Xuất phát từ động cơ xây dựng một Tổ quốc hùng cường không chỉ về kinh tế, về quân sự, mà còn về một cuộc sống tinh thần có đầy đủ nhân – nghĩa và trí – dũng , các vua chúa Việt Nam và [r]
Trang 1Văn hiến Thăng Long và truyền thống yêu nước, yêu người
qua bước ngoặt lịch sử của Chiếu dời đô
I Từ đỉnh cao của thời nay nhìn lại thời xưa
Không bao lâu nữa, nhân dân cả nước sẽ cùng Hà Nội đầy niềm tự hào kỉ niệm ngàn năm lịch sử
của Thủ đô văn hiến
Biết bao nhiêu thành tựu vẻ vang, bao nhiêu chiến công rực rỡ cùng với bao nhiêu di sản quý báu được giữ lại cho đến hôm nay đã làm nổi bật lên những nét đặc sắc nhất của văn hiến Thủ đô, nghĩa
là của văn
hóa và con người Thăng Long
- Hà Nội
Ngàn năm lịch sử là một chuỗi dài những gian nan thử thách mà con người Việt Nam trên mảnh đất của Thủ
đô này đã vượt qua để bảo vệ đất nước, để xây dựng Thủ đô và để phát triển bản thân mình
Khép lại lịch sử vẻ vang của ngàn năm cũ để Thủ đô bước vào ngàn năm đang tới, với những hứa hẹn cực kì lớn lao và những khó khăn chưa từng có
Thời đại mới đang đặt ra những vấn đề gì trước dân tộc ta hôm nay, đang đòi hỏi những gì ở trí tuệ,
ở phẩm chất, ở tài năng của con người Thủ đô bước vào những cuộc chiến đấu mới?
Quá khứ đã để lại ở con người Hà Nội hôm nay những gì trong toàn bộ hành trang đi vào những
chặng đường mới của dân tộc, của cả loài người và của Thủ đô chúng ta? Tiến lên hay tụt hậu, thất
bại hay thành công, điều đó phụ thuộc không chỉ ở đường lối sáng suốt của Đảng và nhà nước, ở
trung ương và ở thành phố mà quan trọng hơn nữa là ở chính con người Thủ đô Đó là những con người kế thừa truyền thống lâu đời của dân tộc và từ những thành tựu vẻ vang từ ngay mảnh đất mang tên Thăng Long - Hà Nội Đó cũng là những con người phải có đầy đủ bản lĩnh để làm tròn mọi nhiệm vụ mà Tổ quốc Việt Nam và Thủ đô đang đặt trên vai họ
Chúng ta hiểu vì sao Đảng bộ và chính quyền Hà Nội đã đặc biệt quan tâm và khuyến khích giới trí thức, các nhà khoa học, các văn nghệ sĩ đi sâu vào tìm hiểu, khai thác mặt tích cực và khắc phục mặt yếu kém mà lịch sử để lại ở con người Hà Nội hôm nay, góp phần đưa Thủ đô và cả nước tiến
nhanh và vững chắc trên con đường dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh Mong muốn rằng con người của Hà Nội phải là những con người văn minh, thanh lịch, hiện đại,
thành phố yêu cầu các nhà khoa học phải phát hiện ra những gì đang thúc đẩy và những gì đang cản trở con người Hà Nội đạt tới những tiêu chuẩn nói trên? Vấn đề đặt ra là phải tìm hiểu con người Thăng Long - Hà Nội không chỉ ở ngày nay mà cả ở những di sản mà quá khứ còn để lại ở trong họ
và phải dự báo được chỗ mạnh và chỗ yếu của họ trước thử thách của ngày mai
Tìm hiểu con người Hà Nội là một sự tiếp cận mang tính liên ngành từ các góc nhìn: sử học, dân tộc học, khảo cổ học, kinh tế học, xã hội học, cùng với sự khái quát sâu sắc của triết học Tuy nhiên, cũng còn cần phải tận dụng sự tiếp cận của văn học nghệ thuật từ chiều sâu tâm hồn của con người Hà Nội
Không có con người Hà Nội như một kiểu người đặc thù, tách khỏi khối cộng đồng dân tộc Việt Nam Con người Hà Nội chỉ là con người Việt Nam sinh sống, phát triển và tự khẳng định mình trên một mảnh đất của Tổ quốc gọi là Thăng Long và Hà Nội Phẩm chất của họ chính là phẩm chất Việt Nam được vận động và biến đổi trong hoàn cảnh chung của đất nước và hoàn cảnh đặc thù của
Giáo sư - Anh hùng Lao động Vũ Khiêu tại Hội nghị phối hợp với các tỉnh,
thành phố tuyên truyền trên Website 1.000 năm Thăng Long.
Trang 2địa phương Phẩm chất của họ vừa mang tính phổ biến của dân tộc, vừa mang tính đặc thù của bản thân họ
Cũng như mọi người Việt Nam, con người Hà Nội không có những phẩm chất bẩm sinh, những phẩm chất mà trời đất đã dành riêng cho họ từ thuở lọt lòng Phẩm chất của họ không mang tính ngẫu nhiên mà mang tính lịch sử Những đặc trưng của họ được hình thành trong một môi trường thiên nhiên và xã hội nhất định Họ là sản phẩm của hoàn cảnh của chính họ Đúng là hoàn cảnh đã tạo ra con người và con người lại tái tạo hoàn cảnh Hoàn cảnh và con người tác động lẫn nhau, cùng phát triển trong chiều dài lịch sử
Vì lẽ trên, không thể chỉ xuất phát từ những sự kiện lịch sử lớn lao hoặc từ những hiện tượng diễn
ra hàng ngày mà suy luận về con người Hà Nội, mà đánh giá họ một cách chủ quan, mà gán cho họ một cách tùy tiện những phẩm chất này hay phẩm chất khác
Cho đến nay, trên sách báo, đã từng có nhiều lần ta tự đánh giá về ta Người ngoại quốc qua nhiều lần tiếp xúc với chúng ta cũng đã đánh giá về chúng ta Tuy nhiên, mọi nhận định sẽ chỉ là thuần túy tư biện nếu như tách con người Việt Nam hoặc con người Hà Nội ra khỏi hoàn cảnh lịch sử của họ
Những nhận xét của các học giả từ xưa đến nay về con người Việt Nam, con người Hà Nội chứa đựng nhiều nhân tố hợp lí cần được xem xét và phân tích trên cơ sở khoa học Ở đây, chúng tôi thấy cần thiết nhìn lại những nhận định về con người mà nhiều nhà tư tưởng lớn của nhân loại đã nêu lên trong lịch sử ở cả phương Đông và phương Tây
Khổng Tử đã từng nói những phẩm chất tốt đẹp nhất về con người là nhân, trí, dũng Điều này có nghĩa là con người phải có tình yêu thương đối với mọi người trong gia đình và xã hội (nhân), phải
có đầu óc sáng suốt (trí)và một ý chí mãnh liệt để thực hiện những mong muốn tốt đẹp của mình (dũng) Ba điều trên phù hợp với ba đức tính mà nhiều học giả nêu lên như mục tiêu phấn đấu của con người: tình cảm, trí tuệ và ý chí Cũng có thể phân tích những điều đó như mối quan hệ biện chứng giữa trái tim, khối óc và bàn tay.
