
Căn cứ vào các công trình nghiên cứu trước, căn cứ vào phạm vi và đối tượng nghiên cứu đã xác định trong phần bốn chương một, nội dung nghiên cứu chính của đề tài này được phân định như sau:
Luận văn sẽ đi vào nghiên cứu hoạt động quản trị thanh toán xuất khẩu của ngân hàng TMCP Ngoại Thương chi nhánh Hải Phòng, các lý thuyết về quản trị thanh toán xuất khẩu, mô hình quản trị thanh toán xuất khẩu tại ngân hàng Qua việc thu thập các
dữ liệu sơ cấp, thứ cấp trong và ngoài ngân hàng Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị thanh toán xuất khẩu tại ngân hàng Nội dung nghiên cứu được trình bày theo bốn phần giống với kết cấu luận văn năm 2009 của tác giả Nguyễn Thu Hà, sẽ rõ ràng và chi tiết hơn so với kết cấu ba phần của những luận văn năm 2008
Trang 23Phần tổng quan nghiên cứu đề tài: Trong phần này đề tài dựa vào thực tế đặt ra trong kết quả điều tra tổng hợp để trình bày tính cấp thiết của đề tài đối với ngân hàng Đồng thời nêu ra đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài Đây là điểm khác biệt so với các công trình nghiên cứu trước đưa ra tính cấp thiết dựa trên tình hình chung của vấn đề mà không dựa trên thực tế đặt ra tại đơn vị.
Phần lý luận cơ bản về vấn đề nghiên cứu Phần này trình bày một số khái niệm
cơ bản và một số lý thuyết về vấn đề quản trị thanh toán xuất khẩu Một sự khác biệt
so với những luận văn trước đó là đề tài có đưa ra khái niệm về thanh toán quốc tế dưới góc độ của các NHTM, khái niệm quản trị thanh toán xuất khẩu và mô hình quản trị thanh toán xuất khẩu tại NHTM mà các đề tài trước chưa đề cập đến Đề tài cũng đưa ra một số phân tích và nhận định về những vấn đề mà các công trình nghiên cứu trước đây đã thực hiện Cũng trong phần này đề tài phân định rõ những nội dung nghiên cứu có sự khác biệt so với những công trình nghiên cứu trước
Phần phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích: Luận văn sẽ đưa ra một quy trình nghiên cứu mà em đã sử dụng trong quá trình nghiên cứu vấn đề tại đơn vị thực tập Trong đề tài em thực hiện có phân tích về các yếu tố môi trường và ảnh hưởng của chúng tới hoạt động quản trị thanh toán xuất khẩu tại ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam chi nhánh Hải Phòng Hơn nữa sự khác biệt trong đề tài có thể nói đến là bên cạnh việc phân tích các số liệu thứ cấp, luận văn có sử dụng các dữ liệu sơ cấp qua điều tra phỏng vấn các chuyên gia và nhân viên tại phòng TTQT của ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam chi nhánh Hải Phòng điều này giúp đề tài
có cái nhìn nhiều chiều hơn về hoạt động quản trị thanh toán xuất khẩu tại ngân hàng.Phần kết luận và đề xuất: Dựa vào các phân tích về hoạt động quản trị thanh toán xuất khẩu tại ngân hàng thông qua số liệu sơ cấp và thứ cấp, em đã đưa ra các kết luận
về thành công, hạn chế và những nguyên nhân, từ đó đưa ra những giải pháp và đề xuất Đề tài có sử dụng các dữ liệu sơ cấp và phân tích những ảnh hưởng của môi trường đến vấn đề nghiên cứu do đó các đề xuất và giải pháp mang tính thực tế đối với ngân hàng hơn
Trang 24Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng quản trị thanh toán xuất khẩu tại ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam chi nhánh Hải Phòng giai đoạn 2008 - 2010
