CẢM ƠN
Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, sự gia tăng hoạt động giao thương và hợp tác giữa Việt Nam và các quốc gia khác đã thúc đẩy sự phát triển năng động của doanh nghiệp Để đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh chóng, doanh nghiệp cần xem xét và cải tiến hệ thống kế toán của mình Sự tăng trưởng kinh tế cũng đã dẫn đến nhiều thay đổi trong công tác kế toán Do đó, việc thiết lập một cơ sở dữ liệu phù hợp và một hệ thống kế toán linh hoạt là rất cần thiết, giúp doanh nghiệp hoạch định công tác kế toán hiệu quả và nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường.
Kế toán quản trị đã chứng minh sự cần thiết và tầm quan trọng trong quản trị kinh doanh suốt nhiều thập kỷ qua, trở thành công cụ quản lý hiệu quả cho nhà quản trị trong việc hoạch định, tổ chức, kiểm soát và đánh giá hoạt động kinh doanh Tỉnh Nam Định, nằm ở trung tâm vùng Nam đồng bằng sông Hồng, sở hữu nhiều tiềm năng đầu tư phát triển sản xuất, đặc biệt là nguồn nhân lực trẻ, dồi dào và được đào tạo chất lượng cao Hệ thống hạ tầng giao thông tại đây cũng đã được đầu tư đồng bộ, rút ngắn thời gian di chuyển đến Hà Nội và cảng Hải Phòng chỉ còn khoảng 1 giờ.
Hạ tầng điện lực của tỉnh Nam Định đứng trong Top đầu cả nước, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp Vùng kinh tế biển của tỉnh có tiềm năng phát triển mạnh mẽ về công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ Tính đến cuối năm 2019, tỉnh có 8.690 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký 65.871 tỷ đồng, chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong ngành công nghiệp, xây dựng (41,17%) và thương mại dịch vụ (52,31%) Tuy nhiên, nhận thức và tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị tại các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn hạn chế Hệ thống kế toán tài chính đã hoàn chỉnh nhưng kế toán quản trị chưa được chú trọng, dẫn đến việc sử dụng thông tin kế toán quản trị để hỗ trợ quyết định và quản lý doanh nghiệp còn yếu kém, ảnh hưởng lớn đến khả năng tổ chức hoạt động kinh doanh hiệu quả.
Xuất phát từ mong muốn áp dụng kiến thức lý luận vào thực tiễn, tác giả đã chọn đề tài “Tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị cho việc ra quyết định ngắn hạn tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Nam Định.” Đề tài này nhằm hoàn thiện công tác tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị, đặc biệt là phục vụ cho việc ra quyết định ngắn hạn, đảm bảo đáp ứng tốt nhất cho hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Nam Định.
Tổng quan nghiên cứu đề tài
Kế toán quản trị tại Việt Nam đã phát triển song song với chính sách kế toán của các doanh nghiệp, nhưng chỉ được hệ thống hóa từ đầu những năm 1990 Mặc dù có nhiều nghiên cứu về kế toán quản trị, nhưng nghiên cứu về tổ chức thông tin kế toán quản trị vẫn còn hạn chế.
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Loan (2010) đã hệ thống hóa lý luận về hệ thống thông tin kế toán quản trị, phân tích mối quan hệ giữa quyết định ngắn hạn và thông tin kế toán, cùng với quy trình thu thập, xử lý và báo cáo thông tin để hỗ trợ quản lý ra quyết định Tác giả cũng đề xuất giải pháp và điều kiện cần thiết cho việc tổ chức thông tin kế toán quản trị trong doanh nghiệp thương mại nhỏ và vừa tại Hà Nội Trong khi đó, luận văn của Nguyễn Thị Thu (2015) tập trung vào thực trạng hệ thống thông tin kế toán quản trị tại Công ty TNHH cao su Minh Thành, phân tích quy trình cung cấp thông tin cho quyết định ngắn hạn và đề xuất các giải pháp cải thiện như nâng cao chất lượng thông tin và hoàn thiện hệ thống báo cáo Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ giới hạn trong một đơn vị khảo sát và chưa phản ánh toàn diện cho các doanh nghiệp.
Luận văn thạc sĩ năm 2017 của Nguyễn Hoàng Dũng, với tiêu đề “Hoàn thiện tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng Bắc Miền Trung”, đã nghiên cứu quy trình tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị trong các doanh nghiệp sản xuất Nghiên cứu này tập trung vào các giai đoạn từ thu thập, xử lý đến báo cáo thông tin kế toán quản trị, đồng thời phân tích một số tình huống quyết định điển hình để xây dựng mô hình hệ thống thông tin kế toán quản trị cho các doanh nghiệp sản xuất xi măng Tuy nhiên, luận văn chưa đi sâu vào việc tổ chức thông tin kế toán quản trị phục vụ cho ra quyết định ngắn hạn.