Cũng có thể xuất phát từ học thuyết Mác-Lênin về hình thái kinh tế xã hội mà tìm hiểu con người
ở lực lượng sản xuất, ở quan hệ sản xuất và ở kiến trúc thượng tầng của xã hội Điều này khiến ta
có thể xem xét con người trên ba lĩnh vực: trong quan hệ với thiên nhiên, trong quan hệ với xã hội
và trong đời sống tinh thần của bản thân Giản đơn hơn, có thể tìm hiểu con người ở các mặt sinh hoạt vật chất và tinh thần của họ mà cụ thể như ta thường nói là: lao động, tình thương và lẽ phải
Ba mặt nói trên chính là ba lĩnh vực hoạt động cơ bản của con người trong tác động qua lại giữa con người trong hoàn cảnh thực tế của họ
Chúng tôi nghĩ rằng, chỉ có xuất phát từ những lĩnh vực hoạt động cơ bản nói trên mới có thể thấy được những phẩm chất bền vững tạo nên bản sắc của dân tộc Việt Nam, của con người Hà Nội Con người Việt Nam nói chung, trong đó có con người Hà Nội, chỉ có thể được hiểu một cách sâu sắc khi đặt họ trong điều kiện sinh hoạt vật chất và tinh thần của họ Lịch sử đã đặt ra trước họ muôn ngàn khó khăn và thử thách, đòi hỏi họ phải có phẩm chất để vượt qua hoàn cảnh khó khăn
để tồn tại Những phẩm chất đó là sản phẩm đồng thời là điều kiện tất yếu để họ sống được và phát
triển được trên lãnh thổ của họ
Bè bạn chúng ta cũng như bản thân chúng ta từng ca ngợi dân tộc Việt Nam và con người Hà Nội
với đặc trưng là yêu nước và thương người, là anh hùng và bất khuất, là mưu trí và sáng tạo,
là thanh lịch và văn hiến…
Nhận định đó là đúng, nhưng những phẩm chất đó không phải chúng ta sinh ra đã có mà là sự kết tinh từ xương máu, mồ hôi và nước mắt của bao nhiêu thế hệ mới có được và trở thành những truyền thống bền vững trong bản sắc dân tộc
Chính vì những lẽ trên mà chúng ta tìm hiểu con người Hà Nội trong quá khứ lâu đời của dân tộc
và từ bước ngoặt lịch sử của Chiếu dời đô.
II Từ truyền thống lâu đời của dân tộc
1 Trong quan hệ với thiên nhiên
Chọn Thăng Long làm Thủ đô của cả nước, Lý Công Uẩn đã từ toàn bộ lãnh thổ của Tổ quốc chọn lấy một mảnh đất có ưu thế nhất, thuận lợi nhất để xây dựng một trung tâm đầu não của cả dân tộc
về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa
Sự thuận lợi của thiên nhiên không thể tự nó đem lại phồn vinh cho đất nước, no ấm và hạnh phúc của con người Yếu tố quyết định vẫn thuộc về con người Đấy là con người Thăng Long gồm những người sống trên mảnh đất này và cả những con người từ nơi khác đến
Trang 3Suốt một ngàn năm lịch sử, con người Thăng Long đã xây dựng Thủ đô ngày một rộng lớn và sạch đẹp Quá trình con người cải tạo môi trường thiên nhiên cũng là quá trình con người cải tạo bản thân mình Sự thành công của con người Thăng Long gắn liền với những công sức phi thường của
họ trong lao động sáng tạo và với những phẩm chất tinh thần mà họ đã tiếp thu từ quá khứ lâu đời của ông cha họ
Trước Thăng Long hàng chục thế kỉ, con người Việt Nam từ thời vua Văn Lang, Âu Lạc đã phải vượt qua những thử thách mà môi trường thiên nhiên đặt ra trước sự tồn vong của họ
Để sống được và trụ lại trên mảnh đất này, con người Việt Nam phải đương đầu với một môi trường thiên nhiên vừa hào phóng, vừa khắc nghiệt
Hàng năm, con sông Hồng đã rải hàng trăm triệu mét khối phù sa trên đồng bằng Bắc
Bộ, đem lại lớp màu mỡ vun đắp cho lúa, ngô, khoai, sắn… Nhưng cũng con sông Hồng ấy lại tạo ra những trận lụt khủng khiếp cuốn sạch đi những mùa màng, nhà cửa, lợn gà… đem lại chết chóc và đói rét.