3.1 Phương pháp hệ sử dụng trong nghiên cứu quản trị thanh toán tại VCB HP.
Thông qua việc thu thập và xử lý số liệu sơ cấp và số liệu thứ cấp đề tài đưa ra những phân tích, đánh giá hoạt động quản trị thanh toán xuất khẩu tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam chi nhánh Hải phòng, từ đó đưa ra được những giái pháp nhằm giúp hoạt động quản trị thanh toán xuất khẩu của ngân hàng được tốt hơn Qúa trình nghiên cứu của luận văn được tiến hành theo quy trình sau:
Sơ đồ 3.1: Quy trình nghiên cứu vấn đề
Trong đó:
Bước 1: Thu thập dữ liệu:
Thu thập số liệu sơ cấp Thu thập số liệu thứ cấp
Phiếu điều tra Phỏng vấn Dữ liệu ngoại
vi
Dữ liệu tại NH
Tổng hợp dữ liệu sơ cấp Tổng hợp dữ liệu thứ cấp
Trang 25∗ Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua việc thiết kế các phiếu điều tra trắc nghiệm gửi tới phòng Thanh toán Quốc tế ngân hàng TMCP Ngoại Thương chi nhánh Hải Phòng (xem mẫu phiếu điều tra tại phụ lục 1) Số phiếu điều tra gửi đi: 7 phiếu, số phiếu thu về: 7 phiếu Các câu hỏi trong phiếu điều tra chủ yếu nhằm làm rõ thêm hoạt động quản trị thanh toán xuất khẩu tại ngân hàng Ngoài ra còn phỏng vấn 3 chuyên gia của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam chi nhánh Hải Phòng (VCB HP) bao gồm: phó giám đốc, trưởng phòng và phó phòng TTQT VCB HP Qúa trình điều tra phỏng vấn được tiến hành từ ngày 20/04/2011 đến ngày 22/04/2011.
∗ Dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu thứ cấp thu thập được là báo cáo tài chính, các sổ theo dõi tình hình hoạt động thanh toán quốc tế, các văn bản về quản trị thanh toán quốc tế, cơ cấu tổ chức nhân sự…từ Phòng Thanh toán quốc tế, Phòng Quan hệ khách hàng, Phòng Hành chính Nhân sự và một số phòng ban khác
Dữ liệu ngoại vi chủ yếu được thu thập qua các thông tin báo chí, các website, các đề tài nghiên cứu trước đây có liên quan
Các dữ liệu thứ cấp cho phép phân tích tình hình biến động của thị trường, tình hình công tác quản trị thanh toán xuất khẩu của ngân hàng Các dữ liệu này sẽ được phân tích trong phần 3.2.2 và 3.4
Bước 2: Tổng hợp dữ liệu
∗ Với dữ liệu sơ cấp: Đề tài sử dụng phương pháp xử lý bằng phần mềm spss: lập bảng biểu, tiến hành thống kê các ý kiến đánh giá Sau đó so sánh và lựa chọn những ý kiến tập trung cao nhất để làm kết luận cho bài nghiên cứu
Với dữ liệu thứ cấp: Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp lập các bảng biểu, tính toán các tỉ số thanh toán xuất khẩu rồi so sánh số liệu giữa các năm để tìm ra xu hướng biến động trong hoạt động thanh toán xuất khẩu, từ đó nhằm đánh giá hoạt động quản trị thanh toán xuất khẩu tại ngân hàng
Bước 3: Phân tích thực trạng.
Bước tiếp theo của quá trình nghiên cứu là phân tích những thức trạng trên cơ sở các dữ liệu tổng hợp Trong bước này đề tài sử dụng phương pháp định tính, định lượng và một số công cụ kết hợp như phân tích, thống kê, so sánh, đồ thị…để tiến hành phân tích thực trạng quản trị thanh toán xuất khẩu
Bước 4: Đánh giá thực trạng.
Đưa ra những nhận định, đánh giá về những gì ngân hàng đã đạt được và những
gì còn thiếu sót trong hoạt đông quản trị thanh toán xuất khẩu (mục 4.1) Bước này
Trang 26cũng sẽ đưa ra những khó khăn có thể phát sinh trong quá trình quản trị thanh toán xuất khẩu tại ngân hàng Từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục ở bước sau.
Bước 5: Giải pháp.
Trên cơ sở những kết luận, phát hiện và dự báo triển vọng phát triển của quản trị thanh toán xuất khẩu cùng với những quan điểm giải quyết để đề xuất những giải pháp đối với ngân hàng và cơ quan quản lý Nhà nước trong hoạt động quản trị thanh toán xuất khẩu
3.2 Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng của nhân tố môi trường đến quản trị thanh toán xuất khẩu tại VCB HP.