Các nghiên cứu đã làm nổi bật những nội dung lý luận cơ bản về kế toán quản trị và hệ thống thông tin kế toán quản trị phục vụ cho quyết định Các đề tài khảo sát thực trạng tại một số đơn vị, doanh nghiệp điển hình để minh họa cho các luận điểm, mang lại giá trị khoa học và thực tiễn Tuy nhiên, nhiều đề tài quá chú trọng vào lý thuyết, dẫn đến ý nghĩa thực tiễn chưa cao, và một số giải pháp đưa ra còn chung chung, thiếu tính khả thi.
Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống thông tin kế toán quản trị đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ ra quyết định ngắn hạn tại doanh nghiệp Việc tổ chức hệ thống này cần được hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề lý luận liên quan, nhằm tối ưu hóa quy trình ra quyết định và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Nghiên cứu thực trạng và hạn chế trong tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị tại các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa ở tỉnh Nam Định, từ đó đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống này Mục tiêu là nâng cao hiệu quả ra quyết định kinh doanh ngắn hạn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn tập trung vào việc tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị nhằm hỗ trợ quyết định ngắn hạn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Nam Định Phạm vi nghiên cứu sẽ được xác định rõ để đảm bảo tính chính xác và phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.
- Về mặt thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu các tình huống, nghiệp vụ phát sinh chủ yếu trong năm tài chính 2018, 2019 và đầu năm 2020
Do hạn chế về thời gian, nghiên cứu chỉ tập trung vào một số doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Nam Định Cụ thể, tác giả đã khảo sát 5 doanh nghiệp sản xuất điển hình, chuyên sản xuất các sản phẩm thiết yếu như quần áo, giường tủ, bàn ghế, thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y, phục vụ cho sản xuất và đời sống của người dân trong tỉnh.
- Công ty cổ phần nội thất Mạnh Trường
- Công ty cổ phần vật tư kim khí Tùng Nam
- Công ty TNHH thuốc thú y Hưng Phát
- Công ty cổ phần giấy bao bì Nam A n.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Thu thập dữ liệu là bước quan trọng đầu tiên trong nghiên cứu đề tài, cung cấp cơ sở cho việc phân tích và đánh giá thực trạng Tác giả đã áp dụng một số phương pháp cụ thể để thu thập dữ liệu cần thiết cho nghiên cứu.
Tác giả đã tiến hành nghiên cứu tài liệu thông qua nhiều nguồn thông tin khác nhau, bao gồm việc tham khảo các công trình khoa học trước đó, các bài viết liên quan đến đề tài nghiên cứu, sách, báo và giáo trình chuyên ngành Ngoài ra, tác giả cũng đã tra cứu thông tin về các doanh nghiệp cần nghiên cứu qua Internet và từ các tài liệu thu thập được từ các doanh nghiệp được khảo sát.
Nghiên cứu tài liệu được thực hiện nhằm thu thập thông tin về tình hình tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị phục vụ cho quyết định ngắn hạn tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở tỉnh Nam Định Các tài liệu nghiên cứu chủ yếu bao gồm giới thiệu về doanh nghiệp, cơ cấu tổ chức, chế độ và chính sách kế toán, cũng như tình hình tổ chức hệ thống thông tin kế toán và hệ thống thông tin kế toán quản trị trong doanh nghiệp.
Tác giả đã tiến hành nghiên cứu tài liệu liên tục từ giai đoạn lựa chọn đề tài cho đến khi hoàn thành công trình Phương pháp này được nhận định là rất cần thiết, giúp tác giả có cái nhìn tổng quát về đối tượng nghiên cứu, từ đó hoàn thiện hơn cho công trình của mình.
Quan sát là phương pháp thu thập dữ liệu hiệu quả thông qua các giác quan và thiết bị hỗ trợ, nhằm ghi nhận hiện tượng hoặc hành vi của con người trong nghiên cứu khoa học Đây là một trong những phương pháp thu thập dữ liệu ban đầu quan trọng, đặc biệt khi phỏng vấn có thể không cung cấp thông tin chính xác hoặc đầy đủ do sự không hợp tác từ đối tác.