Sông Hồng chở nặng phù sa - Ảnh: Baovietnam.vn
Khí hậu Việt Nam, với lượng mưa và sức nóng của vùng nhiệt đới, đã tạo ra đất nước bốn mùa
xanh tươi Khí hậu ấy đã thường xuyên đem lại sức khỏe cho nhân dân Nhưng cũng chính khí hậu
ấy lại tạo ra những ngày mưa rào nắng gắt, có những lúc rét đến tận xương, có những lúc oi bức không thể chịu được Cũng chính khí hậu ấy đem lại dịch tễ, sâu bệnh, cướp đi bao nhiêu sinh mệnh của người và vật, phá hoại cây cối, mùa màng
Đối phó với tình hình trên, người Việt Nam thời xưa đã phải bỏ ra rất nhiều công sức mới có thể sống được trên mảnh đất của mình để sản xuất, xây dựng và phát triển Không phải nhân dân ta sinh ra đã có sẵn đức tính kiên cường bất khuất như thế mà chỉ vì muốn sống được thế thì phải kiên cường bất khuất
Xứ nhiệt đới này còn đem lại rất nhiều bệnh tật, mà chính nhân dân ta phải tự mình giải quyết lấy Những bệnh sinh ra từ xứ này không hoàn toàn giống những bệnh sinh ra ở vùng ôn đới và hàn đới, hoặc ở một xứ nhiệt đới nào khác Những thuốc hiệu nghiệm ở những nơi trên chưa chắc đã hiệu nghiệm ở Việt Nam Để đương đầu với cái chết do thời tiết gây ra, ông cha ta đã rất cố gắng nghiên cứu, học hỏi những thành tựu y học cùng các loại thuốc chữa bệnh và phương pháp chữa bệnh của người Trung Quốc và các nước khác, nhưng chủ yếu là phải tự mình nghiên cứu tình hình bệnh tật của nước mình mà tìm ra những cách thức chữa bệnh ở nước mình Chính vì thế mà lịch sử đã để lại trong dân gian Việt Nam một kho tàng vô giá về y học cổ truyền Cũng chính vì tích cực đối phó
với những tác hại của thiên nhiên mà y học dân tộc đã ngày càng phát triển, với những danh y uyên
bác như Tuệ Tĩnh và Lãn Ông, trở thành một niềm tự hào của nền văn hiến Việt Nam
Trong quan hệ với thiên nhiên, con người Việt Nam đã tạo ra cho mình những đức tính tốt đẹp, không ngừng được nối tiếp và nâng cao từ thế hệ này qua thế hệ khác
Có thể nêu lên mấy đặc điểm sau đây:
Trước hết là nghị lực phi thường trước những thử thách của thiên nhiên Con người Việt Nam biết
phát huy cao nhất nội lực của bản thân và của cả cộng đồng để đắp đê, xẻ đập, ngăn sông, lấn biển
và chống lại những tai nạn thường xuyên của lũ lụt, hạn hán Phải mất bao nhiêu công sức mới có
Trang 4cơm ăn áo mặc, nên đối với con người Việt Nam, yêu lao động, quý trọng người lao động và biết tiết kiệm là những truyền thống tất yếu của cả dân tộc Cũng vì thế mà con người Việt Nam khinh ghét những kẻ chây lười, ăn bám, đòi hỏi họ phải tay làm hàm nhai Trong xã hội Việt Nam, những kẻ tham ô, lãng phí, làm giàu bất chính bao giờ cũng bị dư luận xã hội lên án.
Cùng với ý thức lao động đó là thái độ ứng xử có văn hóa với thiên nhiên Con người Việt Nam
luôn luôn gắn bó với thiên nhiên như máu thịt của mình Với ý chí kiên cường và bàn tay sáng tạo, con người Việt Nam đã cải tạo đất nước, làm cho nó ngày thêm phong phú và tươi đẹp Thiên nhiên
trở thành một tác phẩm thẩm mĩ của con người Cách thức xây dựng nhà ở, nuôi cá và nuôi chim…
là biểu hiện sinh động của quan hệ văn hóa với thiên nhiên, tạo nên ý thức sâu sắc của dân tộc đối
với môi trường thiên nhiên Lịch sử Việt Nam từ lâu đời đã chứng minh truyền thống tốt đẹp đó của dân tộc Cái đẹp của chùa, đền, lăng, miếu không chỉ ở vật liệu xây dựng như gỗ, đá, gạch, ngói, cũng không chỉ ở tài năng của thợ giỏi mà ở bức tranh toàn cảnh của thiên nhiên trong đó có công trình kiến trúc
Tình yêu thiên nhiên ngày càng trở thành truyền thống của nhân dân Việt Nam và thú vui cây cảnh không chỉ nổi lên rất đậm nét ở những nhà văn Việt Nam, những nhà thơ, nhà triết học mà còn trở thành thú vui thanh cao của đông đảo những con người Hà Nội
Coi thiên nhiên như máu thịt của mình, con người Việt Nam đã từ bao đời để vào đó cả tâm huyết
và tài năng, biến môi trường thiên nhiên thành Tổ quốc thiêng liêng mà đời này qua đời khác tiếp nối nhau bảo vệ từng tấc đất Chủ nghĩa yêu nước vì thế cũng sớm bắt đầu cùng với tình yêu thiên
nhiên như thế đó
2 Từ ý thức xây dựng và bảo vệ chủ quyền dân tộc
Từng bước khắc phục những thử thách của thiên nhiên, dân tộc Việt Nam cũng từng bước xây dựng
Tổ quốc mình về mọi mặt kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa Bao nhiêu mồ hôi, máu và nước mắt
đã đổ trên mảnh đất này Con người Việt Nam không chỉ phải đối phó với thiên nhiên mà còn phải
xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Chủ quyền lãnh thổ trở thành điều thiêng liêng nhất trong
đời sống của con người Việt Nam
Một thành tựu tiêu biểu cho sự phát triển rất sớm của Việt Nam: đó là nhà nước Văn Lang thời Vua
Hùng Sự ra đời của một nhà nước cũng là sự khẳng định chủ quyền trên một lãnh thổcõi bờ sông
núi, của phong tục tập quán, của nền văn hóa đã định hình Lịch sử không để lại nhiều chi tiết cụ
thể về nhà nước thời ấy, nhưng suốt bốn ngàn năm, niềm tự hào về nhà nước ấy đã ăn sâu vào tâm khảm của dân tộc ta từ đời này qua đời khác
Năm 40 khi nổi dậy phát động cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Hai Bà Trưng đã đọc lời thề lúc
ra quân ở Hát Môn: “Một xin rửa sạch quốc thù Hai xin khôi phục nghiệp xưa họ Hùng” Cái nghiệp xưa họ Hùng chính là “Lĩnh Nam riêng một triều đình”, nhà nước đầu tiên của Tổ quốc độc
lập Nghiệp xưa họ Hùng chính là sự nghiệp dựng nước mà Hồ Chí Minh, tháng 9-1945 đã nói
trước đền vua Hùng: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy
nước”.