3.2.1 Tổng quan về ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam chi nhánh Hải Phòng.
Qúa trình hình thành và phát triển
Tiền thân của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam chi nhánh Hải Phòng
là Phòng quản lý ngoại hối (1956-1957), sau chuyển thành Sở quản lý ngoại hối Sở quản lý ngoại hối với chức năng quản lý nhà nước là chủ yếu Hầu hết các nghiệp vụ được thực hiện tại cục ngoại hối nay là Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam Sau khi Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam được thành lập, phòng quản lý ngoại hối Hải Phòng về mặt đối ngoại được giới thiệu ra nước ngoài là một chi nhánh thuộc hệ thống Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam, thực hiện một số nghiệp vụ thanh toán tiểu ngạch giữa Hải Phòng với Hồng Kông, Trung Quốc và thanh toán tiền ký ngân của các hãng tàu biển nước ngoài tới cảng Hải Phòng
Thi hành quyết định của Hội đồng Chính Phủ tháng 7/1969, chi nhánh nghiệp vụ Ngân hàng Cảng Thành phố được thành lập Về mặt đối ngoại vẫn là chi nhánh Ngân hàng Ngoại Thương Hải Phòng thuộc hệ thống Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam Phòng quản lý ngoại hối được sát nhập với chi nhánh nghiệp vụ Ngân hàng Cảng.Sau khi thống nhất đất nước (1975) cùng với sự phát triển nhanh chóng của hệ thống Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam, ngày 27/12/1976 Tổng Giám đốc Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam đã ra quyết định số 143/NHQĐ thành lập Chi nhánh Ngân hàng Ngoại Thương Thành Phố Hải Phòng và chi nhánh chính thức hoạt động từ ngày 01/01/1977
Qua hơn 30 năm hoạt động đến nay, VCB Hải Phòng có vị trị quan trọng trong hệ thống Ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam cũng như trên địa bàn thành phố Hải Phòng Tính đến 31/12/2010 VCB Hải Phòng đã huy động vốn trên 3.355 tỷ đồng, chiếm trên 10% thị phần huy động Tổng dư nợ đạt trên 4.485 tỷ đồng, chiếm gần 15%
Trang 27dư nợ trên toàn địa bàn Hiện Chi nhánh có 1 trụ sở chính và 7 phòng giao dịch cùng
hệ thống máy ATM gồm 27 chiếc được phân bố phù hợp trong toàn địa bàn Hải Phòng
Bộ máy tổ chức
Sơ đồ 3.2: Cơ cấu tổ chức của VCB HP
Ban giám đốc Chi nhánh:
Gồm 01 Giám đốc, và 02 Phó giám đốc chỉ đạo, điều hành chung toàn bộ hoạt động của Chi nhánh
- Giám đốc: Bà Lê Kim Thuý là đại diện pháp nhân của Vietcombank Hải Phòng
có quyền cao nhất và chịu trách nhiệm trước pháp luật, cơ quan cấp trên và tập thể CBCNV về mọi mặt hoạt động kinh doanh của Vietcombank Hải phòng
- Các Phó giám đốc: giúp việc cho Giám đốc, chỉ huy và điều hành các chức năng quản trị nhưng ở mức độ sâu hơn, cụ thể hơn theo sự phân công và uỷ quyền của Giám đốc, chịu trách nhiệm trước Giám đốc về nhiệm vụ của mình được giao
• Phó giám đốc phụ trách Quan hệ khách hàng, Kinh doanh dịch vụ, Thanh toán Quốc tế: là người được Giám đốc Chi nhánh uỷ quyền thực hiện các nhiệm vụ về tín dụng, thanh toán, kinh doanh trong hạn mức của Giám đốc Chi nhánh được quyết định
Giám Đốc Vietcombank HP
Bộ phận
kiểm tra nội bộ
Phòng quan hệ khách hàng
Phòng kinh doanh dịch vụ
Phòng thanh toán quốc tế
Phòng hành chính nhân sự
Phòng ngân quỹ
Phòng kế toán
Phòng quản lý rủi ro tín dụng
PGD Ngô Quyền
PGD Quán Toan
PGD Thủy Nguyên
PGD Vạn MỹPGD số 2PGD Lê Chân
Trang 28• Phó giám đốc phụ trách Kế toán, Quản lý rủi ro, Nhân sự, Quỹ: là người được Giám đốc Chi nhánh uỷ quyền thực hiện các nhiệm vụ về kế toán, tổ chức, nhân