Dựa vào quan sát, tác giả có thể nhận diện chức năng và nhiệm vụ của từng cá nhân, bộ phận trong tổ chức, đồng thời đánh giá mức độ hiệu quả công việc và các công cụ, phương pháp hỗ trợ mà họ sử dụng Bên cạnh đó, tác giả cũng tìm hiểu cách tổ chức công tác kế toán, quy trình thu thập và xử lý thông tin, cũng như cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp.
Phương pháp quan sát, mặc dù hữu ích, thường tốn thời gian và có thể không mang lại hiệu quả cao do sự thay đổi hành vi của người được quan sát Hơn nữa, vì hạn chế về thời gian và khả năng tiếp cận các doanh nghiệp, phương pháp này chỉ có thể được thực hiện một vài lần Trong nghiên cứu, tác giả đã tiến hành quan sát cơ sở hạ tầng và quy trình làm việc của nhân viên tại phòng kế toán của các công ty khảo sát.
Phương pháp thu thập dữ liệu này rất hiệu quả trong nghiên cứu, nhưng lại tốn thời gian do khó khăn trong việc sắp xếp lịch phỏng vấn với các nhà quản trị cấp cao Kết quả phỏng vấn phụ thuộc vào khả năng và tính khách quan của người được phỏng vấn, vì vậy tác giả chỉ áp dụng phương pháp này khi cần thông tin thiết yếu mà chỉ những người này mới có thể cung cấp đánh giá chính xác.
Phiếu điều tra là phương pháp phổ biến và dễ thực hiện, chỉ cần một mẫu phiếu duy nhất được phát cho những người liên quan trong doanh nghiệp Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung vào việc điều tra chọn mẫu, phát phiếu cho các nhà quản trị và nhân viên phòng kế toán, thay vì toàn bộ nhân viên Mục tiêu với các nhà quản trị là thu thập dữ liệu về nhu cầu thông tin và mức độ thỏa mãn thông tin để hỗ trợ quyết định ngắn hạn từ kế toán quản trị Đối với nhân viên kế toán, tác giả thu thập dữ liệu về tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị trong đơn vị.
5.2 Phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu
Dữ liệu thu thập sẽ được tổng hợp, xử lý và phân tích bằng các phương pháp nhất định nhằm đưa ra các thông tin và kết luận phù hợp Phân tích thông tin được thực hiện thông qua các kỹ thuật tính toán để đưa ra nhận xét về thực trạng và đề xuất giải pháp Đối với dữ liệu sơ cấp từ phỏng vấn hoặc quan sát, tác giả áp dụng phân tích định tính Trong khi đó, dữ liệu thứ cấp từ phiếu điều tra được xử lý bằng Excel, mặc dù việc này có nhược điểm do tác giả chưa tiếp cận được phần mềm SPSS, vốn có khả năng xử lý dữ liệu nhanh chóng và hiệu quả hơn.
Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị cho việc ra quyết định ngắn hạn trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị cho việc ra quyết định ngắn hạn tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Nam Định
Chương 3: Hoàn thiện tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị cho việc ra các quyết định ngắn hạn trong các doanh nghiệp nhỏ và vừatrên địa bàn tỉnh Nam Định.
LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN Q UẢN TRỊ CHO VIỆC RA Q UYẾT ĐỊNH NGẮN HẠN TRONG
KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHO VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH NGẮN HẠN TRONG
1.1 KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Hệ thống thông tin Để hiểu được khái niệm về hệ thống thông tin, trước hết cần làm rõ khái niệm về hệ thống Theo Nguyễn Thế Hưng (2007): “Hệ thống là một tập hợp các phần tử (các thành phần) có liên hệ với nhau, hoạt động để hướng tới mục đích chung theo cách tiếp nhận các yếu tố vào, sinh ra các yếu tố ra trong một quá trình xử lý có tổ chức”
Ba thành phần cơ bản của một hệ thống gồm:
(1) Các yếu tố đầu vào (Inputs);
(2) Xử lý, chế biến (Processing);
(3) Các yếu tố đầu ra (Outputs)
Về bản chất, hệ thống có những đặc điểm:
Một hệ thống bao gồm nhiều thành phần khác nhau, bao gồm con người, máy móc, các thủ tục, chính sách, quy trình, cùng với thông tin và dữ liệu cần được xử lý.
- Các phần tử trong một hệ thống có mối liên hệ chặt chẽ với nhau
Hệ thống tiếp nhận dữ liệu đầu vào, sau đó xử lý và tạo ra thông tin đầu ra phù hợp với đối tượng mục tiêu.