Dưới thời vua Hùng, nhân dân nước Văn Lang đã sớm ổn định về mặt xã hội, cùng nhau đứng vững trên mảnh đất của mình để sản xuất, tổ chức đời sống và xây dựng văn hóa Nước Văn Lang với ý thức về chủ quyền dân tộc, đã đánh tan cuộc xâm lược của phương Bắc do Tần Thủy Hoàng phát động
Đoàn kết chiến đầu với tinh thần dũng cảm và sáng tạo, người dân Âu Việt và Lạc Việt đã thống nhất với nhau thành nước Âu Lạc dưới sự lãnh đạo của An Dương Vương Thục Phán Tiếc rằng, do một số sai lầm của quốc vương Âu Lạc về đường lối dựng nước và giữ nước, Việt Nam đã bị đặt dưới ách đô hộ của nhiều triều đại Trung Quốc
Nguy cơ diệt vong kéo dài suốt một ngàn năm đã liên tục đặt dân tộc ta trước hai con đường: hoặc
tự xóa bỏ mình với tư cách là một dân tộc, xóa sạch ngôn ngữ, phong tục, tập quán và mọi đặc tính của dân tộc, hoặc là quyết tâm bền bỉ chiến đấu đời này qua đời khác, nổi dậy bị đàn áp, lại tiếp tục nổi dậy cho đến thắng lợi cuối cùng
Dân tộc Việt Nam đã chọn con đường thứ hai Sự lựa chọn này là dứt khoát Đó là tư tưởng lớn chi
phối ý nghĩ và hành vi của mỗi người, là điểm nổi bật trong truyền thống văn hóa Việt Nam Tư tưởng đó là động lực thúc đẩy nhân dân Việt Nam sống khổ cực dưới ách áp bức của kẻ ngoại xâm,
đã liên tục đấu tranh nhằm giải phóng đất nước Kiên trì và bất khuất, nhân dân Việt Nam tìm mọi cách để giành cho được độc lập dân tộc và chủ quyền đất nước
Khởi nghĩa Hai Bà Trưng mở đầu những trang oanh liệt đấu tranh giành độc lập tự
do Sau ba năm giành lại chính quyền, cuộc khởi nghĩa đã tỏa sáng suốt một nghìn
Trang 5năm bị đô hộ Ngọn lửa anh hùng nhen lên từ cuộc khởi nghĩa ấy đã luôn luôn bùng cháy chẳng bao giờ tắt.
Đền thờ Hai Bà Trưng ở Tiền Phong, Mê Linh, Hà Nội Ảnh:
dantri.vn
Lịch sử mãi mãi nêu lên sự nghiệp chiến đấu anh hùng của dân tộc với những tên tuổi bất diệt của những Triệu Trinh Nương, Lý Bôn, Triệu Quang Phục, Mai Thúc Loan, Khúc Thừa Dụ, Dương Đình Nghệ Những cuộc nổi dậy của Việt Nam đã nhiều lần làm gián đoạn sự thống trị của quân xâm lược bằng việc thành lập những chính quyền độc lập tồn tại từ 3-4 năm đến 5-6 chục năm Cuối cùng, với chiến thắng Bạch Đằng, Ngô Quyền đã cùng quân dân Việt Nam chấm dứt sự cai trị kéo dài của quân xâm lược, vĩnh viễn chôn vùi sự hung tàn và cường bạo của chúng dưới dòng sông lịch sử và mở ra từ đấy kỉ nguyên rực rỡ của văn minh Đại Việt
Ý nghĩa vĩ đại của chiến thắng Bạch Đằng là ở chỗ, nó đã chứng minh một sức sống bất diệt Đó
là quyết tâm chiến đấu đến cùng để giành lại độc lập và tự do, giữ lấy toàn vẹn lãnh thổ thiêng
liêng bất khả xâm phạm của dân tộc Ý thức ấy về chủ quyền dân tộc là một sức mạnh tinh thần
ngày càng được củng cố và nâng cao qua chiều dài lịch
sử ở các dân tộc Việt Nam và ở con người Hà Nội
3 Từ cuộc sống cộng đồng của nhân dân Việt Nam
Không ai phủ nhận được ở dân tộc Việt Nam lòng yêu
nước thương người, ý thức cộng đồng trong cuộc sống.
Những phẩm chất nói trên cũng không phải ngẫu nhiên
mà là sản phẩm lâu đời của hoàn cảnh xã hội và lịch sử
của Việt Nam Con người Hà Nội sau này chỉ là tiếp nối
và không ngừng nâng cao những phẩm chất ấy trong
hoàn cảnh mới mà thôi
Trước hết phải nói rằng sự gắn bó giữa người và người là
một đặc điểm của nhân loại, nhưng ở Việt Nam, sự gắn
bó ấy còn là sản phẩm đặc thù của hoàn cảnh kinh tế xã
hội Việt Nam, trở thành điều kiện sống còn và sức mạnh
trường tồn của dân tộc trước mọi thử thách
Xây đắp hàng vạn cây số đê và thường xuyên chống lụt,
chống hạn, rồi sau đó là đẩy mạnh việc khai hoang,
không ngừng mở rộng diện tích canh tác cho đất nước
Sự nghiệp vĩ đại đó sao có thể thành công nếu như không có sức mạnh của cộng đồng?
Thường xuyên phải chống lại với quân xâm lược vô cùng lớn mạnh, nếu không có tinh thần lấy đại
nghĩa thắng hung tàn, toàn dân chống giặc, cả nước một lòng thì sao có thể tồn tại?
Về truyền thống cộng đồng dân tộc, chúng ta cần thấy sự tồn tại lâu đời của công xã nông thôn Thực tế này đã có tác dụng củng cố tính cộng đồng làng xã, nhưng trong quá trình phát triển lịch
sử, nó cũng bộc lộ nhiều nhược điểm gắn liền với sự nghèo khó của quần chúng nhân dân và sự trì trệ của đất nước Chúng tôi đã có dịp phân tích kĩ về đặc điểm này trong một cuốn sách khác Nay chỉ xin nói thêm một chút về vai trò quan trọng của nó trong việc hình thành những phẩm chất đạo
DANH SÁCH CÁC CHƯƠNG
Chương 1 Văn hiến Thăng Long và truyền thống yêu nước, yêu người qua bước ngoặt lịch sử của Chiếu dời đô;
Chương 2 Văn hiến Thăng Long trong
sự nghiệp anh hùng dân tộc ; Chương 3 Văn hiến Thăng Long qua khoa học và giáo dục;
Chương 4 Văn hiến Thăng Long qua văn học nghệ thuật;
Chương 5 Văn hiến Thăng Long trong cuộc sống thường ngày;
Chương 6 Văn hiến Thăng Long qua giao lưu giữa Thủ đô với toàn quốc và thế giới; Chương 7 Tóm lược các bước thăng trầm của văn hiến Thăng Long trong thời kỳ phong kiến;
Trang 6đức của con người Việt Nam trong quan hệ hàng ngày, trước hết là tình cảm cộng đồng giữa người
với người.