sự, kiểm toán, xuất nhập quỹ trong pham vi hạn mức của Giám đốc được quyết định.Trong ban Giám đốc cơ chế uỷ quyền được phân bổ theo nguyên tắc nếu Giám đốc đi vắng thì mọi việc điều hành chung được uỷ quyền cho hai Phó giấm đốc điều hành và báo cáo lại cho giám đốc, trong trường hợp một Phó giám đốc đi vắng thì người còn lại sẽ điều hành toàn bộ hoạt động của Chi nhánh
Các phòng ban:
- Phòng Hành chính Nhân sự: gồm 01 Trưởng phòng, 01 Phó phòng và 19 nhân viên, có trách nhiệm tham mưu cho Ban giám đốc về Hành chính quản trị và tổ chức nhân sự tại Chi nhánh
- Phòng Kế toán: gồm 01 Trưởng phòng, 03 Phó phòng và 14 nhân viên, có trách nhiệm tham mưu cho Ban giám đốc về tình hình hoạt động kinh doanh chung của Chi nhánh Lập kế hoạch tài chính hàng năm và báo cáo cơ quan chủ quản - Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam (Bộ phận quản lý nợ trực thuộc phòng Kế toán)
- Phòng Thanh toán Quốc tế: gồm 01 Trưởng phòng, 01 Phó phòng, 02 Kiểm soát viên và 05 nhân viên trực tiếp giao dịch với khách hàng Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán L/C, bảo lãnh, tái bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp, tổ chức tài chính
- tín dụng trong và ngoài nước; thực hiện dịch vụ bảo hiểm và lĩnh vực tư vấn liên quan đến ngoại tệ
- Phòng Ngân quỹ: gồm 01 Trưởng phòng, 01 Phó phòng, 04 nhân viên phụ trách nội tệ và 03 nhân viên phụ trách ngoại tệ Nhiệm vụ của phòng là quản lý, lưu trữ tiền mặt, vàng bạc, đá quý và các tài sản hiện vật có giá trị khác; Kiểm điếm thu chi tiền cho khách hàng, các dịch vụ đổi tiền nội ngoại tệ, thanh toán sé du lịch, Visa card, Master card cho khách hàng nước ngoài
- Phòng Quan hệ khách hàng: gồm 01 Trưởng phòng, 01 Phó phòng và 12 nhân viên, nhiệm vụ là thực hiện chức năng cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ đối với các tổ chức kinh tế, kèm theo quản lý, kiểm soát công nợ các đối tượng đã cho vay
- Phòng Quản lý rủi ro tín dụng: gồm 01 Trưởng phòng và 03 nhân viên, thẩm định hồ sơ, phân tích tình hình khả thi của dự án cho vay đối với khách hàng bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ
- Phòng Kinh doanh dịch vụ: gồm 01 Trưởng phòng, 02 Phó phòng và 19 nhân viên, nhiệm vụ chủ yếu là huy động vốn; nhận tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi không kỳ
Trang 29hạn và có kỳ hạn, tiền gửi thanh toán; phát hành các loại chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu,
kỳ phiếu, trái phiếu
- 6 Phòng Giao dịch: gồm 40 người, nhiệm vụ như Phòng Kinh doanh dịch vụ tại trụ sở chính và cho vay, cung cấp các dịch vụ tiện ích khác của ngân hàng (nằm trải đều trên các quận huyện nhằm rút ngắn khoảng cách địa lý)
(Nguồn: Báo các thực hiện từ 2008 đến 2010- VCB Hải Phòng)
Huy động vốn đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 15,6%/năm trong giai đoạn
2008-2010, là tốc độ tăng trưởng ở mức trung bình so với tốc độ tăng trưởng chung của toàn ngành và trên địa bàn So với tăng trưởng tín dụng thì tăng trưởng huy động vốn chưa tương xứng dẫn tới hiệu quả kinh doanh thấp Hoạt động huy động vốn trong điều kiện thị trường vốn nhỏ hẹp như trên địa bàn thành phố Hải Phòng là hết sức khó khăn
Thứ nhất là tình trạng thu nhập của dân cư chưa cao, do đó khả năng có tích luỹ để gửi