- Hệ thống luôn hoạt động theo những mục đích đã định sẵn
Hệ thống là tập hợp các thành phần tương tác để đạt được mục tiêu cụ thể, và khi không còn phục vụ mục đích nào, nó cần được thay thế Hệ thống có thể tồn tại ở nhiều cấp độ khác nhau, trong đó một hệ thống có thể là thành phần của một hệ thống lớn hơn, được gọi là hệ thống con Mỗi hệ thống con vẫn giữ đầy đủ các đặc điểm của hệ thống và có mục tiêu riêng, đồng thời phục vụ cho mục tiêu chung của tổ chức.
Hệ thống thông tin, theo Thiều Thị Tâm và cộng sự, là một hệ thống thiết yếu nhằm cung cấp thông tin phục vụ cho các hoạt động của con người trong một tổ chức.
Hệ thống thông tin bao gồm các hệ thống con liên kết, thực hiện các chức năng như thu thập, xử lý, lưu trữ, chuyển đổi và phân phối thông tin Chúng hỗ trợ trong việc lập kế hoạch, ra quyết định và kiểm soát thông tin, giúp doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh.
1.1.1.2 Hệ thống thông tin k ế toán
Hệ thống thông tin kế toán, theo Boochholdt (1999) và Romney (2012), là một hệ thống có chức năng thu thập, xử lý, phân loại và báo cáo các sự kiện kinh tế tài chính nhằm cung cấp thông tin cho việc ra quyết định Dữ liệu về nghiệp vụ kinh tế tài chính là yếu tố đầu vào, trong khi quá trình xử lý dữ liệu bao gồm ghi chép, tổng hợp và phân tích thông qua các phương pháp kế toán và công nghệ hỗ trợ Đầu ra của hệ thống là các báo cáo kế toán, bao gồm báo cáo tài chính và báo cáo quản trị, cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng, cả bên trong và bên ngoài đơn vị, giúp họ đưa ra quyết định kịp thời.
Hệ thống thông tin kế toán (HTTTKT) được định nghĩa bởi Trần Thị Quỳnh Giang (2018) là một hệ thống bao gồm các quá trình thu thập, hệ thống hóa và xử lý dữ liệu để tạo ra thông tin kinh tế tài chính phục vụ cho việc ra quyết định Trong các đơn vị, HTTTKT thực hiện việc thu thập và lưu trữ dữ liệu về các hoạt động tổ chức một cách liên tục, chuyển đổi dữ liệu thành thông tin hữu ích cho nhà quản lý trong việc lập kế hoạch, kiểm soát và đánh giá hoạt động Các nghiên cứu đều thống nhất rằng quy trình của HTTTKT bao gồm thu thập thông tin, xử lý và phân tích thông tin, sau đó cung cấp thông tin cần thiết cho người sử dụng trong việc ra quyết định.
Một cách khái quát, hệ thống thông tin kế toán được cấu thành từ các yếu tố sau:
- Yếu tố về con người: Điều hành hệ thống và thực hiện các chức năng khác
Quá trình tạo lập thông tin trong hệ thống kế toán, dù là thủ công hay tin học hóa, đều bao gồm các bước thu thập, xử lý, lưu trữ và cung cấp thông tin liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp.
- Yếu tố về dữ liệu: Dữ liệu về doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Hệ thống sổ kế toán trong điều kiện kế toán thủ công và các cơ sở dữ liệu phần mềm trong môi trường tin học hóa là những công cụ quan trọng để ghi nhận, phân loại và sắp xếp dữ liệu, từ đó tạo lập thông tin kế toán hiệu quả.
- Các thủ tục kiểm soát nội bộ và biện pháp bảo mật nhằm bảo vệ dữ liệu của hệ thống thông tin kế toán
1.1.1.3 Hệ thống thông tin k ế toán quản trị
Kế toán quản trị lần đầu xuất hiện trong các doanh nghiệp sản xuất tại Mỹ vào năm 1965 Theo Hiệp hội kế toán viên Hoa Kỳ (1982), kế toán quản trị được định nghĩa là quy trình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích và truyền đạt thông tin tài chính cũng như phi tài chính cho các nhà quản trị, nhằm hỗ trợ họ trong việc điều hành hoạt động kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Kế toán quản trị đã được nghiên cứu một cách có hệ thống tại Việt Nam từ những năm 1990 Theo Luật Kế toán Việt Nam (2015), kế toán quản trị được định nghĩa là một lĩnh vực quan trọng trong việc cung cấp thông tin tài chính phục vụ cho việc quản lý và ra quyết định trong doanh nghiệp.
Việc thu thập và phân tích thông tin kinh tế, tài chính là cần thiết để hỗ trợ quản trị và ra quyết định trong nội bộ đơn vị kế toán.