Làng xã Việt Nam đã phát huy được ý thức tập thể, tinh thần chủ động và sáng tạo của mọi người.
Tính cộng đồng được củng cố bền chặt trong những phong tục tập quán kéo dài từ đời này qua đời khác Những thể lệ về canh tác ruộng chung, những giao ước trong việc giúp đỡ nhau xây dựng nhà
cửa, những quy tắc trong sinh hoạt gia đình, làng xóm… vừa là sản phẩm của tính cộng đồng Việt Nam, vừa là nhân tố kết cấu của nó.
Ở Việt Nam, tính cộng đồng làng xã đã sớm được mở rộng thành tính cộng đồng dân tộc Chính vì
thế mà mối quan hệ mật thiết giữa những dân cư trên dải đất Việt Nam ngày càng mật thiết hơn, tinh thần đoàn kết dân tộc và ý thức về Tổ quốc không ngừng nâng cao
Lãnh thổ Việt Nam bao gồm rất nhiều dân tộc sống rải ra trên mọi miền đất nước Họ có nhiều điểm khác nhau về sinh hoạt hàng ngày, về tập quán, tín ngưỡng, ăn mặc, nhà ở và về sinh hoạt nghệ thuật với những hình thức rất đa dạng của điệu múa, cung đàn, lời ca, giọng hát…
Nhưng tất cả những khác biệt đó đã không làm giảm sút tinh thần đoàn kết dân tộc và ý chí thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam Nhân dân Việt Nam tin tưởng mãnh liệt rằng mọi người trên dải đất này đều thuộc một nguồn gốc, đều là anh em một nhà, mỗi tấc đất của Tổ quốc đều là máu thịt của dân tộc bao gồm tất cả các tộc người Tinh thần ấy ăn sâu vào tâm lí chung, xây dựng nên một tính cộng đồng rất chặt chẽ về kinh tế, về lãnh thổ, ngôn ngữ và mục tiêu chiến đấu chung nhằm giữ nước và dựng nước
Lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam trước hết là tình cảm sâu sắc giữa nhân dân lao động Việt
Nam Tất cả những vị anh hùng dân tộc khi nổi dậy và chiến đấu, đều xuất phát từ lòng yêu nước
thương dân, đều xúc động sâu sắc trước cảnh đồng bào mình bị lầm than, đói rét, tù đày, hãm hại Lòng yêu nước Việt Nam, với cơ sở vững chắc và tình yêu thương gắn bó giữa nhân dân lao động,
chính là một chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc, vượt ra khỏi sự hạn chế ranh giới của một nước Nó xa lạ
với những thành kiến, hận thù dân tộc trong quan hệ giữa dân tộc này với dân tộc khác
Mỗi lần đánh thắng quân xâm lược, thì ở Hai Bà Trưng thuở trước cũng như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung sau này, chủ nghĩa nhân đạo Việt Nam đã bừng sáng lên trong cách ứng xử bao dung đại lượng, đã tha tội cho hàng chục vạn tù binh để họ được an toàn trở về nước với vợ con
Tính cộng đồng dân tộc biểu hiện rất sinh động và phong phú trong cuộc sống hàng ngày của nhân
dân Việt Nam Đó là nhiệt tình chia sẻ với nhau mọi niềm vui và nỗi buồn Đó cũng là cùng vui với nhau mỗi khi có lễ hội hoặc khi có đám cưới, ngày sinh, ngày mừng thọ, ngày thi đỗ, dịp làm nhà mới Đó là cùng buồn với nhau và nâng đỡ nhau mỗi khi có điều bất hạnh
Thái độ niềm nở, tinh thần hiếu khách của con người Việt Nam mà biểu hiện rõ nhất ở con người Thăng Long – Hà Nội, không chỉ bộc lộ trong phạm vi họ hàng, thôn xóm mà còn mở rộng ra đối với toàn dân và cả người nước ngoài
Tình cảm sâu sắc đối với cộng đồng đi liền với nghĩa vụ Mọi người cùng nhau đánh đuổi kẻ thù
xâm lược, để lao động, sáng tạo, xây dựng cuộc sống độc lập và hạnh phúc Sức mạnh của cá nhân kết tụ lại trong sức mạnh của cộng đồng Sức mạnh của cộng đồng thâm nhập vào sức mạnh cá nhân, đem lại cho cá nhân ý chí và niềm tin Vì lợi ích của cá nhân và cộng đồng, người Việt Nam đặt lợi ích cộng đồng cao hơn lợi ích cá nhân, lợi ích Tổ quốc cao hơn lợi ích gia đình Mỗi cá nhân đều cảm thấy tình cảm sâu sắc nhất và hạnh phúc cao nhất của mình là được sống giữa tình yêu thương của gia đình, làng xã và Tổ quốc Trong cuộc sống của con người Việt Nam, đau khổ nhất
là phải tách ra khỏi cuộc sống của cộng đồng
Tóm lại yêu thương, sáng tạo và dũng cảm là tinh hoa của những truyền thống dân tộc Đó là
những truyền thống mà Thăng Long đã tiếp thu và nâng cao trong văn hiến của mình
III Chiếu dời đô mở đầu cho sự hình thành những đặc trưng nổi bật của văn hóa và con người Hà Nội
Trang 7Chiếu dời đô
Tháng bảy năm Canh Tuất (1010), vua Lý Thái Tổ dời thủ đô từ Hoa Lư về Thăng Long Đây không phải là cuộc dời đô thông thường mà là một sự kiện vô cùng lớn lao của cả dân tộc
Ở Việt Nam, 18 đời Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu An Dương Vương và sau này là Ngô Quyền ở Cổ Loa Hai Bà Trưng ở Mê Linh Lý Nam Đế lấy địa điểm của Hà Nội hôm nay làm thủ
đô cho nước Vạn Xuân ngày trước Những thủ đô ấy của Tổ quốc độc lập là những địa danh mang
ý nghĩa thiêng liêng trong lòng mỗi người Việt Nam
Dưới thời Bắc thuộc, bao nhiêu địa điểm, địa danh đã được kẻ xâm lược chọn làm thủ phủ cho chính quyền đô hộ Việc này cũng chẳng có ý nghĩa gì nhiều lắm đối với nhân dân ta Dù đó là Long Biên, là Luy Lâu, là Đại La, là Tống Bình, hay Đông Quan thì nhân dân ta vẫn sống trong cảnh nô dịch và đói rét Mọi sự thay đổi địa danh và địa điểm nói trên không thể nào đem so sánh được với việc dời đô của Tổ quốc ta từ Hoa Lư đến Thăng Long
Chọn Thăng Long làm thủ đô của toàn quốc là sự sáng suốt của vua nhà Lý Đây là bước ngoặt lớn trong lịch sử của đất nước: là sự mở đầu cho thời đại độc lập và phồn vinh, là đỉnh cao của tâm hồn
và khí phách của con người Việt Nam
Sự lựa chọn ấy được Lý Công Uẩn phân tích rõ ràng trong Chiếu dời đô
a Thăng Long thực sự là một trung tâm của đất nước Chiếu dời đô nhận định: “Thành Đại La ở
nơi trung tâm trời đất, được cái thế rồng cuộn, hổ ngồi… đã đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi”.