tiết kiệm của dân cư là tương đối hạn chế Thứ hai là tình trạng cạnh tranh quyết liệt
về huy động vốn giữa các ngân hàng trên địa bàn thành phố; các ngân hàng nhỏ với chính sách lãi suất huy động cao hơn đã thu hút nhiều tiền gửi tiết kiệm của dân cư
chạy sang những ngân hàng nhỏ Thứ ba là đặc trưng của Hải Phòng là thành phố công
nghiệp với các doanh nghiệp ngành thép, ximăng, đóng tàu là những ngành có yêu
Trang 30cầu sử dụng vốn rất lớn nhưng khả năng tiết kiệm vốn lại hạn chế Thứ tư là các chính
sách về lãi suất huy động, chính sách khuyến mại, marketing để thu hút tiền gửi thiếu năng động và thường chậm hơn so với các ngân hàng khác trên địa bàn Vì vậy trong thời gian tới, đòi hỏi phải có chính sách phù hợp nhằm nâng cao khả năng huy động, trong đó chính sách phát triển tín dụng sẽ đóng góp vai trò hỗ trợ đắc lực cho công tác huy động vốn của VCB Hải Phòng
(Nguồn: Báo các thực hiện từ 2008 đến 2010- VCB Hải Phòng)
Tín dụng là hoạt động trọng tâm của VCB Hải Phòng trong giai đoạn 2008 -
2010 Tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân giai đoạn 2008-2010 đạt 9,42%/năm, là tốc độ tăng trưởng tương đối cao so với tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của hệ thống Vietcombank Thu nhập từ lãi cho vay cũng tăng mạnh theo tốc độ tăng trưởng tín dụng và đóng góp chủ yếu vào kết quả kinh doanh chung của VCB Hải Phòng Tuy nhiên tăng trưởng tín dụng với tốc độ quá nóng trong khi khả năng quản trị rủi ro và yếu tố con người chưa theo kịp sẽ có thể dẫn tới sự phát triển thiếu bền vững trong tương lai
Các hoạt động kinh doanh khác
Bảng 3.3: Các hoạt động kinh doanh khác giai đoạn 2008-2010
(Đơn vị: Triệu đồng)
I, Thanh toán quốc tế
Trang 311, T/toán hàng xuất khẩu
2, T/toán hàng nhập khẩu
II, Kinh doanh ngoại tệ
1, Doanh số mua vào (nghìn
2, Thanh toán thẻ ATM 1,600,554 1,700,000 2,117,300
3, Thanh toán không dùng
(Nguồn: Báo các thực hiện từ 2008 đến 2010- VCB Hải Phòng)
* Hoạt động thanh toán quốc tế: thị phần thanh toán quốc tế của VCB Hải Phòng chiếm khoảng 30% thị phần thanh toán trên địa bàn Tuy nhiên doanh số thanh toán quốc tế trong hai năm 2009, 2010 có xu hướng giảm VCB Hải Phòng xác định hoạt động thanh toán quốc tế cũng là hoạt động trọng tâm cần phát triển trong thời gian tới
* Hoạt động kinh doanh dịch vụ: đây là hoạt động mang lại thu nhập cho ngân hàng thông qua các khoản thu từ phí dịch vụ phục vụ khách hàng Tuy nhiên trong những năm qua hoạt động kinh doanh dịch vụ chưa được đặt ở vị trí tương xứng và đóng góp vào kết quả hoạt động chung còn chưa tương xứng với tiềm năng Vì vậy thời gian tới, VCB Hải Phòng cần chú trọng phát triển mảng kinh doanh dịch vụ nhằm tận dụng lợi thế về thương hiệu
* Hoạt động kinh doanh ngoại tệ: đây được coi như là hoạt động hỗ trợ cho hoạt động tín dụng và thanh toán quốc tế, phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu của khách hàng Tuy nhiên, hoạt động mua bán ngoại tệ có sự giảm sút qua các năm do những bất cập về cơ chế điều hành tỷ giá, VCB Hải Phòng gặp khó khăn về nguồn ngoại tệ
Trang 32để cung cấp cho khách hàng Thiếu nguồn cung ngoại tệ đã làm giảm doanh số thanh toán quốc tế và làm cho nhiều khách hàng vay ngoại tệ gặp khó khăn Vì vậy trong những năm tới cần có sự quan tâm tới việc huy động và tạo nguồn ngoại tệ, đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu ngoại tệ của khách hàng.