Kế toán quản trị là một lĩnh vực kế toán nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của các nhà quản lý và cá nhân trong tổ chức.
1.1.1.3.2 Thông tin k ế toán quản trị
Thông tin kế toán quản trị bao gồm các sự kiện quan trọng, và chỉ khi những sự kiện này ảnh hưởng đến quyết định tương lai của người nhận, chúng mới trở thành thông tin hữu ích.
Thông tin kế toán quản trị cũng là thông tin kế toán nên có các tính chất cơ bản của thông tin kế toán đó là:
THỰC TRẠNG TÔ CHỨC HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHO VIỆC RA Q UYẾT ĐỊNH NGẮN HẠN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
2.1 KHÁI Q UÁT VỀ CÁC DO AN H N GHIỆP N HỎ VÀ VỪA TR ÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
2.1.1 Giới thiệu chung về các doanh nghiệp
Theo báo cáo điều tra doanh nghiệp năm 2019 tại Tỉnh Nam Định, có 6.169 doanh nghiệp được khảo sát, trong đó 5.659 doanh nghiệp đang hoạt động và 510 doanh nghiệp tạm ngừng để đầu tư và đổi mới công nghệ Các doanh nghiệp chủ yếu là nhỏ và vừa, hoạt động chủ yếu trong ngành công nghiệp, xây dựng (41,17%) và thương mại dịch vụ (52,31%) Địa bàn tập trung nhiều nhất là thành phố Nam Định và các huyện Ý Yên, Xuân Trường, Hải Hậu, Trực Ninh Năm 2018, tổng số lao động trong các doanh nghiệp này là 190.978 người, với tổng doanh thu thuần đạt 131.425 tỷ đồng, tăng 19,3% so với năm 2017, và doanh thu bình quân một doanh nghiệp đạt 23,2 tỷ đồng.
Do thời gian hạn chế, tác giả chỉ khảo sát một số doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa tiêu biểu tại tỉnh Nam Định Những doanh nghiệp này có vốn điều lệ trung bình khoảng 10 tỷ đồng và thực hiện cả hai chức năng sản xuất và kinh doanh các sản phẩm thiết yếu như quần áo, giường tủ, bàn ghế, thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y Tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp này nhanh chóng, đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, sản lượng và tạo việc làm cho người dân địa phương.
Bảng 2.1 Thông tin về các doanh nghiệp k hảo sát Công ty Thông tin chung Quy mô Đặc điểm hoạt động
- Tên giao dịch: Công ty
Bà T riệu, T P Nam Định, Tỉnh Nam Định
- Số lao động bình quân: 80
Chúng tôi chuyên sản xuất và mua bán hàng may mặc, bao bì giấy và nhựa, bao gồm túi nilon và áo mưa nilon, cùng với các nguyên phụ liệu cho ngành may mặc Ngoài ra, chúng tôi cũng cung cấp dịch vụ đào tạo nghề may công nghiệp, cung cấp máy móc thiết bị công nghiệp và thiết bị phòng cháy chữa cháy.
Công ty cổ phần nội thất Mạnh
- Tên giao dịch: Công ty cổ phần nội thất Mạnh
- Số lao động bình quân: 25
Công ty chuyên sản xuất và kinh doanh các sản phẩm từ gỗ như giường, tủ, bàn ghế và trang thiết bị văn phòng Ngoài ra, công ty còn bán buôn, bán lẻ đồ ngũ kim, sơn, kính và thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng Các sản phẩm được cung cấp bao gồm hàng mộc gia dụng, đồ gỗ, hàng trang trí nội - ngoại thất, hàng thủ công mỹ nghệ và trang thiết bị văn phòng Ngành nghề kinh doanh chủ yếu của công ty là mua bán gỗ và sản xuất các sản phẩm nội thất từ gỗ.
Công ty cổ phần vật tư kim khí
- Tên giao dịch: Công ty cổ phần vật tư kim khí
- Số lao động bình quân: 54
Chúng tôi chuyên sản xuất các sản phẩm thép chất lượng cao, bao gồm thép chịu nhiệt, thép hợp kim có khả năng chống va đập và mài mòn, cùng với thép chế tạo đa dạng Bên cạnh đó, chúng tôi cũng cung cấp dịch vụ gia công cơ khí, xử lý và tráng phủ kim loại để đáp ứng nhu cầu của thị trường.