Thăng Long là mảnh đất rất thuận lợi cho việc cư trú của nhân dân: “Dân cư khỏi chịu cảnh khổ
ngập lụt”.Thăng Long là một môi trường thiên nhiên rất thích hợp cho sinh hoạt và canh tác của
con người Chiếu dời đô nhấn mạnh: “Muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi”.
b Thăng Long là một thắng địa đúng là kinh đô bậc nhất của nước ta Chiếu dời đô viết: “Thật là
chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là Kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”.
Trang 8Với những nhận định nói trên, Chiếu dời đô không chỉ làm một việc giản đơn là công bố ý định của nhà vua để hỏi ý kiến của quần thần Chiếu dời đô còn thể hiện sự suy nghĩ sâu sắc, tính toán lâu dài của một ông vua anh hùng mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu.
c Dời đô về Thăng Long là sự lựa chọn, phát huy thuận lợi của cả thiên thời địa lợi và nhân hòa.
Về mặt địa lợi, sử gia Ngô Thì Sĩ đã phân tích rất rõ: “Đất Long Đỗ là nơi Cao Biền đóng ở đấy,
núi Tản Viên chống vững một cõi, sông Phú Lương như hào trời sinh ra, ngàn dặm bằng phẳng, trăm họ giàu có; phía tây thông với Sơn Tây, Tuyên Hưng; phía bắc thấu đến Ninh Sóc, Kinh Bắc Miền đông nam thì vận chuyển bằng thuyền, miền Cần Xương thì liên tục bằng trạm, là nơi trung tâm của nước bốn phương chầu về Núi là vạt áo che, sông là dải đai thắt, sau lưng là sông, trước mặt là biển Địa thế hùng mạnh mà hiểm, rộng mà dài, có thể làm cho nơi vua ở hùng tráng, ngôi báu vững bền Hình thế nước Việt thật không nơi nào được như nơi này”.
Về mặt thiên thời: Lý Công Uẩn đã nắm được chính xác và kịp thời yếu tố thiên thời.
Thiên thời thuận lợi cho Lý Công Uẩn chưa phải đã thuận lợi cho các triều đại trước Nhìn lại 1.000
năm nước ta bị nước ngoài chiếm đóng và bị biến thành quận huyện của họ, bao nhiêu cuộc nổi dậy trước sau đều bị dập tắt Cuộc chiến đấu giành độc lập khi thầm lặng, khi vùng lên đều phải dựa vào sự che chở của nhân tâm và sự an toàn của địa điểm Nền độc lập được giành lại từ Ngô Quyền nhưng chính dân tộc vẫn còn non yếu Để tự bảo vệ, người lãnh đạo đất nước không thể chỉ dựa vào lòng dũng cảm mà còn phải dựa vào đất đai hiểm trở để tranh thủ thời gian nhanh chóng nâng cao
được sức mạnh của binh cường, quốc phú.
Các triều đại Ngô, Đinh, Lê chưa lựa chọn Thăng Long làm thủ đô nhưng thực tế đã chuẩn bị đầy
đủ những điều kiện vật chất và tinh thần cho sự lựa chọn của Lý Công Uẩn Chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền đã là tiếng sấm báo hiệu cho thời đại mới của Việt Nam, nâng khí thế của dân tộc lên một đỉnh cao chưa từng có Đinh Bộ Lĩnh phá tan sự chia cắt đất nước của 12 sứ quân,
giương cao ngọn cờ độc lập và thống nhất, tự khẳng định là vịHoàng đế đầu tiên của một nước đã
trở thành hùng cường, một nước mà người đứng đầu không ở vị trí một Quốc vương mà ở tư thế
một Hoàng đế Sau đó, với sức mạnh dân tộc được nhân lên ở điều kiện vật chất và tinh thần, Lê
Hoàn đã đánh tan quân xâm lược nhà Tống và bắt sống chủ tướng của chúng là Hầu Nhân Bảo Những thành tựu rực rỡ của các triều đại trước, thực tế đã chuẩn bị những điều kiện cần thiết để Lý
Công Uẩn lên làm vua và có đủ thực lực cũng như dũng khí để dời đô.
Việc dời đô vì thế không chỉ là sáng kiến của Lý Công Uẩn mà còn thể hiện một thời cơ đã được chuẩn bị từ trước, một việc làm thuận với lẽ trời và lòng người
Về mặt nhân hòa và địa lợi:
Chủ trương dời đô đã được cả triều thần nhanh chóng hưởng ứng: “Bệ hạ vì thiên hạ mà lập kế dài
lâu, để trên cho cơ nghiệp to lớn được thịnh vượng, dưới cho nhân dân được giàu của, nhiều người, việc lợi như thế, ai dám không theo”.
Việc dời đô đã thực sự đáp ứng được lòng mong mỏi của nhân dân
Bao nhiêu năm nhân dân ta đã chiến đấu gian khổ Bao nhiêu máu và nước mắt đã từng đổ xuống
để giành độc lập thống nhất Không thể quên được nỗi nhục của ngàn năm mất nước, nhân dân đòi hỏi người lãnh đạo của mình phải nâng cao hơn nữa truyền thống anh hùng, phải nhanh chóng đưa đất nước trở thành hùng mạnh
Việc dời đô phù hợp với thiên thời, địa lợi, nhân hòa như thế nhất định mở ra một giai đoạn mới,
giai đoạn vươn lên với khí hồi sinh của con rồng Việt Nam
Vinh dự là người dân Việt Nam trên đất thủ đô, nhân dân Thăng Long đã lao động sáng tạo, chiến
đấu anh hùng, đóng góp vào sự nghiệp chung của dân tộc, tạo nên những nét đặc sắc của nền văn
hiến mang tên Thăng Long và những đặc trưng đầu tiên của con người Hà Nội sau này.