3.2.2 Các nhân tố môi trường và ảnh hưởng của chúng đến quản trị thanh toán xuất khẩu tại VCB HP.
Môi trường bên ngoài:
Môi trường kinh tế - xã hội.
Cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ và Châu Âu năm 2008-2009 đã có những ảnh hưởng rất lớn đến Việt Nam về mọi mặt Hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh của NH cũng không phải ngoại lệ, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu phải giảm quy mô hoạt động hoặc bị phá sản ảnh hưởng tới hoạt động thanh toán xuất khẩu của hệ thống NHTM nói chung và VCB HP nói riêng
Kinh tế Mỹ suy thoái đã có tác động tới xuất khẩu của Việt Nam do Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam Tăng trưởng kinh tế chậm lại ở Mỹ sẽ làm tăng tỷ lệ thất nghiệp, giảm thu nhập và sức mua của người dân Mỹ Cũng cần phải đặt tình hình thương mại của Việt Nam trong mối quan hệ Trung Quốc - Mỹ, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Trung Quốc Sức tiêu dùng của người dân Mỹ giảm sẽ tác động tiêu cực đối với hàng Trung Quốc xuất sang Mỹ Tiêu dùng tại Mỹ giảm sẽ khiến hàng Trung Quốc rẻ hơn và cạnh tranh hơn với hàng Việt Nam tại thị trường
Mỹ Đồng thời, khi hàng Trung Quốc tiêu thụ ở Mỹ giảm đi, nó sẽ chuyển hướng sang các thị trường khác tìm đầu ra mới, có thể đưa vào tiêu thụ tại Việt Nam nhiều hơn, gây áp lực lớn cho nền kinh tế Việt Nam
Đồng thời, cuộc khủng hoảng đã và đang gây ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu Việt Nam sang thị trường Nhật Bản và châu Âu Đây là những thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam Do bị tác động mạnh từ cuộc khủng hoảng, người tiêu dùng của các thị trường này cũng phải cắt giảm chi tiêu, nên nhu cầu đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cũng có xu hướng giảm
Trong năm 2009-2010 kết quả hoạt động kinh doanh và kết quả hoạt động thanh toán XK của VCB HP giảm mạnh
Biến động bất thường của lãi suất và tỷ giá hối đoái cũng mang lại rủi ro rất lớn cho ngân hàng trong hoạt động thanh toán XK Điều đó đòi hỏi ngân hàng phải xây dựng một cơ cấu quản lý và quy trình thanh toán xuất khẩu phù hợp nhằm kiểm soát rủi ro hiệu quả
Trang 33 Môi trường chính trị - luật pháp
Chế độ chính sách, luật pháp của Nhà nước là những yếu tố mà các NH buộc phải nắm rõ và tuân thủ Hơn nữa, hoạt động xuất khẩu liên quan đến các chủ thể ở các quốc gia khác nhau, do đó nó không chỉ chịu tác động của chế độ, chính sách, luật pháp ở trong nước mà còn phải chịu những điều kiện tương tự ở phía các nước đối tác Chính sách đồng Đô la yếu nhằm giảm thâm hụt cán cân thương mại năm 2009 của chính phủ Mỹ khiến xuất khẩu của nhiều nước vào Mỹ giảm trong đó có Việt Nam Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật trong nghiệp vụ TTQT của nước ta còn bộc lộ một vài hạn chế, chưa đồng bộ, chưa phù hợp với thông lệ Quốc tế Điều này cũng mang lại những khó khăn không nhỏ đến hoạt động quản trị thanh toán xuất khẩu của ngân hàng
Tình hình chính trị trong nước và quốc tế cũng có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam Thị trường xuất khẩu chủ yếu của các doanh nghiệp Việt Nam là Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc Với một đối tác mà tại đất nước họ đang
có xung đột hay bất ổn về chính trị thì cũng gây cản trở lớn đến hoạt động xuất khẩu
Là tâm điểm của cuộc khủng hoảng tài chính, Quốc hội Hoa Kỳ đã bị nhóm tư vấn rủi