- Tên giao dịch: Công ty
- Số lao động bình quân: 45
Sản xuất kinh doanh thuốc thú y, sản xuất vắc xin phòng bệnh, dược phẩm, thực phẩm chức năng, chế phẩm sinh học, thức ăn chăn nuôi…
Công ty cổ phần giấy bao bì
- Tên giao dịch: Công ty cổ phần giấy bao bì Nam
Nam Định, T ỉnh Nam Định
- Số lao động bình quân: 32
Sản xuất các sản phẩm từ giấy sản xuất bao bì Carton
3, 5,7 lớp Sản xuất hộp giấy cao cấp in Flexo, in Offset nhiều màu chất lượng cao Sản xuất các sản phẩm túi giấy; các sản phẩm từ plastic
2.1.2 Đặc điểm tổ chức quản lý và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
Các công ty khảo sát đều được tổ chức quản lý theo kiểu trực tuyến - chức năng
Theo cơ cấu này, người lãnh đạo doanh nghiệp nhận sự hỗ trợ từ lãnh đạo chức năng trong việc chuẩn bị và kiểm tra các quyết định Dù có sự hỗ trợ, người lãnh đạo doanh nghiệp vẫn chịu trách nhiệm toàn diện và có quyền quyết định cuối cùng trong doanh nghiệp Quy trình truyền đạt mệnh lệnh diễn ra theo các tuyến đã được quy định.
Mô hình quản lý trực tuyến chức năng mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng tồn tại một số hạn chế Khi các lãnh đạo bộ phận chức năng có ý kiến khác nhau, họ thường sử dụng các nhóm chuyên gia hoặc cán bộ trợ lý để hỗ trợ quyết định Điều này giúp lãnh đạo tận dụng tài năng chuyên môn mà không cần xây dựng cấu trúc tổ chức phức tạp Tuy nhiên, lãnh đạo doanh nghiệp cũng phải thường xuyên giải quyết mối quan hệ giữa bộ phận trực tuyến và bộ phận chức năng.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Nam Định chủ yếu hoạt động dưới hai hình thức: Công ty TNHH, như Công ty TNHH Hải Âu và Công ty TNHH thuốc thú y Hưng Phát, và công ty cổ phần, như Công ty cổ phần vật tư kim khí Tùng Nam và Công ty cổ phần nội thất Mạnh Trường Mỗi doanh nghiệp được tổ chức bộ máy quản lý phù hợp với đặc điểm và loại hình hoạt động của mình, đảm bảo cơ cấu tổ chức gọn nhẹ và hợp lý trong cơ chế thị trường hiện nay Việc sắp xếp nhân sự dựa trên trình độ và năng lực chuyên môn của từng cá nhân giúp tối ưu hóa hiệu quả kinh tế trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Theo nghiên cứu khảo sát thì nhìn chung các doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý được bố trí như sau:
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu bộ máy quản lý của công ty
Giám đốc là người đứng đầu và điều hành toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, chịu trách nhiệm trước Nhà nước cũng như cán bộ công nhân viên về mọi hoạt động diễn ra trong công ty.
Phó giám đốc là người hỗ trợ Giám đốc trong việc quản lý và điều hành công ty Khi Giám đốc vắng mặt, Phó giám đốc sẽ đại diện để chỉ đạo các hoạt động của công ty Đồng thời, Phó giám đốc còn phụ trách một số nhiệm vụ cụ thể được Giám đốc giao phó.
Phòng Kế toán có vai trò quan trọng trong việc lập kế hoạch và quản lý tài chính của công ty, đồng thời phân tích các hoạt động kinh tế và tổ chức hạch toán kế toán theo quy định của Nhà nước.
Phòng Tổ chức hành chính chịu trách nhiệm thực hiện các thủ tục pháp lý, quản lý hồ sơ công ty và hồ sơ cá nhân, đồng thời quản lý chế độ và chính sách cho người lao động Ngoài ra, phòng còn thực hiện báo cáo thường niên với Sở Lao động Thương binh và Xã hội cùng các cơ quan nhà nước liên quan.
Phòng kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong việc lập kế hoạch và ký kết hợp đồng kinh tế Họ phân tích các điều kiện ưu và nhược điểm của công ty để tiến hành khám sức khỏe và tìm nguồn dược, nguyên vật liệu, nhằm đảm bảo quá trình hoạt động đạt hiệu quả cao.
Phòng kỹ thuật vật tư chịu trách nhiệm nghiên cứu và lập kế hoạch về vật tư, đồng thời giám sát tiến độ thi công và chất lượng sản phẩm Dựa trên các kế hoạch và công việc đã được xác định, phòng sẽ thực hiện việc giao nhận vật tư một cách hiệu quả.