Lòng tự hào dân tộc là biểu hiện sâu sắc của chủ nghĩa yêu nước ở những con người của thủ đô Thăng Long:
Trong không khí rạo rực của dân tộc, triều đình nhà Lý đã ngay từ đầu đẩy mạnh công cuộc xây dựng và quản lí đất nước Nhà Lý cũng khẩn trương kiến thiết thủ đô mới, nhằm nhanh chóng phát huy sức mạnh và ảnh hưởng của thủ đô, vừa trực tiếp phục vụ cho việc xây dựng chính quyền trung ương, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển chung của cả nước
Nhân dân Thăng Long, những người đã ở đây từ trước và những người mới đến sau này ngày một đông, đều đầy nhiệt tình, không tiếc công của, hưởng ứng chủ trương của nhà vua Mọi người khâm phục sự lựa chọn của nhà vua và hào hứng khai thác những thuận lợi và khắc phục những khó khăn
mà thiên nhiên đã dành cho Thăng Long
Trang 9Với sự cố gắng chung của triều đình và nhân dân, Thăng Long đã sớm xứng đáng là vị trí trung tâm của đất nước, là đầu mối liên hệ thông thương về kinh tế và văn hóa trên toàn lãnh thổ, làm cơ sở cho công cuộc dựng nước và giữ nước
Mang hoài bão xây dựng một thủ đô vững vàng và giàu đẹp cho con cháu muôn đời, nhân dân ta thời nay đã tiến hành xây dựng Thăng Long với một ý thức tự cường dân tộc rất mạnh mẽ
Ngay từ đầu, với tư thế một quốc gia trên con đường cường thịnh, triều đình nhà Lý đã cho sửa sang lại thành quách, xây dựng nhiều lâu dài, chùa quán, đền miếu và các công trình văn hóa, hình thành nên một quần thể kiến trúc bề thế và ngoạn mục Những công trình của Thăng Long thời Lý đậm tính bác học và tính dân gian, biểu thị thái độ tự tin của cả một dân tộc
Cũng ngay từ đầu, triều đình nhà Lý đã cho đào hào khơi sông, mở mang chợ bến, nhằm phát triển giao thông vận tải, mở rộng giao lưu hàng hóa Những việc đó tạo cho Thăng Long có điều kiện thu hút những năng lực sáng tạo và tiếp thu những thành tựu về kinh tế và văn hóa của cả nước Do đó, những sản phẩm vật chất và tinh thần được kết đọng và nâng cao ở Thăng Long, lại từ Thăng Long
mà tỏa rộng ra toàn quốc
Với tinh thần tự lực tự cường, nhà Lý tạo mọi thuận lợi để thu hút sự nhập cư của nhân dân từ bốn phương, giúp dân xây dựng nhà cửa để dân được an cư, lạc nghiệp Phố phường ngày thêm đông đúc Kinh tế Thăng Long phát triển về nhiều mặt
Thăng Long ngày một lớn mạnh, dần dần trở thành một kinh kì bậc nhất Tuy phải trải qua những
bước thăng trầm của lịch sử và nhiều lần bị chiến tranh tàn phá, hoặc có khi không được coi là thủ
đô nữa, nhưng đất kinh kì bậc nhất này vẫn là một nơi địa linh nhân kiệt, một trung tâm kinh tế
-văn hóa có sức thu hút mạnh mẽ mà không một nơi nào trên đất nước ta có thể sánh được
Trên nền tảng kinh tế - xã hội đang được củng cố và phát triển, nhà Lý hết sức quan tâm xây dựng theo lối chính quy một bộ máy chính quyền hoàn chỉnh và thống nhất trong toàn quốc, từ trung ương đến các lộ, phủ, huyện và các đơn vị cơ sở Các hoạt động lập pháp của nhà nước được đẩy
mạnh Bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta là bộ Hình thư được ban hành năm 1042 Tên nước
được đổi là Đại Việt năm 1054 Đất nước đi vào thế ổn định vững chắc
Mặt khác, nhà Lý tập trung vào xây dựng một nền văn hiến huy hoàng, đáp ứng được hoài bão chính đáng của mọi người dân và thể hiện được sức mạnh tinh thần ngày một vươn cao của dân tộc Con người Hà Nội từ sức mạnh của đời sống văn hóa và từ những nhân tố tích cực của các tôn giáo:
Trên một ngàn năm bị nước ngoài thống trị, nhân dân Việt Nam không có điều kiện thuận lợi để chủ động nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài cho mình Giành lại chủ quyền dân tộc, nhân dân Việt Nam và nhà nước của mình nhận rõ nhu cầu cấp thiết là tăng cường sức mạnh về mọi mặt để bảo vệ
Tổ quốc và sẵn sàng đập tan mọi sự xâm lược của nước ngoài Muốn như thế, không phải chỉ có tinh thần yêu nước và dũng cảm là đủ, mà điều quan trọng bậc nhất là phải có những kiến thức tối thiểu về thiên nhiên, về xã hội và con người, để không ngừng phát huy đầu óc thông minh và sáng tạo trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước
Trong bước đầu xây dựng nền văn hiến, nhà Lý đặc biệt chăm lo việc giáo dục, học tập và tổ chức thi cử Trên kinh đô Thăng Long, nhà Lý đã cho lập Văn Miếu (1070) Năm 1075, nhà Lý mở khoa
thi Minh kinh bác học Đó là khoa thi đầu tiên trong lịch sử khoa cử Việt Nam Năm 1076, lại cho
mở Quốc Tử Giám Nền đại học Việt Nam bắt đầu từ đó
Nhà Lý đã đặt những viên gạch đầu tiên vô cùng quý giá để xây dựng nền tảng vững chắc cho sự nghiệp giáo dục, học hành, thi cử Trên nền tảng đó, nhà Trần lại đưa chế độ giáo dục đi vào nền nếp quy củ hơn Nhà Lê, đặc biệt dưới thời Lê Thánh Tông, chế độ đó càng được hoàn thiện