ro Eurasia đưa vào danh mục 10 điểm nóng rủi ro chính trị, cùng với Iran, Nga và Venezuela Sự can thiệp vào nền kinh tế của Quốc hội do Đảng Cộng hoà Mỹ kiểm soát có thể dẫn tới những đạo luật mới hoặc sự can thiệp mới của chính phủ vào nền kinh tế, ảnh hưởng tới hoạt động nhập khẩu mà các nhà quản trị xuất khẩu tại ngân hàng không thể kiểm soát được
Tuy nhiên, Việt Nam là nước có nền chính trị ổn định, chính phủ Việt Nam đang
có những chính sách điều chỉnh hoạt động xuất khẩu hiệu quả, xuất khẩu Việt Nam đang dần khởi sắc Điều này tạo thuận lợi lớn cho các NHTM Việt Nam và VCB HP
Sức ép cạnh tranh
Cùng với quá trình hội nhập của các ngành, lĩnh vực trong nước, các NHTM Việt Nam cũng đứng trước nhiều sức ép cạnh tranh rất quyết liệt; không chỉ giữa các ngân hàng trong, ngoài hệ thống với nhau, mà còn với các ngân hàng của nước ngoài do Việt Nam phải từng bước mở cửa thị trường
Hiện nay trên địa bàn thành phố Hải Phòng đã có hơn 50 chi nhánh NHTM hoạt động, hàng chục chi nhánh phụ thuộc khác và hàng trăm phòng giao dịch Cùng với sự phát triển nhanh chóng của mạng lưới ngân hàng là sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Các ngân hàng đều đứng trước sức ép về chỉ tiêu
Trang 34kết quả kinh doanh, cạnh tranh thu hút khách hàng nhằm bảo đảm chỉ tiêu lợi nhuận Chính vì thế khi hoạt động quản trị thanh toán xuất khẩu không được thực hiện một cách nghiêm túc sẽ ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh và uy tín của ngân hàng.
Môi trường bên trong
Nguồn nhân lực.
Đội ngũ cán bộ TTQT là một nhân tố chủ quan quan trọng nhất vì nó quyết định trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động quản trị, họ là những người đưa ra quyết đinh quản trị và thừa hành quyết định quản trị
Hiện nay tại phòng TTQT của VCB Hải Phòng có 9 cán bộ đa số là những cán bộ trẻ, 100% tốt nghiệp Đại học hoặc trên Đại học khối Kinh tế, họ là nguồn nhân lực có trình độ, sự nhiệt tình, năng động Tuy nhiên, do kinh nghiệm làm việc chưa nhiều nên các cán bộ TTQT vẫn còn yếu trong việc nắm bắt tâm lý khách hàng, xử lý các trường hợp phát sinh nằm ngoài dự kiến trong hoạt động thanh toán xuất khẩu Vì vậy nâng cao hơn nữa chất lượng nguồn nhân lực là một vấn đề quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động quản trị thanh toán xuất khẩu tại chi nhánh
Trong số 9 cán bộ phòng TTQT thì chỉ có 5 cán bộ trực tiếp làm việc với khách hàng Một ngân hàng lớn, có truyền thống về thanh toán quốc tế, khối lượng giao dịch khá nhiều vì vậy với số lượng thanh toán viên như hiện nay khó có thể đáp yuwngs tốt nhất và kịp thời những yêu cầu của khách hàng và những phát sinh trong quá trình giao dịch
Công nghệ ngân hàng.
Hiện nay ngân hàng đã có rất nhiều thay đổi về công nghệ Cơ sở vật chất cũng tương đối đầy đủ Tuy nhiên cần xây dựng hệ thống thông tin nhiều chiều phục vụ cho việc thu thập thông tin dừ liệu ngành và những rủi ro liên quan đến thanh toán xuất khẩu Ngoài ra cần tập huấn cho cán bộ thanh toán xuất khẩu sử dụng thành thạo các công nghệ mới, hiện đại, áp dụng hiệu quả vào cong tác thanh toán xuất khẩu
Nguồn lực tài chính
VCB Hải Phòng là một trong những ngân hàng lớn trên địa bàn thành phố Hải Phòng, với quá trình hình thành và phát triển hơn 30 năm vì vậy VCB Hải Phòng có nguồn lực tài chính khá mạnh, đảm bảo cho việc thực hiện tốt công tác quản trị thanh toán xuất khẩu