Bộ phận sản xuất: Là bộ phận sẽ trực tiếp sản xuất, chế biến ra các loại sản phẩm để cung cấp cho thị trường tiêu thụ
Trong công ty, mọi hoạt động được thực hiện một cách nhất quán từ cấp lãnh đạo đến các bộ phận, đảm bảo sự liên kết chặt chẽ giữa các đơn vị hoạt động độc lập, tạo thành một hệ thống thống nhất.
2.1.2.2 Đặc điểm tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh
HOÀN THIỆN TỔ CHỨC HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHO VIỆC RA Q UYẾT ĐỊNH NGẮN HẠN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
3.1 CÁC DỰ BÁO TRIỂN VỌ NG P HÁT TRIỂN VÀ YÊU CẦU HOÀN THIỆN TỔ CHỨC HỆ T HỐ NG THÔNG T IN KẾ TOÁN Q UẢN TRỊ CHO VIỆC RA Q UYẾT Đ ỊNH NGẮN HẠN TẠI CÁC DO ANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
3.1.1 Các dự báo triển vọng phát triển
Tỉnh Nam Định sở hữu nhiều tiềm năng chưa được khai thác cho phát triển kinh tế, đặc biệt là nguồn nhân lực trẻ, dồi dào và chất lượng cao Hạ tầng tỉnh đã được cải thiện, tạo điều kiện cho sự phát triển của các khu công nghiệp và doanh nghiệp Tuy nhiên, kinh tế chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, thiếu đột phá và chưa thu hút được các dự án đầu tư lớn, công nghệ cao GRDP trên đầu người còn thấp, đứng thứ 25/63 tỉnh/thành, và thu ngân sách chưa cao so với các địa phương khác Mục tiêu đến năm 2030 là đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, sử dụng hiệu quả nguồn lực để đưa Nam Định trở thành tỉnh phát triển khá Đảng bộ Tỉnh đã có kế hoạch hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm nâng cao năng suất, chuyển đổi quy mô doanh nghiệp, và nhấn mạnh tầm quan trọng của thông tin kế toán quản trị trong quyết định kinh doanh, từ đó thúc đẩy đổi mới công tác kế toán trong doanh nghiệp.
Với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý doanh nghiệp và kế toán ngày càng trở nên hoàn thiện tại các công ty.
Hệ thống thông tin kế toán quản trị ngày càng được tổ chức một cách nhanh chóng, kịp thời và đầy đủ, giúp các nhà quản trị doanh nghiệp ra quyết định hiệu quả hơn Sự phát triển và ứng dụng kế toán quản trị, đặc biệt trong các doanh nghiệp lớn, là cơ sở để các doanh nghiệp nhỏ và vừa học hỏi và áp dụng những kinh nghiệm quý báu này.
3.1.2 Yêu cầu hoàn thiện tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị cho việc ra quyết định ngắn hạn
Để hoàn thiện tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị phục vụ ra quyết định ngắn hạn cho các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa tại tỉnh Nam Định, cần đảm bảo đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau: hệ thống thông tin phải chính xác, kịp thời và đầy đủ, hỗ trợ các nhà quản lý trong việc phân tích dữ liệu và đưa ra quyết định hiệu quả.
(1) Đảm bảo tính thống nhất, kết hợp chặt chẽ với kế toán tài chính KTQT và
KTTC và KTQT có mối liên hệ chặt chẽ trong hệ thống kế toán của doanh nghiệp, không cần thiết lập một hệ thống kế toán mới độc lập Việc kết hợp hai loại kế toán này giúp tiết kiệm chi phí cho bộ máy kế toán, đồng thời tối đa hóa việc ghi chép và hạch toán các nghiệp vụ kinh tế Cả hai hệ thống cần thống nhất cung cấp thông tin đầy đủ và đồng bộ để hỗ trợ lãnh đạo doanh nghiệp trong quá trình ra quyết định quản lý.
Khi xây dựng hệ thống kế toán quản trị (KTQT), cần đạt được sự hài hòa giữa tổng thể và chi tiết một cách khoa học KTQT và kế toán tài chính (KTTC) trong doanh nghiệp cần được tổ chức một cách hợp lý, tránh sự trùng lặp, đảm bảo tính thống nhất và kết hợp chặt chẽ với nhau Điều này sẽ giúp củng cố hệ thống kế toán doanh nghiệp, từ đó hỗ trợ nhà quản lý trong việc đưa ra quyết định chính xác nhất.
Kế toán quản trị (KTQT) cần phải phù hợp với quy mô và đặc điểm hoạt động của từng doanh nghiệp, nhằm phục vụ hiệu quả cho các nhà quản trị Việc tổ chức KTQT phải dựa trên yêu cầu cụ thể của công tác quản trị, vì nhu cầu thông tin của các cấp quản lý trong doanh nghiệp là khác nhau Do đó, cần xác định rõ thông tin cần cung cấp để tổ chức KTQT một cách khoa học và hợp lý.