Có thể thấy: suốt từ thời Lý trở đi, Thăng Long luôn luôn là trung tâm thu hút nhân tài, đi đầu trong việc xây dựng đời sống tinh thần về mọi mặt cho cả nước Trí thức được lựa chọn từ mọi miền đất nước để đưa về Thăng Long học thêm và dự các kì thi ở đây Không khí học tập ngày càng nhộn nhịp, từ Văn Miếu – Quốc Tử Giám tỏa đi khắp phố phường, khiến Thăng Long trở thành một môi trường tiêu biểu của trí tuệ, của văn hóa, của văn học nghệ thuật Việc giảng bài, việc bình văn không chỉ tập trung ở Văn Miếu, mà còn diễn ra ở các trường tư thục, ở những nơi danh lam thắng cảnh của thủ đô, tạo nên một tâm lý coi trọng việc học tập và yêu quý người trí thức
Kinh thành Thăng Long, cái nôi của nền giáo dục dân tộc, ngày càng phát huy mạnh mẽ sức mạnh tinh thần của mình, xứng đáng là thủ đô ngàn năm văn vật, góp phần tích cực nhất xây dựng nền văn hiến huy hoàng của dân tộc
Trang 10Thăng Long không chỉ là trung tâm giáo dục thu hút toàn bộ nhân tài của đất nước mà còn là nơi đề
ra những nội dung giáo dục thích hợp với yêu cầu phát triển của đất nước và mở mang kiến thức cho mỗi người
Nội dung học tập trước hết rút ra từ Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo
Việt Nam cũng như Triều Tiên và Nhật Bản, là những nước đã từ lâu đời chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa và cũng đã lâu đời chứng kiến việc truyền bá tư tưởng Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo từ phía người Trung Quốc Nhưng ở Việt Nam cũng như ở Triều Tiên và Nhật Bản, những học thuyết nói trên đã từng biến đổi qua các thời kì lịch sử, càng có biến đổi khi được du nhập vào mỗi nước khác nhau
Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo được du nhập vào Việt Nam từ lâu và đã có vai trò đáng kể trong
hoạt động văn hóa của nhân dân Nhưng chỉ từ khi nhân dân ta giành được độc lập thì những trào
lưu này mới được chủ động khai thác và tự do phát triển Thủ đô Thăng Long trở thành trung tâm
tiếp nhận và cải biến những trào lưu ấy cho phù hợp với truyền thống của nhân dân và nhu cầu của đất nước Những trào lưu ấy đã dần dần được Việt Nam hóa và trở thành những nhân tố của chính nền văn hóa và hệ tư tưởng thống trị ở Việt Nam
Ở những triều đại đầu tiên Ngô, Đinh, Lê, Lý, Phật giáo nổi bật lên và được coi như quốc giáo.
Các vua chúa rất quý trọng các nhà sư, tầng lớp trí thức trong thời kì mới giành lại độc lập Nhiều
vị cao tăng được giữ vị trí quan trọng trong việc trị nước Nhà sư Ngô Chân Lưu, quân sư của Đinh Tiên Hoàng được vua Đinh phong làm Tăng Thống, sau được ban hiệu là Khuông Việt đại sư, ngang hàng với Tể tướng Thời Lê Đại Hành, ông vẫn được trọng đãi và được tham gia bàn bạc những vấn đề đại sự quốc gia
Lê Đại Hành cũng luôn luôn hỏi ý kiến sư Vạn Hạnh và sử dụng sư Pháp Thuận như một “đổng lý
văn phòng”.Chính sư Vạn Hạnh cũng đã cùng với đình thần, tôn Lý Công Uẩn lên làm vua và giúp
Lý Công Uẩn trong việc chính trị bang giao, bàn kế hoạch đánh Tống, đánh Chiêm Thành
Sư Viên Thông cũng giúp việc Lý Thần Tông Khi triều kiến, sư được đứng ngang hàng với Thái
tử Khi vua mất, sư được dự vào hàng các đại thần thực hiện di chiếu
Nói chung các nhà sư là tầng lớp trí thức đương thời đã góp phần tích cực trong việc củng cố nhà nước độc lập của dân tộc Họ không có đầu óc yếm thế và thoát tục như thái độ thông thường của những người theo đạo Phật Tinh thần tích cực nhập thế ấy đã biểu lộ rõ rệt trong văn thơ của nhiều nhà sư
Nhà sư Quảng Nghiêm có hai câu thơ rất tiêu biểu:
Nam nhi tự hữu xung thiên chí, Hưu hướng Như Lai hành xứ hành.
(Làm trai phải có chí hướng chọc trời
Không nhất thiết đi theo con đường mà Như Lai đã đi)
Đời Lý là giai đoạn thịnh đạt nhất của Phật giáo Việt Nam.
Trong thời kì này, các vua chúa Việt Nam, những người đã từng có công đóng góp to lớn vào sự nghiệp độc lập và phồn vinh của Tổ quốc, lại là những người sùng đạo nhất Thăng Long vì thế không chỉ là thủ đô của Việt Nam mà còn là trung tâm lớn nhất của Phật giáo Việt Nam
Nhiều vị cao tăng ở Thăng Long xuất thân từ tầng lớp quý tộc quan liêu như các vị sư Viên Chiếu, Quảng Trí, Trí Bảo Ngay như Lý Thường Kiệt, vị tướng anh hùng lập nhiều chiến công hiển hách, dẹp tan quân Tống xâm lược, cũng là người có vai trò to lớn trong việc chấn hưng Phật giáo Văn bia chùa Linh Xứng, núi Ngưỡng Sơn còn ca ngợi ông rằng: “Ông tuy thân vương cõi tục mà lòng
đã quy y”
Ngay cả một số vua chúa thời Lý cũng đi tu như Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông
Lý Thánh Tông là người có công trong việc sáng lập ra phái Thảo Đường, một phát thiền học mới ở Việt Nam
Cùng với Phật giáo, Đạo giáo cũng có ảnh hưởng lớn trong dân gian Đạo giáo thờ Lão Tử và gọi ông là Thái Thượng Lão Quân Nhưng Đạo giáo khác với đạo Lão Nó không mang nội dung triết học của thuyết Lão Tử mà chỉ nêu lên một phép tu luyện đạt tới trường sinh bất tử, với vô số những phương thuật kì quặc