Có tính khả thi cao và phù hợp với điều kiện hiện có của doanh nghiệp về nguồn lực như vốn, tài sản, và trình độ nhân viên kế toán Đồng thời, cần tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành về tài chính và kế toán Thông tin từ kế toán quản trị là cơ sở quan trọng giúp các nhà quản trị đưa ra quyết định hợp lý, kịp thời, và đảm bảo thành công trong kinh doanh.
Để đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất cho doanh nghiệp, cần đảm bảo sự hài hòa giữa chi phí và lợi ích Mục tiêu chính của kế toán, đặc biệt là kế toán quản trị, là nâng cao hiệu quả kinh doanh Do đó, hiệu quả của kế toán quản trị được đánh giá dựa trên mối quan hệ giữa chất lượng thông tin và chi phí hạch toán Việc hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán quản trị cho quyết định ngắn hạn cần cung cấp thông tin chất lượng cao với chi phí hợp lý, đồng thời đảm bảo tính khả thi và đáp ứng nhu cầu thông tin của người sử dụng.
3.2 CÁC GIẢI P HÁP HO ÀN THIỆN TỔ CHỨC HỆ THỐNG THÔ NG TIN KẾ TO ÁN Q UẢN TRỊ CHO VIỆC RA Q UYẾT ĐỊN H NGẮN HẠN TẠI CÁC DO ANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TR ÊN ĐỊA BÀN TỈN H NAM ĐỊNH
3.2.1 Hoàn thiện mô hình hệ thống thông tin k ế toán quản trị
Tùy thuộc vào loại hình kinh doanh, quy mô hoạt động, quy trình công nghệ sản xuất và đặc điểm tổ chức, các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa tại tỉnh Nam Định có thể xây dựng hệ thống thông tin kế toán quản trị theo mô hình kết hợp, nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý hiệu quả.
Sơ đồ 3.1: Mô hình tổ chức hệ thống thông tin KTQT dạng kết hợp
Theo mô hình tổ chức hệ thống thông tin kế toán, bộ phận kế toán quản trị (KTQT) và kế toán tài chính (KTTC) được kết hợp trong bộ máy kế toán chung Bộ phận KTQT sử dụng thông tin từ KTTC để thu thập, xử lý và lượng hóa dữ liệu theo chức năng của mình Đối với các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa tại tỉnh Nam Định, nơi nhận thức về kế toán quản trị chưa đầy đủ, đây là cách tổ chức thông tin hợp lý nhất.
Để nâng cao hiệu quả quản lý và kế toán trong doanh nghiệp, cần thiết phải tăng cường đào tạo và bồi dưỡng kiến thức kinh tế quốc tế cho cán bộ quản lý và nhân viên kế toán Doanh nghiệp nên áp dụng chính sách đào tạo lại và nâng cao nghiệp vụ chuyên môn nhằm giúp đội ngũ nhân viên kế toán thích ứng tốt hơn với yêu cầu của nền kinh tế thị trường.
3.2.2 Hoàn thiện tổ chức thu thập thông tin kế toán
Thông tin đầu vào của doanh nghiệp bao gồm dữ liệu quá khứ và tương lai, được thu thập dựa trên mục đích sử dụng để tạo ra các báo cáo phù hợp với nhu cầu thông tin của các đối tượng khác nhau Để hoàn thiện nội dung thông tin, các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa tại tỉnh Nam Định cần tổng hợp và trình bày nguồn thông tin thu thập qua bảng biểu cụ thể.
Bảng 3.1: Bảng tổng hợp nội dung và nguồn thông tin thu thập
Mục đích Nội dung thông tin thu thập
Bên trong DN Bên ngoài DN
Thông tin phục vụ lập kế hoạch
- Các bản dự toán về hàng tồn kho, lao động, chi phí sản xuất, thu-chi… của kỳ trước
- Kế hoạch sản xuất kinh doanh
- Văn bản quy hoạch phát triển các DNSX có quy mô nhỏ và vừa
- Các chương trình, dự án liên quan đến các DNSX có quy mô nhỏ và vừa
- Bảng khảo sát điều tra nhu cầu thị trường tiêu dùng
- Báo cáo khảo sát giá cả yếu tố đầu vào như nguyên liệu, lao động, máy móc thiết bị, giá cả xăng dầu, điện…
- Thông tin về công nghệ khai thác, chế biến sản phẩm hiện đại